LỜI MỞ ĐẦU Cùng với sự phát triền của thế giới, Việt Nam đã và đang từng bước đi lên và đạt được những thành tựu to lớn đặc biệt là lĩnh vực kinh tế. Trong đó, ngành ngân hàng có sự đổi mới, phát triển rõ rết và có những bước tiến quan trọng trong hệ thống các công cụ quản lý lãi suất - được coi là công cụ nhạy cảm nhất. Lãi suất với tư cách là một trong những công cụ của chính sách tiền tệ được nhiều quốc gia trên thế giới xử dụng như một công cụ hữu hiệu điều tiết nền kinh tế. Đặc biệt là trong cơ chế thị trường lãi suất trở thành công cụ đắc lực để Ngân hàng Trung ương thực thi chính sách tiền tệ nhằm điều tiết mối quan hệ giữa tiết kiệm và đầu tư, lạm phát và tăng trưởng kinh tế... trong từng thời kỳ nhất định cho nên việc thi hành một chính sách lãi suất thích hợp là vô cùng phức tạp mà vai trò đó thuộc về Ngân hàng nhà nước. Xuất phát từ những vấn đề mang tính thời sự của lãi suất trên cơ sở những kiến thức đã học cùng với những kiến thức trong khuôn khổ tài liệu cho phép, em xin trình bày đề tài " Một số vấn đề cơ bản về điều hành chính sách lãi suất của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong thời gian qua " Mục tiêu của tôi khi thực hiện đề án này là: Về mặt lý luận: Tìm hiểu sâu hơn về lãi suất cũng như việc điều hành lãi suất của Ngân hàng Nhà nước thời gian qua ở Việt Nam. Về mặt thực tiễn: Đánh giá và đưa ra giải pháp nhằm góp phần cải thiện việc điều hành chính sách lãi suất. Nội dung của đề án gồm có 3 phần chính: Phần 1: Tổng quan về lãi suất Phần 2: Thực trạng việc điều hành lãi suất của Ngân hàng nhà nước Việt Nam Phần 3: Giải pháp định hướng điều hành lãi suất ở Việt Nam hiện nay và trong thời gian tới. Tôi xin chân thành cảm ơn thầy giáo, PGS.TS Nguyễn Hữu Tài đã hướng dẫn trong quá trình thực hiện và hoàn thành đề án này. Vì thời gian và khả năng của tôi còn hạn chế nên không thể tránh được những thiếu sót trong đề án này. Mong thầy góp ý để tôi có thể hoàn thiện đề án này hơn ./.
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Cùng với sự phát triền của thế giới, Việt Nam đã và đang từng bước đilên và đạt được những thành tựu to lớn đặc biệt là lĩnh vực kinh tế Trong đó,ngành ngân hàng có sự đổi mới, phát triển rõ rết và có những bước tiến quantrọng trong hệ thống các công cụ quản lý lãi suất - được coi là công cụ nhạycảm nhất Lãi suất với tư cách là một trong những công cụ của chính sách tiền
tệ được nhiều quốc gia trên thế giới xử dụng như một công cụ hữu hiệu điềutiết nền kinh tế Đặc biệt là trong cơ chế thị trường lãi suất trở thành công cụđắc lực để Ngân hàng Trung ương thực thi chính sách tiền tệ nhằm điều tiếtmối quan hệ giữa tiết kiệm và đầu tư, lạm phát và tăng trưởng kinh tế trongtừng thời kỳ nhất định cho nên việc thi hành một chính sách lãi suất thích hợp
là vô cùng phức tạp mà vai trò đó thuộc về Ngân hàng nhà nước
Xuất phát từ những vấn đề mang tính thời sự của lãi suất trên cơ sởnhững kiến thức đã học cùng với những kiến thức trong khuôn khổ tài liệu
cho phép, em xin trình bày đề tài " Một số vấn đề cơ bản về điều hành chính sách lãi suất của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong thời gian qua "
Mục tiêu của tôi khi thực hiện đề án này là: Về mặt lý luận: Tìm hiểusâu hơn về lãi suất cũng như việc điều hành lãi suất của Ngân hàng Nhà nướcthời gian qua ở Việt Nam Về mặt thực tiễn: Đánh giá và đưa ra giải phápnhằm góp phần cải thiện việc điều hành chính sách lãi suất
Nội dung của đề án gồm có 3 phần chính:
Phần 1: Tổng quan về lãi suất
Phần 2: Thực trạng việc điều hành lãi suất của Ngân hàng nhà nước ViệtNam
Phần 3: Giải pháp định hướng điều hành lãi suất ở Việt Nam hiện nay vàtrong thời gian tới
Tôi xin chân thành cảm ơn thầy giáo, PGS.TS Nguyễn Hữu Tài đã hướngdẫn trong quá trình thực hiện và hoàn thành đề án này Vì thời gian và khảnăng của tôi còn hạn chế nên không thể tránh được những thiếu sót trong đề
án này Mong thầy góp ý để tôi có thể hoàn thiện đề án này hơn /
Trang 2I Tổng quan về lãi suất
1 Khái niệm lãi suất:
Lãi suất là giá cả của vốn, chi phí phải trả cho việc thuê vốn Hay có thểnói lãi suất là giá cả của quyền được sử dụng vốn trong một thời gian nhấtđịnh mà người sử dụng trả cho người sở hữu nó
Trong nền kinh tế luôn có những chủ thể tạm thời dư thừa vốn, cùng lúc
đó có những người có cơ hội đầu tư sinh lời, cần vốn song lại thiếu vốn, thịtrường tài chính ra đời làm thông suốt quá trình chuyển vốn từ người thừa vốnsang người cần vốn, các chủ thể qua quan hệ vay mượn tín dụng hoặc muabán các công cụ nợ đều đạt được mục đích của mình; người thừa vốn vừa bảođảm được vốn vừa thu được lợi, người thiếu vốn vừa được đáp ứng đủ chođầu tư Từ thị trường đó, lãi suất được hình thành như giá cả của một loạihàng hóa ( ở đây là vốn), nó là chi phí mà người đi vay phải trả cho người chovay để được quyền sử dụng vốn, nó vận động tuân theo quy luật cung cầu vàxác định trên cơ sở cân bằng giữa nhu cầu về vốn và cung về vốn trên thịtrường Như vậy lãi suất chính là tín hiệu thị trường tham gia vào việc nângcao hiệu quả sử dụng vốn và phân bổ nguồn vốn một cách hợp lý
Ngoài ra lãi suất còn là một trong những công cụ chủ yếu của chính sáchtiền tệ của mỗi quốc gia, nó do ngân hàng trung ương - cơ quan thay mặt nhànước thực thi chính sách tài chính tiền tệ nắm giữ, và sử dụng nhằm điềuchỉnh và can thiệp vào thị trường giúp hạn chế và khắc phục những yếu kémcủa nền kinh tế
2 Vai trò của lãi suất trong nền kinh tế
Trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung quan liêu bao cấp, vai trò củalãi suất được nhìn nhận một cách hết sức mờ nhạt và lệ thuộc nhiều khi đượchiểu như là một sự phân phối cuối cùng của sản phẩm giữa những người sảnxuất và người cho vay
Chuyển sang nền kinh tế thị trường lãi suất giữ vai trò hết sức quan trọng
là một trong những đòn bẩy kinh tế Nó tác động đến tất cả các lĩnh vực của
Trang 3nền kinh tế quốc dân nói chung Vai trò của lãi suất được thể hiện ở nội dungsau đây:
2.1 Lãi suất là công cụ để khuyến khích tiêt kiệm đầu tư
Lãi suất là công cụ khuyến khích lợi ích vật chất để thu hút các khoảntiết kiệm của các chủ thể kinh tế tạo nên quỹ cho vay đáp ứng nhu cầu củanền kinh tế
Theo lý thuyết tài chính chúng ta có thể đưa ra phương trình về thu nhậpnhư sau:
Thu nhập = Tiêu dùng + tiết kiệm
Phương trình này không những đúng với đặc điểm tài chính của các hộgia đình, các doanh nghiệp mà còn đúng với cả nền kinh tế quốc gia Giả sửtrong điều kiện của một nền kinh tế bình thường tỷ lệ giữa tiêu dùng và tiếtkiệm là hợp lý để tăng lãi suất huy động vốn Khi lãi suất vốn tăng lên thìtrước hết các hộ gia đình phải xem xét các khoản chi cho tiêu dùng thuwongfcuyên có thể giảm chi hoặc hoãn một số khoản chi để tăng thêm khoản tiếtkiệm trong tổng thu nhập Sau từ khonar tiết kiệm này họ sẽ hướng đầu tư gửivào Ngân hàng, vào quỹ bảo hiểm hay đầu tư vào thị trường chứng khoán khithấy có lợi hơn
Như vậy, lãi suất là công cụ can thiệp có hiệu lực để phân chia tỷ lệ giữatiêu dùng và tiết kiệm, Nhưng nâng lãi suất huy động đến mức nào thì phảicân nhắc thận trọng để đảm bảo sự phát triển hài hòa của nền kinh tế quốcdân
Ở Việt Nam trong công cuộc đổi mới nền kinh tế vốn đang là vấn đềthen chốt Muốn huy động được vốn phải có biện pháp thu hút vốn Vấn đề làcần duy trì một mức lãi suất như thế nào đê huy động tối đa vốn nhàn rỗitrong xã hội
2.2 Lãi suất ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
Chính sách lãi suất là một bộ phận trong chính sách tiền tệ của Nhà nướcnhằm điều tiết lưu thông tiền tệ kích thích điều tiết và hướng hoạt động sảnxuất kinh doanh của các đơn bị kinh tế
Trang 4- Lãi suất phải trả cho khoản vay là khoản chi phí của doanh nghiệp Dovậy, lãi suất sẽ khuyến khích các doanh nghiệp vay vốn đầu tư phát triển sảnxuất kinh doanh Ngược lại, lãi suất cho vay vào sẽ thu hẹp đầu tư của cácdoanh nghiệp.
- Lãi suất là công cụ buộc các doanh nghiệp phải sử dụng hiệu quả.Những ưu đãi về lãi suất về điều kiện cung cấp tín dụng và thanh toán là công
cụ của Nhà nước nhằm khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư vào các ngànhcác sản phẩm cần ưu tiên trong chiến lược phát triển kinh tế
2.3 Lãi suất là công cụ điều tiết vĩ mô
Lãi suất tạo nên khoản chi phí của người đi vay vì vậy sự biến động củalãi suất có tác động đến đầu tư đến tiêu dùng qua đó tác động đến các mụctiêu của nền kinh tế vĩ mô biểu hiện trong các trường hợp sau:
- Lãi suất thấp sẽ kích thích các cá nhân, các doanh nghiệp đầu tư cũngnhư tiêu dùng, khi đầu tư tăng, tiêu dùng tăng dẫn đến tăng tổng cầu, sảnlượng tăng làm giá tăng, thất nghiệp giảm, nội tệ có xu hướng giảm giá so vớingoại tệ Và ngược lại khi lãi suất cao làm hạn chế đầu tư, hạn chế tiêu dùng,làm giảm tổng cầu, giảm sản lượng, giá giảm, thất nghiệp tăng, nội tệ có xuhướng tăng giá so với ngoại tệ
Như vậy bằng cách tăng lãi suất Ngân hàng Nhà nước có thể làm giảmkhả năng cho vay của ngân hàng Thương mại do đó thực hiện chính sách tiền
tệ thắt chặt giảm bớt khối lượng tiền cần thiết cho việc mở rộng sản xuất kinhdoanh và chi tiêu của người tiêu dùng Cũng như vậy, bằng cách hạ thấp lãisuất Ngân hàng Nhà nước có thể tạo điều kiện cho các hoạt động kinh tế pháttriển hoặc muốn kìm hãm tốc độ phát triển một ngành nghề nào đó Ngânhàng Nhà nước có thể tăng hoặc giảm lãi suất cho vay để thu hẹp hoặc mởrộng đầu tư của các ngành nghề
Từ năm 1989 đến nay, chính sách lãi suất luôn được sử dụng để điềuchỉnh kinh tế ở Việt Nam Sau khi kiềm chế và giữ được lạm phát ở mức độtương đối ổn định, Ngân hàng Nhà nước đang thực hiện hạ thấp dần khung lãisuất để khuyến khích huy động đầu tư và mở rộng sản xuất kinh doanh khôi
Trang 52.5 Lãi suất là công cụ đo lường tình trạng của nền kinh tế
Người ta thấy rằng trong giai đoạn đang phát triển của nền kinh tế lãisuất có xu hướng tăng do cung cầu quỹ cho vay đều tăng trong đó tốc độ tăngcủa cầu quỹ cho vay lớn hơn tốc độ tăng của cung quỹ cho vay
Ngược lại, trong giai đoạn suy thoái của nền kinh tế lãi suất có xu hướnggiảm xuống
Do vậy, thông thường nhìn vào xu hướng biến động của lãi suất ta thấyđược tình trạng sức khỏe của nền kinh tế
Lãi suất là biến số thường xuyên biến động trong nền kinh tế Căn cứvào sự biến động đó của lãi suất người ta có thể dự báo được các yếu tố kháccủa nền kinh tế như tính sinh lời của các cơ hội đầu tư, mức lạm phát dự tínhmức thiếu hụt của ngân sách, người ta có thẻ dựa vào lãi suất trong một thời
kỳ để dự báo tình hình kinh tế trong tương lai
3 Phân loại lãi suất
3.1 Căn cứ vào thời hạn tín dụng:
Lãi suất được chia thành 3 loại
+ Lãi suất ngắn hạn áp dụng đối với các khoản tín dụng ngắn hạn
+ Lãi suất trung hạn áp dụng đối với các khoản tín dụng trung hạn
+ Lãi suất tín dụng dài hạn áp dụng đối với các khoản tín dụng dài hạn
Trang 63.2 Căn cứ vào các loại hình tín dụng
Lãi suất được chia thành các loại sau:
+ Lãi suất tín dụng thương mại áp dụng khi các doanh nghiệp cho nhauvay dưới hình thức mua bán chịu hàng hóa
+ Lãi suất tiền gửi: là lãi suất trả cho các khoản tiền gửi Nó được ápdụng để tính tiền lãi phải trả cho người gửi tiền
+ Lãi suất tiền vay: là lãi suất người đi vay phải trả cho Ngân hàng doviệc sử dụng vốn vay của Ngân hàng Nó được áp dụng để tính lãi mà kháchhàng phải trả cho ngân hàng
+ Lãi suất chiết khấu: áp dụng khi Ngân hàng cho khách hàng vay dướihình thức chiết khấu thương phiếu hoặc giấy tờ có giá khác chưa đến hạnthanh toán của khách hàng Nó được tính bằng tỷ lệ % trên mệnh giá của giấy
tờ có giá và được khấu trừ ngay khi Ngân hàng phát tiền vay cho khách hàng.+ Lãi suất tái chiết khấu: áp dụng khi Ngân hàng trung ương tái cấp vốncho các ngân hàng dưới hình thức chiếu khấu lại thương phiếu hoặc giấy tờ cógiá ngắn hạn chưa đến hạn thanh toán cho các Ngân hàng Nó được tính bằng
tỷ lệ % trên mệnh giá của giấy tờ có giá cũng được khấu trừ ngay khi Ngânhàng Trung ương cấp vốn tiền vay cho Ngân hàng
+ Lãi suất liên Ngân hàng: là lãi suất mà Ngân hàng áp dụng khi chonhau vay trên thị trường liên Ngân hàng
+ Lãi suất cơ bản: là lãi suất được các Ngân hàng sử dụng làm cơ sở để
ổn định mức lãi suất kinh doanh của mình
+ Lãi suất tín dụng Nhà nước: áp dụng khi Nhà nước đi vay của các chủthể khác nhau trong xã hội dưới hình thức phát hành tín phiếu hoặc trái phiếu.+ Lãi suất tín dụng tiêu dùng: áp dụng khi doanh nghiệp cho người laođộng vay phục vụ nhu cầu tiêu dùng cá nhân
3.3 Căn cứ vào giá trị thực của lãi suất
Lãi suất được chia thành 2 loại:
+ Lãi suất danh nghĩa : là lãi suất tính theo giá trị danh nghĩa của tiền tệvào thời điểm nghiên cứu hay nói cách khác là loại lãi suất chưa loại trừ đi tỷ
Trang 7lệ lạm phát.
+ Lãi suất thực: là lãi suất được điều chỉnh lại cho đúng theo những thayđổi về lạm phát, hay nói cách khác là lãi suất đã loại trừ đi tỷ lệ lạm phát Lãi suất danh nghĩa = lãi suất thực + tỷ lệ lạm phát
3.4 Căn cứ vào mức ổn định của lãi suất
Lãi suất được chia thành 2 loại:
+ Lãi suất ổn định: lãi suất được ấn định 1 mức cụ thể trên Hợp đồng vayvốn, không chịu tác động của những biến động lãi suất thị trường Lãi suấtnày sẽ không thay đổi trong suốt thời gian vay vốn tại Ngân hàng Thôngthường áp dụng trong cho vay ngắn hạn
+ Lãi suất thả nổi: lãi suất được điều chỉnh theo từng thời kỳ, biến đổitheo thời gian Mức điều chỉnh và kỳ điều chỉnh lãi suất sẽ theo thỏa thuậngiữa khách hàng và ngân hàng (không trái với Pháp luật) và được quy định rõtrên Hợp đồng vay vốn Thông thường kỳ điều chỉnh lãi suất là 03 tháng/lần,
06 tháng/lần hoặc 1 năm/lần; mức điều chỉnh lãi suất thường được tính bằngLãi suất tiền gửi tiết kiệm lớn hơn hoặc bằng 12 tháng (tùy mỗi Ngân hàng) +biên độ nhất định (nhưng không vượt quá mức khống chế trần lãi suất củaNgân hàng nhà nước); hoặc bằng lãi suất cho vay công bố của Ngân hàng tạithời điểm điều chỉnh Thông thường áp dụng trong cho vay trung và dài hạn
4 Các nhân tố ảnh hưởng đến lãi suất
4.1 Ảnh hưởng của cung cầu của quỹ cho vay
Lãi suất là giá cả của cho vay vì vậy bất kỳ sự thay đổi nào của cung vàcầu hoặc cả cung và cầu quỹ cho vay không cùng một tỷ lệ đều sẽ là thay đổimức lãi suất trên thị trường, tuy mức độ biến động của lãi suất cũng ít nhiềuphụ thuộc vào các quy định của chính phủ và Ngân hàng Trung ương, song đa
số các nước có nền kinh tế thị trường đều dựa vào nguyên lý này để xác địnhlãi suất Từ điều này cho thấy, chúng ta có thể tác động vào cung cầu trên thịtrường vốn để thay đổi lãi suất trong nền kinh tế cho phù hợp với mục tiêuchiến lược trong từng thời kỳ: chẳng hạn nhu thay đổi cơ cầu vốn đầu tư, tậptrung vốn đầu tư cho các dự án trọng điểm Mặt khác, muốn duy trì sự ổn định
Trang 8của lãi suất thì sự ổn định của thị trường vốn phải được đảm bảo vững chắc.
4.2 Ảnh hưởng của lạm phát kỳ vọng
Khi mức làm phát được dự đoán sẽ tăng lên trong một thời kỳ nào đó, dù
ở từng mức lãi suất riêng lẻ hay ở tất cả mọi lãi suất, yếu tổ kích thích làmtăng cung quỹ cho vay gần như triệt tiêu bởi giá trị thực tế của vốn gốc và tiềnlời thu được đã bị hao mòn do tác động của lạm phát Trong tình hình ấynhững người có khả năng cho vay không muốn giữa tiền mặt, đổ xô đi muahàng hóa dự trữ vàng, ngoại tệ mạnh, hay đầu tư ra nước ngoài nếu có thể.Điều đó dẫn đến cung quỹ cho vay giảm làm lãi suất tăng lên Lạm phát tănglên không chỉ làm giảm độ lớn của cung mà còn kéo theo việc tăng thêm quy
mô về cầu quỹ cho vay Bởi với lãi suất danh nghĩa cho trước, khi làm phát
dự tính tăng lên, chỉ phí thực của việc vay tiền giảm xuống, kích thích người
ta đi vay hơn là cho vay Người đi vay sẽ kiếm được khoản thu lợi do giáhàng hóa được mua bằng tiền đi vay sẽ tăng lên, tức là cầu quỹ cho vay tăng.Cầu quỹ cho vay tăng sẽ đẩy lãi suất đi lên
Theo Friedman, ông cho rằng trong mọi trường hợp tỷ lệ lạm phát củamột nước là cực kỳ cao trong bất cứ thời kỳ kéo dài nào, thì tỷ lệ tăng trưởngcủa cung ứng tiền tệ là cực kỳ cao
Tóm lại khi lạm phát dự tính tăng, lãi suất tăng, điều này có một ý nghĩaquan trọng trong việc dự đoán lãi suất khi nền kinh tế có xu hướng lạm pháttăng Trên cơ sở đó, có một chính sách lãi suất hợp lý Khi lạm phát cao, nhànước cần phải nâng lãi suất danh nghĩa, đảm bảo cho lãi suất thực dương,hoặc nhà nước tung vàng, ngoại tệ ra bán để kiềm chế lạm phát
Nhiều nhà kinh tế đã khuyến nghị rằng cuộc chiến chống lạm phát nhấtđịnh sẽ thất bại nếu chúng ta muốn hạ thấp lãi suất
4.3 Ảnh hưởng của bội chi ngân sách
Khi Nhà nước bội chi ngân sách làm cho cầu của quỹ cho vay tăng làmtăng lãi suất Hơn nữa, bội chi ngân sách sẽ tác động đến tâm lý công chúng
về gia tăng mức lạm phát và do vậy mà sẽ gây áp lực tăng lãi suất Xét ở góc
độ khác, thông thường khi bội chi ngân sách tăng, chính phủ thường gia tăng
Trang 9việc phát hành trái phiếu Lượng cung trái phiếu trên thị trường tăng lên làmcho giá trái phiếu có xu hường giảm, lãi suất thị trường vì vậy mà tăng lên,Hơn nữa, tài sản có của các ngân hàng thương mại cũng gia tăng ở khoản mụctrái phiếu chính phủ, dự trữ vượt quá giảm, lãi suất ngân hàng cũng sẽ tăng.
4.4 Những thay đổi về thuế.
Thuế thu nhập cá nhân và thuế lợi tức công ty luôn tác động đến lãi suấtgiông như khi thuế tác động đến giá cả hàng hóa Nếu các hình thức thuế nàytăng lên cũng có nghĩa là điều tiết đi một phần thu nhập của những ngườitham gia kinh doanh chứng khoán Thông thường, ai cũng sẽ quan tâm đếnthu nhập, thực tế hay lợi nhuận sau thuế hơn là thu nhập danh nghĩa Do vậy,
để duy trì một mức lợi nhuận thực tế nhất định họ phải cộng thêm vào lãi suấtcho vay những thay đổi của thuế Điều quan trọng được rút ra từ mối quan hệnày là việc xác lập và điều chỉnh đối với chính sách thuế, nhằm hạn chếnhững tác động ngoài ý muốn của mỗi thay đổi nói trên của thuế
4.5 Các chính sách của nhà nước
+ Chính sách tiền tệ: với tư cách ngân hàng của các ngân hàng, ngânhàng trung ương thực hiện vai trò chỉ huy đối với toàn bộ hệ thông ngân hàngcủa một quốc gia Với công cụ lãi suất, ngân hàng trung ương có thể điều tiếthoạt động của nền kinh tế vĩ mô bằng các phương pháp sau:
- Ngân hàng có thể quy định lãi suất cho thị trường, chủ động điềuchỉnh lãi suất để điều chỉnh tổng phương tiện thanh toán trong nền kinh tế,hạn chế hoặc mở rộng hoạt động tín dụng nhằm thực hiện được mục tiêu giảmlạm phát và tăng trưởng kinh tế theo từng thời kỳ
- Ngân hàng trung ương thực hiện chính sách lãi suất tái chiết khấu:Ngân hàng trung ương tái chiết khấu các chứng từ do ngân hàng thương mạixuất trình với điều kiện ngân hàng phải trả một lãi suất nhất định do ngânhàng trung ương đơn phương quy định
Mỗi khi lãi suất tái chiết khấu thay đổi có xu hướng làm tăng hay giảmchi phí cho vay của ngân hang trung ương đối với ngân hàng thương mại vàcác tổ chức tín dụng do đó khuyến khích hay cản trở nhu cầu vay vốn Vì vậy
Trang 10thông qua việc điều chỉnh lãi suất chiết khấu, ngân hàng trung ương có thểkhuyến khích mở rộng hay làm giảm khối lượng tín dụng mà ngân hàngthương mại cấp cho nền kinh tế Do thay đổi lãi suất chiết khấu, ngân hàngtrung ương có thể tác đông gián tiếp vào lãi suất thị trường Một lãi suất chiếtkhấu cao hay thấp sẽ làm thay đổi lượng vay của ngân hàng, tức lượng tiềncung ứng của ngân hàng cho nền kinh tế và cuối cùng sẽ làm thay đổi mức lãisuất thị trường.
- Ngân hàng trung ương thực hiện chính sách thị trường mở cửa: cónghĩa là ngân hàng trung ương thực hiện việc mua bán giấy tờ có giá trên thịtrường chứng khoán Nhiệm vụ chính của chính sách thị trường mở là điềuhòa cung cầu về các chứng khoán và giấy tờ có giá khác để tác động vào cácngân hàng thương mại trong việc cung cầu tiền tệ, cung ứng tín dụng
- Ngân hàng trung ương tăng hay giảm mức dự trữ bắt buộc: khi tỷ lệ
dự trữ tăng lên tức là ngân hang trung ương quyết định giảm bớt số vốn khảdụng của ngân hàng kéo theo những khó khăn ngân quỹ cho các ngân hàng,hạn chế tín dụng của ngân hàng và ngược lại Do đó cũng ảnh hưởng gián tiếpđến lãi suất trên thị trường
+ Chính sách thu nhập: Đó là chính sách về giá cả và tiền lương Nếumức giá cả giảm mà cung tiền tệ không thay đổi, giá trị của đơn vị tiền tệ theogiá trị thực tế tăng, bởi vì nó có thể dùng để mua nhiều hàng hóa và dịch vụhơn Do vậy cũng như ảnh hưởng của một sự tăng lên trong cung tiền tệ khimức giá được giữ cố định, làm lãi suất giảm Ngược lại một mức giá cao hơnlàm giảm cung tiền tệ theo giá thực tế, làm tăng lãi suất Như vậy một mứcgiá cao hơn làm giảm cung tiền tệ theo giá trị thực tế, làm tăng lãi suất Nhưvậy một sự thay đổi về chính sách giá cả cũng làm thay đổi lãi suất
Yếu tố cấu thành quan trọng nhất của chi phí sản xuất là chi phí tiềnlương, khi tiền lương tăng làm chi phí sản xuất tăng, làm giảm lợi nhuận theođơn vị sản phẩm tại một mức giá cả, giảm nhu cầu đầu tư, cầu tiền tệ giảm, lãisuất giảm
+ Chính sách tỷ giá: bao gồm các biện pháp liên quan đến việc hình
Trang 11thành quan hệ về sức mua giữa tiền của nước này so với một ngoại tệ khác,nhất là đối với các ngoại tệ có khả năng chuyển đổi.
Tỷ giá sẽ tác động đến quá trình sản xuất kinh doanh và xuất nhập khẩuhảng hóa của một nước khi nhà nước tăng tỷ giá ngoại tệ sẽ làm tăng giá củahang nhập khẩu, dẫn đến tăng chi phí đầu vào của các xí nghiệp, giá hàng hóatrong nước tăng lên, lợi nhuận giảm, nhu cầu đầu tư giảm, cầu tiền tệ giảm, lãisuất giảm Mặt khác, khi tỷ giá ngoại tệ tăng, lượng tiền cung ứng để đảm bảocân đối ngoại tệ cần chuyển đổi tăng lên, lãi suất giảm
Vì vậy khi thấy đồng tiền của nước mình sụt giá, ngân hàng trung ương
sẽ theo đuổi một chính sách tiền tệ thắt chặt hơn, giảm bớt cung tiền tệ, nânglãi suất trong nước, làm cho đồng tiền củng mình vững mạnh
Khi tỷ giá ngoại tệ giảm, đồng tiền tăng giá, không kích thích xuất khẩu,nền công nghiệp trong nước có thể bị sự cạnh tranh của nước ngoài tăng lên,kích thích nhập khẩu Lượng tiền tệ tăng do với một tỷ giả thấp, với mộtlượng vốn đầu tư nhất định, tài sản đầu tư sẽ nhiều hơn, kích thích đầu tư vàosản xuất, lãi suất tăng lên Nhu vậy khi có một sự cạnh tranh giữa nền côngnghiệp trong nước với công nghiệp nước ngoài tăng lên, có thể gây áp lựcbuộc ngân hàng trung ương phải theo đuổi một tỷ lệ tăng trưởng tiền tệ caohơn nhằm hạ thấp tỷ giá
II Thực trạng việc điều hành lãi suất của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
1 Bối cảnh chung
Năm 1988 là năm mở đầu thời kỳ chuyển hướng từ nền kinh tế kế hoạchhóa tập trung sang nền kinh tế thị trường có sự điều tiết của nhà nước, Với cơchế kinh tế mới, tất cả các tổ chức kinh tế được tự chủ về tài chính, sản xuất,kinh doanh và tung ra hoạt động theo cơ chế thị trường
Phối hợp với xu hướng mới này của nền kinh tế, hệ thông ngân hàngViệt Nam bắt đầu chuyển đổi Đặc trưng của quá trình này là: Tách hệ thốngngân hàng từ một cấp sang hai cấp
Sự chuyển đổi diễn ra 3 năm 1988 - 1990 song chưa có những chuyển
Trang 12biến rõ nét, vẫn mang dáng dấp ngân hàng thời bao cấp Trong giai đoạn này,
sự đổ vỡ hàng loạt các quỹ tín dụng nhân dân đã gây cho nền kinh tế nhữngtổn thất lớn Nhưng cũng từ đó chúng ta đã có những bài học kinh nghiệmquý báu và tiếp tục kiên trì con đường đổi mới
Từ năm 1990 đến nay là giai đoạn đổi mới và phát triển hệ thống ngânhàng Hệ thống ngân hàng Việt Nam chuyển hướng nhanh để hòa nhập nềnkinh tế thị trường có điều tiết của nhà nước Chính sách tiền tệ bắt đầu hìnhthành Trong thời kỳ bao cấp, do suy thoái kinh tế, ngân sách quốc gia bịthâm hụt Nhằm bù đắp vào những khoản chi tiêu ngân sách, nhà nước tănglượng tiền phát hành vào lưu thông dẫn đến lạm phát phi mã, nền kinh tế lâmvào khủng hoảng Do vậy không thể duy trì cơ chế này Năm 1991 Ngân hàngnhà nước Việt Nam bắt tay vào xây dựng chính sách tiền tệ với mục tiêu ổnđịnh đồng tiền Việt Nam, tăng trưởng kinh tế Việc xác định lượng tiền cungững hàng năm phục vụ hai mục tiêu đó sao cho lượng tiền cung ứng dủ, vửađảm bảo phương tiện lưu thông sản xuất không bị ách tắc vừa kiềm chế lạmphát
2, Các giai đoạn thực hiện chính sách lãi suất ở Việt Nam
2.1 Giai đoạn trước năm 2000
Từ trước năm 1986 đến 2000, việc thực hiện chính sách lãi suất đã trảiqua nhiều giai đoạn, mỗi giai đoạn mang một nội dung và một mực đích khácnhau, nhưng nói chung qua mỗi giai đoạn đã tích lũy được khá nhiều kinhnghiệm Điểm qua lại một số giai đoạn đầu của những năm đổi mới chínhsách lãi suất để có thể thấy rõ sự điều hành lãi suất của Ngân hàng Trungương ra sao
Trang 13Tức là người gửi tiền không những không có lãi mà giá trị đồng tiền vốn của
họ bỏ vào Ngân hàng còn không được bảo đảm Điều này có nghĩa là:
- Lãi suất tiền gửi thấp hơn mức lạm phát
- Lãi suất cho vay thấp hơn lãi suất huy động và thấp hơn mức lạm phát
Hệ thống lãi suất âm có nhiều tiêu cực:
- Khả năng huy động vốn cùng với yêu cầu rút bớt tiền lưu thông, giảmbớt áp lực của tiền đối với giá của hàng hóa bị hạn chế nhiều
- Nhu cầu vay vốn tăng lên không thực chất, tạo lợi nhuận giả tạo chocác doanh nghiệp
- Ngân hàng bao cấp qua lãi suất cho khách hàng, tạo lỗ không đáng cócho ngân hàng, ngân hàng không thể kinh doanh tiền tệ bình thường theo cơchế thị trường
- Không có tác dụng khuyến khích khu vực dân cư gửi tiền tiết kiệm vòa
hệ thống ngân hàng, họ tăng nắm giữ vàng bạc và ngoại tệ Ngân hàng thiếuvốn, lợi nhuận thấp nên không có khả năng cho vay ra nền kinh tế
Từ tháng 3/1989, Ngân hàng nhà nước đã chủ động sử dụng công cụ lãisuất, chuyển từ lãi suất âm qua lãi suất dương Để thu hút tiền trong lưu thông
và kiềm chế được lạm phát, tranh bao cấp qua lãi suất, ngân hàng nhà nước đãnâng lãi suất huy động lên một mức rất cao trong một thời gian ngắn ( lãi suấttiết kiệm không kỳ hạn 9%/ tháng; lãi suất tiết kiệm 3 tháng 12%/tháng )Nhờ việc sử dụng công cụ lãi suất mà nền kinh tế đã thu hút được mộtkhối lượng tiền lớn trong lưu thông, tăng nguồn vốn tín dụng, kiếm chế lạmphát, kích thích tăng trưởng phát triển Ngoài ra, nó còn giúp chuyển lãi suất
âm sang lãi suất dương, tức là lãi suất tiền gửi cao hơn lạm phát, lãi suất chovay cao hơn lãi suất huy động, xử lý hài hòa lợi ích người gửi tiền, người vayvốn và tổ chức tín dụng
Tuy nhiên, chính sách lãi suất này còn nhiều hạn chế, đó là hệ thống lãisuất phức tạp, nhiều mức lãi suất tiền gửi và tiền vay Đối với ngành kinh tế(công, nông, thương nghiệp) có mức lãi suất riêng; đối với các thành phầnkinh tế ( quốc doanh và ngoài quốc doanh ) còn phân biệt lãi suất Mức lãisuất thực dương phi thực tế ( năm 1991 lãi suất thức là 25,6%; năm 1992 là