Tính cấp thiết của đề tàiTrong điều kiện phát triển kinh tế thị trường và hội nhập hiện nay, những diễn biến phức tạp của kinh tế thế giới và khủng hoảng có tác động khác nhau, song đều ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp đến hoạt động của các ngân hàng. Do vậy, hệ thống ngân hàng cần phải được thiết lập, vận hành và quản trị, giám sát theo những chuẩn mực, chính sách an toàn, lành mạnh. Sau hơn 25 năm đổi mới, hoạt động thanh tra, giám sát Ngân hàng từng bước được hoàn thiện trên cơ sở xây dựng và ban hành các quy định an toàn phù hợp dần với nguyên tắc và chuẩn mực quốc tế. Trong hoạt động thanh tra, giám sát ngân hàng, giám sát từ xa (GSTX) là một trong hai phương thức chủ yếu và quan trọng để thực hiện chức năng của thanh tra, giám sát NHNN. Mặc dù đã đạt được một số kết quả nhất định, hoạt động thanh tra giám sát của NHNN Chi nhánh TP Hà Nội trong thời gian qua đã tỏ ra còn nhiều bất cập, chưa đáp ứng kịp yêu cầu quản lý hệ thống ngân hàng hiện đại, đặc biệt còn nhiều tồn tại, yếu kém ở hệ thống GSTX. Xuất phát từ nhận thức tầm quan trọng của hoạt động giám sát ngân hàng và từ thực trạng công tác GSTX của NHNN Chi nhánh TP Hà Nội, đề tài “Tăng cường giám sát từ xa đối với các Ngân hàng thương mại cổ phần tại Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Chi nhánh Thành phố Hà Nội” được lựa chọn nghiên cứu để giải đáp câu hỏi thực tiễn trên. Mục đích nghiên cứuNghiên cứu đề tài nhằm mục đích: Hệ thống hoá những vấn đề cơ bản về hoạt động giám sát từ xa của NHTW đối với các NHTM; Phân tích, đánh giá thực trạng công tác GSTX đối với các NHTMCP của NHNN Chi nhánh TP Hà Nội; từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường công tác GSTX đối với các NHTMCP trên địa bàn Thành phố Hà Nội.Phương pháp nghiên cứuĐề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu khoa học như: Phương pháp thu thập và xử lý thông tin; Phương pháp phân tích tổng hợp; Phương pháp lựa chọn trường hợp điển hình.
Trang 1NGUYễN THị BảO NGọC
tăng cờng giám sát từ xa đối với các ngân hàng thơng mại cổ phần tại ngân hàng nhà nớc việt nam chi nhánh
thành phố hà nôi Chuyên ngành: TàI CHíNH NGÂN HàNG
Ngời hớng dẫn khoa học:
TS LÊ THANH TÂM
Hà Nội - 2015
Trang 2Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện luận văn này, tôi đã nhận được rấtnhiều sự giúp đỡ của các thầy cô trong Viện Đào tạo sau đại học, Viện Ngân hàng –Tài chính Trường Đại học Kinh tế Quốc Dân và Tiến sĩ Lê Thanh Tâm Tôi xinchân thành cảm ơn sự giúp đỡ tận tình của các thầy cô trong Viện Đào tạo sau đạihọc, Viện Ngân hàng – Tài chính Trường Đại học Kinh tế Quốc Dân, sự hướng dẫnnhiệt tình của Tiến sĩ Lê Thanh Tâm đã giúp tôi hoàn thành luận văn này.
Trang 3Tôi xin cam đoan: bản luận văn này là công trình nghiên cứu thực sự của cánhân, được thực hiện trên cơ sở nghiên cứu lý thuyết, kiến thức kinh điển, nghiêncứu khảo sát tình hình thực tiễn và dưới sự hướng dẫn khoa học của Tiến sĩ LêThanh Tâm.
Các số liệu được sử dụng trong luận văn có nguồn trích dẫn rõ ràng, các kếtquả trong luận văn là trung thực và chưa từng công bố trong các công trình nghiêncứu khác
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG, BIỂU, SƠ ĐỒ
TÓM TẮT LUẬN VĂN
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CÔNG TÁC GIÁM SÁT TỪ XA ĐỐI VỚI NHTM CỦA NHTW 5
1.1 Tổng quan về NHTW 5
1.1.1 Khái niệm, chức năng, nhiệm vụ của NHTW 5
1.1.2 Thanh tra, giám sát của NHTW đối với hoạt động của các NHTM 9
1.2 Công tác GSTX đối với NHTM của NHTW 11
1.2.1.Khái niệm công tác GSTX và tăng cường công tác GSTX 11
1.2.2 Sự cần thiết của công tác GSTX đối với các NHTM 13
1.2.3 Phương pháp GSTX của NHTW đối với NHTM 15
1.2.4 Các tiêu chí đánh giá công tác GSTX của NHTW đối với NHTM 24
1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác GSTX 29
1.3.1 Nhân tố chủ quan 29
1.3.2 Nhân tố khách quan 31
1.4 Kinh nghiệm quốc tế và bài học 33
1.4.1.Một số mô hình GSTX của các quốc gia khác 33
1.4.2 Bài học kinh nghiệm 35
Kết luận Chương 1 37
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC GSTX ĐỐI VỚI CÁC NHTMCP TẠI NHNN CHI NHÁNH TP HÀ NỘI 38
2.1.Giới thiệu về NHNN Chi nhánh TP Hà Nội 38
2.1.1.Tổ chức, bộ máy và chức năng, nhiệm vụ của NHNN chi nhánh HN 38
2.1.2 Thanh tra giám sát chi nhánh TP Hà Nội 40
2.2 Thực trạng công tác GSTX của NHNN chi nhánh TP Hà Nội đối với các NHTMCP 42
2.2.1 Khái quát về hệ thống các NHTMCP trên địa bàn TP Hà Nội 42 2.2.2 Phân tích thực trạng công tác GSTX đối với các NHTMCP tại NHNN chi
Trang 5nhánh TP Hà Nội 64
2.3.1.Kết quả đạt được 64
2.3.2.Hạn chế 65
2.4.1 Nguyên nhân của hạn chế 68
Kết luận chương 2 73
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC GSTX ĐỐI VỚI CÁC NHTMCP TẠI NHNN CHI NHÁNH TP HÀ NỘI 74
3.1 Định hướng tăng cường công tác GSTX của NHNN Chi nhánh Thành phố Hà Nội đến năm 2020 74
3.2 Giải pháp tăng cường công tác GSTX tại NHNN Chi nhánh TP HN 75
3.2.1 Bổ sung nội dung GSTX theo hướng chặt chẽ và toàn diện 75
3.2.2 Từng bước đổi mới phương pháp giám sát dựa trên rủi ro nhằm đảm bảo phù hợp với tình hình thực tế 76
3.2.3 Hoàn thiện quy trình GSTX, trong đó phối hợp chặt chẽ công tác GSTX với hoạt động thanh tra tại chỗ 78
3.2.4 Chú trọng hoạt động cảnh báo sớm đối với các ngân hàng khi tiến hành GSTX 81
3.2.5 Nghiên cứu, vận dụng chuẩn mực quốc tế về thanh tra ngân hàng vào VN 81
3.2.6 Đổi mới mô hình tổ chức bộ máy và cơ chế điều hành hoạt động thanh tra giám sát ngân hàng 82
3.2.7 Hoàn thiện các quy định liên quan công tác GSTX và cơ sở hạ tầng vật chất kỹ thuật 83
3.2.9 Nâng cao năng lực, trình độ và đạo đức nghề nghiệp của cán bộ thanh tra giám sát 84
3.3 Kiến nghị 85
3.3.1 Kiến nghị đối với CP 85
3.3.2.Kiến nghị đối với NHNN Việt Nam 86
Kết luận chương 3 89
KẾT LUẬN 90
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 91
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 6NH : Ngân hàng
NHNN : Ngân hàng Nhà nước
NHNN VN: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
NHTM : Ngân hàng thương mại
NHTMCP : Ngân hàng thương mại cổ phần
NHTW : Ngân hàng trung ương
TCTD : Tổ chức tín dụng
VIB : Ngân hàng Thương mại cổ phần Quốc tế Việt Nam
Trang 7Bảng 2.1: Các chỉ tiêu hoạt động chính của 12 NHTMCP trên địa bàn 46
Bảng 2.2: Vốn điều lệ của 11 NHTMCP giai đoạn từ năm 2011-2014 51
Bảng 2.3: Tình hình huy động vốn của 11 NHTMCP giai đoạn từ năm 2011-2014 .53
Bảng 2.4: Cơ cấu tài sản Nợ của VIB giai đoạn từ năm 2011-2014 55
Bảng 2.5: Tỷ trọng dư nợ cho vay trong Tổng tài sản có của 11 NHTMCP giai đoạn từ năm 2011-2014 57
Bảng 2.6 : Cơ cấu tài sản Có nội bảng của VIB giai đoạn từ năm 2011-2014 58
Bảng 2.7: Hoạt động cho vay khách hàng của VIB giai đoạn từ năm 2011-2014 60
Bảng 2.8: Các chỉ tiêu phản ánh kết quả kinh của VIB giai đoạn 2011-2014 61
BIỂU: Biểu đồ 2.1: Sự gia tăng về số lượng, trình độ cán bộ thanh tra, giám sát của NHNN chi nhánh TP Hà Nội thời gian qua 42
Biểu đồ 2.2: Sự thay đổi về số lượng NHTM và chi nhánh NHTM trên địa bàn TP Hà Nội thời gian qua 43
Biểu đồ 2.3: Số lượng các cuộc thanh tra của NHNN Chi nhánh TP Hà Nội thời gian qua 67
SƠ ĐỒ: Sơ đồ 2.1: Mô hình tổ chức, hoạt động của Thanh tra giám sát chi nhánh 39
Sơ đồ 2.2: Tổ chức thực hiện và báo cáo kết quả phân tích và giám sát của Thanh tra NHNN Việt Nam 50
Trang 8NGUYễN THị BảO NGọC
tăng cờng giám sát từ xa đối với các ngân hàng thơng mại cổ phần tại ngân hàng nhà nớc việt nam chi nhánh
thành phố hà nôi Chuyên ngành: TàI CHíNH NGÂN HàNG
Hà Nội - 2015
Trang 9PHẦN MỞ ĐẦU
Tính cấp thiết của đề tài
Trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường và hội nhập hiện nay, nhữngdiễn biến phức tạp của kinh tế thế giới và khủng hoảng có tác động khác nhau, songđều ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp đến hoạt động của các ngân hàng Do vậy, hệthống ngân hàng cần phải được thiết lập, vận hành và quản trị, giám sát theo nhữngchuẩn mực, chính sách an toàn, lành mạnh Sau hơn 25 năm đổi mới, hoạt độngthanh tra, giám sát Ngân hàng từng bước được hoàn thiện trên cơ sở xây dựng vàban hành các quy định an toàn phù hợp dần với nguyên tắc và chuẩn mực quốc tế.Trong hoạt động thanh tra, giám sát ngân hàng, giám sát từ xa (GSTX) là một tronghai phương thức chủ yếu và quan trọng để thực hiện chức năng của thanh tra, giámsát NHNN Mặc dù đã đạt được một số kết quả nhất định, hoạt động thanh tra giámsát của NHNN Chi nhánh TP Hà Nội trong thời gian qua đã tỏ ra còn nhiều bất cập,chưa đáp ứng kịp yêu cầu quản lý hệ thống ngân hàng hiện đại, đặc biệt còn nhiềutồn tại, yếu kém ở hệ thống GSTX Xuất phát từ nhận thức tầm quan trọng của hoạtđộng giám sát ngân hàng và từ thực trạng công tác GSTX của NHNN Chi nhánh TP
Hà Nội, đề tài “Tăng cường giám sát từ xa đối với các Ngân hàng thương mại cổ phần tại Ngân hàng Nhà nước Việt Nam - Chi nhánh Thành phố Hà Nội” được lựa
chọn nghiên cứu để giải đáp câu hỏi thực tiễn trên
Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài nhằm mục đích: Hệ thống hoá những vấn đề cơ bản vềhoạt động giám sát từ xa của NHTW đối với các NHTM; Phân tích, đánh giá thựctrạng công tác GSTX đối với các NHTMCP của NHNN Chi nhánh TP Hà Nội; từ
đó đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường công tác GSTX đối với cácNHTMCP trên địa bàn Thành phố Hà Nội
Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu khoa học như: Phương pháp thu thập
và xử lý thông tin; Phương pháp phân tích - tổng hợp; Phương pháp lựa chọn trườnghợp điển hình
Trang 10CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CÔNG TÁC GIÁM SÁT TỪ XA ĐỐI VỚI NHTM CỦA NHTW
1.1 Tổng quan về NHTW
Khái niệm: Theo Bách Khoa toàn thư mở Wikipedia, NHTW (có khi gọi là
Ngân hàng dự trữ, hoặc Cơ quan hữu trách về tiền tệ) là cơ quan đặc trách quản lý
hệ thống tiền tệ của quốc gia/nhóm quốc gia/vùng lãnh thổ và chịu trách nhiệm thihành chính sách tiền tệ
Chức năng của NHTW: NHTW có 3 chức năng là trung tâm phát hành tiền
duy nhất của mỗi quốc gia, là ngân hàng trung tâm của các ngân hàng trung gian và
hệ thống tài chính trong mỗi quốc gia, là ngân hàng của nhà nước
Khái niệm thanh tra NHTW: thanh tra là một khái niệm bao trùm lên các mặt
kiểm tra, giám sát các hoạt động kinh tế - xã hội nhằm đưa các hoạt động đó theođịnh hướng và các quy trình, quy phạm đã được xác định trên các văn bản quản lýnhà nước và nghiệp vụ quản lý kinh tế Thanh tra NHTW là hoạt động thanh trađược thực hiện bởi NHTW chuyên về lĩnh vực ngân hàng
Mục tiêu của thanh tra, giám sát NHTW: Hoạt động thanh tra, giám sát giúp
cho NHTW nắm bắt được kịp thời, chính xác diễn biến tình hình hoạt động củatừng TCTD; giúp cho các TCTD ngăn ngừa, chỉnh sửa những việc làm sai trái, bảođảm uy tín, an toàn vốn và hoạt động lành mạnh của các TCTD để hoạt động kinhdoanh ngày càng có hiệu quả; bảo đảm sự an toàn của cả hệ thống và chính sáchtiền tệ phát huy được hiệu quả, góp phần ổn định và phát triển kinh tế xã hội
Nội dung hoạt động thanh tra, giám sát của NHTW: Giám sát thường xuyên
việc thực hiện quy chế an toàn trong hoạt động của các TCTD bằng phương phápGSTX theo quy định, việc thực hiện các quy định trong giấy phép hoạt động ngânhàng đối với các tổ chức, cá nhân là đối tượng của thanh tra ngân hàng; Thẩm tra,xác minh, kết luận, kiến nghị việc giải quyết khiếu nại, tố cáo theo quy định của luậtkhiếu nại tố cáo liên quan đến tổ chức và hoạt động ngân hàng…
Trang 111.2 Công tác GSTX đối với NHTM của NHTW
Khái niệm công tác GSTX: GSTX về cơ bản là một hệ thống thông tin, đó là
việc sử dụng phương pháp phân tích bảng cân đối kế toán và các chỉ tiêu thống kê định
kỳ của các TCTD để giúp các nhà quản lý vĩ mô nắm một các thường xuyên tình hình;mặt khác báo động cho các TCTD và kiến nghị các giải pháp khắc phục thích hợp, kịpthời và chỉ điểm cho thanh tra tại chỗ những vấn đề trọng tâm, trọng điểm cần thanhtra
Sự cần thiết của công tác GSTX đối với các NHTM: Ngân hàng là một trong
những tổ chức tài chính quan trọng nhất của nền kinh tế nói chung và đối với từng cộngđồng địa phương nói riêng Khi các ngân hàng trong hệ thống tài chính thực hiệnnghiệp vụ nhận tiền gửi, cho vay và cung cấp các dịch vụ tài chính khác cho kháchhàng, họ phải tiến hành những công việc đó trong một khung pháp lý chặt chẽ đượcxây dựng chủ yếu để bảo vệ lợi ích của toàn xã hội Do đó, hoạt động ngân hàng cầnđược kiểm soát chặt chẽ bằng các biện pháp hành chính của Nhà nước trong đó cócông tác GSTX
Phương pháp GSTX của NHTW đối với NHTM: Thông thường, các phương
pháp giám sát đã từng được sử dụng để giám sát hoạt động ngân hàng bao gồm:Phương pháp giám sát tuân thủ, phương pháp giám sát theo CAMELS, phươngpháp giám sát dựa trên rủi ro Hiện nay, phương pháp GSTX có thể khác nhau đốivới từng quốc gia, trong đó phương pháp giám sát CAMELS đang được nhiều quốcgia vận dụng làm căn cứ để xem xét mức độ lành mạnh của từng định chế tài chínhriêng rẽ cũng như toàn bộ hệ thống trong đó có Việt Nam
Căn cứ đánh giá công tác GSTX dựa trên nguyên tắc cơ bản của Ủy ban Basel: Bộ 25 nguyên tắc cơ bản Basel là tài liệu dành cho cán bộ thực hiện công tác
giám sát ở các quốc gia và cả trên phạm vi quốc tế Các nguyên tắc này đã đượcthiết kế cho các chuyên gia giám sát, nhóm giám sát khu vực và thị trường nóichung theo nguyên tắc dễ áp dụng và kiểm chứng
Các tiêu chí đánh giá công tác GSTX gồm có: Kết quả công tác GSTX, Sự
kết hợp GSTX và Thanh tra tại chỗ, Số báo cáo trong năm
1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác GSTX
Nhân tố chủ quan: Công tác GSTX chịu ảnh hưởng của các nhân tố chủ quan
như cơ cấu tổ chức của Cơ quan thanh tra giám sát, trình độ của cán bộ giám sát, cơ
Trang 12sở vật chất kỹ thuật, phương tiện làm việc phục vụ cho công tác GSTX.
Nhân tố khách quan: Công tác GSTX chịu ảnh hưởng của các nhân tố khách
quan như hệ thống pháp luật về thanh tra, giám sát ngân hàng và hoạt động ngânhàng; cơ chế phối hợp giữa các cơ quan tổ chức có liên quan trong hoạt động giámsát ngân hàng; nhận thức của NHTM về công tác GSTX
1.4 Kinh nghiệm quốc tế và bài học
GSTX là phương thức xuất hiện ở NHTW của nhiều quốc gia từ rất lâu, tuynhiên phương pháp, nội dung giám sát là khác nhau ở mỗi quốc gia NHTW Mỹđược coi là một trường hợp điển hình trong nghiên cứu công tác GSTX của NHTWđối với NHTM trong điều kiện nền kinh tế phát triển, gắn liền với hoạt động của hệthống NHTM ở mức đa dạng, phức tạp với nhiều loại hình và cấp độ TCTD Trongkhi đó, NHTW Thái Lan được coi là một trường hợp điển hình trong nghiên cứuhoạt động giám sát của NHTW đối với NHTM trong điều kiện nền kinh tế đangphát triển, hệ thống NHTM đã có những hội nhập nhất định, tuy nhiên số lượng vàloại hình NHTM còn hạn chế, các hoạt động kinh doanh và dịch vụ ngân hàng còn ởmức đơn giản tương đối so với các nước phát triển Từ đó, toàn bộ hoạt động giámsát đối với NHTM được giao chủ yếu cho NHTW tổ chức và thực hiện Với sựtương đồng về mặt phát triển kinh tế nói chung và phát triển của hoạt động ngânhàng và hệ thống ngân hàng nói riêng, hoạt động giám sát của Ngân hành Nhà nướcViệt Nam có thể thực hiện theo cách thức tương tự với NHTW Thái Lan
Nội dung chương 1 đã đưa ra một cách tổng quát về công tác GSTX củaNHTW đối với NHTM Đây chính là cơ sở lý luận nền tảng để phân tích, đánh giáthực trạng về công tác GSTX đối với các NHTMCP tại NHNN Chi nhánh TP HàNội tại chương 2 để từ đó đưa ra những nhận xét, đánh giá về tình hình thực hiệncông tác này và đề ra các giải pháp tăng cường công tác GSTX tại NHNN Chinhánh TP Hà Nội
Trang 13CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC GSTX ĐỐI VỚI CÁC NHTMCP
TẠI NHNN CHI NHÁNH TP HÀ NỘI
2.1.Giới thiệu về NHNN Chi nhánh TP Hà Nội
NHNN Chi nhánh TP Hà Nội: NHNN Chi nhánh TP Hà Nội là 1/63 chi
nhánh thuộc NHNN VN, chịu sự lãnh đạo và điều hành tập trung, thống nhất củaThống đốc NHNN, có chức năng tham mưu, giúp Thống đốc quản lý nhà nước vềtiền tệ và hoạt động ngân hàng trên địa bàn và thực hiện một số nghiệp vụ NHTWtheo ủy quyền của Thống đốc Quy chế hoạt động của NHNN Chi nhánh TP Hà Nộiđược Thống đốc NHNN qui định tại Quyết định số 2989/QĐ-NHNN ngày14/12/2009
Thanh tra giám sát chi nhánh TP Hà Nội: Sau khi Cơ quan Thanh tra giám
sát ngân hàng được thành lập theo Quyết định số 83/2009/QĐ-TTg ngày 27/5/2009của Thủ tướng Chính phủ, Thống đốc NHNN đã ban hành quyết định thành lậpThanh tra giám sát chi nhánh TP Hà Nội Thanh tra giám sát Chi nhánh TP Hà Nộichịu sự chỉ đạo trực tiếp của Giám đốc NHNN chi nhánh TP Hà Nội, đồng thời chịu
sự chỉ đạo hướng dẫn về công tác tổ chức và nghiệp vụ của Cơ quan Thanh tra giámsát ngân hàng
2.2 Thực trạng công tác GSTX của NHNN chi nhánh TP Hà Nội đối với các NHTMCP
Khái quát về hệ thống các NHTM trên địa bàn TP Hà Nội: Thời điểm
31/12/2014 trên địa bàn TP Hà Nội có 89 chi nhánh NHTMNN, 68 chi nhánhNHTMCP không có trụ sở chính tại Hà Nội, 12 NHTMCP có trụ sở chính tại Hà Nội.Giai đoạn từ 2010 – đến nay, hoạt động của hệ thống ngân hàng nói chung và hoạtđộng của các NHTMCP trên địa bàn thành phố Hà Nội nói riêng chịu tác động ảnhhưởng không nhỏ từ những khó khăn của nền kinh tế trong bối cảnh chung của cuộckhủng hoảng tài chính toàn cầu, tình trạng nợ xấu, nợ quá hạn tăng cao, lợi nhuận
và hiệu quả kinh doanh sụt giảm xảy ra ở hầu hết các ngân hàng trên địa bàn TP Hà
Trang 14Nội nói riêng và cả nước nói chung
Phân tích thực trạng công tác GSTX đối với các NHTMCP tại NHNN chi nhánh TP Hà Nội:
Nguồn thông tin phục vụ công tác GSTX: Hiện nay, nguồn thông tin cung
cấp cho công tác GSTX được khai thác dựa trên chế độ báo cáo thống kê áp dụngđối với các đơn vị thuộc NHNN và các TCTD ban hành kèm theo Quyết định số477/2004/QĐ-NHNN của Thống đốc NHNN ngày 28/4/2004
Quy trình thực hiện và báo cáo công tác GSTX tại NHNN Chi nhánh TP Hà Nội: Quy trình thực hiện gồm các bước như tiếp nhận và kiểm tra tính chính xác của
thông tin, tiến hành xử lý dữ liệu, thực hiện phân tích, ban hành các văn bản chấnchỉnh nhắc nhở đối với NHTM Hàng tháng, quý căn cứ vào kết quả giám sát, bộphận GSTX tổng hợp thông tin, đưa ra các đánh giá, nhận định, cảnh báo làm báocáo gửi Cơ quan Thanh tra giám sát ngân hàng, Ban giám đốc NHNN TP Hà Nội và
tổ thanh tra tại chỗ các NHTMCP
Phương pháp, nội dung giám sát: Đối với các NHTMCP có trụ sở chính tại
Hà Nội (một pháp nhân), số liệu làm căn cứ để đánh giá là báo cáo cân đối tài khoảncấp III, các chỉ tiêu báo cáo theo mẫu biểu Các nội dung giám sát được xây dựng dựatrên lý thuyết CAMELS, tuy nhiên theo Quyết định số 1525/CV-TTr1 ngày22/12/1999 hướng dẫn thực hiện quy chế GSTX của NHNN đối với các TCTD vàviệc thực hiện công tác GSTX tại NHNN chi nhánh tỉnh, thành phố chỉ tập trungphân tích một số chỉ tiêu: Giám sát Vốn tự có, giám sát về cơ cấu tài sản Nợ, tài sản
Có, giám sát chất lượng tài sản Có, giám sát tình hình thu nhập, chi phí và kết quảkinh doanh, giám sát việc đảm bảo khả năng chi trả
Kết quả thực hiện các nội dung GSTX: Các NHTM trên địa bàn TP Hà Nội
đều được bộ phận GSTX của NHNN Chi nhánh TP Hà Nội thực hiện giám sát sốliệu định kỳ hàng tháng, hàng quý Ngoài ra, một số vi phạm quy chế an toàn củamột số NHTM đã được bộ phận giám sát phát hiện kịp thời trong kỳ báo cáo quý.Việc cảnh báo rủi ro đối với NHTM đã được bộ phận GSTX thực hiện khi phát hiệnđơn vị có những dữ liệu nằm ngoài xu hướng chung của hệ thống Trong năm đã có
04 báo cáo giám sát quý và 08 báo cáo giám sát tháng được bộ phận giám sát gửi
Trang 15Cơ quan thanh tra giám sát ngân hàng
2.3 Đánh giá kết quả công tác GSTX đối với các NHTMCP tại NHNN chi nhánh TP Hà Nội
Kết quả đạt được: Công tác GSTX đang trở thành một bộ phận không thể
thiếu của hoạt động thanh tra, giám sát Hoạt động thanh tra, giám sát tại NHNN chinhánh đã có sự phối hợp GSTX và thanh tra tại chỗ Hoạt động thanh tra, giám sátngân hàng đã đóng một vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tuân thủ pháp luậttrong lĩnh vực tiền tệ và hoạt động ngân hàng
Hạn chế: Mặc dù đã đạt được một số kết quả nhất định, nhưng công tác GSTX của
NHNN Chi nhánh TP Hà Nội đối với các NHTM trên địa bàn được đánh giá là chưahoàn thiện Các NHTM đã được thực hiện theo dõi nhưng chưa được giám sát một cáchchặt chẽ và toàn diện theo các chuẩn mực về phương pháp, nội dung, quy trình giám sát.Công tác GSTX chưa chú trọng vào hoạt động cảnh báo sớm cho các NHTM Nội dungbáo cáo còn đơn điệu, khả năng phát hiện sai phạm của công tác giám sát còn hạn chế,tính dự báo thấp Sự phối kết hợp giữa GSTX và thanh tra tại chỗ còn yếu
Nguyên nhân của hạn chế: Những hạn chế nêu trên của công tác GSTX xuất phát
từ một số nguyên nhân chủ quan như cơ cấu tổ chức của Cơ quan thanh tra giám sát chưaphù hợp; nội dung giám sát không đầy đủ, quy trình giám sát không đảm bảo về nguồnthông tin, phương pháp giám sát chưa thay đổi theo hướng bắt kịp tình hình thực tế, trình
độ cán bộ giám sát chưa đáp ứng yêu cầu, hệ thống phần mềm, công nghệ thông tin lạchậu Ngoài ra, một số nguyên nhân khách quan của hạn chế như: Quy định làm nền tảngcho hoạt động giám sát như các quy định về về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòngrủi ro; quy định về chế độ thông tin báo cáo chưa được hoàn thiện; nhận thức của NHTM
về hoạt động giám sát của NHNN chưa đúng đắn…
Dựa trên tổng quan cơ sở lý luận về công tác GSTX đã được nêu ở chương 1,chương 2 đã đi vào xem xét thực trạng quá trình thực hiện GSTX của NHNN Chinhánh TP Hà Nội đối với các NHTMCP trên địa bàn Từ việc đánh giá những kếtquả đạt được đáng khích lệ thì chương 2 cũng đã chỉ ra những hạn chế trong côngtác GSTX của NHNN Chi nhánh TP Hà Nội Trên cơ sở phân tích những nguyênnhân của các hạn chế này, các giải pháp phù hợp sẽ được nêu ở chương 3 cùng vớicác kiến nghị nhằm giúp NHNN Chi nhánh TP Hà Nội có thể tăng cường công tác
Trang 16GSTX đối với các NHTM trên địa bàn trong thời gian tới.
CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC GSTX ĐỐI VỚI CÁC
NHTMCP TẠI NHNN CHI NHÁNH TP HÀ NỘI
3.1 Định hướng tăng cường công tác GSTX của NHNN Chi nhánh Thành phố
Hà Nội đến năm 2020
Các giải pháp tăng cường công tác GSTX được đưa ra dựa trên 5 định hướngchính: Một là, công tác GSTX phải được thực hiện theo hướng tập trung về một đầumối là Thanh tra Trung ương Hai là, cơ sở vật chất, phải được trang bị đầy đủ vàthực hiện nối mạng trực tiếp giữa Thanh tra Trung ương và Thanh tra Chi nhánh(hay Khu vực) Ba là, phần mềm giám sát phải nhanh chóng được viết lại bằng ngônngữ lập trình tiến bộ, phù hợp với ngôn ngữ của các chương trình khác trong toàn
hệ thống Ngân hàng Bốn là, Thanh tra viên trực tiếp thực hiện công tác giám sát,phải được đào tạo và đào tạo lại; phải thường xuyên trang bị thêm trình độ và kỹnăng giám sát ngân hàng;…Năm là, phải thay đổi cách nghĩ, phải nhận thức đúngtầm quan trọng của công tác giám sát, đặc biệt đối với những người trực tiếp thựchiện chức năng giám sát
3.2 Giải pháp tăng cường công tác GSTX tại NHNN Chi nhánh TP HN
Bổ sung nội dung GSTX theo hướng chặt chẽ và toàn diện: Hoạt động
ngân hàng ngày càng đa dạng, phức tạp đòi hỏi công tác giám sát phải tiến hànhtoàn diện trên mọi mặt hoạt động của ngân hàng Đặc biệt, đối với các chỉ tiêu địnhtính như năng lực quản trị, điều hành của bộ máy lãnh đạo ngân hàng và độ nhạycảm của ngân hàng đối với rủi ro của thị trường
Từng bước đổi mới phương pháp giám sát dựa trên rủi ro nhằm đảm bảo phù hợp với tình hình thực tế: trong thời gian hiện tại, phương pháp giám sát theo
CAMELS được coi là cầu nối để giúp NHNN VN chuyển đổi phương pháp giám sáttheo hướng tiến tới phương pháp giám sát dựa trên rủi ro
Hoàn thiện quy trình GSTX, trong đó phối hợp chặt chẽ công tác GSTX với hoạt động thanh tra tại chỗ: Tăng cường kiểm tra việc chấp hành chế độ thông
Trang 17tin báo cáo của các NHTM trên địa bàn nói chung và đối với các NHTMCP nóiriêng Phân công rõ ràng, hợp lý trách nhiệm của các đơn vị tham gia GSTX, gồm
Tổ GSTX và bộ phận thanh tra tại chỗ các NHTMCP Hoàn thiện các chỉ tiêu giámsát đầy đủ theo tiêu thức CAMELS
Chú trọng hoạt động cảnh báo sớm đối với các ngân hàng khi tiến hành GSTX: Khi tiến hành công tác giám sát, cần nghiên cứu xu hướng chung của cả hệ
thống ngân hàng Từ đó có những nhận định đối với các NHTM có các chỉ tiêu bấtthường, nằm ngoài xu hướng để đưa ra cảnh báo
Nghiên cứu, vận dụng chuẩn mực quốc tế về thanh tra ngân hàng vào VN: cần nghiên cứu áp dụng các chuẩn mực về thanh tra giám sát ngân hàng do Ủy
ban Basel đề xuất, vận dụng sao cho phù hợp với điều kiện khuôn khổ pháp luậtViệt Nam, đi đôi với nó là thực hiện cải cách hệ thống chính sách, quy định phápluật liên quan, cơ cấu lại hệ thống ngân hàng
Đổi mới mô hình tổ chức bộ máy và cơ chế điều hành hoạt động thanh tra giám sát ngân hàng: Thay đổi mô hình tổ chức của Cơ quan thanh tra, giám sát
ngân hàng theo hệ thống dọc thống nhất từ cấp trung ương xuống địa phương Đồngthời, cơ cấu lại chức năng nhiệm vụ của một số Vụ, Cục thuộc NHNN cũng có chứcnăng giám sát ngân hàng
Hoàn thiện các quy định liên quan công tác GSTX và cơ sở hạ tầng vật chất kỹ thuật: Hoàn thiện các quy định an toàn, các biện pháp thận trọng trong hoạt
động ngân hàng, hoàn thiện khung pháp lý về giám sát tài chính ngân hàng; Xâydựng lại phần mềm của chương trình giám sát; Nâng cao cơ sở hạ tầng công nghệ
thông tin phục vụ công tác GSTX, bao gồm cả phần cứng và phần mềm
Nâng cao năng lực, trình độ và đạo đức nghề nghiệp của cán bộ thanh tra giám sát: chú trọng nội dung đào tạo, nâng cao trình độ nghiệp vụ của thanh tra
viên, tập trung vào kỹ năng quản trị rủi ro, công nghệ ngân hàng và dịch vụ tàichính mới, quản trị ngân hàng hiện đại, các kỹ năng bổ trợ như phân tích tài chính,
hoạt động NHTM
3.3 Kiến nghị
Kiến nghị đối với CP: cần có những quy định rõ liên quan đến cơ chế
phối hợp giữa các đơn vị cùng có hoạt động giám sát hệ thống tài chính nói
Trang 18chung và giám sát ngân hàng nói riêng; quan tâm hơn nữa đến việc thực thiQuyết định số 83/2009/QĐ-TTg ngày 17/5/2009 của Thủ tướng CP; quy định rõ,tách bạch chức năng giám sát an toàn hệ thống ngân hàng và chức năng thanh trachuyên ngành của NHNN
Kiến nghị đối với NHNN Việt Nam: Sớm hoàn thiện cơ cấu tổ chức của Cơ
quan thanh tra giám sát ngân hàng; Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện các văn bản quyphạm pháp luật có liên quan đến công tác GSTX của NHNN Chi nhánh TP Hà Nội
và hoạt động của các NHTM nói chung và của NHTMCP nói riêng; Sửa đổi bổ sung
hệ thống văn bản luật liên quan đến các NHTM về quản trị, điều hành… Cần cóchính sách đãi ngộ đặc thù đối với cán bộ làm công tác thanh tra, giám sát ngân hàng
Trên cơ sở cơ sở lý luận về công tác GSTX ở chương 1 và đánh giá thựctrạng công tác GSTX ở chương 2, chương 3 của Luận văn đã nêu lên một số giảipháp nhằm tăng cường hơn nữa công tác GSTX thông qua một số nhóm giải phápnhư: nhóm giải pháp hoàn thiện quy trình GSTX, nhóm giải pháp nâng cao chấtlượng đội ngũ cán bộ và nhóm các giải pháp khác Trong chương 3 đã nêu lên một
số kiến nghị với Chính Phủ, NHNN về việc cải thiện hệ thống văn bản luật liênquan đến công tác giám sát, tăng vị thế của NHNN
KẾT LUẬN
Luận văn đã từ cơ sở lý luận của công tác GSTX, phân tích thực tiễn vềcông tác giám sát từ xa của NHNN Chi nhánh thành phố Hà Nội đối với cácNHTMCP trên địa bàn, từ đó đưa ra các giải pháp thiết thực nhằm tăng cườngcông tác giám sát từ xa của NHNN đối với các NHTM Tuy nhiên hiện nay việctăng cường hoạt động thanh tra, giám sát của Ngân hàng Nhà nước đối với cácTCTD luôn là vấn đề thời sự Mỗi giai đoạn phát triển khác nhau, hoạt độngThanh tra, giám sát ngân hàng cần có sự điều chỉnh sao cho đáp ứng thoả đángnhững yêu cầu đặt ra cho từng giai đoạn
Trang 19NGUYễN THị BảO NGọC
tăng cờng giám sát từ xa đối với các ngân hàng thơng mại cổ phần tại ngân hàng nhà nớc việt nam chi nhánh
thành phố hà nôi Chuyên ngành: TàI CHíNH NGÂN HàNG
Ngời hớng dẫn khoa học:
TS LÊ THANH TÂM
Hà Nội - 2015
Trang 20PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Thủ đô Hà Nội là trung tâm chính trị - hành chính quốc gia, trung tâm lớn vềvăn hóa, khoa học, giáo dục, kinh tế và giao dịch quốc tế Những năm gần đây kinh
tế Hà Nội liên tục tăng trưởng cao; cơ cấu kinh tế dịch vụ - công nghiệp - nôngnghiệp chuyển biến tích cực ngày càng rõ nét Trên địa bàn Hà Nội hiện đang cónhiều định chế tài chính hoạt động và phát triển, đa dạng về hình thức sở hữu,phong phú về loại hình hoạt động tạo điều kiện cho Thủ đô xứng tầm là trung tâmtài chính - ngân hàng hàng đầu của vùng và cả nước, trong đó có sự đóng góp khôngnhỏ của hệ thống các tổ chức tín dụng (TCTD) trên địa bàn, bởi lẽ đây là kênh cungứng vốn lớn nhất cho nền kinh tế trong hệ thống tài chính Theo báo cáo của Ngânhàng Nhà nước Chi nhánh TP Hà Nội về việc tổng kết hoạt động ngành ngân hàngthành phố Hà Nội năm 2014, đến nay trên địa bàn có mạng lưới của các TCTD vớihơn 2050 điểm giao dịch
Trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường và hội nhập hiện nay, nhữngdiễn biến phức tạp của kinh tế thế giới và khủng hoảng có tác động khác nhau, songđều ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp đến hoạt động của các ngân hàng Trong đó,việc ổn định thị trường tiền tệ và hoạt động ngân hàng có vai trò đặc biệt quantrọng Do vậy, hệ thống ngân hàng cần phải được thiết lập, vận hành và quản trị,giám sát theo những chuẩn mực, chính sách an toàn, lành mạnh Thủ tướng Chínhphủ đã phê duyệt đề án “Cơ cấu lại hệ thống các Tổ chức tín dụng giai đoạn 2011-2015” theo Quyết định số 254/QĐ-TTg ngày 01/3/2012 với trọng tâm là đổi mới,nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác quản lý, giám sát ngân hàng
Sau hơn 25 năm đổi mới, Thanh tra giám sát Ngân hàng Nhà nước Việt Nam(NHNN VN) đã có nhiều chuyển biến tích cực, góp phần quan trọng vào quá trìnhphát triển của ngành Ngân hàng Việt Nam Hoạt động thanh tra, giám sát Ngânhàng cũng từng bước được đổi mới trên cơ sở xây dựng và ban hành các quy định
Trang 21an toàn phù hợp dần với nguyên tắc và chuẩn mực quốc tế Trong hoạt động thanhtra, giám sát ngân hàng, giám sát từ xa (GSTX) là một trong hai phương thức chủyếu và quan trọng để thực hiện chức năng của thanh tra, giám sát NHNN Phươngpháp GSTX là phương thức thanh tra gián tiếp nhằm kiểm soát tình hình hoạt độngcủa các TCTD thông qua việc phân tích, đánh giá báo cáo do TCTD lập và gửi chothanh tra Ngân hàng dựa trên hệ thống chỉ tiêu CAMELS đã được xây dựng nhằmthiết lập hệ thống thông tin báo cáo phục vụ GSTX Thông qua công tác GSTX vàhoạt động thanh tra tại chỗ NHNN Chi nhánh TP Hà Nội đã phát hiện, cảnh báo,ngăn chặn và xử phạt vi phạm hành chính theo thẩm quyền đảm bảo sự tuân thủ luậtpháp, hoạt động lành mạnh của các TCTD.
Với số lượng lớn điểm hoạt động của các TCTD trên địa bàn thành phố
Hà Nội, hoạt động thanh tra giám sát của NHNN Chi nhánh TP Hà Nội đối vớicác TCTD trên địa bàn ngày càng đóng vai trò quan trọng đối với hoạt động củatừng TCTD nói riêng và của cả hệ thống ngân hàng nói chung Mặc dù đã đạtđược một số kết quả nhất định, hoạt động thanh tra giám sát của NHNN Chinhánh TP Hà Nội trong thời gian qua đã tỏ ra còn nhiều bất cập, chưa đáp ứngkịp yêu cầu quản lý hệ thống ngân hàng hiện đại, đặc biệt còn nhiều tồn tại, yếukém ở hệ thống GSTX
Để đảm bảo mục tiêu hoạt động của thanh tra giám sát ngân hàng, hoạtđộng giám sát của NHNN đối với NHTM cần được tăng cường và nâng cao chấtlượng Như vậy, làm thế nào để tăng cường hoạt động giám sát của NHNN đốivới các NHTM đang là câu hỏi bức xúc của thực tiễn hiện nay Xuất phát từ nhậnthức tầm quan trọng của hoạt động giám sát ngân hàng và từ thực trạng công tác
GSTX của NHNN Chi nhánh TP Hà Nội, đề tài “Tăng cường giám sát từ xa đối với các Ngân hàng thương mại cổ phần tại Ngân hàng Nhà nước Việt Nam - Chi nhánh Thành phố Hà Nội” được lựa chọn nghiên cứu để giải đáp câu hỏi thực
tiễn trên
Trang 222 Mục đích nghiên cứu
- Hệ thống hoá những vấn đề cơ bản về hoạt động giám sát từ xa của NHTWđối với các NHTM, từ đó đưa ra cảnh báo rủi ro đối với các NHTM, các quyết địnhliên quan đến công tác thanh tra giám sát
- Phân tích, đánh giá thực trạng công tác GSTX đối với các NHTM củaNHNN Chi nhánh TP Hà Nội
- Đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường hoạt động GSTX đối với cácNHTMCP trên địa bàn Thành phố Hà Nội
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Công tác GSTX đối với các NHTM của NHTW
- Phạm vi nghiên cứu: Hiện nay, NHNN Chi nhánh TP Hà Nội được phân côngnhiệm vụ thanh tra, giám sát đối với các TCTD trên địa bàn gồm: các NHTMCP có trụ
sở chính, các chi nhánh NHTMCP không có trụ sở chính tại địa bàn, các chi nhánhNHTM nhà nước, các quỹ tín dụng nhân dân Công tác GSTX của NHNN chi nhánh
TP Hà Nội hiện nay đối với 11 NHTMCP trên địa bàn giai đoạn từ năm 2011 đến năm
2014 (trừ NHTMCP Đại chúng Việt Nam mới hoạt động từ tháng 10/2013) Đề tài tậptrung nghiên cứu công tác GSTX đối với 11 NHTMCP vì loại hình NHTMCP có trụ
sở chính trên địa bàn chịu sự giám sát chặt chẽ, thường xuyên và toàn diện nhất trong
số các loại hình TCTD trên địa bàn
4 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong luận văn là:
- Phương pháp thu thập và xử lý thông tin: nguồn thông tin thứ cấp từ cácbáo cáo của NHTM gửi NHNN, các báo cáo của NHNN
- Phương pháp phân tích - tổng hợp: Trên cơ sở phân tích lý thuyết và thựctiễn công tác giám sát từ xa tại Chi nhánh, luận văn khái quát hoá việc thực hiệngiám sát các NHTM trên cơ sở đánh giá đó nhằm đưa ra các giải pháp cần thiết choviệc tăng cường công tác giám sát từ xa
- Phương pháp lựa chọn trường hợp điển hình: Để đánh giá thực trạng công tácGSTX đối với các NHTMCP tại NHNN Chi nhánh TP Hà Nội, luận văn lựa chọn
Trang 23Ngân hàng TMCP Quốc tế Việt Nam (VIB) là một trong số những ngân hàng có hoạtđộng kinh doanh ở mức trung bình, tương đối ổn định, minh bạch để phân tích.
5 Kết cấu đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục bảng biểu, sơ đồ, tài liệu tham khảo,
… nội dung chính của Luận văn gồm 3 chương và có kết cấu như sau:
Chương 1: Những vấn đề cơ bản về công tác giám sát từ xa đối với NHTM
của NHTW
Chương 2: Thực trạng công tác giám sát từ xa đối với các Ngân hàng thương
mại cổ phần tại Ngân hàng Nhà nước Chi nhánh TP Hà Nội
Chương 3: Giải pháp tăng cường công tác giám sát từ xa đối với các Ngân
hàng thương mại cổ phần tại Ngân hàng Nhà nước Chi nhánh TP Hà Nội
Trang 24CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CÔNG TÁC GIÁM SÁT TỪ XA ĐỐI VỚI NHTM CỦA NHTW
Theo Bách Khoa toàn thư mở Wikipedia, NHTW (có khi gọi là Ngân hàng dự trữ,hoặc Cơ quan hữu trách về tiền tệ) là cơ quan đặc trách quản lý hệ thống tiền tệ của quốcgia/nhóm quốc gia/vùng lãnh thổ và chịu trách nhiệm thi hành chính sách tiền tệ.[3]
NHTW ra đời chính thức đầu tiên ở Châu Âu, vào thế kỷ 17 Khi ấy, tiền mặtlưu hành vẫn chủ yếu dưới dạng vàng và bạc, tuy rằng, các tờ cam kết thanh toán(promises to pay) đã được sử dụng rộng rãi như là những biểu hiện của giá trị ở
cả Châu Âu và Châu Á NHTW đầu tiên là Ngân hàng Thụy Điển (Bank ofSweden) năm 1668 với sự giúp đỡ của các doanh nhân Hà Lan Ngân hàngAnh (Bank of England) ra đời tiếp sau đó năm 1694 bởi doanh nhân người Scotland
là William Paterson tại London theo yêu cầu của Chính phủ Anh với mục đích tàitrợ cuộc nội chiến lúc đó Cục Dự trữ Liên bang của Mỹ được thành lập theo yêucầu của Quốc hội tại đạo luật mang tên hai nghị sĩ đệ trình là Glass và Owen (Glass-Owen Bill)
NHTW có nguồn gốc từ các ngân hàng phát hành Từ đầu thế kỷ XX, cácNHTW đã hình thành tuy nhiên các ngân hàng này vẫn thuộc sở hữu tư nhân Từsau Chiến tranh thế giới thứ hai, do ảnh hưởng của những bài học kinh nghiệm từcuộc đại suy thoái năm 1929 - 1933 cũng như sự phát triển của các học thuyết kinh
tế của Keynes (vào cuối những năm 1930) và Milton Friedman (năm 1960) về sự
Trang 25cần thiết quản lý vĩ mô của nhà nước đối với nền kinh tế về ảnh hưởng của khốilượng tiền cung ứng đối với các biến số kinh tế vĩ mô, các nước đã nhận thức được
sự cần thiết phải thành lập một NHTW với chức năng quản lý lưu thông tiền tệ, tíndụng và hoạt động của hệ thống ngân hàng trong một quốc gia Các NHTW đượcthành lập hoặc bằng cách quốc hữu hoá các ngân hàng phát hành hiện có hoặc thànhlập mới thuộc quyền sở hữu nhà nước.[26]
Trên thế giới, NHTW được nói đến và nghiên cứu nhiều nhất là Ngân hàngtrung ương Mỹ - Hệ thống dự trữ liên bang (Fed) Cũng giống như mọi NHTW trênkhắp thế giới, Fed tác động tới hoạt động hàng ngày của các ngân hàng nhiều hơn bất
kỳ cơ quan nào khác của Chính phủ Công việc chủ yếu của NHTW là thực hiện chínhsách tiền tệ, bao gồm việc đảm bảo sự vận hành thông suốt của hệ thống ngân hàng –tài chính, đảm bảo sự tương hợp của quá trình cung ứng tiền tệ và tín dụng với các mụctiêu kinh tế quốc gia.Bằng cách kiểm soát tốc độ tăng trưởng của mức cung tiền tệ vàtín dụng, Fed và các NHTW trên khắp thế giới cố gắng đảm bảo sự tăng trưởng kinh tế
ở một tốc độ thích hợp, thất nghiệp được giữ ở mức thấp, duy trì lạm phát hợp lý vàđảm bảo giá trị đồng tiền quốc gia trên thị trường quốc tế được giữ vững [25]
Ở Việt Nam, NHTW được thành lập thuộc sở hữu của nhà nước, gọi làNHNN Việt Nam, là một định chế công cộng của Nhà nước, nhưng mối quan hệcủa NHNN với CP không hoàn toàn giống với các định chế công cộng khác củaNhà nước Mối quan hệ này ở các nước khác nhau cũng không giống nhau Tuỳthuộc vào đặc điểm ra đời của NHTW, thể chế chính trị, nhu cầu của nền kinh tếcũng như truyền thống văn hoá của từng quốc gia mà NHTW có thể được tổ chứctheo mô hình trực thuộc hay độc lập với CP
Tại Khoản 2 Điều 2 Luật NHNN VN số 46/2010/QH12 có nêu rõ: “Ngânhàng Nhà nước Việt Nam là cơ quan ngang bộ của Chính phủ, là Ngân hàng trungương của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam”[8] Như vậy, luật đã xác định
cụ thể vị trí pháp lý của NHNN VN là một trong bốn cơ quan ngang Bộ, trực thuộc
CP và chịu sự quản lý của CP Đồng thời, Luật NHNN năm 2010 cũng xác định rõchức năng, nhiệm vụ của NHNN với tư cách là NHTW của nước Cộng hòa xã hội
Trang 26chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện chức năng quản lý nhà nước trên lĩnh vực tiền tệ vàhoạt động ngân hàng (Khoản 3 Điều 2 Luật NHNN VN năm 2010) Qua đó, khẳngđịnh mối quan hệ chặt chẽ giữa hai chức năng quan trọng của một NHTW: thực thichính sách tiền tệ và giám sát an toàn hoạt động của hệ thống các TCTD (theo Điều
3 Luật NHNN VN năm 2010) Luật NHNN VN năm 2010 đã có những thay đổi sovới các văn bản luật trước đây, điều này nhằm mục đích xây dựng NHNN trở thànhNHTW hiện đại có tính tự chủ và tính độc lập cao, đúng theo định hướng của Đảng
và Nhà nước, nhằm đáp ứng yêu cầu hội nhập và phù hợp với nền kinh tế thị trườngđịnh hướng XHCN
1.1.1.2 Chức năng của NHTW
Mặc dù được tổ chức theo các mô hình khác nhau nhưng mục tiêu của các NHTW là ổn định giá trị đồng tiền cả về đối nội cũng như đối ngoại, tạo điều kiện phát triển kinh tế, kiểm soát hệ thống ngân hàng, đảm bảo cho hệ thống ngân hàng hoạt động theo trật tự pháp chế, ổn định, an toàn và hiệu quả Để đạt được các mục tiêu này, NHTW hoạt động theo các chức năng sau: [21][25]
Phát hành tiền
NHTW là trung tâm phát hành tiền duy nhất của mỗi quốc gia Toàn
bộ tiền mặt pháp định đều do NHTW phát hành theo chế độ độc quyền phát hành tiền của Nhà nước Tiền này có hiệu lực sử dụng bắt buộc trong toàn quốc như là phương tiện để trao đổi Vì tiền mặt được xem là loại tiền mạnh nhất trong hệ thống tiền tệ, hơn nữa, thông qua nó tiền gửi có kỳ hạn và không có kỳ hạn được hình thành Cho nên, hoạt động cung ứng tiền của NHTW tác động một cách trực tiếp đến độ tăng, giảm của tổng cung tiền tệ trong nền kinh tế, qua đó ảnh hưởng đến cả sản xuất và tiêu dùng.
Là ngân hàng của các ngân hàng trung gian
Với vai trò là ngân hàng trung tâm của các ngân hàng trung gian và hệ thống tài chính trong mỗi quốc gia, NHTW thực hiện một số công việc quan
Trang 27trọng cho các ngân hàng trung gian, đó là:
NHTW có quyền cấp giấy phép kinh doanh tiền tệ cho các ngân hàng trung gian, đồng thời chế tài các vụ vi phạm luật lệ ngân hàng
NHTW có quyền quy định, thay đổi tỷ lệ dự trữ bắt buộc mà các ngân hàng trung gian phải thi hành.
NHTW tiến hành thanh tra, kiểm soát các ngân hàng trung gian nhằm giúp cho hệ thống ngân hàng hoạt động lành mạnh trên cơ sở đó bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền và lợi ích chung của nền kinh tế.
NHTW quản lý đối với toàn hệ thống, ấn định các lãi suất, lệ phí hoa hồng áp dụng cho các ngân hàng trung gian, quy định những thể lệ điều hành các nghiệp vụ…
NHTW mở tài khoản giao dịch và tổ chức thanh toán bù trừ cho các ngân hàng trung gian.
NHTW tái cấp vốn cho các ngân hàng trung gian dưới các hình thức: cho vay thế chấp hay ứng trước, chiết khấu, tái chiết khấu các giấy tờ có giá…
Là ngân hàng của nhà nước
Mặc dù NHTW có thể thuộc hoặc không thuộc sở hữu của nhà nước nhưng NHTW phải thực hiện chức năng là ngân hàng của nhà nước Điều này thể hiện thông qua quyền của nhà nước trong việc bổ nhiệm cơ quan lãnh đạo cao nhất của NHTW và các hoạt động mà NHTW thực hiện cho Chính phủ hoặc thay mặt nhà nước thể hiện:
NHTW thay mặt nhà nước để quản lý nhà nước về tiền tệ, tín dụng, thanh toán ngoại hối và hoạt động ngân hàng.
NHTW đại diện cho nhà nước tại các tổ chức tài chính quốc tế
NHTW mở tài khoản và đại lý tài chính cho chính phủ
NHTW thanh toán cho kho bạc nhà nước
NHTW thực hiện tư vấn cho chính phủ về các chính sách kinh tế, tài
Trang 28chính, tiền tệ
Thực hiện quản lý dự trữ quốc gia về ngoại tệ, vàng bạc, kim khí, đá quý Thực hiện tạm ứng cho ngân sách nhà nước trong những trường hợp cần thiết.
1.1.2. Thanh tra, giám sát của NHTW đối với hoạt động của các NHTM
Để thực hiện tốt chức năng quản lý nhà nước về các lĩnh vực được giao, đảmbảo an toàn cho hệ thống ngân hàng, bảo vệ quyền lợi và lợi ích hợp pháp của ngườigửi tiền, phục vụ cho việc thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia, NHTW phải sử dụngnhiều công cụ để kiểm tra, kiểm soát, phân tích và đánh giá trên nhiều lĩnh vực,phương diện để tìm ra những điểm bất hợp lý, những sai phạm trong hoạt độngnghiệp vụ, từ đó đề ra các giải pháp và kiến nghị kịp thời nhằm phục vụ cho mục tiêuquản lý Trong đó thanh tra, giám sát là một công cụ có vị trí đặc biệt quan trọng
1.1.2.1.Khái niệm thanh tra
Hoạt động thanh tra là chức năng thiết yếu của cơ quan quản lý nhà nước, làmột trong ba yếu tố cấu thành nên sự lãnh đạo, quản lý đó là ban hành quyết định, tổchức thực hiện quyết định, và thanh tra, kiểm tra thực hiện quyết định Có thể nóirằng ở đâu có sự lãnh đạo, quản lý thì ở đó có hoạt động thanh tra, giám sát Thựcchất thanh tra là việc xem xét tình hình thực tế để đánh giá, nhận xét và kết luậnnhằm phát huy nhân tố tích cực, phòng ngừa xử lý các vi phạm, góp phần thúc đẩyhoàn thành nhiệm vụ, hoàn thiện cơ chế quản lý, tăng cường pháp chế nhà nước bảo
vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của các cơ quan, tổ chức và công dân, baỏ vệ lợi íchcủa quốc gia
Như vậy thanh tra là một khái niệm bao trùm lên các mặt kiểm tra, giám sátcác hoạt động kinh tế - xã hội nhằm đưa các hoạt động đó theo định hướng và cácquy trình, quy phạm đã được xác định trên các văn bản quản lý nhà nước và nghiệp
vụ quản lý kinh tế Thanh tra chuyên ngành là hoạt động thanh tra chuyên về mộtngành nào đó [21]
Khoản 1 Điều 1 Quyết định số 83/2009/QĐ-TTg ngày 27/5/2009 của Thủtướng Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cơ
Trang 29quan Thanh tra, giám sát ngân hàng trực thuộc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: “Cơquan Thanh tra, giám sát ngân hàng là cơ quan trực thuộc Ngân hàng Nhà nước ViệtNam (sau đây gọi là Ngân hàng Nhà nước) thực hiện chức năng thanh tra hành chính,thanh tra chuyên ngành và giám sát chuyên ngành về ngân hàng trong các lĩnh vựcthuộc phạm vi quản lý nhà nước của Ngân hàng Nhà nước; tham mưu, giúp Thốngđốc Ngân hàng Nhà nước quản lý nhà nước đối với các tổ chức tín dụng, tổ chức tàichính quy mô nhỏ, hoạt động ngân hàng của các tổ chức khác; thực hiện phòng,chống rửa tiền theo quy định của pháp luật”.
1.1.2.2 Mục tiêu của thanh tra, giám sát NHTW
Hoạt động thanh tra, giám sát của NHTW đối với các TCTD là hoạt độngthực hiện chức năng quản lý của NHTW đối với các NHTM Hoạt động thanh tra,giám sát giúp cho NHTW nắm bắt được kịp thời, chính xác diễn biến tình hình hoạtđộng của từng TCTD; chỉnh sửa các chính sách, quy chế cho phù hợp với sự pháttriển chung của nền kinh tế; giúp cho các TCTD ngăn ngừa, chỉnh sửa những việclàm sai trái, bảo đảm uy tín, an toàn vốn và hoạt động lành mạnh của các TCTD đểhoạt động kinh doanh ngày càng có hiệu quả; hoạt động thanh tra, giám sát giúpNHTW giám sát việc thực thi chính sách tiền tệ của các TCTD được kịp thời, bảođảm sự an toàn của cả hệ thống và chính sách tiền tệ phát huy được hiệu quả, gópphần ổn định và phát triển kinh tế xã hội
Nền kinh tế thị trường càng phát triển thì hoạt động thanh tra, giám sát củaNHTW đối với các TCTD càng quan trọng Ở một số nước trên thế giới, quyền lựccủa Thanh tra, giám sát ngân hàng là rất lớn, cơ quan Thanh tra, giám sát ngân hàngđược quyền cấp, thu hồi giấy phép hoạt động và quyền xử lý vi phạm đối với cácTCTD vi phạm
Sự ổn định và vững mạnh của hệ thống tài chính tiền tệ quốc gia phụ thuộcrất lớn vào vai trò của NHTW, trong đó có sự đóng góp quan trọng của hoạt độngThanh tra, giám sát ngân hàng Cuộc khủng hoảng tài chính khu vực và một số nướctrên thế giới trong những năm trước đây là bằng chứng về sự buông lỏng quản lý,coi nhẹ hoạt động Thanh tra, giám sát ngân hàng Sau khủng hoảng, chính sách
Trang 30thanh tra, giám sát ở các nước này đã thay đổi đáng kể, chủ yếu tập trung vào biệnpháp bảo đảm an toàn, tăng cường giám sát và điều chỉnh hoạt động của TCTD theotín hiệu của thị trường Thanh tra, giám sát của NHTW đối với các TCTD có vai tròquan trọng trong việc bảo đảm an toàn hệ thống TCTD, bảo vệ quyền và lợi ích hợppháp cho người gửi tiền, bảo đảm sự ổn định và vững mạnh của hệ thống tài chính,tiền tệ quốc gia, góp phần to lớn vào sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội cả nước.[21][25]
1.1.2.3.Nội dung hoạt động thanh tra, giám sát của NHTW
Hoạt động thanh tra, giám sát của NHTW có những nội dung sau:[26] Giám sát thường xuyên việc thực hiện quy chế an toàn trong hoạt động của các TCTD bằng phương pháp GSTX theo quy định.
Tiến hành các cuộc thanh tra, kiểm tra, phúc tra trong việc chấp hành pháp luật về tiền tệ và hoạt động ngân hàng, việc thực hiện các quy định trong giấy phép hoạt động ngân hàng đối với các tổ chức, cá nhân là đối tượng của thanh tra ngân hàng.
Thẩm tra, xác minh, kết luận, kiến nghị việc giải quyết khiếu nại, tố cáo theo quy định của luật khiếu nại tố cáo liên quan đến tổ chức và hoạt động ngân hàng Tham mưu cho lãnh đạo NHTW trong việc chỉ đạo thực hiện công tác phòng ngừa và đấu tranh chống tham nhũng trong ngành ngân hàng.
Phát hiện ngăn ngừa và xử phạt vi phạm hành chính theo thẩm quyền đồng thời kiến nghị các cơ quan có thẩm quyền xử lý vi phạm pháp luật về tiền tệ và hoạt động ngân hàng
Kiến nghị với lãnh đạo NHTW và các cơ quan tổ chức có thẩm quyền khác thực hiện các biện pháp bảo đảm thi hành pháp luật về tiền tệ và hoạt động ngân hàng.
1.2 Công tác GSTX đối với NHTM của NHTW
1.2.1.Khái niệm công tác GSTX và tăng cường công tác GSTX
Sự ra đời hoạt động giám sát ngân hàng là tất yếu khi các tổ chức tài chính
Trang 31phát triển Phương thức GSTX được ra đời từ hệ thống ngân hàng Mỹ vào nhữngnăm cuối thập kỷ 80, thời kỳ nhiều ngân hàng Mỹ rơi vào tình trạng khủng hoảng.Thời gian sau tình trạng tương tự lại diễn ra tại nhiều nước ở khu vực Mỹ la tinh,Châu Âu và Châu Á Qua nghiên cứu, các nhà quản lý ngân hàng phát hiện nhữnghiện tượng không bình thường và dẫn đến tình trạng khủng hoảng nói trên phần lớnđều phát sinh trong thời gian “Khoảng trống” giữa hai thời kỳ thanh tra tại chỗ.Tình trạng này cũng diễn ra khá phổ biến ở các nước trên thế giới Để khác phụcnhững hiện tượng này, có nhà quản lý đã đưa ra một phương pháp nhằm giám sátthường xuyên hoạt động của các TCTD, đó là phương pháp GSTX, được áp dụnghầu như phổ biến đối với hoạt động thanh tra của NHTW các nước và trở thành mộtbiện pháp nghiệp vụ thiết yếu không thể thiếu được trong quá trình giám sát, thanhtra hoạt động của các TCTD.
Phương thức GSTX (hay còn gọi là thanh tra trên báo cáo) là phương thứcnhằm bổ sung cho thanh tra tại chỗ, để kiểm soát thường xuyên ở tầm vĩ mô cáchoạt động của hệ thống NHTM và các Tổ chức tài chính trung gian khác GSTX về
cơ bản là một hệ thống thông tin, đó là việc sử dụng phương pháp phân tích bảngcân đối kế toán và các chỉ tiêu thống kê định kỳ của các TCTD để giúp các nhàquản lý vĩ mô nắm một các thường xuyên tình hình; mặt khác báo động cho cácTCTD và kiến nghị các giải pháp khắc phục thích hợp, kịp thời và chỉ điểm chothanh tra tại chỗ những vấn đề trọng tâm, trọng điểm cần thanh tra Do đó, mục đíchcủa công tác GSTX là làm tăng độ an toàn, tính ổn định và một hệ thống tài chínhhoạt động có hiệu quả.[17]
Tại Việt Nam công tác GSTX bắt đầu thực hiện từ năm 1991, qua cácnăm nghiên cứu củng cố và hoàn thiện chương trình GSTX, ngày 09/11/1999Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành quyết định số 398/1999/QĐ-NHNN3 về việc ban hành quy chế GSTX đối với các TCTD hoạt động tại ViệtNam Tại Điều 1 Quy chế GSTX đối với các TCTD ban hành kèm theo Quyếtđịnh số 398/1999/QĐ-NHNN 3 ngày 9/11/1999, GSTX là việc gián tiếp kiểmtra thông qua tổng hợp và phân tích các báo cáo để đánh giá các nội dung sau
Trang 32đây của các TCTD: Diễn biến về cơ cấu tài sản Nợ và tài sản Có; Chất lượngtài sản Có; Vốn tự có; Tình hình thu nhập, chi phí và kết quả kinh doanh; việcthực hiện quy định về các tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của TCTD vàcác quy định khác của pháp luật; các vấn đề liên quan khác
Từ khi quy chế giám sát từ xa ra đời, Thanh tra ngân hàng thực hiện giám sátTCTD theo 2 cấp: Thanh tra NHNN TW; Thanh tra Chi nhánh NHNN tỉnh, thànhphố Đối tượng giám sát và nội dung giám sát thực hiện theo Quyết định số398/1999/QĐ-NHNN3 ngày 09/11/1999 của Thống đốc NHNN
Theo từ điển tiếng Việt: “Tăng cường có nghĩa là làm cho mạnh thêm, nhiềuthêm, chặt chẽ hơn” Do đó, tăng cường công tác GSTX được hiểu là sử dụng cáctác động để làm cho hoạt động giám sát của NHTW đối với NHTM chặt chẽ hơn,phát huy tác dụng mạnh hơn
1.2.2 Sự cần thiết của công tác GSTX đối với các NHTM
Ngân hàng là một trong những tổ chức tài chính quan trọng nhất của nền kinh
tế nói chung và đối với từng cộng đồng địa phương nói riêng Khi các ngân hàngtrong hệ thống tài chính thực hiện nghiệp vụ nhận tiền gửi, cho vay và cung cấp cácdịch vụ tài chính khác cho khách hàng, họ phải tiến hành những công việc đó trongmột khung pháp lý chặt chẽ được xây dựng chủ yếu để bảo vệ lợi ích của toàn xã hội
Do đó, hoạt động ngân hàng cần được kiểm soát chặt chẽ vì các lý do sau:[24]
Thứ nhất, NHTM là nơi tích trữ tiết kiệm hàng đầu của công chúng, đặc
biệt là tiết kiệm của cá nhân và hộ gia đình Việc thất thoát các khoản vốn nàytrong trường hợp ngân hàng phá sản sẽ trở thành thảm họa cho nhiều cá nhân vàgia đình Nhưng hầu hết người gửi tiền tiết kiệm lại thiếu kiến thức chuyên môn
về tài chính và thiếu thông tin cần thiết để đánh giá chính xác mức độ rủi ro củangân hàng Vì vậy, các cơ quan quản lý phải có trách nhiệm tập hợp và đánh giánhững thông tin cần thiết để xác định tình hình tài chính thực sự của ngân hàngnhằm bảo vệ người gửi tiền
Thứ hai, các ngân hàng được quản lý chặt chẽ bởi khả năng “tạo tiền” từ
những khoản tiền gửi thông qua hoạt động cho vay và đầu tư (mở rộng tín dụng)
Sự thay đổi trong khối lượng tiền tệ do ngân hàng tạo ra liên quan chặt chẽ tới tình
Trang 33hình kinh tế, đặc biệt là mức tăng trưởng của việc làm và tình trạng lạm phát
Thứ ba, các ngân hàng chịu sự quản lý chặt chẽ trong khi cung cấp cho cá
nhân và doanh nghiệp những khoản cho vay, tài trợ tiêu dùng hoặc tài trợ đầu tư.Các nhà quản lý cho rằng, xã hội thu được lợi ích to lớn nếu như hệ thống ngânhàng cung cấp một lượng tín dụng thích hợp Tuy nhiên, khi có sự phân biệt đối xửtrong việc cấp tín dụng, các cá nhân, doanh nghiệp bị phân biệt đối xử sẽ phải đốimặt với không ít khó khăn Điều này có thể ảnh hưởng đến môi trường cạnh tranh
và nền kinh tế nói chung Do vậy, việc kiểm soát các ngân hàng cũng để đảm bảoloại bỏ tình trạng phân biệt đối xử trong việc cung cấp các dịch vụ tài chính
Thứ tư, hoạt động giám sát đối với NHTM còn làm tăng cường lòng tin của
dân chúng đối với hệ thống tài chính, đảm bảo các khoản tiết kiệm được tập trungcho đầu tư sản xuất, trợ giúp các khu vực của nền kinh tế có nhu cầu tín dụng đặcbiệt và đảm bảo quá trình thanh toán được thực hiện nhanh chóng và hiệu quả.Chính phủ cũng cần giám sát hoạt động NHTM để ngăn chặn sự tập trung tiềm lựctài chính vào tay một số ít cá nhân hay tổ chức, gây ảnh hưởng xấu đến nền kinh tế
và thị trường cạnh tranh
Như vậy, có thể thấy hoạt động ngân hàng có tầm ảnh hưởng sâu rộngkhông chỉ đến các cá nhân, hộ gia đình, các doanh nghiệp, Chính phủ mà còntạo ra ảnh hưởng lan truyền đối với toàn bộ nền kinh tế Thêm vào đó, hoạtđộng ngân hàng lại mang tính rủi ro rất cao như rủi ro thanh khoản, rủi ro tíndụng, rủi ro hoạt động, rủi ro chính trị Điều này đã đòi hỏi hoạt động ngânhàng cần được giám sát chặt chẽ nhằm tránh các nguy cơ đổ vỡ, đảm bảo sự antoàn lành mạnh cho toàn hệ thống ngân hàng
Chính vì sự cần thiết giám sát đối với NHTM mà NHTW của một số quốcgia đã tiến hành giám sát hoặc tham gia vào hoạt động giám sát đối với NHTM.Trên cơ sở về nhu cầu giám sát đối với NHTM, Ủy ban Basel về giám sát ngânhàng đã được thành lập và đã xây dựng nên 25 nguyên tắc giám sát ngân hàng hiệuquả và coi đó là những nguyên tắc dùng để tham chiếu cho hoạt động giám sát ngânhàng của các quốc gia
Uỷ ban Basel về giám sát nghiệp vụ ngân hàng là một Uỷ ban bao gồm các
Trang 34chuyên gia giám sát hoạt động ngân hàng được thành lập bởi một số Thống đốcNgân hàng Trung ương vào năm 1975 Uỷ ban này bao gồm đại diện cao cấp củacác cơ quan giám sát nghiệp vụ ngân hàng tại 10 quốc gia trên thế giới, bao gồm
Mỹ, Nhật Bản, Anh, Pháp, Đức, Italia, Hà Lan, Canada, Thụy Điển và Bỉ Quanđiểm của Basel là sự yếu kém trong hệ thống ngân hàng của một quốc gia có thểảnh hưởng tới sự ổn định về tài chính không chỉ trong phạm vi quốc gia đó mà trênphạm vi toàn cầu Chính vì thế, đây là vấn đề cần được cơ quan giám sát tại cácquốc gia và Ủy ban Basel về Giám sát Nghiệp vụ ngân hàng đặc biệt quan tâm
Bộ 25 nguyên tắc cơ bản Basel là tài liệu dành cho cán bộ thực hiện công tácgiám sát ở các quốc gia và cả trên phạm vi quốc tế Các nguyên tắc này đã đượcthiết kế cho các chuyên gia giám sát, nhóm giám sát khu vực và thị trường nóichung theo nguyên tắc dễ áp dụng và kiểm chứng
1.2.3 Phương pháp GSTX của NHTW đối với NHTM
Phương pháp giám sát là phương pháp định hướng cho hoạt động giám sát củaNHTW đối với NHTM Thông thường, các phương pháp giám sát đã từng được sửdụng để giám sát hoạt động ngân hàng bao gồm:
- Phương pháp giám sát tuân thủ: là phương pháp mà NHTW sử dụng đơnthuần là kiểm tra và theo dõi sự tuân thủ của các NHTM đối với các quy địnhtrong hoạt động ngân hàng của NHTW
- Phương pháp giám sát CAMELS: là phương pháp được xây dựng dựa trên
việc giám sát đối với từng hoạt động chủ yếu của NHTM bao gồm hoạt độngđảm bảo mức độ an toàn Vốn (Capital), hoạt động đánh giá chất lượng tài sản(Assets), hoạt động quản lý của ngân hàng (Management), hoạt động thu nhập(Earning), hoạt động quản lý thanh khoản (Liquidity) và hoạt động quản lý độnhạy (Sensitivity)
- Phương pháp giám sát dựa trên rủi ro: là phương pháp được xây dựng dựa
trên việc giám sát hoạt động chung của NHTM thông qua việc đánh giá các loạihình rủi ro mà ngân hàng đang gặp phải Thông thường, các loại rủi ro mà một ngânhàng thương mại thường gặp phải bao gồm: Rủi ro tín dụng; Rủi ro thanh khoản;
Trang 35Rủi ro hoạt động; Rủi ro thị trường; Rủi ro pháp lý.
Hiện nay, phương pháp GSTX có thể khác nhau đối với từng quốc gia,trong đó phương pháp giám sát CAMELS đang được nhiều quốc gia vận dụnglàm căn cứ để xem xét mức độ lành mạnh của từng định chế tài chính riêng rẽcũng như toàn bộ hệ thống trong đó có Việt Nam Trong khuôn khổ đề tài nghiêncứu chỉ tập trung phân tích phương pháp giám sát dựa trên khung phân tíchCAMELS Cụ thể của phương pháp này như sau [20]:
Việc thu thập thông tin, phân tích và đánh giá thường được tập trung vào 6yếu tố mà theo các nhà kinh tế thì đó là 6 yếu tố có vai trò quan trọng quyết định
sự thành công hay thất bại của một ngân hàng, đó là:
- Vốn của ngân hàng Capital
- Chất lượng tài sản có Asset quality
- Khả năng quản lý Management ability
- Khả năng sinh lời Earning
- Khả năng thanh khoản Liquidity
- Tính nhạy cảm Sensitivity
Lý thuyết CAMELS cho rằng nếu quản lý tốt các yếu tố trên sẽ giảm thiểurủi ro, đảm bảo an toàn cho hệ thống ngân hàng
a Giám sát vốn của ngân hàng (Capital)
Trong hoạt động kinh doanh tiền tệ, vốn tự có của ngân hàng rất quan trọngmặc dù chỉ chiếm tỷ lệ rất nhỏ trong tổng nguồn vốn của ngân hàng (khoảng <10%)nhưng nó có vai trò quan trọng quyết định quy mô và phạm vi kinh doanh Nó là cơ
sở để quyết định huy động bao nhiêu vốn trên thị trường và được sử dụng nó vàomục đích nào Mặt khác, vốn của ngân hàng là cái đệm chống đỡ sự sụt giảm giá trịcủa những tài sản có của ngân hàng đó, là điều mà có thể đẩy ngân hàng đến tìnhtrạng không trả được nợ (trong đó giá trị tài sản có của ngân hàng sụt giảm xuốngthấp hơn giá trị tài sản nợ của nớ, nên ngân hàng sẽ bị phá sản) Vì thế vốn tự có là
Trang 36một nội dung giám sát của thanh tra ngân hàng.
Vốn của ngân hàng bao gồm:
- Vốn pháp định là vốn riêng của ngân hàng do các chủ sở hữu đóng góp.Nếu là ngân hàng quốc doanh thì chủ sở hữu góp vốn là Nhà nước; nếu làNHTMCP thì chủ sở hữu góp vốn là các cổ đông …
- Các quỹ dự trữ: Quỹ dự trữ thông thường là quỹ được trích từ lợi nhuậnhàng năm để bổ sung vốn pháp định Theo Luật Việt Nam hàng năm NHTM đượctrích 5% lợi nhuận ròng để lập quỹ này, mức tối đa do NHNN quy định Quỹ dự trữđặc biệt là vốn được trích từ lợi nhuận hàng năm để bù đắp các rủi ro trong quátrình hoạt động kinh doanh Theo quy định tại Việt Nam, hàng năm NHTM phảitrích 10% lợi nhuận dùng để lập quỹ và khống chế tối đa bằng vốn pháp định Ngoài
ra còn có lợi nhuận không chia hết cho cổ đông hoặc các quỹ dự trữ đặc biệt khácchưa sử dụng; giá trị tài sản tăng thêm do đánh giá lại tài sản cố định…
Giám sát vốn là giám sát việc bảo toàn và phát triển vốn, tức là việc kiểm travốn tự có so với vốn đăng ký khi thành lập ghi trong giấy phép hoạt động; quỹ dựphòng rủi ro; mức an toàn và sử dụng vốn Về nguyên tắc, vốn tự có chỉ được sửdụng một cách có giới hạn trong việc mua sắm tài sản bù đắp tổn thất khi không cònnguồn nào khác và là căn cứ để giới hạn các hoạt động kinh doanh tiền tệ, một sốchỉ tiêu giám sát vốn tự có:
+ Tỷ lệ đầu tư cổ phần hoặc liên doanh so với vốn tự có
+ Tỷ lệ cho vay các đối tượng ưu đãi so với vốn tự có
+ Mức huy động tiền gửi so với vốn tự có
Sự đáp ứng của vốn được xem xét qua 2 chỉ tiêu quan trọng nhất là tỷ lệ antoàn vốn tối thiểu và tỷ lệ vốn so với tổng tài sản
Mức độ an toàn vốn thể hiện số vốn tự có để hỗ trợ cho hoạt động kinhdoanh của ngân hàng Chỉ tiêu an toàn vốn là để giúp tổ chức tín dụng hạn chế đượctác động khi gặp phải rủi ro tín dụng, rủi ro thị trường và rủi ro hoạt động, khắcphục những thiệt hại và bảo vệ chủ sở hữu của ngân hàng Yêu cầu về vốn tối thiểu
Trang 37theo quy định là yếu tố quan trọng đánh giá mức độ đầy đủ của nguồn vốn [2]
Ngân hàng càng chấp nhận nhiều rủi ro thì càng đòi hỏi phải có nhiều vốn tự
có để hỗ trợ hoạt động của ngân hàng và bù đắp tổn thất tiềm năng liên quan đếnmức độ rủi ro cao hơn Tỉ lệ an toàn vốn (CAR) được tính theo tỉ lệ phần trăm củatổng vốn cấp I và vốn cấp II so với tổng tài sản đã điều chỉnh rủi ro của ngân hàng
CAR = [(Vốn cấp I + Vốn cấp II)/(Tài sản đã điều chỉnh rủi ro)] * 100%Theo quy định của Ngân hàng thanh toán Quốc tế (BIS) và chuẩn mực Basel
II tỷ lệ này cần phải đáp ứng ở mức tối thiểu 8% Tuy nhiên, tùy thuộc vào chínhsách của từng quốc gia, các ngân hàng có thể duy trì tỷ lệ này càng cao càng tốt
Về tỷ lệ vốn so với tổng tài sản, chỉ tiêu đại diện là tỷ lệ vốn chủ sở hữu trêntổng tài sản bình quân ROE (equity capital to total assets) được đưa ra mức tiêuchuẩn từ 4-6% trở lên [1]
Các nhà quản lý ngành ngân hàng các nước luôn xác định rõ và giám sát cácngân hàng phải duy trì một tỉ lệ an toàn vốn tối thiểu, ở Việt Nam theo thông tư số13/2010/TT-NHNN ngày 20/5/2010 và mới đây là Thông tư số 36/2014/TT-NHNNngày 20/11/2014 quy định tỉ lệ này là 9%
b Chất lượng tài sản có (Asset quality)
Tài sản có của NHTM là kết quả của việc sử dụng vốn của ngân hàng đó, nóbao gồm tất cả các khoản mục bên phải của bảng cân đối tài sản của NHTM, đó là:Tài sản ngân quỹ, tài sản cho vay, tài sản đầu tư và tài sản cố định Chất lượng tàisản có là chỉ tiêu tổng hợp nói lên khả năng bền vững về mặt tài chính, khả năngsinh lời, năng lực quản lý và phần lớn rủi ro trong hoạt động kinh doanh tiền tệ.Trong tài sản có có thể chia thành 2 nhóm: Một là, nhóm tài sản có không có khảnăng sinh lời Hai là, nhóm tài sản có có khả năng sinh lời Trong đó, tài sản có cókhả năng sinh lời đóng vai trò quyết định hiệu quả kinh doanh của một ngân hàng
Vì vậy, chất lượng tài sản có là chỉ tiêu quan trọng mà thanh tra, giám sát ngân hàngphải tập trung phân tích
Giám sát tài sản có là việc tập trung phân tích, đánh giá các nhóm tài sản có
Trang 38từng loại cho vay, từng loại dịch vụ theo một chuẩn mực nhất định sau đó tổng hợpcác chỉ tiêu này để đưa ra đánh giá cuối cùng về chất lượng tài sản có Thôngthường, phân tích chất lượng tài sản có trước hết phải xem xét tính hợp lý trong cơcấu của nó nhằm đáp ứng tốt nhất yêu cầu nâng cao mức doanh lợi, đồng thời đảmbảo khả năng thanh toán đối với khách hàng Để đánh giá tính hợp lý trong cơ cấutài sản có của một NHTM có thể sử dụng 2 chỉ số cơ cấu sau:
Thứ nhất, chỉ số cơ cấu tỷ lệ của 4 nhóm tài sản có: Ngân quỹ, cho vay, đầu
tư và tài sản cố định Qua chỉ số này người ta có thể nhận định tính hợp lý của việc
sử dụng vốn của một ngân hàng thương mại Ngân hàng nào có tỷ trọng tài sản chovay và tài sản đầu tư càng lớn với điều kiện đảm bảo những tỷ lệ thích đáng cho tàisản ngân quỹ và tài sản cố định thì cơ cấu tài sản có của ngân hàng đó càng hợp lý
Thứ hai, chỉ số cơ cấu tỷ lệ của 2 nhóm tài sản có sinh lời và tài sản có khôngsinh lời Chỉ số này cho phép nhận định mức độ tận dụng các nguồn vốn của mộtngân hàng để đạt mục tiêu kinh doanh của ngân hàng đó là tối đa hóa lợi nhuận Tàisản có không sinh lời như tiền mặt tại quỹ, tiền gửi dự trữ bắt buộc tại NHTW, tàisản cố định là quan trọng không thể thiếu nhằm đảm bảo khả năng thanh toán,phòng tránh rủi ro cho ngân hàng thương mại Nhưng chỉ số tài sản có có khả năngsinh lời mới mang lại thu nhập đảm bảo sự tồn tại và phát triển của một ngân hàng,
do vậy nhóm tài sản có sinh lời phải chiếm tỷ trọng áp đảo so với nhóm tài sản cókhông sinh lời
Mặt khác, chất lượng tài sản có còn thể hiện ở chỉ tiêu chất lượng tín dụng vàtác động của nó đối với tình hình tài chính của ngân hàng thương mại Chỉ tiêu cơbản để đánh giá chất lượng tín dụng là chỉ số tài sản có đọng Với chỉ tiêu này,người ta có thể nhận xét mức độ của tài sản có đọng nói chung trong một thời kỳnhất định của một ngân hàng Trong tài sản có đọng người ta chú ý đến các khoảncho vay mà thời gian quá hạn đạt từ 30 ngày đến 90 ngày để định hướng khả năngtổn thất trong tương lai của nó và từ đó có cách xử lý thích hợp
Một loại tài sản quan trọng nhất là danh mục cho vay, nguy cơ lớn nhất đối
Trang 39với một NHTM là các khoản phải thu do khoản vay quá hạn Việc đánh giá chấtlượng tài sản dựa trên phân tích tín dụng thực hiện bằng cách đánh giá việc quản lýrủi ro tín dụng và chất lượng danh mục cho vay Chỉ số đánh giá chất lượng tài sảnthông qua hiệu quả của khoản cho vay là tỷ lệ nợ xấu (NPL). Trong hệ thống phânloại thông thường, các khoản vay bao gồm 5 loại: nợ đủ tiêu chuẩn, nợ cần chú ý,
nợ dưới tiêu chuẩn, nợ nghi ngờ mất vốn, nợ có khả năng mất vốn Trong đó, nợxấu gồm 3 loại nhóm nợ thấp nhất, theo chuẩn quốc tế là các khoản nợ không thanhtoán được lãi từ 90 ngày trở lên, ở một số nước điều chỉnh cho phép một khoảngthời gian dài hơn, thường là 180 ngày trở lên
Đối với các ngân hàng được coi là có chất lượng tài sản tốt phải đáp ứng 3tiêu chí sau: [1]
tệ ở trạng thái trường thể hay đoản thể, để biết được nguy cơ rủi ro có thể gặp trongkinh doanh ngoại hối
c Khả năng quản lý (Management ability)
Lý thuyết CAMELS cho rằng khả năng quản lý của mỗi ngân hàng là yếu tốquan trọng nhất, năng động nhất Nếu khả năng quản lý tốt có thể biến một ngânhàng hoạt động yếu kém thành một ngân hàng hoạt động tốt hơn và ngược lại Nóiđến khả năng quản lý là nói đến yếu tố con người, yếu tố tổ chức và chính sách.Chất lượng quản lý là sự kết hợp nhuần nhuyễn của các yếu tố trên và biểu hiện cụthể bằng hiệu quả kinh doanh Việc đánh giá khả năng quản lý thể hiện qua các nội
Trang 40dung sau:
Thứ nhất, năng lực đề ra sách lược kinh doanh để ngân hàng đủ sức cạnhtranh và đứng vững trong thị trường
Thứ hai, phải có kế hoạch triển khai các công việc một cách hợp lý
Thứ ba, phải đề ra được phương thức quản lý nghiệp vụ, quy trình thực hiệnnghiệp vụ đảm bảo tuân thủ các quy định
Thứ tư, phải có một cơ cấu tổ chức hợp lý, phân định rõ ràng trách nhiệm vàquyền hạn giữa nhân viên và người điều hành các của các bộ phận
Thứ năm, có chính sách nhân sự hợp lý, khuyến khích các thành viên tíchcực làm tốt các công việc được giao, tuân thủ kỷ luật lao động tốt
Trong quá trình hoạt động tiêu chuẩn để đánh giá chất lượng quản lý của banlãnh đạo ngân hàng bao gồm:
- Hiệu quả kinh doanh của ngân hàng
- Sự tuân thủ pháp luật chính sách chế độ trong kinh doanh
- Độ tín nhiệm trong môi trường kinh doanh đối với khách hàng và các ngânhàng khác
Nguyên tắc cơ bản xác định khả năng quản lý là năng lực của ban giám đốctrong việc điều hành, xác định, đo lường và kiểm soát rủi ro hoạt động của một tổchức và đảm bảo an toàn, hoạt động hiệu quả tuân thủ quy định pháp luật
Khả năng quản lý được ước tính dựa trên các chỉ tiêu tài chính chủ yếu sau:[1][2]
STT Chỉ số Công thức Tiêu chuẩn
1 Tỷ lệ tăng trưởng tài sản Bình quân tỷ lệ tăng trưởng tài
sản
Tăng trưởng GNPdanh nghĩa
2 Tỷ lệ tăng trưởng tín dụng Bình quân tỷ lệ tăng trưởng tín
dụng
Tăng trưởng GNPdanh nghĩa
3 Tỷ lệ tăng trưởng thu
nhập
Bình quân tỷ lệ tăng trưởng thu nhập
≥ 10-15%