1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn thạc sỹ - Hoàn thiện công tác quản lý dự trữ ngoại hối của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

114 143 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 114
Dung lượng 2,4 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1.Tính cấp thiết của đề tài Hội nhập kinh tế quốc tế là một xu thế lớn, tất yếu và là đặc trưng quan trọng của thế giới hiện nay. Tại Việt Nam, tinh thần hội nhập sâu rộng không ngừng được củng cố, thông qua mở rộng hợp tác thương mại song phương và đa phương, đồng thời từng bước tự do hóa các thị trường theo lộ trình cam kết về mở cửa kinh tế. Nhờ vậy, Việt Nam đã có những “mốc son” lịch sử đầu tiên về sức tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ, sự bùng nổ của thị trường chứng khoán, cùng làn sóng đổ bộ của dòng vốn đầu tư nước ngoài năm 2007, theo đó một kỷ lục về DTNH được ghi nhận – khoảng 26 tỷ USD vào tháng 07/2008. Khi này, Việt Nam được xem là một điểm sáng trên bản đồ kinh tế toàn cầu và có triển vọng trở thành “tỷ phú đô la”, xét theo tiêu chí năng lực DTNH trong thanh toán quốc tế. Tuy nhiên rất nhanh sau đó, cuộc khủng hoảng tài chính bắt nguồn từ Mỹ cuối năm 2007 đã lan ra toàn cầu, khiến cánh cửa hội nhập kinh tế được mở rộng, cũng đồng nghĩa với việc phải chấp nhận những cuộc chơi lớn. Tại Việt Nam chứng kiến sự đảo chiều mạnh của dòng vốn ngoại từ nửa cuối năm 2008, DTNH theo đó nhanh chóng sụt giảm, an ninh tài chính quốc gia cùng tính ổn định của đồng VND bị đe dọa. Có thể nói rằng, một thảm họa kinh tế đã chính thức đổ bộ xuống Việt Nam kể từ đầu năm 2009. Lúc này, để bình ổn thị trường cũng như tỷ giá VND/USD, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã buộc phải sử dụng DTNH để can thiệp vào thị trường, trữ lượng dự trữ vì thế giảm nhanh xuống mức đáy – còn 12,58 tỷ USD hồi tháng 01/2011. Sau đó, bằng nhiều nỗ lực bình ổn thị trường của các nhà chức trách, nền kinh tế Việt Nam mới bắt đầu có dấu hiệu hồi phục kể từ cuối năm 2012, và DTNH nhìn chung cũng đã lấy lại được đà tăng mạnh – đạt 37 tỷ USD vào cuối năm 2016. Mặc dù vậy, nếu xét theo tiêu chuẩn quốc tế thì kể từ năm 2009 đến nay, DTNH của Việt Nam vẫn luôn trong tình trạng “nỗ lực rượt đuổi theo một cột mốc an toàn tối thiểu” là đáp ứng được nhu cầu của 3 tháng nhập khẩu cho năm tiếp theo. Còn nếu so sánh trong khu vực Đông Nam Á, DTNH của Việt Nam chỉ khiêm tốn đứng ở vị trí thứ 6 với trữ lượng bằng 1/5 của Thái Lan, 1/3 của Indonesia hay Malaysia, và các nước này đều đạt mức cao về an toàn dự trữ theo tiêu chuẩn quốc tế. Hàm ý rằng, DTNH của Việt Nam vẫn còn “rất mỏng” để đáp ứng các nhu cầu thanh toán quốc tế, cũng như bảo vệ cho nền kinh tế trước các cú sốc từ bên ngoài. Thực tế trên cho thấy, mở cửa thị trường một mặt tạo cơ hội phát triển vượt bậc cho các quốc gia, mặt khác đặt ra nhiều thách thức lớn cho các nhà cầm quyền trong quản lý và điều hành tổng thể nền kinh tế. Và DTNH cũng vậy, một mặt khẳng định vị thế quốc gia trong bối cảnh phát triển thuận lợi, mặt khác cho thấy tầm quan trọng không thể thiếu khi nền kinh tế xảy ra bất ổn. Vậy DTNH nên được quản lý như thế nào cho hiệu quả, trong khi ở khía cạnh khác việc nắm giữ DTNH lại luôn đi kèm với những chi phí khác như khoản lợi tức từ đầu tư rủi ro, hàng hóa hay tư liệu sản xuất tiên tiến bị bỏ qua để phục vụ cho tăng trưởng kinh tế. Và để tìm lời giải đáp cho những thắc mắc này, tác giả quyết định chọn chủ đề “Hoàn thiện công tác quản lý dự trữ ngoại hối của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu Luận văn thạc sĩ. 2.Mục tiêu nghiên cứu Về mục tiêu nghiên cứu tổng quát: Trên cơ sở làm rõ những lý luận chung về quản lý DTNH, tổng hợp kinh nghiệm quản lý DTNH từ các nước lân cận mà được cho là đi đầu trong lĩnh vực này, cùng những phân tích về thực trạng công tác quản lý DTNH của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam thời gian qua, Luận văn sẽ đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý DTNH của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam giai đoạn tới. Trên cơ sở mục tiêu nghiên cứu tổng quát, luận văn hướng tới các mục tiêu nghiên cứu cụ thể như sau: Thứ nhất, hệ thống hóa cơ sở lý luận về DTNH và quản lý DTNH, đồng thời chỉ ra bài học kinh nghiệm về quản lý DTNH của một số nước để xác định cơ sở lý luận cho phân tích thực trạng công tác quản lý DTNH của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Thứ hai, phân tích về thực trạng công tác quản lý DTNH của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam thời gian qua để làm cơ sở thực tiễn cho đề xuất các giải pháp hoàn thiện công tác quản lý DTNH của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam giai đoạn tới. Thứ ba, đề xuất các giải pháp cho hoàn thiện công tác quản lý DTNH của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. 3.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu là công tác quản lý dự trữ ngoại hối. Phạm vi nghiên cứu là công tác quản lý dự trữ ngoại hối của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, giai đoạn 1997 – 2016. 4.Phương pháp nghiên cứu Với mục tiêu phân tích về thực trạng công tác quản lý DTNH của NHNN VN, luận văn sẽ căn cứ vào khung lý thuyết của những nghiên cứu trước đây để so sánh, tổng hợp và phân tích, đồng thời sử dụng phương pháp thống kê mô tả, thống kê phân tích về trực trạng công tác quản lý DTNH của NHNN VN giai đoạn 1997 – 2016, từ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện công tác quản lý DTNH của NHNN VN thời gian tới. Số liệu được thu thập từ các nguồn tài liệu của IMF, World Bank và NHTW các nước liên quan, nguồn thông tin của các website chuyên cung cấp dữ liệu kinh tế toàn cầu, báo, tạp chí chuyên ngành và kế thừa những kết quả nghiên cứu thực nghiệm có liên quan. Luận văn sẽ tập trung giải quyết 3 nội dung chính: (1) Hệ thống cơ sở lý luận về DTNH và quản lý DTNH. Nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế về quản lý DTNH làm bài học cho Việt Nam. (2) Phân tích thực trạng công tác quản lý DTNH của NHNN VN thời gian qua. (3) Đề xuất giải pháp hoàn thiện công tác quản lý DTNH của NHNN VN giai đoạn tới. 5.Kết cấu luận văn Ngoài phần Mục lục, Danh mục từ viết tắt, Danh mục bảng biểu, hình vẽ, Phần mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn được tổ chức theo 4 chương: Chương 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu và khoảng trống nghiên cứu Chương 2. Các vấn đề cơ bản về quản lý dự trữ ngoại hối Chương 3. Thực trạng công tác quản lý dự trữ ngoại hối của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Chương 4. Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý dự trữ ngoại hối của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Trang 3

PHẠM THU TRANG

HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ DỰ TRỮ NGOẠI HỐI

CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM

CHUYÊN NGÀNH: TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG

Người hướng dẫn khoa học:

TS NGUYỄN THỊ DIỆU CHI

Trang 5

Tôi đã đọc và hiểu về các hành vi vi phạm sự trung thực trong học thuật Tôi cam kết bằng danh dự cá nhân rằng nghiên cứu này này do tôi tự thực hiện và không vi phạm yêu cầu về sự trung thực trong học thuật.

Tác giả luận văn

Phan Thu Trang

Trang 6

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG BIỂU, HÌNH VẼ

PHẦN MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1.TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU 5

1.1 Các công trình nghiên cứu nước ngoài 5

1.2 Các công trình nghiên cứu trong nước 9

1.3 Khoảng trống nghiên cứu 13

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 14

CHƯƠNG 2 CÁC VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ QUẢN LÝ DỰ TRỮ NGOẠI HỐI.15 2.1 Dự trữ ngoại hối 15

2.1.1 Khái niệm dự trữ ngoại hối 15

2.1.2 Thành phần và nguồn hình thành dự trữ ngoại hối 15

2.1.3 Vai trò của dự trữ ngoại hối 16

2.1.4 Chỉ tiêu đánh giá quy mô dự trữ ngoại hối 18

2.2 Quản lý dự trữ ngoại hối 20

2.2.1 Khái niệm quản lý dự trữ ngoại hối 20

2.2.2 Mục tiêu quản lý dự trữ ngoại hối 20

2.2.3 Nghiệp vụ quản lý dự trữ ngoại hối 22

2.2.4 Nội dung hoạt động quản lý dự trữ ngoại hối 23

2.3 Các kinh nghiệm quốc tế về quản lý dự trữ ngoại hối 27

2.3.1 Kinh nghiệm của Hàn Quốc 27

2.3.2 Kinh nghiệm của Trung Quốc 36

2.3.3 Bài học kinh nghiệm quốc tế 46

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 48

CHƯƠNG 3 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ DỰ TRỮ NGOẠI HỐI CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM 49

3.1 Khát quát về dự trữ ngoại hối của Việt Nam 49

3.1.1 Quy mô dự trữ ngoại hối 49

3.1.2 Thành phần dự trữ ngoại hối 55

Trang 7

Việt Nam 57

3.2.1 Mục tiêu quản lý dự trữ ngoại hối 58

3.2.2 Khung thể chế và cơ cấu quản lý dự trữ ngoại hối 59

3.2.3 Phân bổ tài sản và tiêu chuẩn đầu tư dự trữ ngoại hối 62

3.2.4 Quản lý rủi ro 69

3.2.5 Ứng phó trước biến động thị trường trong quản lý dự trữ ngoại hối 70

3.2.6 Các vấn đề khác trong quản lý dự trữ ngoại hối 75

3.2 Đánh giá công tác quản lý dự trữ ngoại hối của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 77

3.2.1 Những mặt tích cực 77

3.2.2 Những mặt hạn chế 79

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 82

CHƯƠNG 4 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ DỰ TRỮ NGOẠI HỐI CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM 83

4.1 Định hướng quản lý dự trữ ngoại hối của Việt Nam giai đoạn tới 83

4.1.1 Bối cảnh quốc tế 83

4.1.2 Bối cảnh trong nước 85

4.1.3 Định hướng quản lý dự trữ ngoại hối cho Ngân hàng Nhà nước Việt Nam giai đoạn tới 87

4.2 Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý dự trữ ngoại hối của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 88

4.2.1 Hoàn thiện khung thể chế và cơ cấu tổ chức 88

4.2.2 Mở rộng quy mô dự trữ ngoại hối 92

4.2.3 Đa dạng hóa cơ cấu dự trữ ngoại hối 94

4.2.4 Tăng cường công tác quản lý rủi ro dự trữ ngoại hối 95

4.2.5 Áp dụng công nghệ thông tin trong công tác quản lý dự trữ ngoại hối 96

4.2.6 Giải pháp khác 97

KẾT LUẬN CHƯƠNG 4 99

KẾT LUẬN 100

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 101

Trang 8

Từ viết tắt Nội dung

DTNH Dự trữ ngoại hối

EMDEs Các nền kinh tế mới nổi và đang phát triển (Emerging Market

and Developing Economics)IMF Quỹ tiền tệ quốc tế (International Monetary Fund)

NHNN VN Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

NHTW Ngân hàng trung ương

TCTC Tổ chức tài chính

TGHĐ Tỷ giá hối đoái

TTCK Thị trường chứng khoán

TTNH Thị trường ngoại hối

TTQT Thanh toán quốc tế

Trang 9

Bảng 2.1 Thành phần DTNH của Hàn Quốc năm 2014-2016 (triệu USD) 29

Bảng 2.2 Cơ cấu DTNH của Hàn Quốc giai đoạn 2007 – 2016 (%) 32

Bảng 2.3 Phương pháp quản lý rủi ro DTNH của NHTW Hàn Quốc 33

Bảng 2.4 Thành phần DTNH của Trung Quốc giai đoạn 2012-2016 (tỷ USD) 39

Bảng 2.5 Giá trị nắm giữ chứng khoán Mỹ của Trung Quốc giai đoạn 2007-2016 (cuối tháng 06 hàng năm, tỷ USD) 40

Bảng 2.6 Bảng tính chỉ số ARA của Trung Quốc (cuối năm 2016, tỷ USD) 44

Bảng 3.1 Thành phần DTNH của Việt Nam giai đoạn 1997-2016 (triệu USD) .56 Bảng 3.2 Cơ cấu đồng tiền dự trữ của nhóm EMDEs giai đoạn 2007-2015 64

Bảng 3.3 Cơ cấu đồng tiền dự trữ của Việt Nam giai đoạn 2007-2015 65

Bảng 3.4 Giá trị nắm giữ chứng khoán Mỹ của Việt Nam giai đoạn 2002-2016 67 Bảng 3.5 Bảng tính chỉ số ARA của Việt Nam (cuối năm 2016, triệu USD) 74

HÌNH Hình 1.1 Bộ ba chiến lược và mục tiêu cơ bản” trong quản lý DTNH 8

Hình 1.2 Các cách thức quản lý DTNH cho quy mô dự trữ khác nhau 8

Hình 2.1 Trữ lượng DTNH của Hàn Quốc giai đoạn 1997 – 2016 28

Hình 2.2 Quy mô DTNH của Hàn Quốc xét theo tiêu chuẩn quốc tế 28

Hình 2.3 Cơ cấu tổ chức quản lý DTNH của NHTW Hàn Quốc năm 2016 34

Hình 2.4 DTNH của Trung Quốc và tương quan với thế giới 37

Hình 2.5 Quy mô DTNH của Trung Quốc xét theo tiêu chuẩn quốc tế 38

Hình 2.6 Xu hướng nắm giữ chứng khoán Mỹ của Trung Quốc 41

Hình 3.1 DTNH của Việt Nam và nhóm EMDEs khu vực châu Á 50

Hình 3.2 Vị thế DTNH của Việt Nam trong khu vực Đông Nam Á năm 2016 .51 Hình 3.3 DTNH theo tháng nhập khẩu năm tiếp theo của Việt Nam 52

Hình 3.4 Tỷ lệ DTNH / Nợ ngắn hạn nước ngoài của Việt Nam giai đoạn 1997 – 2016 53

Hình 3.5 Xu thế tăng trưởng DTNH của Việt Nam 55

Hình 3.6 Cơ cấu tổ chức quản lý DTNH của NHNN VN năm 2016 60 Hình 3.7 Xu hướng nắm giữ chứng khoán Mỹ của Việt Nam theo loại tài sản .68 Hình 4.1 Đề xuất cơ cấu tổ chức quản lý DTNH của NHNN VN thời gian tới .91

Trang 10

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Hội nhập kinh tế quốc tế là một xu thế lớn, tất yếu và là đặc trưng quan trọngcủa thế giới hiện nay Tại Việt Nam, tinh thần hội nhập sâu rộng không ngừng đượccủng cố, thông qua mở rộng hợp tác thương mại song phương và đa phương, đồngthời từng bước tự do hóa các thị trường theo lộ trình cam kết về mở cửa kinh tế.Nhờ vậy, Việt Nam đã có những “mốc son” lịch sử đầu tiên về sức tăng trưởng kinh

tế mạnh mẽ, sự bùng nổ của thị trường chứng khoán, cùng làn sóng đổ bộ của dòngvốn đầu tư nước ngoài năm 2007, theo đó một kỷ lục về DTNH được ghi nhận –khoảng 26 tỷ USD vào tháng 07/2008 Khi này, Việt Nam được xem là một điểmsáng trên bản đồ kinh tế toàn cầu và có triển vọng trở thành “tỷ phú đô la”, xét theotiêu chí năng lực DTNH trong thanh toán quốc tế

Tuy nhiên rất nhanh sau đó, cuộc khủng hoảng tài chính bắt nguồn từ Mỹ cuốinăm 2007 đã lan ra toàn cầu, khiến cánh cửa hội nhập kinh tế được mở rộng, cũngđồng nghĩa với việc phải chấp nhận những cuộc chơi lớn Tại Việt Nam chứng kiến

sự đảo chiều mạnh của dòng vốn ngoại từ nửa cuối năm 2008, DTNH theo đónhanh chóng sụt giảm, an ninh tài chính quốc gia cùng tính ổn định của đồng VND

bị đe dọa Có thể nói rằng, một thảm họa kinh tế đã chính thức đổ bộ xuống ViệtNam kể từ đầu năm 2009

Lúc này, để bình ổn thị trường cũng như tỷ giá VND/USD, Ngân hàng Nhànước Việt Nam đã buộc phải sử dụng DTNH để can thiệp vào thị trường, trữlượng dự trữ vì thế giảm nhanh xuống mức đáy – còn 12,58 tỷ USD hồi tháng01/2011 Sau đó, bằng nhiều nỗ lực bình ổn thị trường của các nhà chức trách,nền kinh tế Việt Nam mới bắt đầu có dấu hiệu hồi phục kể từ cuối năm 2012, vàDTNH nhìn chung cũng đã lấy lại được đà tăng mạnh – đạt 37 tỷ USD vào cuốinăm 2016

Mặc dù vậy, nếu xét theo tiêu chuẩn quốc tế thì kể từ năm 2009 đến nay,DTNH của Việt Nam vẫn luôn trong tình trạng “nỗ lực rượt đuổi theo một cột

Trang 11

mốc an toàn tối thiểu” là đáp ứng được nhu cầu của 3 tháng nhập khẩu cho nămtiếp theo Còn nếu so sánh trong khu vực Đông Nam Á, DTNH của Việt Nam chỉkhiêm tốn đứng ở vị trí thứ 6 với trữ lượng bằng 1/5 của Thái Lan, 1/3 củaIndonesia hay Malaysia, và các nước này đều đạt mức cao về an toàn dự trữ theotiêu chuẩn quốc tế Hàm ý rằng, DTNH của Việt Nam vẫn còn “rất mỏng” để đápứng các nhu cầu thanh toán quốc tế, cũng như bảo vệ cho nền kinh tế trước các

cú sốc từ bên ngoài

Thực tế trên cho thấy, mở cửa thị trường một mặt tạo cơ hội phát triển vượtbậc cho các quốc gia, mặt khác đặt ra nhiều thách thức lớn cho các nhà cầm quyềntrong quản lý và điều hành tổng thể nền kinh tế Và DTNH cũng vậy, một mặtkhẳng định vị thế quốc gia trong bối cảnh phát triển thuận lợi, mặt khác cho thấytầm quan trọng không thể thiếu khi nền kinh tế xảy ra bất ổn Vậy DTNH nên đượcquản lý như thế nào cho hiệu quả, trong khi ở khía cạnh khác việc nắm giữ DTNHlại luôn đi kèm với những chi phí khác như khoản lợi tức từ đầu tư rủi ro, hàng hóahay tư liệu sản xuất tiên tiến bị bỏ qua để phục vụ cho tăng trưởng kinh tế Và để

tìm lời giải đáp cho những thắc mắc này, tác giả quyết định chọn chủ đề “Hoàn

thiện công tác quản lý dự trữ ngoại hối của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam” làm

đề tài nghiên cứu Luận văn thạc sĩ

2 Mục tiêu nghiên cứu

Về mục tiêu nghiên cứu tổng quát: Trên cơ sở làm rõ những lý luận chung về

quản lý DTNH, tổng hợp kinh nghiệm quản lý DTNH từ các nước lân cận mà đượccho là đi đầu trong lĩnh vực này, cùng những phân tích về thực trạng công tác quản

lý DTNH của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam thời gian qua, Luận văn sẽ đề xuấtcác giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý DTNH của Ngân hàng Nhà nướcViệt Nam giai đoạn tới

Trên cơ sở mục tiêu nghiên cứu tổng quát, luận văn hướng tới các mục tiêu

nghiên cứu cụ thể như sau:

Trang 12

Thứ nhất, hệ thống hóa cơ sở lý luận về DTNH và quản lý DTNH, đồng thời

chỉ ra bài học kinh nghiệm về quản lý DTNH của một số nước để xác định cơ sở lýluận cho phân tích thực trạng công tác quản lý DTNH của Ngân hàng Nhà nướcViệt Nam

Thứ hai, phân tích về thực trạng công tác quản lý DTNH của Ngân hàng

Nhà nước Việt Nam thời gian qua để làm cơ sở thực tiễn cho đề xuất các giảipháp hoàn thiện công tác quản lý DTNH của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam giaiđoạn tới

Thứ ba, đề xuất các giải pháp cho hoàn thiện công tác quản lý DTNH của

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là công tác quản lý dự trữ ngoại hối

Phạm vi nghiên cứu là công tác quản lý dự trữ ngoại hối của Ngân hàng Nhànước Việt Nam, giai đoạn 1997 – 2016

4 Phương pháp nghiên cứu

Với mục tiêu phân tích về thực trạng công tác quản lý DTNH của NHNN VN,luận văn sẽ căn cứ vào khung lý thuyết của những nghiên cứu trước đây để so sánh,tổng hợp và phân tích, đồng thời sử dụng phương pháp thống kê mô tả, thống kê phântích về trực trạng công tác quản lý DTNH của NHNN VN giai đoạn 1997 – 2016, từ đó

đề xuất các giải pháp hoàn thiện công tác quản lý DTNH của NHNN VN thời gian tới

Số liệu được thu thập từ các nguồn tài liệu của IMF, World Bank và NHTWcác nước liên quan, nguồn thông tin của các website chuyên cung cấp dữ liệu kinh

tế toàn cầu, báo, tạp chí chuyên ngành và kế thừa những kết quả nghiên cứu thựcnghiệm có liên quan

Luận văn sẽ tập trung giải quyết 3 nội dung chính:

(1) Hệ thống cơ sở lý luận về DTNH và quản lý DTNH Nghiên cứu kinh

nghiệm quốc tế về quản lý DTNH làm bài học cho Việt Nam

(2) Phân tích thực trạng công tác quản lý DTNH của NHNN VN thời gian qua.(3) Đề xuất giải pháp hoàn thiện công tác quản lý DTNH của NHNN VN giaiđoạn tới

Trang 13

5 Kết cấu luận văn

Ngoài phần Mục lục, Danh mục từ viết tắt, Danh mục bảng biểu, hình vẽ,Phần mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn được tổ chứctheo 4 chương:

Chương 1 Tổng quan các công trình nghiên cứu và khoảng trống nghiên cứu Chương 2 Các vấn đề cơ bản về quản lý dự trữ ngoại hối

Chương 3 Thực trạng công tác quản lý dự trữ ngoại hối của Ngân hàng Nhà

nước Việt Nam

Chương 4 Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý dự trữ ngoại hối của Ngân

hàng Nhà nước Việt Nam

Trang 14

CHƯƠNG 1

TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU

VÀ KHOẢNG TRỐNG NGHIÊN CỨU

1.1 Các công trình nghiên cứu nước ngoài

Trên thế giới, quản lý DTNH NHTW là vấn đề không mới và cũng chưa từng

cũ Kể từ sau khủng hoảng tài chính Đông Á năm 1997, vấn đề về quản lý DTNHvẫn luôn thu hút được sự quan tâm đặc biệt của toàn cầu, dù là các nền kinh tế mớinổi và đang phát triển, hay các nền kinh tế phát triển – nơi mà quản lý DTNH vốnkhông phải là một vấn đề Tuy nhiên, do đặc thù về cơ cấu thể chế, bối cảnh vàmục tiêu phát triển mà chính sách và thực tiễn quản lý DTNH của mỗi quốc gia làkhác nhau

Courtney Blackman (1982) đã chia sẻ rằng việc quản lý DTNH đối với cácnền kinh tế phát triển chỉ là một khía cạnh của chính sách TGHĐ và có xu hướng

dự trữ ở quy mô vừa đủ để duy trì sự ổn định của thị trường Tuy nhiên, tại cácnước nhỏ đang phát triển, quản lý DTNH luôn là khía cạnh quan trọng trong mọichiến lược phát triển kinh tế Và khác so với các tổ chức tư nhân, quản lý DTNHtại các NHTW có 5 mục tiêu chính là thanh khoản, sinh lời, dự phòng rủi ro, đápứng các cân nhắc chính trị và duy trì giá trị Việc đề cập đến các mục tiêu khácnhau, ngụ ý rằng cần chia DTNH thành các danh mục tương ứng để quản lý Tiếpđến nghiên cứu nhấn mạnh về triết lý cơ bản của quản lý DTNH sẽ là không ưa rủi

ro, và tiêu chuẩn cơ bản của việc ra quyết định là “tối đa hóa lợi ích tối thiểu”(maximin) Chỉ khi đạt đến mức dự trữ mà có thể đẩy lùi được nguy cơ suy thoáitổng thể quốc gia, tiêu chuẩn “maximin” mới được giải phóng bởi mục tiêu “sinhlời” và “duy trì giá trị”; theo đó nhà quản lý dự trữ bằng kiến thức, kinh nghiệm và

kĩ năng của mình sẽ hành động như một người ra quyết định có rủi ro Cuối cùng,nghiên cứu chỉ rõ việc lựa chọn một phương pháp để đo lường hiệu suất quản lýDTNH theo từng mục tiêu là rất quan trọng Và để nâng cao hiệu suất đầu tư, các

Trang 15

nhà quản lý dự trữ ở các nước nhỏ đang phát triển cần phải theo dõi sát diễn biếntại các TTTC lớn, làm quen với lý thuyết và kỹ thuật đầu tư hiện đại, và cập nhậtnhững tiến bộ công nghệ mới nhất.

Joshua Aizenman, Yeonho Lee, Yeongseop Rhee (2004) đã mô tả nhu cầu dựphòng về dự trữ quốc tế nhằm hạn chế tác động từ sự đảo chiều đột ngột của luồngvốn ngắn hạn nước ngoài gây ra tại Hàn Quốc, kể từ sau cuộc khủng hoảng Đông Ánăm 1997-1998 Thật vậy, sự đảo chiều đột ngột của luồng vốn ngắn hạn nướcngoài được chứng minh là có liên quan đến việc chi phí sản xuất tăng nhanh, do chiphí tín dụng tăng cao Do đó, nhu cầu dự trữ quốc tế gia tăng cùng với tính hiệu quảcủa nó trong giảm bớt nguy cơ khủng hoảng thanh khoản, và giảm chi phí nắm giữ

dự trữ Thực tế, để góp phần quản lý dự trữ quốc tế tốt hơn sau khủng hoảng năm1997-1998, NHTW Hàn Quốc đã lựa chọn “tăng cường hội nhập tài chính đi đôi vớimột chế độ TGHĐ linh hoạt hơn” Và NHTW Hàn Quốc đã thành công khi tàikhoản vãng lai đạt thặng dư lớn và thu hút được một lượng lớn vốn cổ phần nướcngoài, đây là động lực chính đằng sau sự tích tụ nhanh về dự trữ quốc tế sau khủnghoảng của Hàn Quốc (lượng dự trữ có thể đầu tư tăng nhanh 146 tỷ USD trong vòng

6 năm, kể từ năm 1997) NHTW Hàn Quốc đã được rút ra được một bài học lớn từcuộc khủng hoảng quan tâm nhiều hơn đến việc nắm giữ cổ phần của người nướcngoài hơn là chỉ vay nợ ngắn hạn

Claudio Borio, Gabriele Galati and Alexandra Health (2008) đã trình bàymột số thay đổi chính về thực tiễn quản lý DTNH của cộng đồng NHTW Báo cáophần lớn dựa vào cuộc điều tra đặc biệt được tiến hành cho 28 NHTW và cơ quanhữu trách tiền tệ, mà chiếm khoảng 80% tổng DTNH toàn cầu, thời điểm cuối năm

2006 Kết quả khảo sát cho thấy, giai đoạn 2000-2007, thực tiễn quản lý DTNHcủa các NHTW đã tiến triển đáng kể, với 4 xu hướng nổi bật: (i) tập trung vào khảnăng sinh lời, dù mục tiêu chính là thanh khoản và an toàn; (ii) áp dụng mô hình

cấu trúc trong việc đưa ra quyết định quản lý dự trữ; (iii) tăng cường quản lý rủi

ro; (iv) tăng cường công khai thông tin về thực tiễn quản lý, tuy vẫn có sự khácbiệt đáng kể giữa các NHTW về loại thông tin được cung cấp, tần suất và độ trễ

Trang 16

báo cáo Và những bước tiến trong môi trường kinh tế và thể chế là động lực chínhđằng sau các xu hướng trên, như sự tích tụ lớn về quy mô DTNH của một số quốcgia, sự phát triển về nghiệp vụ chuyên môn và TTTC, và xu hướng thuê ngoàitrong quản lý DTNH Tuy nhiên, mọi tác động đều có 2 chiều, những xu hướngtrên cũng đặt ra những thách thức không nhỏ cho các NHTW trong việc lựa chọnmức độ hợp lý giữa rủi ro và lợi tức, đơn vị đo lường lợi tức và rủi ro và mức độcông khai thông tin.

Yu-Wei Hu (2010) đã đi sâu vào nghiên cứu về cơ quan nhà nước phụ tráchquản lý DTNH của Trung Quốc – SAFE Thật vậy, cùng với tốc độ tăng trưởngkinh tế “siêu tốc” và tiến trình hội nhập kinh tế sâu rộng, DTNH của Trung Quốcđược tích tụ nhanh chóng và đạt đến quy mô khổng lồ - khoảng 2.400 tỷ USD,chiếm 1/3 tổng DTNH toàn cầu, tính đến cuối năm 2009 Điều này một mặt khẳngđịnh vị thế của Trung Quốc trong thương mại quốc tế, mặt khác gây nhiều áp lực vềchi phí nắm giữ dự trữ, lạm phát và bong bóng tài sản Trước bối cảnh này, gánhnặng quản lý tốt hơn DTNH đặt lên SAFE – cơ quan trực thuộc NHTW TrungQuốc, thực hiện nhiệm vụ quản lý DTNH với 3 nguyên tắc là an toàn, thanh khoản

và gia tăng giá trị Thực tế, SAFE đã gặp rất nhiều thách thức trong quản lý lượngDTNH vượt mức có xu hướng ngày càng tăng, với chi phí nắm giữ lớn và sự cạnhtranh mạnh mẽ từ Tổng Công ty Đầu tư Trung Quốc (đơn vị trực thuộc Bộ Tàichính Trung Quốc, với cơ sở vốn từ DTNH và có áp lực lớn về lợi nhuận), chưa kểcấu trúc quản trị của SAFE được cho là thiếu minh bạch và không bắt kịp yêu cầuquản lý Qua đó, nghiên cứu đưa ra một số đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả quản lýDTNH của SAFE, gồm: (i) điều chỉnh mô hình tăng trưởng kinh tế từ quá phụ thuộcvào xuất khẩu và đầu tư sang đẩy mạnh tiêu dùng nội địa; (ii) cho phép tăng TGHĐtrong dài hạn; (iii) xem xét việc tự do hóa tài khoản vốn; (iv) đa dạng hơn trong đầu

tư quốc tế; (v) thành lập một quỹ đầu tư quốc gia trong phạm vi thẩm quyền củamình, để quản lý phần DTNH dư thừa

John Nugée (2015) đã mở đầu bằng nhận định, việc các NHTW phải quản lýmức dự trữ có thể đầu tư quá lớn – khoảng 15.000 tỷ EUR trong một kỷ nguyên lãi

Trang 17

suất rất thấp, khiến mọi động thái của họ trở thành mối quan tâm lớn đối với giớiđầu tư, các nhà quản lý và giám sát sự ổn định của thị trường Qua xem xét cấu trúcquản lý dự trữ NHTW, nghiên cứu chỉ rõ việc đánh giá mức độ quan trọng của 3yếu tố trong quản lý DTNH sẽ chi phối việc ra quyết định của NHTW (Hình 1.1).

Hình 0.1.“Bộ ba chiến lược và mục tiêu cơ bản” trong quản lý DTNH

Phần tiếp theo của nghiên cứu là các vấn đề thực tại mà các nhà quản lý dự trữNHTW phải đối mặt Nghiên cứu đã sơ đồ hóa các cách thức quản lý DTNHNHTW tương ứng với các quy mô dự trữ khác nhau (Hình 1.2)

Hình 0.2 Các cách thức quản lý DTNH cho quy mô dự trữ khác nhau

Dù thế nào thì hầu hết các NHTW đều muốn tăng trưởng quỹ, các giải phápcho thách thức từ mức lợi suất thấp được đưa ra là đa dạng hoá cả về loại hình tàisản và thị trường đầu tư, nghiên cứu về các thị trường mới nổi, bổ sung danh mụccác tài sản thay thế, xem xét lại vai trò của vàng và ủy thác đầu tư với các danh mục

Trang 18

không trọng điểm Tuy nhiên, các NHTW vẫn luôn nghi ngại về sự sụt giảm tính antoàn và thanh khoản của TTCK toàn cầu, tính cạnh tranh so với quỹ đầu tư quốc gia

và phản ứng của cộng đồng nhà đầu tư Điều này cản trở đáng kể hành vi đầu tư vìlợi nhuận của các NHTW trong bối cảnh DTNH ngày càng được tích tụ lớn

1.2 Các công trình nghiên cứu trong nước

Tại Việt Nam, vấn đề về quản lý DTNH ngày càng được quan tâm nhiều hơn,nhất là sau khi Việt Nam gia nhập WTO và cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới xảy

ra năm 2007-2008 Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khác nhau, như vị thế quốcgia, tính minh bạch thông tin hay trình độ chuyên môn, mà các nghiên cứu về quản

lý DTNH tại Việt Nam còn nhiều hạn chế cả về số lượng và nội dung

Nguyễn Thị Nhung (2007) đã chỉ ra rằng quản lý DTNH của Việt Nam vẫncòn thiếu rõ ràng về nguyên tắc quản lý và cách thức đo lường hiệu quả quản lýDTNH Cụ thể, 3 nguyên tắc quản lý DTNH của Việt Nam là bảo toàn dự trữ, thanhkhoản và sinh lời Trong đó, NHNN VN: (i) xác định cơ cấu đồng tiền đầu tư theotình hình biến động tỷ giá, nhu cầu TTQT, xu thế nắm giữ dự trữ của các quốc giakhác và nhu cầu can thiệp TTNH trong nước để đảm bảo thanh khoản và có khảnăng sinh lời; (ii) lựa chọn đối tác đầu tư có xếp hạng tín nhiệm cao để đảm bảo antoàn; (iii) định kỳ quy định hạn mức đầu tư vào một đối tác để giảm thiểu rủi ro;(iv) theo nguyên tắc bảo toàn dự trữ, quy mô DTNH được đánh giá theo trữ lượng

và tỷ lệ quy theo tháng nhập khẩu Tuy nhiên, một số khác lại hiểu bảo toàn dự trữtheo nghĩa bảo toàn giá trị, tức cần đánh giá lại quy mô DTNH theo tỷ giá đầu năm

và cuối năm Thực tế theo thống kê của IMF, không có nước nào áp dụng nguyêntắc bảo toàn giá trị trên, vì nó không thể hiện hiệu quả đầu tư DTNH về lãi, khảnăng đáp ứng thanh khoản, hay kịp thời can thiệp trên TTNH Để đánh giá hiệu quả,nhiều nước áp dụng các tiêu chuẩn đầu tư về cơ cấu theo đồng tiền, công cụ và kỳhạn đầu tư theo 3 nguyên tắc an toàn, thanh khoản và sinh lời Trong đó, các nướcphát triển áp dụng mô hình kinh tế lượng để tính toán các rủi ro tài chính, làm cơ sở

để xác định các tiêu chuẩn đầu tư và hạn mức lỗ có thể chấp nhận được, và chỉnhững nước còn hạn chế về nhân lực và hạ tầng công nghệ mới áp dụng phươngpháp xác định cơ cấu đồng tiền dự trữ như Việt Nam Cuối cùng, từ thực tiễn trên,

Trang 19

nghiên cứu đưa ra các nhóm giải pháp nhằm nâng cao năng lực quản lý DTNH củaViệt Nam gồm: (i) quy định rõ ràng về mặt pháp lý cách hiểu các nguyên tắc quản

lý dự trữ và thứ tự ưu tiên giữa chúng; (ii) áp dụng mô hình kinh tế lượng để tínhtoán rủi ro tài chính làm căn cứ xác định tiêu chuẩn đầu tư và hạn mức lỗ cho phépkhi đa dạng hóa đầu tư DTNH; (iii) nâng cấp hạ tầng công nghệ; (iv) nâng cao nănglực đội ngũ cán bộ cùng chế độ lương thưởng hợp lý

Trần Thanh Hải (2007) đã chỉ ra rằng cơ chế, chính sách về quản lý DTNH tại

Việt Nam còn nhiều bất cập Thứ nhất, về hành lang pháp lý: (i) trong tổ chức thực

hiện quản lý DTNH, Vụ quản lý ngoại hối và Sở giao dịch vừa là những đơn vị banhành quy định vừa là đơn vị thực hiện các tiêu chuẩn, hạn mức; (ii) trong nghiệp vụkiểm soát, quản lý nội bộ hoạt động quản lý DTNH, Vụ Tổng kiểm soát chỉ kiểmsoát về mặt hành chính, chấp hành quy định, quy chế… còn hoạt động quản lý nội

bộ do Sở Giao dịch vừa xây dựng vừa thực hiện Thứ hai, về mô hình tổ chức bộ phận tác nghiệp quản lý DTNH tại NHNN VN phân tán, sự phối hợp còn hạn chế

gây nên sự chậm trễ và kém hiệu quả trong quá trình thực hiện và kiểm soát hoạt

động quản lý DTNH Thứ ba, thiếu cán bộ có trình độ và kinh nghiệm thực hiện

quản lý DTNH, và chuyên gia phân tích, dự báo giỏi Từ thực tiễn này, Nghiên cứu

đề xuất hướng hoàn thiện công tác quản lý DTNH về mặt cơ chế, chính sách như:(i) hoàn thiện quy định quản lý DTNH đảm bảo tính đồng bộ cho các quy trình, bổsung và chỉnh sửa những kẽ hở, những điểm còn thiếu sót, tạo thuận lợi cho quátrình tác nghiệp, đảm bảo an toàn; (ii) hình thành mô hình tổ chức quản lý DTNHtập trung bằng việc thành lập Vụ Quản lý DTNH, phân cấp quản lý DTNH rõ ràngvới chức năng và nhiệm vụ độc lập; (iii) tăng cường đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán

bộ trực tiếp quản lý DTNH và cán bộ phân tích, dự báo kinh tế vĩ mô

Phạm Bảo Lâm (2012) đã mở đầu bằng danh sách 20 quốc gia đứng đầu thếgiới về DTNH năm 2010, trong đó Pháp và Thái Lan được lựa chọn làm điểm đếnkinh nghiệm về quản lý DTNH Với NHTW Pháp ngoài việc thực hiện quản lýDTNH quốc gia, còn quản lý phần dự trữ ủy thác của NHTW châu Âu và là nhàcung cấp dịch vụ tài chính hàng đầu thế giới về tiền gửi kỳ hạn từ qua đêm đến 1năm, dịch vụ hối đoái và vàng dưới hình thức giao ngay và kỳ hạn dưới 1 năm, mua

Trang 20

bán trái phiếu các đồng tiền chủ chốt, cung cấp dịch vụ lưu ký và thanh toán tráiphiếu theo yêu cầu, cho vay trái phiếu Danh mục đầu tư của NHTW Pháp gồm: (i)mua và giữ đến đáo hạn, (ii) tối đa hóa lợi nhuận với hạn mức kỳ hạn bình quânđược định sẵn, (iii) quản lý theo chỉ số mốc Trong đó, NHTW Pháp tìm cách giatăng lợi nhuận hơn nữa nhờ tăng kỳ hạn đầu tư bình quân, đa dạng hóa các đồngtiền dự trữ và công cụ đầu tư như trái phiếu công ty, cổ phiếu và trái phiếu các thịtrường mới nổi Còn với quản lý DTNH của Thái Lan do NHTW Thái Lan thựchiện, với chiến lược phân bổ đầu tư chủ yếu vào chứng khoán chính phủ có tính đếnyếu tố hạng tín dụng, cụ thể là 88:3:3:6=AAA:AA+:AA-:A Về danh mục đầu tưgồm: (i) bảo đảm thanh khoản chỉ với các tài sản bằng đồng USD có thanh khoảncao và kỳ hạn ngắn, (ii) bảo toàn giá trị và có khả năng sinh lời thông qua đầu tư dàihạn vào các đồng tiền mạnh, (iii) đáp ứng nghĩa vụ nợ bằng đồng JPY, (iv) ủy thácđầu tư nhằm học hỏi kỹ năng, nghiệp vụ quản lý tiên tiến Về hệ thống mạng phục

vụ công tác quản lý DTNH gồm Reuters, Bloomberg, Telerate và Dealing RoomSystem Qua đó, nghiên cứu nêu rõ những định hướng nền tảng nhằm nâng cao hiệuquả quản lý DTNH tại Việt Nam như sau: (i) tạo hành lang pháp lý mở cho việc ápdụng các nghiệp vụ mới và kỹ thuật quản lý DTNH hiện đại; (ii) phát triển hạ tầngcông nghệ nhằm tăng tính thuận tiện và kiểm soát rủi ro hoạt động; (iii) đa dạng hóađồng tiền dự trữ và thị trường đầu tư; (iv) phát triển và mở rộng các nghiệp vụ đầutư; (v) đào tạo đội ngũ cán bộ

Lê Hà Trang (2012) đã mở đầu bằng đà tăng trưởng ấn tượng của DTNHTrung Quốc, tăng gấp khoảng 20 lần trong hơn 10 năm – đạt 165,6 tỷ đôla vào năm

2000 nhưng đã vượt mốc 3.000 tỷ đôla vào năm 2011, chiếm 30% DTNH toàn cầu,

và gia tăng ổn định từ cả 2 nguồn cán cân vãng lai và cán cân vốn Trước thực tế đó,

tác giả tiếp cận vấn đề về quản lý DTNH trên hai khía cạnh: thứ nhất, về cách thức

tổ chức quản lý DTNH, năm 1995 Cục Quản lý DTNH Trung Quốc – SAFE được

thành lập, là cơ quan trực thuộc NHTW Trung Quốc, có nhiệm vụ quản lý DTNHquốc gia, với chiến lược đầu tư luôn là độ an toàn và tính thanh khoản cao Đối mặtvới thách thức lớn là rủi ro về tỷ giá khi quy mô DTNH liên tục tăng, năm 2007Tổng công ty Đầu tư Trung Quốc – CIC được thành lập với 100% nguồn vốn từ

Trang 21

DTNH, theo đuổi danh mục tài sản có tính sinh lời cao; thứ hai, về chiến lược đầu

tư hướng tới đa dạng hóa rổ đồng tiền dự trữ để giảm rủi ro về tỷ giá, nâng dần tỷ

trọng vàng và điều chỉnh quy mô DTNH đang vượt quá mức hợp lý, gây sức épthanh khoản dư thừa cho NHTW Trên cơ sở đó, tác giả đưa ra bài học cho ViệtNam trong xây dựng và quản lý DTNH như sau: (i) đẩy mạnh sản xuất theo hướngxuất khẩu, hạn chế nhập khẩu và tăng cường thu hút vốn đầu tư nước ngoài; (ii) duytrì quy mô DTNH hợp lý; (iii) quản lý DTNH bám sát 3 nguyên tắc cơ bản an toàn,thanh khoản và sinh lời; (iv) thành lập cơ quan chuyên trách về quản lý DTNH; (v)gia tăng tính minh bạch trong quản lý DTNH; (vi) tạo điều kiện tập trung nguồnngoại tệ vào hệ thống ngân hàng và DTNH

Lê Thị Tuấn Nghĩa và Phạm Thị Hoàng Anh (2013) đã chỉ ra rằng giai đoạn từ2007-2008, DTNH của Việt Nam tăng cao – đạt mốc lịch sử 26 tỷ USD vào tháng07/2008 và đáp ứng yêu cầu về an toàn dự trữ theo chuẩn quốc tế Tuy nhiên, sanggiai đoạn 2009-2011, an ninh tài chính quốc gia đã bị đe dọa khi cả 3 chỉ tiêu về antoàn DTNH của Việt Nam đều thấp dưới chuẩn, trữ lượng dự trữ giảm xuống đáy –còn 12,58 tỷ tính đến tháng 01/2011 Sau đó, với hàng loạt nỗ lực bình ổn kinh tế vĩ

mô, nền kinh tế đã có những dấu hiệu tích cực, DTNH tăng dần trở lại, đạt 23 tỷUSD vào cuối năm 2012 Ðây là tiền đề để duy trì lòng tin trong TTQT, bảo vệ giátrị đồng VND, góp phần thu hút đầu tư nước ngoài và chống đỡ các cú sốc kinh tế.Nhưng ở một khía cạnh khác của DTNH, cơ cấu DTNH lại được cho là tương đốihợp lý Cụ thể, trong khi các nền kinh tế phát triển có xu hướng tìm đến vàng khigiá trị các loại ngoại tệ mạnh suy giảm (vàng chiếm >50% tổng DTNH), thì ViệtNam lại chung xu hướng với các nền kinh tế mới nổi, tỷ trọng vàng trong DTNH rấtthấp – chỉ từ 1,5-4% do ngoại tệ mạnh được ưu tiên trong TTQT và vay trả nợ Mặtkhác, cơ cấu ngoại tệ trong DTNH Việt Nam cũng được cân nhắc dựa trên xuhướng nắm giữ chung, mức độ sử dụng trong TTQT và vay nợ nước ngoài Cuốicùng, nghiên cứu đưa ra một số đề xuất cho NHNN VN, cụ thể: (i) cải thiện cán cânthương mại và kiểm soát cán cân vãng lai, thu hút vốn đầu tư nước ngoài và tậptrung các nguồn ngoại tệ về NHNN VN nhằm tăng quy mô DTNH, nhưng cũngkhông nên tích trữ quá nhiều; (ii) đa dạng hóa cơ cấu đồng tiền dự trữ Ngoài ra,

Trang 22

NHNN VN nên linh hoạt hơn trong điều hành tỷ giá và giá vàng nhằm bảo toànDTNH và công khai hóa số liệu về DTNH.

1.3 Khoảng trống nghiên cứu

Nhìn chung trên thế giới đã có khá nhiều các nghiên cứu về quản lý DTNHvới tính cập nhật cao và đa dạng về các góc độ nghiên cứu Trong khi đó, tại ViệtNam, vấn đề này vẫn chưa nhận được sự quan tâm thích đáng và phần lớn các đề tàiđều có góc độ nghiên cứu tương đối hẹp trong tiếp cận các khía cạnh về công tácquản lý DTNH Hầu hết mỗi nghiên cứu chỉ cung cấp một lượng thông tin rất hạnchế về thực tế quản lý dự trữ của Việt Nam, như quy mô và cơ cấu DTNH, hay vắntắt về chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan hữu trách trong quy trình quản lýDTNH, hoặc thậm chí đơn thuần là bài học kinh nghiệm quốc tế về quản lý DTNH.Hơn nữa, thực trạng về quản lý DTNH tại Việt Nam đang tồn tại một khoảng trốngnghiên cứu đáng kể về thời gian, từ năm 2012 trở lại đây

Thứ hai, tóm tắt một số công trình nghiên cứu trong nước về quản lý DTNH.Hầu hết các nghiên cứu đều chỉ ra rằng quản lý DTNH của Việt Nam bên cạnhnhững thành tựu đáng kể, còn tồn tại rất nhiều thiếu sót, bất cập từ khung thể chế,

cơ cấu tổ chức cho đến quy mô, cơ cấu DTNH Tuy nhiên, các công trình trongnước nhìn chung còn rất hạn chế về góc độ khai thác và khối lượng thông tin cung

Trang 23

cấp Và hầu hết chỉ mới có vài nghiên cứu dưới dạng bài viết trao đổi thông tin kể

từ khi có thông tin Việt Nam gia nhập WTO - cuối năm 2006, và chỉ mới được bàntàn sôi nổi như một vấn đề quan trọng của quốc gia kể từ năm 2012, tức sau 4 năm

kể từ khi nền kinh tế nước nhà rơi vào khủng hoảng và 15 năm kể từ khi cuộckhủng hoảng Đông Á xảy ra Hàm ý rằng, tính dự báo và tính thời sự của một vấn

đề trọng yếu quốc gia là gần như không có

Thứ ba, chỉ ra khoảng trống nghiên cứu về quản lý DTNH của NHNN VN.Sau đây, luận văn sẽ đi vào tìm hiểu cơ sở lý luận về quản lý DTNH trongchương 2, làm cơ sở tiếp cận thực trạng quản lý DTNH của NHNN VN

CHƯƠNG 4

CÁC VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ QUẢN LÝ DỰ TRỮ NGOẠI HỐI

2.1 Dự trữ ngoại hối

2.1.1 Khái niệm dự trữ ngoại hối

DTNH thể hiện sức mạnh tài chính của một quốc gia, là công cụ hữu hiệu vừa

để phòng chống rủi ro trước những biến động từ bên ngoài, vừa để điều tiết nềnkinh tế vĩ mô Và hầu hết các quốc gia đều dựa trên định nghĩa của IMF về DTNHnhư chuẩn mực chung để đo lường và đảm bảo tính so sánh quốc tế

“Dự trữ ngoại hối của một quốc gia là những tài sản ngoại hối sẵn có và đượckiểm soát bởi nhà chức trách tiền tệ nhằm tài trợ cho cán cân thanh toán, can thiệpvào thị trường ngoại hối để điều tiết tỷ giá và cho các mục đích có liên quan khác(như duy trì niềm tin vào đồng nội tệ và nền kinh tế, và là cơ sở để vay nợ nướcngoài”, [IMF (2009)]

Cần lưu ý cụm từ “sẵn có” và “được quản lý” bởi cơ quan hữu trách tiền tệ(thường là các NHTW), tức các tài sản ngoại hối là tiềm năng hoặc lưu lại trong cáctầng lớp dân cư hay trôi nổi trên thị trường, đều không được coi là DTNH

2.1.2 Thành phần và nguồn hình thành dự trữ ngoại hối

Trang 24

Theo IMF (2009), thành phần DTNH bao gồm:

(1) Ngoại tệ tiền mặt và tiền gửi;

(2) Chứng khoán và các giấy tờ có giá khác bằng ngoại tệ do Chính phủ, tổ chứcnước ngoài, tổ chức quốc tế phát hành;

(3) Quyền rút vốn đặc biệt (SDRs – Special drawing rights) – là DTNH do IMFtạo ra và được phân bổ dựa trên hạn mức cho các nước thành viên, để bổ sungDTNH cho họ;

(4) Hạn mức dự trữ tại IMF – là tổng của (a) số ngoại tệ mà một quốc gia thànhviên có thể rút ra từ IMF trong thời hạn ngắn, và (b) bất kỳ khoản nợ nào mà IMFsẵn sàng dành cho các nước thành viên trong Thỏa thuận chung về vay nợ;

(5) Vàng tiền tệ;

(6) Các tài sản ngoại hối khác

Trong đó, DTNH có thể được hình thành từ các nguồn như mua từ ngân sáchnhà nước và thị trường ngoại hối, các khoản vay từ ngân hàng và tổ chức tài chínhquốc tế, các khoản tiền gửi ngoại tệ của Kho bạc Nhà nước và các tổ chức tín dụng,mua từ các khoản sinh lời từ đầu tư dự trữ, hoặc các nguồn khác

2.1.3 Vai trò của dự trữ ngoại hối

Mỗi quốc gia đều có đặc thù riêng về quy mô dân số, thể chế kinh tế, tình hìnhphát triển, mức độ mở cửa kinh tế Nhưng trong hầu hết mọi hoàn cảnh, quốc gianào cũng đều thấy nhu cầu cần phải nắm giữ DTNH Có nghĩa là, nhu cầu nắm giữ

sẽ chi phối hành động nắm giữ DTNH, hay nói cách khác, các NHTW cần xác địnhchính xác tại sao mình cần phải nắm giữ DTNH trước khi tranh luận về những vấn

đề như mức độ dự trữ, nguồn tài trợ dự trữ và đầu tư dự trữ tối ưu Hàm ý rằng, cácnhà hoạch định chính sách cần phải nắm rõ từng vai trò của DTNH trước khi lên kếhoạch làm sao để quản lý DTNH tối ưu

Một là, DTNH là công cụ để can thiệp vào TTNH nhằm điều chỉnh các dòng

lưu chuyển tiền tệ và ổn định TGHĐ, qua đó cung cấp một môi trường kinh tế thuậnlợi hơn Đây được coi là mục đích chính của việc nắm giữ DTNH

DTNH thực hiện chức năng quan trọng trong một chế độ TGHĐ cố định Bởi

Trang 25

NHTW cần phải thực hiện mua bán đồng nội tệ trên TTNH để cân bằng cung cầu,nhằm giữ tỷ giá ổn định trong một giới hạn nhất định Khi đó, NHTW cần phải đảmbảo mức DTNH đủ lớn để duy trì sự tự tin trong chính sách TGHĐ cố định, vàkhoản dự trữ nhỏ hơn thích hợp để đáp ứng cho TGHĐ thả nổi vì NHTW không cầncan thiệp nhiều để bảo vệ đồng tiền Dù vậy ở một chế độ TGHĐ thả nổi, NHTW cóthể vẫn quyết định can thiệp vào TTNH nếu xét thấy tỷ giá thực và tỷ giá thị trườngmất cân bằng nghiêm trọng, mà có thể đe dọa đến các giao dịch thông thường trênthị trường Hoặc một NHTW cũng có thể bắt buộc phải can thiệp vào TTNH đểchống lại lạm phát do tăng giá nhập khẩu khi đồng nội tệ mất giá Thậm chí ở mộtchế độ TGHĐ thả nổi hoàn toàn, vẫn xuất hiện nhu cầu DTNH vì thị trường và các

cơ quan xếp hạng có xu hướng xem DTNH như cơ sở tăng cường độ tin cậy chínhsách tiền tệ

Các nền kinh tế đang phát triển thường tận dụng triệt để vai trò này của DTNHtrong nỗ lực duy trì một đồng nội tệ dưới giá trị thực nhằm tạo ưu thế cạnh tranhcho hàng nội địa, nhờ đó tăng nguồn thu ngoại tệ từ xuất khẩu

Hai là, DTNH đảm bảo thanh toán cho các nghĩa vụ nợ bằng ngoại tệ Rõ

ràng ngoại tệ là cần thiết vào thời điểm các khoản nợ đến hạn thanh toán Mặc dù cóthể mua vào ngoại tệ khi cần thiết để đáp ứng nhu cầu này, nhưng các NHTWthường không làm theo cách này vì một vài lý do như TTNH có thể không thuận lợivào thời điểm cần có ngoại tệ, các giao dịch có thể gây rối loạn thị trường, chiếnlược này đưa đến rủi ro TGHĐ lớn trên danh mục nợ, hay cách tiếp cận này làmgiảm sự tín nhiệm của các cơ quan tín dụng vào quốc gia, khi đó sức hấp dẫn đầu tưquốc gia giảm và chi phí vay ngoại tệ tăng Bởi vậy, hầu hết các quốc gia thay vì đivay ngoại tệ sẽ sử dụng một phần dự trữ để tạo lập một quỹ mà phục vụ ít nhất mộtphần nợ đang sắp đến hạn của họ

Ba là, DTNH góp phần bảo vệ nền kinh tế trước các cú sốc, trong vai trò

như một quỹ để ổn định và khôi phục tài chính Điều này có thể rất phù hợp vớicác nước nhỏ đang phát triển Bởi các quốc gia lớn hơn thường có khả năng tàitrợ nhiều hơn cho phục hồi nền kinh tế khi khủng hoảng xảy đến, trong khi một

Trang 26

nước nhỏ có thể hoàn toàn bị “áp đảo” bởi một thảm hoạ nào đó, ví dụ như mộtthảm hoạ thiên nhiên mà quét sạch nguồn hàng xuất khẩu chính yếu, hay sự sụp

đổ về mặt thương mại của quốc gia, hay một thảm hoạ quân sự Thậm chí, việcthiếu hụt DTNH có thể dẫn đến một cuộc tấn công đầu cơ ngoại tệ nhằm làm mấtgiá đồng nội tệ và kiếm lời khi NHTW can thiệp điều chỉnh để ổn định trật tự thịtrường, trong khi nếu dự trữ được coi là đủ, niềm tin vào đồng nội tệ tăng lên,làm giảm khả năng đầu cơ Hoặc tương tự với trường hợp gia tăng danh mục đầu

tư nội địa bởi nhà đầu tư ngoại, sẽ luôn đi kèm với rủi ro đảo chiều đột ngộtdòng vốn ngoại khi họ mất niềm tin vào đồng nội tệ Do đó, DTNH giúp đảmbảo rằng các khoản tiền thích đáng luôn sẵn sàng để làm giảm nhẹ tác động củanhững biến cố này

Tóm lại, một NHTW cần phải luôn sẵn sàng về DTNH để giải quyết một loạtcác vấn đề mà có thể làm suy yếu hiệu quả của TTNH Trước các cú sốc thị trường,NHTW thậm chí có thể phải duy trì kinh doanh đồng nội tệ trên thị trường liên ngânhàng hàng ngày để đảm bảo yếu tố niềm tin

Bốn là, DTNH góp phần khẳng định vị thế quốc gia Thực tế, việc lựa chọn

dùng DTNH khi những cú sốc kinh tế phá vỡ giao dịch thương mại thông thường vàdòng thu nhập, là một trong những nguyên tắc cơ bản mà các tổ chức xếp hạng tínnhiệm quốc gia dựa vào Sau khi một lượng lớn ngoại tệ được triển khai chống lại

sự sụt giảm nhanh chóng của đồng nội tệ, 3 cơ quan xếp hạng tín nhiệm quốc tế lớnnhất thế giới là Moody's, Standard & Poor’s và Fitch, kêu gọi các NHTW củng cố

vị thế quốc gia Khi đó, các NHTW thường dựa vào các khoản vay nước ngoài đểduy trì DTNH trên một mức tối thiểu nhất định Các cơ quan xếp hạng không quyđịnh mức tối ưu, nhưng chắc chắn phải có mức dự trữ tối thiểu để duy trì sự tínnhiệm của các quốc gia trên thị trường quốc tế và cải thiện khả năng tiếp cận đốivới tín dụng nước ngoài

2.1.4 Chỉ tiêu đánh giá quy mô dự trữ ngoại hối

Như đã đề cập ở trên, DTNH ảnh hưởng đến khả năng TTQT, là phương tiệnphòng vệ của quốc gia khi an ninh tài chính bị đe dọa và giảm nguy cơ xảy ra thảm

Trang 27

họa kinh tế Nhưng không có nghĩa DTNH càng nhiều càng tốt, bởi một loạt các chiphí luôn song hành cùng việc nắm giữ các tài sản ngoại hối như khoản lợi tức từ đầu

tư rủi ro có hiệu quả bị bỏ qua, hay việc không được tiếp cận ngay với các hànghóa, tư liệu sản xuất và công nghệ tiên tiến nhập khẩu

Vậy thế nào là một quy mô DTNH hợp lý? Với tất cả động cơ nắm giữ dự trữ thìviệc xác định một mức dự trữ hợp lý sẽ là khác nhau tại mỗi quốc gia, đặc biệt giữacác nhóm nền kinh tế khác nhau Tuy chưa có quy chuẩn về quy mô dự trữ tối ưunhưng công việc của các chuyên gia hay TCTC quốc tế là phải thiết lập cho đượccác thước đo chung để đảm bảo tính so sánh quốc tế, và là mốc chuẩn để các quốcgia có những bài toán cho riêng mình Cho đến nay, quốc tế vẫn thống nhất áp dụng

3 chỉ tiêu chính để đánh giá quy mô DTNH:

- Tỷ lệ DTNH / Giá trị 1 tháng nhập khẩu cho năm tiếp theo – đánh giá

khả năng đáp ứng nhu cầu nhập khẩu sắp tới Theo IMF, quy mô DTNH củamột quốc gia cần đảm bảo ở mức tối thiểu là 3 tháng nhập khẩu, từ 3-4 thángnhập khẩu là mức trung bình, từ 4-6 tháng là mức cao, còn trên 6 tháng là mứcquá cao

- Tỷ lệ DTNH / Nợ ngắn hạn nước ngoài (trong đó, nợ ngắn hạn nước ngoài

bao gồm các khoản nợ ngắn hạn đến 1 năm và các khoản nợ trung và dài hạn đếnhạn phải trả trong năm) – để đo lường khả năng thanh toán nợ ngắn hạn và khả năngphòng vệ trước các cuộc tấn công tiền tệ hoặc cuộc thoái vốn ào ạt ra khỏi quốc gia.Theo đó, chỉ tiêu này cần phải lớn hơn 1 mới ít nhất đảm bảo thanh khoản quốc tế,còn theo khuyến nghị của World Bank, chỉ tiêu này nên ở mức trên 2 đối với cácnền kinh tế đang phát triển

- Tỷ lệ DTNH / Mức cung tiền M2 – đánh giá khả năng đáp ứng nhu cầu ngoại

hối của NHTW các nước có tình trạng đôla hóa Theo tiêu chuẩn quốc tế, tỷ lệ nàynên duy trì trong khoảng từ 10 – 20% Theo nhiều nghiên cứu, chỉ tiêu này thườngquan trọng với các nước có nguy cơ thất thoát vốn do hệ thống ngân hàng kém hiệuquả hay theo chế độ TGHĐ cố định

Ngoài ra, thế giới hiện nay đã có một số công trình nghiên cứu đưa ra cách

Trang 28

tính cho một chỉ số tổng hợp đánh giá về mức DTNH đầy đủ, mỗi nghiên cứuđều có cách lập luận riêng cho cơ sở tính toán của mình Luận văn sau đây sẽgiới thiệu một chỉ tiêu tổng hợp mà có thể đánh giá mức dự trữ tương đối đầy đủdành cho nhóm EMDEs, để làm cơ sở tham khảo bên cạnh 3 chỉ tiêu thông dụng

ở trên

Tỷ lệ DTNH / Chỉ số ARA (Assessing Reserve Adequacy metric – Chỉ số

đánh giá mức dự trữ đầy đủ) là chỉ tiêu tổng hợp đề xuất mức DTNH đầy đủ cho

các quốc gia của nhóm các nhà nghiên cứu thuộc IMF Theo đó, tỷ lệ này nênnằm trong khoảng từ 100 đến 150% để được coi là mức dự trữ đầy đủ Chỉ sốARA được xác định bằng tổng có trọng số của các chỉ tiêu (tính theo năm) được

đề cập trong bảng sau:

Chỉ tiêu Không kiểm soát vốn Kiểm soát vốn

Cố định Thả nổi Cố định Thả nổi

Nợ ngắn hạn nước ngoài 30,0% 30,0% 30,0% 30,0%Các khoản nợ khác 20,0% 15,0% 20,0% 15,0%Mức cung tiền M2 10,0% 5,0% 5,0% 2,5%Giá trị xuất khẩu 10,0% 5,0% 10,0% 5,0%

Nguồn: IMF (2016)

2.2 Quản lý dự trữ ngoại hối

1.2.1 Khái niệm quản lý dự trữ ngoại hối

“Quản lý dự trữ ngoại hối là một quá trình đảm bảo rằng các tài sản ngoại hốisẵn có của khu vực công mà được kiểm soát bởi các cơ quan hữu trách tiền tệ luônsẵn sàng để đáp ứng các mục tiêu cụ thể cho một quốc gia hoặc liên minh”, [IMF(2013)]

Do DTNH là tài sản của khu vực công, được sử dụng vì mục tiêu an ninh tàichính quốc gia và để tăng tính chủ động can thiệp thị trường khi cần, nên công tácquản lý DTNH hầu hết được các quốc gia giao cho NHTW thực hiện

2.2.2 Mục tiêu quản lý dự trữ ngoại hối

DTNH đóng vai trò quan trọng trong góp phần ổn định kinh tế và đảm bảo cho

Trang 29

lộ trình phát triển của một quốc gia, vì vậy mỗi mô hình kinh tế đặt trong bối cảnhphát triển khác nhau sẽ có mục tiêu quản lý DTNH khác nhau, cũng như thứ tự ưutiên giữa chúng Nhưng dù lý do nắm giữ DTNH là gì, và bất kể ai sở hữu DTNH

về mặt pháp lý, đều có 3 mục tiêu chung trong quản lý DTNH

Một là mục tiêu thanh khoản, trong hầu hết mọi trường hợp, DTNH sẽ được

sử dụng để đáp ứng những nhu cầu thường xuyên và đột xuất của nền kinh tế nhưthanh toán hàng nhập khẩu, thanh toán nợ quốc tế đến hạn, can thiệp thị trường khicần và tài trợ cho các nhu cầu đột xuất khác của Chính phủ Có nghĩa là các tài sản

dự trữ phải luôn sẵn sàng ngay khi có nhu cầu, hay nói cách khác, các cơ quan hữu

trách tiền tệ phải luôn đảm bảo yếu tố thanh khoản trong quản lý DTNH Thậm chí,

trong thời điểm khủng hoảng cán cân thanh toán, yếu tố thanh khoản trở thành mụctiêu duy nhất liên quan đến quản lý DTNH Để đảm bảo tốt mục tiêu này, mộtkhoản DTNH nhất định nên được đầu tư vào các tài sản mà có thể lập tức chuyểnđổi thành ngoại tệ tiền mặt trên thị trường

Hai là mục tiêu an toàn, do DTNH là tài sản công và được sử dụng vì mục

đích chung của quốc gia, nên trong quản lý DTNH các cơ quan hữu trách tiền tệ

thường có xu hướng đề cao mục tiêu an toàn, mà theo đó các loại rủi ro liên quan

đến việc nắm giữ DTNH sẽ được kiểm soát một cách thận trọng và những giới hạnnghiêm ngặt trong đầu tư DTNH cũng được yêu cầu thực hiện

Ba là mục tiêu sinh lời, việc nắm giữ các tài sản DTNH liên quan đến chi phi

cơ hội đối với các hàng hóa và dịch vụ tiên tiến mà có thể được nhập khẩu nếu cáckhoản DTNH được sử dụng ngay Bởi vậy, các tài sản dự trữ nên có tỷ suất lợinhuận ít nhất bằng với lợi tức cơ hội của việc chi tiêu trực tiếp Hay nói một cáchđầy đủ hơn, DTNH nên được đầu tư theo hướng tối đa hóa khả năng sinh lời trên cơ

sở yếu tố thanh khoản và an toàn được đảm bảo

Hàm ý rằng, NHTW nên tìm cách tối đa hoá giá trị các khoản dự trữ, trongphạm vi rủi ro được kiểm soát thận trọng, tạo thành khuôn khổ quản lý dự trữ đểluôn sẵn có ngoại hối khi cần Do đó, danh mục tài sản dự trữ có xu hướng không

Trang 30

ưa rủi ro – ưu tiên thanh khoản và an toàn trước lợi nhuận.

Ngoài ra, một mục tiêu nữa về duy trì DTNH là dự phòng rủi ro hay để bảo

vệ nền kinh tế trước những cuộc khủng hoảng nghiêm trọng Bởi khủng hoảng làkhó đoán định và không lường trước được, vì vậy, các cơ quan hữu trách tiền tệ nên

cố gắng duy trì lượng DTNH nhất định để phòng khi khủng hoảng thực sự xảy đến.

Đây là xu hướng quản lý DTNH mới của thế giới, đặc biệt đối với các quốc giachâu Á mà chứng kiến liên tiếp sức ảnh hưởng nặng nề từ cả cuộc khủng hoảngĐông Á năm 1997-1998 và cuộc khủng hoảng toàn cầu năm 2007-2008 Và trongtrường hợp này, tài sản dự trữ dưới dạng vàng có thể đảm nhiệm tốt nhất vai trònày, bởi tính an toàn, thanh khoản cao và trong dài hạn có xu hướng gia tăng giá trị,ngay cả khi khủng hoảng đang diễn ra

2.2.3 Nghiệp vụ quản lý dự trữ ngoại hối

Một NHTW chỉ có thể thực hiện quản lý DTNH thông qua các nghiệp vụ màđược Chính phủ cho phép trên thị trường quốc tế Các nghiệp vụ quản lý rất đa dạng vàphức tạp, nên khả năng áp dụng tại mỗi quốc gia là khác nhau, tùy thuộc vào trình độquản lý của quốc gia đó Sau đây là các loại hình nghiệp vụ quản lý DTNH thông dụng:

(1) Đầu tư tiền gửi ở nước ngoài – NHTW gửi tiền tại các ngân hàng nước

ngoài với kỳ hạn từ qua đêm đến dưới 1 năm với lãi suất ấn định, do đó dễ dàng rútvốn để phục vụ các mục đích riêng mà hầu như không chịu ràng buộc hay tổn thấtnào đáng kể Đây là hình thức đầu tư đơn giản nhất, phục vụ mục tiêu thanh khoản

(2) Mua bán ngoại tệ trao ngay – NHTW mua bán các đồng tiền sẵn có mà

việc thanh toán diễn ra nhanh, sau 1-2 ngày làm việc kể từ ngày thoả thuận muabán, chủ yếu để điều chỉnh cơ cấu DTNH, hạn chế rủi ro tỷ giá hoặc để đầu cơ

(3) Đầu tư, kinh doanh giấy tờ có giá – NHTW thực hiện mua bán và nắm

giữ các giấy nhận nợ do người đi vay phát hành, với cam kết sẽ thanh toán đầy đủcác nghĩa vụ khi đến hạn Một số loại giấy tờ có giá có lãi suất cố định mà thườngđược giao dịch giữa các NHTW, gồm trái phiếu, tín phiếu do Chính phủ, cácTCTC phát hành và trái phiếu công ty Các giấy tờ này tương đối dễ trao đổi, đểphục vụ cho mục tiêu thanh khoản của DTNH, bên cạnh mục tiêu sinh lời Ngoài

Trang 31

ra, một xu hướng đa dạng hóa đầu tư mới đây là cổ phiếu nhằm gia tăng lợi tứcvới mức rủi ro cao hơn.

(4) Ủy thác đầu tư – NHTW ủy quyền cho đối tác bên ngoài thực hiện đầu tư

theo thỏa thuận giữa hai bên về những quy định trong đầu tư Theo đó, chỉ số sinhlời được đưa vào hợp đồng, làm cơ sở tham chiếu cho hiệu quả đầu tư Trong quátrình uỷ thác, định kỳ đối tác nhận ủy thác sẽ gửi báo cáo cho NHTW về tình hìnhgiao dịch trong kỳ Nhiều NHTW các nền kinh tế mới nổi và đang phát triển ápdụng nghiệp vụ này nhằm học hỏi kinh nghiệm và chuyển giao công nghệ về quản

lý DTNH, bên cạnh mục tiêu tối đa hóa lợi tức

(5) Cho vay trái phiếu – NHTW tiến hành cho vay có tài sản đảm bảo các trái

phiếu hiện có, đồng thời cam kết sẽ nhận lại trái phiếu vào một ngày thỏa thuận,nghiệp vụ này được thực hiện vì mục tiêu sinh lời

(6) Các giao dịch phái sinh giúp NHTW tránh rủi ro về tỷ giá thông qua các

nghiệp vụ cụ thể như mua bán ngoại tệ kỳ hạn, hoán đổi ngoại tệ và hợp đồngquyền chọn tiền tệ

(7) Đầu tư, kinh doanh vàng là việc NHTW đầu tư, cho vay, kinh doanh vàng

dưới hình thức vàng ghi sổ và được thực hiện tương tự nghiệp vụ đầu tư tiền gửi,cho vay để hưởng lãi hoặc mua bán ngoại tệ giao ngay nhằm hưởng chênh lệch giámua bán Với một số ít các nền tài chính phát triển lâu đời ở châu Âu cho phép kinhdoanh vàng tài khoản như một sân chơi chứng khoán thực thụ, qua đó thu hút lượngđáng kể ngoại tệ từ cộng đồng đầu tư quốc tế

2.2.4 Nội dung hoạt động quản lý dự trữ ngoại hối

DTNH là tài sản quốc gia và được quản lý bởi các cơ quan hữu trách tiền tệ(thường là các NHTW) nên mỗi động thái dù nhỏ của cơ quan chức năng sẽ đều tácđộng tới DTNH hiện có nói riêng và hiệu quả quản lý DTNH nói chung Vậy làmsao để gia tăng hiệu quả quản lý DTNH trong điều kiện thị trường mở, đầy tiềmnăng nhưng cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro bất ổn? Sau đây là nội dung hướng dẫn hoạtđộng quản lý DTNH trích từ IMF (2013) – một tài liệu quốc tế tương đối đầy đủ khibao quát cả những xu hướng quản lý DTNH hiện đại

Trang 32

Thứ nhất, về quản lý và phân bổ dự trữ: Chiến lược quản lý dự trữ cần phải

phù hợp và hỗ trợ môi trường chính sách cụ thể của mỗi quốc gia, đặc biệt là chế độTGHĐ, mức độ tự do hoá thương mại và kiểm soát vốn Ở khía cạnh khác, quyếtđịnh mức độ đa dạng hóa phù hợp nhằm nâng cao khả năng chấp nhận rủi ro củadanh mục đầu tư dự trữ là rất quan trọng Đa dạng hoá có thể liên quan đến đồngtiền, công cụ tài chính và các đối tác Tuy nhiên, chiến lược phân bổ tài sản dự trữcần phải nhất quán với các nhu cầu dự phòng cụ thể của quốc gia, đồng thời lưu ýđến rủi ro phá vỡ thị trường tín dụng và TTTC

Thứ hai, các NHTW cần thúc đẩy thực tiễn minh bạch và trách nhiệm giải trình trong việc thực hiện chính sách tiền tệ và tài chính, cũng hiệu quả quản lý của

mình Có một số yếu tố minh bạch thông tin và trách nhiệm giải trình cần được thúcđẩy liên quan đến hoạt động quản lý DTNH như sau:

- Làm rõ vai trò, trách nhiệm và mục tiêu của các cơ quan quản lý dự trữ giúp

công chúng hiểu hơn về các quyết sách tỷ giá, sức ảnh hưởng của họ đến các mụctiêu quản lý dự trữ và để tránh nhầm lẫn về cơ quan có trách nhiệm cuối cùng trongviệc thiết lập và thực hiện chính sách quản lý dự trữ

- Các tiêu chí lựa chọn đối tác và các nhà cung cấp dịch vụ khác cần được công bố công khai để đảm bảo các hoạt động quản lý dự trữ dựa trên các tiêu chí

khách quan và công bằng, đồng thời cho thấy các quyết định quản lý dự trữ có cơ sởthực tiễn và nguyên tắc tuân thủ Tuy nhiên, cần cân nhắc về tính bảo mật, việccông khai không nên chi tiết đến các hoạt động mà có thể làm giảm khả năng vậnhành hiệu quả thị trường của các cơ quan quản lý dự trữ

- Thông tin về DTNH chính thức phải được công khai theo lộ trình định sẵn.

Việc công khai quy mô và cơ cấu DTNH một cách kịp thời và chính xác sẽ thúc đẩyviệc ra quyết định xác đáng trong cả khu vực công và tư nhân, TTTC trong nước vàquốc tế Theo đó, chu kỳ chuẩn công khai thông tin nên được quy định rõ

- Trách nhiệm giải trình của các cơ quan quản lý DTNH cần đảm bảo thông

qua công tác kiểm toán tài chính độc lập, trong đó các chuẩn mực kiểm toánquốc tế phải được áp dụng, và các ý kiến cung cấp phải là xác thực và công bằng

Trang 33

về các hồ sơ tài chính liên quan đến quản lý dự trữ Và việc công bố ý kiến kiểmtoán được xem như không thể tách rời báo cáo tài chính trong khung trách nhiệmgiải trình.

- Chiến lược đầu tư và khuôn khổ kế toán: (i) phải có hướng dẫn chi tiết việc

đo lường giá trị dự trữ hợp lý và công bố các công cụ tài chính; (ii) các quyết địnhđầu tư lành mạnh phải phù hợp với chiến lược đã lựa chọn (tức dựa trên đánh giámức độ dự trữ, mục tiêu nắm giữ và rủi ro mà NHTW phải chấp nhận) mà khôngđược căn cứ vào các báo cáo kế toán, bởi khi quyết định đầu tư dài hạn mà quá bậntâm vào báo cáo lỗ trong ngắn hạn sẽ dẫn đến lựa chọn đầu tư không phù hợp; (iii)thông tin trong các báo cáo phải tuân thủ các tiêu chuẩn kế toán quốc tế được côngnhận để đảm bảo tình hình tài chính và kết quả hoạt động được xác định trên cơ sởnhất quán và có thể so sánh

Tóm lại, hiệu ứng của tính minh bạch và trách nhiệm giải trình là đa chiều –các nhà quản lý DTNH sẽ cẩn trọng hơn trong mỗi quyết định hành động của mình,giới đầu tư có thể nhìn nhận rõ hơn về các quyết sách của nhà cầm quyền, qua đó cóthể tin tưởng mà không hành động ngược chiều thị trường cũng như các mục tiêuchính sách, đồng thời tạo bộ nền thông tin đầy đủ hơn cho các nhà nghiên cứu đểđưa ra các phân tích, nhận định hoặc tư vấn chính sách Và kinh nghiệm cho thấy,thông qua truyền thông, việc tiết lộ đầy đủ và kịp thời các thông tin chính sách cóthể giúp các nhà cầm quyền tạo hiệu ứng lan tỏa niềm tin trong cộng đồng, qua đócho phép điều chỉnh thị trường theo từng bước hơn

Thứ ba, các quốc gia cần xây dựng khung thể chế và cơ cấu tổ chức theo hướng lành mạnh thông qua một khuôn khổ lập pháp mà xác định rõ trách nhiệm

và quyền hạn của cơ quan quản lý DTNH Qua đó, đảm bảo quản lý có hiệu quả

hơn DTNH, cũng như củng cố tính phối hợp thực hiện với các bên hữu quan

Về cấu trúc quản trị nội bộ của cơ quan quản lý DTNH cần được hướng dẫn

cụ thể và phân bổ rõ ràng và chia tách trách nhiệm Cụ thể, về cơ cấu tổ chức quản

lý DTNH phân bổ thành 3 cấp từ trên xuống: (i) cấp cao nhất – đưa ra quyết định

chiến lược về các chỉ tiêu tổng thể cho hoạt động quản lý dự trữ và kiểm soát rủi ro;

Trang 34

(ii) cấp ra quyết định thực hiện chiến lược – thiết lập khuôn khổ hoạt động quản lý

dự trữ gồm chiến lược đầu tư, các tiêu chuẩn danh mục đầu tư, giám sát hoạt độngđầu tư và phê duyệt công cụ đầu tư mới; (iii) cấp độ hoạt động gồm các bộ phậnfront office – thực hiện các giao dịch đầu tư DTNH, middle office – định hướng đầu

tư, kiểm soát và đảm bảo các giới hạn rủi ro được giám sát, đánh giá hiệu suất và

cung cấp các báo cáo cho quản lý, back office – giải quyết các giao dịch thanh toán,

và accounting department – lưu trữ hồ sơ kế toán tài chính

Đồng thời, đòi hỏi mọi nhân viên tham gia vào quá trình quản lý DTNHphải có trình độ cao và được đào tạo bài bản theo các thực tiễn kinh doanh tốt, vàviệc duy trì được đội ngũ nhân viên chất lượng cao trong môi trường đầu tưngoại hối hấp dẫn là quan trọng Bên cạnh đó, việc kiểm soát hiệu quả các hoạtđộng nội bộ và các rủi ro liên quan cần được hỗ trợ bởi hệ thống thông tin và báocáo đáng tin cậy

Nhìn chung, một cơ cấu tổ chức quản lý dự trữ cần rõ ràng về bộ khung chứcnăng, nhiệm vụ và quyền hạn thực hiện và được hoạt động trong một thể chế quản

lý lành mạnh Trong đó, rủi ro nhân viên chủ chốt cần được cân nhắc, bên cạnh rủi

ro về hạ tầng công nghệ thông tin trong đảm bảo hoạt động thông suốt, thông tincập nhật và chốt giao dịch nhanh chóng

Thứ tư, về thực hiện công tác quản lý rủi ro – cần có khuôn khổ để xác định

và đánh giá các rủi ro trong quản lý DTNH, bao gồm: (i) rủi ro tài chính, như rủi rothanh khoản, rủi ro tín dụng, rủi ro tiền tệ và rủi ro lãi suất; (ii) rủi ro hoạt động, nhưthất bại hệ thống kiểm soát, sai sót tài chính và lỗi báo cáo tài chính; (iii) có thể cảrủi ro pháp lý, như ràng buộc trách nhiệm trong cơ cấu nội bộ, thiếu sót trong thỏathuận hợp đồng kinh doanh) Đồng thời, các NHTW cần đưa ra các giới hạn rủi ro

có thể chấp nhận được mà qua đó, xác định được mức độ ảnh hưởng đến giá trịdanh mục đầu tư và kiểm soát tốt hơn rủi ro trong thực tế, hoặc để áp dụng các biệnpháp hỗ trợ cần thiết khác nhằm giảm thiểu tác động tiềm ẩn của các rủi ro

Sẽ không có công thức phù hợp với tất cả các tình huống nhưng thực tế, nhiềuNHTW dựa trên các nguyên tắc quản lý danh mục đầu tư được áp dụng chung đểxây dựng chiến lược phân bổ tài sản nhằm kiểm soát rủi ro bên ngoài Việc phân bổ

Trang 35

tài sản chiến lược thường được thể hiện trong một danh mục đầu tư tiêu chuẩn nhằmtối ưu hiệu quả quản lý dự trữ Một số NHTW khác chia nhỏ DTNH thành các danhmục theo mục tiêu thanh khoản, đầu tư và yêu cầu chính sách.

Lưu ý việc giám sát rủi ro cần được duy trì liên tục để đảm bảo rủi ro vẫn nằmtrong giới hạn, nhờ đó hạn chế mọi tổn thất liên quan đến sai lệch so với tiêu chuẩnhay kịp thời điều chỉnh các giới hạn và cơ cấu đầu tư theo thực tiễn thị trường

Ngoài ra, việc lựa chọn thị trường đầu tư sao cho tiết kiệm chi phí giao dịch,

cải thiện thanh khoản cũng rất quan trọng Quản lý dự trữ và các hoạt động chínhsách có liên quan cần được tiến hành ở các TTTC có đủ độ sâu và thanh khoản để

có thể xử lý hiệu quả các giao dịch Việc này ảnh hưởng đến khả năng trao đổi

ngoại hối cần thiết phục vụ cho các mục tiêu chính sách có liên quan, như can thiệpTTNH, tài trợ cho TTQT Hơn nữa, việc lựa chọn các thị trường đủ sâu và thanhkhoản để giao dịch sẽ đảm bảo khả năng hấp thụ ngoại hối dễ dàng

2.3 Các kinh nghiệm quốc tế về quản lý dự trữ ngoại hối

2.3.1 Kinh nghiệm của Hàn Quốc

Khi khủng hoảng tài chính Đông Á bắt đầu nổ ra ở Thái Lan khoảng giữa năm

1997, Hàn Quốc đang cõng trên vai gánh nặng nợ nước ngoài khổng lồ Vì thế, HànQuốc nhanh chóng chứng kiến hàng loạt đổ vỡ kinh tế do sự đảo chiều dòng vốnngoại gây ra như vỡ nợ, TTCK sụt giảm, sản xuất ngưng trệ và xếp hạng tín nhiệmMoody’s hạ thấp từ A1 xuống B2 Đến tháng 12/1997, các nhà chức trách HànQuốc quyết định lựa chọn chính sách “tăng cường hội nhập tài chính đi đôi với chế

độ TGHĐ thả nổi hoàn toàn”, và những năm sau đó hàng loạt các cải cách đổi mớitiếp tục được thực hiện nhờ mở rộng hợp tác quốc tế trong lĩnh vực quản lý DTNH.Đến nay, Hàn Quốc đang sở hữu mô hình quản lý DTNH được coi là minh bạch,hiệu quả và tiên tiến hàng đầu thế giới Và tại “xứ sở” này, NHTW Hàn Quốc đượcgiao nhiệm vụ trực tiếp quản lý DTNH

Về mục tiêu quản lý DTNH: NHTW Hàn Quốc quản lý tài sản DTNH dựa

trên nguyên tắc gia tăng lợi nhuận, với ưu tiên hàng đầu là đảm bảo thanh khoản và

Trang 36

an toàn Trong đó, mức độ thanh khoản cao được duy trì thông qua đầu tư dự trữvào các tài sản mà có thể lập tức chuyển đổi trên TTTC toàn cầu, những giới hạnnghiêm ngặt trong đầu tư vào các tài sản có nguy cơ tín dụng cao được đặt ra để bảotoàn giá trị của tài sản đầu tư Đồng thời, NHTW Hàn Quốc cố gắng tăng khả năngsinh lời để giảm thiểu chi phí nắm giữ DTNH.

Về quy mô và thành phần DTNH: Nhìn chung, kể từ năm 1998, cán cân vãng

lai của Hàn Quốc liên tục thặng dư lớn, luồng vốn ngoại đổ vào mạnh cùng với nhucầu dự phòng lớn, là những động lực chính đằng sau “cú bứt phá mạnh” trongDTNH của Hàn Quốc – tăng từ 20,4 tỷ USD cuối năm 1997 lên mức 371,1 tỷ USDtính đến cuối năm 2016, và vẫn đang trong đà tăng (Hình 2.1) Hiện Hàn Quốc đứngthứ 7 thế giới về trữ lượng DTNH

Hình 0.3 Trữ lượng DTNH của Hàn Quốc giai đoạn 1997 – 2016

Trong suốt hơn một thập kỷ qua (trừ năm 2008), NHTW Hàn Quốc thườngduy trì DTNH ở quy mô lớn, trung bình chiếm khoảng 25 – 27% GDP Hình 2.2cho thấy quy mô DTNH của Hàn Quốc kể từ năm 2000 luôn đáp ứng trên 6 thángnhập khẩu, tức đạt mức quá cao theo tiêu chuẩn của IMF, bên cạnh đó mức DTNHcủa Hàn Quốc cũng luôn đáp ứng tốt cho các khoản nợ ngắn hạn nước ngoài – gấphơn 2 lần Ngoài ra, chỉ tiêu tỷ lệ DTNH / Mức cung tiền M2 của Hàn Quốc cũngthường duy trì ở mức an toàn từ 18 – 20%

Trang 37

Hình 0.4 Quy mô DTNH của Hàn Quốc xét theo tiêu chuẩn quốc tế

giai đoạn 1998-2016

Tính đến cuối năm 2016, DTNH của Hàn Quốc đã tăng 3,1 tỷ USD so vớicuối năm 2015, đều do gia tăng nắm giữ ngoại tệ (gồm chứng khoán và tiền gửi).Như thể hiện trong bảng 2.1, thành phần DTNH chủ yếu của Hàn Quốc là chứngkhoán và tiền gửi với 97,47%, còn lại là Quyền rút vốn đặc biệt (SDRs), hạn mức

dự trữ tại IMF và vàng Trong đó, NHTW Hàn Quốc đã quyết định gia tăng đáng kểnắm giữ vàng (từ 14,4 tấn vào tháng 07/2011 lên mức 104,4 tấn – tương đương 4.8

tỉ USD vào tháng 02/2013 và duy trì cho đến nay) như một quỹ để “trú tránh antoàn” trước những bất ổn khó lường của TTTC toàn cầu

Bảng 0.1 Thành phần DTNH của Hàn Quốc năm 2014-2016 (triệu USD)

2014 2015 (A) 2016 (B) Thay đổi

(B-A)Ngoại tệ 353.600 358.514 361.701 3.187 SDRs 3.280 3.241 2.878 (363)Hạn mức dự trữ tại IMF 1.917 1.412 1.727 315 Vàng 4.795 4.795 4.795 - Tổng DTNH 363.592 367.962 371.101 3.139

Nguồn: NHTW Hàn Quốc

Về phân bổ tài sản dự trữ, NHTW Hàn Quốc chia DTNH thành 2 danh mục

đầu tư theo mục tiêu nắm giữ là thanh khoản ngắn hạn và đầu tư, trong đó danh mụcđầu tư được chia nhỏ theo phương thức quản lý, gồm được quản lý nội bộ và đượcquản lý bên ngoài Trước đây, NHTW Hàn Quốc chia làm 3 danh mục đầu tư làthanh khoản, đầu tư và ủy thác đầu tư Tuy nhiên, đến năm 2016 đã thay đổi tên và

Trang 38

phương thức phân loại để duy trì tính nhất quán của việc phân chia danh mục và đểxác định rõ hơn các đặc tính của danh mục.

Danh mục thanh khoản ngắn hạn chủ yếu được đầu tư vào các công cụ tàichính ngắn hạn như tín phiếu Kho bạc Hoa Kỳ và các khoản tiền gửi bằng USD bởichi phí giao dịch tối thiểu và có thể chuyển đổi ngay lập tức, cho phép đáp ứng kịpthời nhu cầu ngoại hối thường xuyên và đột xuất Để có được lợi nhuận ổn địnhcùng với mức thanh khoản cao, danh mục đầu tư được quản lý nội bộ phân bổ vàocác công cụ trung và dài hạn như trái phiếu (trái phiếu chính phủ, TCTC, công ty

mà phần lớn là chứng khoán có tài sản đảm bảo) và đa dạng hóa đầu tư sang vàng,các ngoại tệ mạnh khác như EUR, GBP, JPY, đặc biệt là đồng CNY kể từ nửa đầunăm 2012 Và để tận dụng các lợi thế như chuyên môn bên ngoài và đa dạng hoácác phương pháp đầu tư, danh mục đầu tư được quản lý bên ngoài sẽ ủy thác chocác công ty quản lý tài sản uy tín thế giới và Tổng công ty Đầu tư Hàn Quốc (KIC),bao gồm trái phiếu và cả cổ phiếu

Vào cuối năm 2016, DTNH của NHTW Hàn Quốc có cơ cấu danh mục đầu tưtương ứng là 4,7% : 77,3% : 18% = thanh khoản ngắn hạn : đầu tư được quản lý nội

bộ : đầu tư được quản lý bên ngoài

Về tiêu chuẩn đầu tư, các nhà quản lý DTNH trực tiếp tại Hàn Quốc thực

hiện đầu tư theo nguyên tắc tuân thủ các tiêu chuẩn theo biên độ trần đã được quyếtđịnh (benchmarks) Các tiêu chuẩn này phân bổ chi tiết theo đồng tiền, khu vực(như Chính phủ, TCTC, công ty) và theo kỳ hạn, dựa trên phân tích về đường conglợi tức và xu hướng lãi suất, loại chứng khoán và việc mua bán ngắn hạn trênTTNH Trong đó, nguyên tắc đầu tư của NHTW Hàn Quốc là các đối tác có mức tínnhiệm AA trở lên, còn đối tác nhận tiền gửi phải có mức tín nhiệm A trở lên Ngoài

ra, NHTW Hàn Quốc sử dụng nghiệp vụ cho thuê chứng khoán để có thêm thu nhập

và tối thiểu rủi ro thông qua các công ty chứng khoán và đại diện tại New York vàLondon

Về phản ứng của NHTW Hàn Quốc trước biến động của TTTC thế giới: Kể

từ khủng hoảng toàn cầu năm 2007-2008 đến nay, những bất ổn vẫn thường xuyêntiếp diễn và rất khó đoán định như thách thức hạt nhân của Triều Tiên, hàng loạt vụ

Trang 39

khủng bố tập trung vào các quốc gia phương Tây, phong trào ly khai và tình trạngkhủng hoảng nợ leo thang tại châu Âu, hay cuộc bầu cử tổng thống Mỹ với nhữngnguy cơ chính sách, cùng với đó là sự trỗi dậy của Trung Quốc với chiến lược “Mộtvành đai, một con đường” Và như không thể tránh khỏi là những biến động mạnh

và bất chợt của TTTC toàn cầu

Ví như năm 2016, trong nửa đầu năm, lãi suất quốc tế sụt giảm do lo ngại suythoái kinh tế ở Trung Quốc, sự không chắc chắn về việc tăng lãi suất của Mỹ, và tráiphiếu lãi suất âm gia tăng ở châu Âu và Nhật Bản Sau đó, quyết định Brexit củaAnh đã làm trầm trọng thêm sự bất ổn thị trường, đặc biệt là cuộc bầu cử DonaldTrump ở Mỹ, đồng USD và lãi suất quốc tế đảo chiều tăng mạnh, do kỳ vọng cảithiện kinh tế từ dự định mở rộng chính sách tài khóa, và tác động từ tăng lãi suấtcủa Mỹ Giá cổ phiếu ở các nước tiên tiến cũng tăng đáng kể Như vậy, so với nửađầu năm, các biến số giá trên TTTC đã đột ngột đảo chiều Để ứng phó, NHTWHàn Quốc đã quản lý tài sản dự trữ theo hướng nâng cao tính thanh khoản và antoàn, đồng thời phản ứng linh hoạt trước những thay đổi về điều kiện tài chính toàncầu Cụ thể:

Về cơ cấu đồng tiền dự trữ, trước những lo ngại về sự không chắc chắn kéo

dài kể từ năm 2007 của TTTC quốc tế, tỷ lệ nắm giữ đồng USD của NHTW HànQuốc đã giảm đáng kể – khoảng 7,3%, xuống còn 57,3% tính đến cuối năm 2012,chủ yếu để nhường chỗ cho vàng và sự ra đời của đồng tiền dự trữ mới CNY Tuynhiên, đến năm 2013, dự đoán tăng giá đồng USD đã hướng NHTW Hàn Quốc tăngtài sản dự trữ bằng USD và giảm tài sản bằng đồng tiền khác như EUR Tính đếncuối năm 2016, đồng USD chiếm 70,3% dự trữ ngoại tệ, tăng 13% so với cuối năm

2012 (Bảng 2.2)

Về công cụ tài chính, để ứng biến trước rủi ro tăng giảm thất thường của các

biến số kinh tế toàn cầu, NHTW Hàn Quốc đã liên tục điều chỉnh % nắm giữ cácloại tài sản Nhìn chung tính đến cuối năm 2016, % nắm giữ trái phiếu chính phủđược mở rộng đến 36,9%, còn % nắm giữ cổ phiếu liên tục tăng trong xuyên suốtmột thập kỷ, chiếm 7,7% tính đến cuối năm 2016 – tăng 6,4% so với cuối năm

Trang 40

2007 Nguyên nhân là để đảm bảo cân bằng giữa có lợi tức – thanh khoản cao vàduy trì mức rủi ro tổng thể đã định DTNH của NHTW Hàn Quốc xuất hiện khoảndôi dư sau khi yếu tố thanh khoản và an toàn được đảm bảo, và trong bối cảnh lãisuất thấp, NHTW Hàn Quốc quyết định đa dạng hóa đầu tư sang cổ phiếu và tráiphiếu của các thị trường mới nổi, trong đó tập trung phần lớn vào Trung Quốc Vàchúng đều được ủy thác cho nhà quản lý bên ngoài (Bảng 2.2).

Hơn nữa, NHTW Hàn Quốc cũng xúc tiến thành lập thị trường giao dịch trực tiếp KPW – CNY tại Seoul và Thượng Hải lần lượt vào tháng 12/2014 và tháng

06/2016, như khẳng định sự chuyển hướng thị trường đầu tư mục tiêu sang TrungQuốc, bởi sức hấp dẫn từ lượng ngoại hối được giao dịch lớn, TTNH tiềm năng, và

để đón đầu xu hướng quốc tế hóa đồng CNY Đây được coi là bước đi đầu tiêntrong tăng cường sử dụng quốc tế đồng KPW

Bảng 0.2 Cơ cấu DTNH của Hàn Quốc giai đoạn 2007 – 2016 (%)

1 Theo mục tiêu

- Thanh khoản ngắn hạn 3,9 5,8 1,9 3,2 4,5 3,9 3,1 4,3 4,5 4,7

- Đầu tư quản lý nội bộ 84,5 76,1 84,0 82,5 79,7 79,4 81,6 80,5 80,0 77,3

- Đầu tư quản lý bên ngoài 11,6 18,1 14,1 14,3 15,8 16,7 15,3 15,2 15,5 18,0

Về quản lý rủi ro, NHTW Hàn Quốc quản lý rủi ro DTNH theo 4 nhóm,

như thể hiện trong bảng 2.3 Trong đó, NHTW Hàn Quốc: (i) thường xuyên kiểmsoát những khoản lỗ lớn nhất có thể về DTNH, đặc biệt ở danh mục thanh khoảnngắn hạn trong tình huống xấu nhất, thậm chí phân tích cả thời gian và chi phícần thiết để thanh lý DTNH, để tài trợ kịp thời khi dòng thoái vốn nhanh xảy ra,

Ngày đăng: 12/12/2019, 11:54

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Anh Minh. 2017. Nợ nước ngoài tăng 6,5 lần sau 14 năm. Địa chỉ:https://kinhdoanh.vnexpress.net/tin-tuc/vi-mo/no-nuoc-ngoai-tang-6-5-lan-sau-14-nam-3590097.html [Truy cập: 25/05/2017] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nợ nước ngoài tăng 6,5 lần sau 14 năm
2. Bích Diệp. 2017. Bộ Tài chính lên phương án xử lý nghĩa vụ trả nợ cho Vinashin. Địa chỉ: http://dantri.com.vn/kinh-doanh/bo-tai-chinh-len-phuong-an-xu-ly-nghia-vu-tra-no-cho-vinashin-20170425095753547.htm [Truy cập: 25/04/2017] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ Tài chính lên phương án xử lý nghĩa vụ trả nợ choVinashin
5. Hòa Ải. 2017. Nợ công Việt Nam chạm đỉnh 65% GDP: Chính phủ phải làm gì?. Địa chỉ: http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/vietnam-public-debt-how-the-government-resolve-ha-09292017154330.html [Truy cập: 29/09/2017] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nợ công Việt Nam chạm đỉnh 65% GDP: Chính phủ phảilàm gì
6. Hương Hà. 2014. Cuộc chiến giành ngôi giữa các đồng tiền. Địa chỉ:http://suckhoedoisong.vn/cuoc-chien-gianh-ngoi-giua-cac-dong-tien-n72459.html[Truy cập: 17/02/2014] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cuộc chiến giành ngôi giữa các đồng tiền
7. Lê Chi Mai. 2017. Việt Nam cần chuẩn bị như thế nào khi không còn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA). Địa chỉ: http://lyluanchinhtri.vn/home/index.php/dien-dan/item/1867-viet-nam-can-chuan-bi-nhu-the-nao-khi-khong-con-ho-tro-phat-trien-chinh-thuc-oda.html [Truy cập: 01/03/2017] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam cần chuẩn bị như thế nào khi không còn hỗ trợphát triển chính thức (ODA)
8. Lê Dung. 2016. ‘Dự trữ ngoại hối liên tục tăng cao’ hay phải gom ngoại tệ để trả nợ?. Địa chỉ: http://www.sbtn.tv/du-tru-ngoai-hoi-lien-tuc-tang-cao-hay-phai-gom-ngoai-te-de-tra-no/ [Truy cập: 03/10/2016] Sách, tạp chí
Tiêu đề: ‘Dự trữ ngoại hối liên tục tăng cao’ hay phải gom ngoại tệđể trả nợ
9. Lê Hà Trang (2012), “Quản lý dự trữ ngoại hối – Kinh nghiệm từ Trung Quốc”, Tạp chí Thị trường Tài chính Tiền tệ, số 12, tr. 35-38 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý dự trữ ngoại hối – Kinh nghiệm từ TrungQuốc”, "Tạp chí Thị trường Tài chính Tiền tệ
Tác giả: Lê Hà Trang
Năm: 2012
10. Lê Thị Tuấn Nghĩa và Phạm Thị Hoàng Anh (2013), “Quy mô và cơ cấu dự trữ ngoại hối của Việt Nam thời kỳ hậu WTO”, Tạp chí Ngân hàng, số 2&3, tr. 23-27 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy mô và cơ cấu dựtrữ ngoại hối của Việt Nam thời kỳ hậu WTO”, "Tạp chí Ngân hàng
Tác giả: Lê Thị Tuấn Nghĩa và Phạm Thị Hoàng Anh
Năm: 2013
11. Lương Bằng. 2017. ‘Ông lớn’ nhà nước ôm khối nợ 1,5 triệu tỷ đồng. Địa chỉ: http://vietnamnet.vn/vn/kinh-doanh/dau-tu/doanh-nghiep-nha-nuoc-tai-san-3-trieu-ty-no-1-5-trieu-ty-406264.html [Truy cập: 24/10/2017] Sách, tạp chí
Tiêu đề: ‘Ông lớn’ nhà nước ôm khối nợ 1,5 triệu tỷ đồng
12. Lưu Hảo. 2009. Nợ nước ngoài lên, dự trữ ngoại hối giảm. Địa chỉ:http://www.thesaigontimes.vn/Home/taichinh/tiente/25532/ [Truy cập: 20/11/2009] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nợ nước ngoài lên, dự trữ ngoại hối giảm
13. Mai Thu Hiền và Vũ Thu Huyền (2011), “Dự trữ ngoại hối của Việt Nam:Thực trạng và một số gợi ý chính sách”, Tạp chí Ngân hàng, số 12, tr. 11-16 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dự trữ ngoại hối của Việt Nam:Thực trạng và một số gợi ý chính sách”, "Tạp chí Ngân hàng
Tác giả: Mai Thu Hiền và Vũ Thu Huyền
Năm: 2011
14. Minh Đức. 2016. Tiếp tục gia tăng dự trữ ngoại hối quốc gia. Địa chỉ:http://cafef.vn/tiep-tuc-gia-tang-du-tru-ngoai-hoi-quoc-gia-2016072809155189.chn[Truy cập: 28/07/2016] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếp tục gia tăng dự trữ ngoại hối quốc gia
15. Minh Đức. 2017. Cuộc rượt đuổi 10 năm của dự trữ ngoại hối Việt Nam.Địa chỉ: http://vneconomy.vn/tai-chinh/cuoc-ruot-duoi-10-nam-cua-du-tru-ngoai-hoi-viet-nam-201701290145726.htm [Truy cập: 29/01/2017] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cuộc rượt đuổi 10 năm của dự trữ ngoại hối Việt Nam
16. Minh Tuấn. 2017. Việt Nam mua vào 8,3 tỷ USD năm 2016, nâng dự trữ ngoại hối lên 38 tỷ USD. Địa chỉ: http://bizlive.vn/ngan-hang/imf-viet-nam-mua-vao-83-ty-usd-nam-2016-nang-du-tru-ngoai-hoi-len-38-ty-usd-2943104.html [Truy cập: 07/07/2017] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam mua vào 8,3 tỷ USD năm 2016, nâng dự trữ ngoạihối lên 38 tỷ USD
17. Ngọc Hằng. 2017. Vấn đề về dự trữ ngoại hối của Việt Nam. Địa chỉ:http://trithucvn.net/kinh-te/van-de-ve-du-tru-ngoai-hoi-cua-viet-nam.html [Truy cập:20/08/2017] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề về dự trữ ngoại hối của Việt Nam
19. Nguyễn Minh Phong. 2015. Bán dự trữ ngoại tệ: Cẩn trọng tác động trái chiều!. Địa chỉ: http://cafef.vn/tai-chinh-ngan-hang/ban-du-tru-ngoai-te-can-trong-tac-dong-trai-chieu-20150605094444144.chn [Truy cập: 05/06/2015] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bán dự trữ ngoại tệ: Cẩn trọng tác động tráichiều
20. Nguyễn Ngọc Cảnh. 2015. Quản lý ngoại hối, những vấn đề lớn. Địa chỉ:http://tinnhanhchungkhoan.vn/tien-te/quan-ly-ngoai-hoi-nhung-van-de-lon-118825.html [Truy cập: 17/05/2015] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý ngoại hối, những vấn đề lớn
21. Nguyễn Thị Nhung (2007), “Bàn về quản lý dự trữ ngoại hối của Việt Nam trong bối cảnh hội nhập”, Tạp chí Ngân hàng, số 17, tr. 20-22 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về quản lý dự trữ ngoại hối của Việt Namtrong bối cảnh hội nhập”," Tạp chí Ngân hàng
Tác giả: Nguyễn Thị Nhung
Năm: 2007
22. Nguyễn Thị Nhung (2007), “Bàn về quản lý dự trữ ngoại hối”, Tạp chí Ngân hàng, số 20, tr. 4-7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về quản lý dự trữ ngoại hối”, "Tạp chíNgân hàng
Tác giả: Nguyễn Thị Nhung
Năm: 2007
24. Nguyễn Thị Thanh Huyền (2006), “Kinh nghiệm quản lý dự trữ ngoại hối của các nước châu Á”, Tạp chí Khoa học và Đào tạo Ngân hàng, số 53, tr. 49-57 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh nghiệm quản lý dự trữ ngoại hốicủa các nước châu Á”, "Tạp chí Khoa học và Đào tạo Ngân hàng
Tác giả: Nguyễn Thị Thanh Huyền
Năm: 2006

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w