Chương 1: TỔNG QUAN VỀ THANH TRA LAO ĐỘNG 1.1 Một số khái niệm liên quan Thanh tra là một chức năng thiết yếu của cơ quan quản lý Nhà nước, là phương thức đảm bảo pháp chế, tăng cường kỷ luật trong quản lý Nhà nước, thực hiện quyền dận chủ xã hội chủ nghĩa. Theo khoản 1, điều 3, Luật Thanh tra 2010: “Thanh tra nhà nước là hoạt động xem xét, đánh giá, xử lý theo trình tự, thủ tục do Pháp luật quy định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền đối với việc thực hiện chính sách pháp luật, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, tổ chức, cá nhân. Thanh tra Nhà nước bao gồm thanh tra hành chính và thanh tra chuyên ngành.” Theo khoản 3, điều 3, Luật Thanh tra 2010: “Thanh tra chuyên ngành là hoạt động thanh tra của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo ngành, lĩnh vực đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc chấp hành pháp luật chuyên ngành, quy định về chuyên môn kỹ thuật, quy tắc quản lý thuộc ngành, lĩnh vực đó.” Thanh tra lao động là hoạt động thanh tra của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền trong lĩnh vực lao động đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc chấp hành pháp luật lao động, quy định về chuyên môn – kỹ thuật, quy tắc quản lý thuộc lĩnh vực lao động.
Trang 1Chương 1: TỔNG QUAN VỀ THANH TRA LAO ĐỘNG
1.1 Một số khái niệm liên quan
-Thanh tra là một chức năng thiết yếu của cơ quan quản lý Nhà nước, là phương thức đảm bảo pháp chế, tăng cường kỷ luật trong quản lý Nhà nước, thực hiện quyền dận chủ
xã hội chủ nghĩa
- Theo khoản 1, điều 3, Luật Thanh tra 2010: “Thanh tra nhà nước là hoạt động xem xét, đánh giá, xử lý theo trình tự, thủ tục do Pháp luật quy định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền đối với việc thực hiện chính sách pháp luật, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, tổ chức, cá nhân Thanh tra Nhà nước bao gồm thanh tra hành chính và thanh tra chuyên ngành.”
- Theo khoản 3, điều 3, Luật Thanh tra 2010: “Thanh tra chuyên ngành là hoạt động thanh tra của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo ngành, lĩnh vực đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc chấp hành pháp luật chuyên ngành, quy định về chuyên môn kỹ thuật, quy tắc quản lý thuộc ngành, lĩnh vực đó.”
- Thanh tra lao động là hoạt động thanh tra của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền trong lĩnh vực lao động đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc chấp hành pháp luật lao động, quy định về chuyên môn – kỹ thuật, quy tắc quản lý thuộc lĩnh vực lao động
1.2 Chức năng của thanh tra
Theo điều 1, quyết định số 614/2013/Nđ-BLDTBXH: “Thanh tra Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội (Thanh tra bộ ) thuộc Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, có chức năng giúp Bộ trưởng thực hiện các quy định của pháp luật về công tác thanh tra; tiến hành thanh tra hành chính với cơ quan, tổ chức, cá nhân thuộc hoạt động thanh tra trong ngành, lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý Nhà nước của Bộ; phòng,chống tham nhũng, tiếp công nhân , xử lý đơn thư, giải quyết khiếu nại, tố cáo theo quy định của pháp luật.” 1.3 Nhiệm vụ của thanh tra lao động
Theo điều 237, chương XVI, Bộ Luật Lao động 2012 quy định về nhiệm vụ thanh tra Nhà nước về lao động:
1 Thanh tra việc chấp hành các quy định về pháp luật lao động
2 Điều tra tai nạn lao động, những vi phạm an toàn lao động, vệ sinh lao động;
Trang 23 Tham gia hướng dẫn hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật về điều kiện lao động, an toàn lao động, vệ sinh lao động;
4 Giải quyết khiếu nại, tố cáo về lao động theo quy định của pháp luật;
5 Xử lý theo thầm quyền và kiến nghị các cơ quan có thẩm quyền xử lý các vi phạm pháp luật về lao động
1.4 Hình thức thanh tra
Theo điều 37 Luật Thanh tra 2010 quy định hình thức thanh tra như sau:
1 Hoạt động thanh tra được thực hiện theo kế hoạch, thanh tra thường xuyên hoặc thanh tra đột xuất;
2 Thanh tra theo kế hoạch được tiến hành theo kế hoạch đã được phê duyệt;
3 Thanh tra thường xuyên được tiến hành trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ của cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành;
4 Thanh tra đột xuất được phát hiện khi cơ quan, tổ chức, cá nhân có dấu hiệu vi phạm pháp luật, theo yêu cầu của việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, phòng, chống tham nhũng hoặc do Thủ trưởng cơ quan quản lý Nhà nước có thẩm quyền giao
1.5 Phương thức thanh tra
Công tác thanh tra lao động tiến hành bằng phương thức thanh tra viên phụ trách vùng thông qua phiếu tự kiểm tra ( Quyết định số 01/2006/Qd – BLDTBXH ngày 16 tháng 02/2006 của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội ( Phụ lục 1)
1.6 Nội dung của thanh tra lao động
Theo Điều 20, Chương IV – Nghị định số 39/2013/NĐ-CP ngày 24 tháng 04 năm 2013
về tổ chức và hoạt động của Thanh tra ngành Lao động – Thương binh và Xã hội ( Phụ lục 1)
Trang 3Chương 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC THANH TRA VIỆC THỰC HIỆN PHÁP LUẬT BHXH TẠI CÁC DOANH NGHIỆP FDI TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH VĨNH PHÚC
2.1 Giới thiệu vài nét về tỉnh Vĩnh Phúc
Vĩnh Phúc là một tỉnh trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, cửa ngõ của Thủ đô, gần sân bay Quốc tế Nội Bài, là cầu nối giữa các tỉnh phía Tây Bắc với Hà Nội và đồng bằng châu thổ sông Hồng, do vậy tỉnh có vai trò rất quan trọng trong chiến lược phát triển kinh
tế khu vực và quốc gia
Tỉnh Vĩnh Phúc được thành lập từ năm 1950, trên cơ sở sáp nhập 2 tỉnh Vĩnh Yên và Phúc Yên, năm 1968 sáp nhập với tỉnh Phú Thọ thành tỉnh Vĩnh Phú, từ ngày 01 tháng
01 năm 1997 tỉnh Vĩnh Phúc được tái lập Thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước
về mở rộng địa giới hành chính Thủ đô Hà Nội, từ ngày 01 thàng 8 năm 2008, huyện Mê Linh thuộc tỉnh Vĩnh Phúc chuyển về thành phố Hà Nội
Hiện nay, tỉnh Vĩnh Phúc có diện tích tự nhiên 1.231 km2, phía Bắc giáp tỉnh Tuyên Quang và Thái Nguyên, phía Tây giáp tỉnh Phú Thọ, phía Nam giáp Hà Nội, phía Đông giáp 2 huyện Sóc Sơn và Đông Anh - Hà Nội
* Dân số trên 1 triệu người, có 7 dân tộc anh, em sinh sống trên địa bàn tỉnh gồm: Kinh, Sán Dìu, Nùng, Dao, Cao Lan, Mường
Tỉnh có 9 đơn vị hành chính: 1 thành phố, 1 thị xã và 7 huyện; 137 xã, phường, thị trấn
Là tỉnh có bề dày truyền thống yêu nước và cách mạng, truyền thống đó được phát huy cao độ trong sản xuất, chiến đấu Từ khi có sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, nhiều tên làng và cá nhân ở Vĩnh Phúc đã in đậm những chiến công được cả nước biết đến, tiêu biểu như chiến thắng Khoan Bộ, Xuân Trạch, Núi Đinh, anh hùng liệt sỹ Nguyễn Viết Xuân với câu nói bất hủ “Hãy nhằm thẳng quân thù mà bắn; Vĩnh Phúc còn được các địa phương biết tới là nơi khởi nguồn của đổi mới tư duy quản lý nông nghiệp -nông thôn, với phương thức “khoán hộ” táo bạo vào cuối những năm 60, 70 của thế kỷ
XX, đó là bước đi mang tính đột phá, tạo cơ sở thực tiễn cho đổi mới cơ chế quản lý kinh
tế nông nghiệp, nông thôn và nông dân của Đảng ta sau này
Trang 4Đặc biệt, sau 20 năm tái lập, dưới sự lãnh đạo của Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh, Vĩnh Phúc
đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng và đáng tự hào Từ một địa phương thuần nông trở thành tỉnh có giá trị sản xuất công nghiệp lớn, là trung tâm sản xuất ô-tô, xe máy hàng đầu của vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ và cả nước Hệ thống hạ tầng kỹ thuật được đầu
tư, nâng cấp theo hướng hiện đại Các lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hóa, thông tin có nhiều chuyển biến; an ninh quốc phòng được tăng cường, trật tự an toàn xã hội được giữ vững; tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân đạt 15,37%/năm; thu ngân sách tăng nhanh, từ 100
tỷ đồng năm 1997 lên trên 32.000 tỷ đồng năm 2016
Trong phát triển công nghiệp, tỉnh đã đưa ra những giải pháp phát triển mang tính đột phá, từ một tỉnh chỉ có 1 KCN đến nay đã hình thành được 20 KCN với quy mô 6.000 ha, trong đó có nhiều tập đoàn lớn đã đến đầu tư tại tỉnh Nguồn lao động của Vĩnh Phúc khá dồi dào, chiếm khoảng trên 60% tổng dân số, trong đó chủ yếu là lao động trẻ, có kiến thức văn hóa và tinh thần sáng tạo để tiếp thu kỹ thuật và công nghệ tiên tiến Sự phát triển kinh tế mạnh mẽ trong những năm qua, đặc biệt là công nghiệp, đã trở thành môi trường nâng cao tay nghề cho người lao động
Công tác quy hoạch, xây dựng kết cấu hạ tầng, phát triển đô thị và nông thôn mới được quan tâm đẩy mạnh Đến nay, Vĩnh Phúc đã hoàn thành và phê duyệt hầu hết các quy hoạch, là cơ sở cho việc xây dựng hạ tầng, triển khai các dự án một cách đồng bộ và quản
lý chặt chẽ Đến hết năm 2015, Vĩnh Phúc là tỉnh đứng thứ ba toàn quốc trong xây dựng nông thôn mới với 68 xã đạt chuẩn, chiếm gần 61% số xã trong toàn tỉnh
Trang 5Lĩnh vực giáo dục đào tạo, dân số, việc làm và giảm nghèo, y tế và chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân, các hoạt động văn hóa xã hội khác cũng đều đạt được nhiều kết quả, góp phần quan trọng vào việc phát triển bền vững, nâng cao từng bước đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân Tính đến hết năm 2016, tỷ lệ hộ nghèo còn khoảng 2,5%; Tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt khoảng 68%; Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng còn 10%; Số bác sỹ/1 vạn dân đạt 9,7 bác sỹ; bình quân, mỗi năm giải quyết việc làm cho gần 22 nghìn lao động
Vĩnh Phúc có tiềm năng lớn về tài nguyên du lịch tự nhiên và nhân văn Người dân Vĩnh Phúc luôn mang trong mình niềm tự hào về truyền thống đấu tranh dựng nước, giữ nước
và một nền văn hóa rực rỡ Cho đến nay, đất Vĩnh Phúc vẫn mang đậm dấu ấn của văn hóa Hùng Vương và Kinh Bắc, Thăng Long, của nền văn hóa dân gian đặc sắc, của khoa bảng, với lối sống xã hội và chuẩn mực đạo đức luôn được giữ gìn và phát huy Tại đây
có một quần thể danh lam, thắng cảnh tự nhiên nổi tiếng: rừng Quốc gia Tam Đảo, thác Bản Long, hồ Đại Lải, hồ Làng Hà Nhiều lễ hội dân gian đậm đà bản sắc dân tộc và rất nhiều di tích lịch sử, văn hóa mang đậm dấu ấn lịch sử và giá trị tâm linh như danh thắng Tây Thiên, Tháp Bình Sơn, Đền thờ Hai Bà Trưng, Đền thờ Trần Nguyên Hãn, Di chỉ Đồng Đậu
Trang 6Với nhiều thế mạnh và tiềm năng phát triển, Vĩnh Phúc phấn đấu đến năm 2020 là tỉnh
công nghiệp, trở thành một trong những trung tâm dịch vụ, du lịch của Vùng và cả nước,
có những khu nghỉ dưỡng đạt tiêu chuẩn quốc tế và trở thành thành phố Vĩnh Phúc vào
những năm 20 của thế kỷ này Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân đạt 7-7,5%/năm; tỷ
lệ thu ngân sách Nhà nước trên GRDP hàng năm đạt 22-23%; GRDP bình quân đầu
người đến năm 2020 đạt 110 triệu đồng, tương đương khoảng 4.800-5.000 USD./
* Cơ quan thực hiện chức năng thanh tra
Theo Nghị định 07/2012/NĐ-CP quy định về cơ quan được giao thực hiện chức năng
thanh tra chuyên ngành và hoạt động thanh tra chuyên ngành: Bộ Lao động - Thương
binh và Xã hội: Tổng cục Dạy nghề, Cục Quản lý Lao động ngoài nước
* Đặc điểm và ưu nhược điểm của doanh nghiệp FDI tại Việt Nam
Doanh nghiệp FDI
Doanh nghiệp FDI là doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài: Foreign Direct
Investment Theo quy định của Luật Đầu tư 2005, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước
ngoài bao gồm doanh nghiệp do nhà đầu tư nước ngoài (NĐTNN) thành lập để thực hiện
hoạt động đầu tư tại Việt Nam; doanh nghiệp Việt Nam do NĐTNN mua cổ phần, sáp
nhập, mua lại Trong đó, NĐTNN là tổ chức, cá nhân nước ngoài bỏ vốn để thực hiện
hoạt động đầu tư tại Việt Nam
Không để lại gánh nặng nợ cho Việt Nam
nước tiếp nhận đầu tư như ODA hoặc các
hình thức đầu tư nước ngoài khác như vay
thương mại, phát hành trái phiếu ra nước
ngoài
- FDI không đơn thuần là vốn, mà theo đó
là công nghệ, kỹ thuật tiên tiến, tạo ra
những sản phẩm mới, mở ra thị trường mới
cho Việt Nam
- Liên doanh với nước ngoài, việc bỏ vốn
đầu tư của các doanh nghiệp trong nước có
thể giảm được rủi ro về tài chính
Việc sử dụng nhiều vốn đầu tư FDI có thể dẫn đến việc thiếu chú trọng huy động tối
đa vốn trong nước, gây ra mất cân đối trong
cơ cấu đầu tư => Phụ thuộc vào vốn đầu tư nước ngoài
- Đôi khi doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài thực hiện cạnh tranh bằng cách bán phá giá, độc chiếm thị trường, lấn áp DN trong nước
- Việc góp vốn đôi khi biến Việt Nam thành bãi rác công nghệ của thế giới khi các đối tác nước ngoài tranh thủ góp vốn bằng các thiết bị, vật tư lạc hậu, đã qua sử dụng đến thời hạn thanh lý => gây thiệt hại lớn cho nền kinh tế Việt Nam
Thanh tra Bộ Lao động – Thương binh và
Xã hội (Thanh tra Bộ) Thanh tra Sở Lao động – Thương binh và Xã hội
Chức năng Là cơ quan thuộc Bộ Lao động – Thương
binh và Xã hội, giúp Bộ trưởng Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội quản lý
Là cơ quan thuộc Sở Lao động -Thương binh và Xã hội, giúp Giám đốc Sở Lao động - Thương binh và
Trang 7nhà nước về thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, phòng chống tham nhũng;
thực hiện thanh tra hành chính, thanh tra chuyên ngành
Xã hội tiến hành thanh tra hành chính, thanh tra chuyên ngành, giải quyết khiếu nại, tố cáo, phòng, chống tham nhũng theo quy định của pháp luật
Nhiệm vụ,
quyền hạn Thanh tra Bộ thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại điều 18 Luật thanh tra và
các nhiệm vụ:
1 Chủ trì hoặc tham gia xây dựng văn bản quy phạm pháp luật theo sự phân công của Bộ Lao động – Thương binh và
Xã hội
2 Tổ chức tập huấn nghiệp vụ thanh tra chuyên ngành cho các thanh tra viên, công chức được giao thực hiện nhiệm vụ thanh tra chuyên ngành Lao động – Thương binh và Xã hội
3 Tuyên truyền, hướng dẫn, đôn đốc, kiểm tra cơ quan, đơn vị thuộc Bộ thực hiện quy định của pháp luật về thanh tra
4 Tổng kết, rút kinh nghiệm về công tác thanh tra trong lĩnh vực lao động, thương binh và xã hội
5 Nghiên cứu khoa học về thanh tra trong lĩnh vực lao động, thương binh và
xã hội
6 Hợp tác quốc tế về công tác thanh tra trong lĩnh vực lao động, thương binh và
xã hội
7 Tổng hợp, báo cáo Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Tổng Thanh tra Chính phủ về kết quả công tác thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, phòng, chống tham nhũng trong phạm vi quản lý của Bộ Lao động - Thương binh
và Xã hội theo quy định của pháp luật
8 Các nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của pháp luật
Thanh tra Sở thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại Điều 24 Luật Thanh tra và các nhiệm vụ, quyền hạn sau:
1 Tuyên truyền, hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc cơ quan, đơn vị thuộc quyền quản lý của Sở Lao động -Thương binh và Xã hội trong việc thực hiện pháp luật về thanh tra
2 Tổ chức tập huấn nghiệp vụ thanh tra chuyên ngành cho thanh tra viên, công chức làm công tác thanh tra thuộc Thanh tra Sở Lao động -Thương binh và Xã hội
3 Tổng kết, rút kinh nghiệm về công tác thanh tra trong phạm vi quản lý của Sở Lao động - Thương binh và Xã hội
4 Tổng hợp, báo cáo kết quả công tác thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, phòng, chống tham nhũng trong phạm vi quản lý của Sở Lao động -Thương binh và Xã hội theo quy định của pháp luật
5 Các nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của pháp luật
Cơ cấu tổ
chức Thanh tra Bộ có Chánh Thanh tra, Phó chánh Thanh tra, Thanh tra viên và các
công chức khác
Thanh tra Sở có Chánh Thanh tra, Phó Chánh Thanh tra, Thanh tra viên và các công chức khác
Trang 8Thanh tra Bộ được tổ chức thành các phòng nghiệp vụ, các phòng nghiệp vụ do
Bộ trưởng Bộ Lao động – Thương binh
và Xã hội quyết định thành lập
2.3 Thực trạng công tác thanh tra việc thực hiện pháp luật BHXH tại các doanh nghiệp FDI trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc
2.3.1 Tình hình vi phạm BHXH khối doanh nghiệp FDI trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc Theo báo cáo của Sở Kế hoạch và Đầu tư, tính đến thời điểm cuối năm 2015, tổng số dự
án FDI đầu tư tại Vĩnh Phúc là 202 dự án, tổng vốn đăng ký 3,2 tỷ USD, với gần 90.000 công nhân lao động Đây là lực lượng lao động dồi dào, phục vụ cho hoạt động sản xuất, kinh doanh của lĩnh vực sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh
Những năm qua, cùng với việc đẩy mạnh sản xuất, kinh doanh, các doanh nghiệp (DN) FDI trên địa bàn tỉnh đã chấp hành tốt các chế độ, chính sách về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp (BHXH, BHYT, BHTN) Số lượng DN FDI tham gia BHXH, BHYT đăng ký tại cơ quan BHXH liên tục tăng qua các năm, nếu như năm 1997 chỉ có 5 DN đăng ký tham gia BHXH, BHYT với tổng số 1.146 lao động thì đến năm
2007 là 68 DN (tăng gấp 13,6 lần) với tổng số 26.668 lao động (tăng gấp 23,3 lần) và đến thời điểm đầu năm 2015 là 107 DN (tăng gấp 21,4 lần) với tổng số lao động là 50.874 người (tăng gấp 44,4 lần) Hàng năm, tổng số tiền thu BHXH, BHYT, BHTN do DN FDI tham gia đóng góp chiếm trên 30% trên tổng số thu BHXH, BHYT, BHTN toàn tỉnh Những DN tiêu biểu thực hiện tốt nghĩa vụ đóng bảo hiểm cho người lao động (NLĐ) trong khối các DN FDI ở Vĩnh Phúc phải kể đến đó là Công ty ô tô Toyota Việt Nam và Công ty Honda Việt Nam Mặc dù suy thoái kinh tế đã ảnh hưởng lớn đến hoạt động sản xuất kinh doanh của các DN nhưng với chiến lược kinh doanh lấy niềm tin, sự tín nhiệm của khách hàng là mục tiêu hoạt động đã đưa 2 DN tiếp tục duy trì hoạt động của mình và đảm bảo được mọi chế độ cho NLĐ trong đó có chế độ BHXH, BHYT Với lực lượng lao động đông, quỹ lương lớn song 2 DN này đã trích tiền BHXH, BHYT cho NLĐ theo tháng nên đã không bị tồn đọng tiền BHXH, BHYT Hiện tổng số lao động có tham gia BHXH, BHYT của 2 đơn vị này là gần 10.000 người, bằng 1/5 số lao động tham gia BHXH, BHYT của toàn tỉnh và tổng số thu trên 73 tỷ đồng, gần bằng 8% tổng số thu của toàn tỉnh nhưng DN đã nộp hết số tiền trích nộp BHXH, BHYT cho NLĐ Vì vậy mọi quyền lợi được hưởng về chế độ BHXH, BHYT của NLĐ được đảm bảo, giúp NLĐ yên tâm lao động, sản xuất
Việc thực hiện các chế độ, chính sách về BHXH, BHYT cho NLĐ tại 2 DN được cơ quan BHXH và DN quan tâm chi trả kịp thời, đặc biệt là việc chi trả chế độ ốm đau và chế độ thai sản Từ năm 1997-2015 đã chi trả chế độ ốm đau cho trên 60.000 lượt lao động (trong đó Công ty Honda trên 40.000 lượt lao động, Công ty Toyota gần 20.000 lượt lao động); chi trả chế độ thai sản cho cho gần 3.000 lao động (trong đó Công ty Honda trên 2.000 lượt lao động, Công ty Toyota gần 500 lượt lao động); chi trả chế độ dưỡng sức cho gần 4.000 lao động (trong đó Công ty Honda trên 2.000 lượt lao động, Công ty Toyota gần 2.000 lượt lao động) Đồng thời từ năm 2006, 2 DN đã ký hợp đồng khám
Trang 9chữa bệnh, tương đương với phòng khám chữa bệnh của bệnh viện hạng 3 để chăm sóc kịp thời sức khỏe cho NLĐ
Bên cạnh các DN chấp hành tốt quy định về BHXH, BHYT cho NLĐ, trong khối DN FDI vẫn còn một số DN cố tình trốn tránh đóng BHXH Nợ đọng BHXH cao nhất phải kể đến đó là thời điểm năm 2008 với tổng số tiền gần 17,4 tỷ đồng; năm 2009 nợ đọng 15,3
tỷ đồng, bằng 48% số nợ BHXH của toàn tỉnh; năm 2007 nợ đọng trên 14,6 tỷ đồng, bằng 61% số nợ BHXH của toàn tỉnh; năm 2014 tổng số nợ của khối DN FDI là trên 12
tỷ đồng, bằng 20% số nợ của toàn tỉnh Riêng năm 2011 trên địa bàn tỉnh có 31 DN FDI (chiếm 34,8% số DN FDI đang hoạt động) nợ BHXH Tổng số tiền nợ BHXH của các
DN khối FDI trên 4,4 tỷ đồng, trong đó có 5/14 DN Nhật Bản, 18/42 DN Hàn Quốc, 5/24
DN Đài Loan, 2/6 DN Trung Quốc Nợ đọng BHXH thấp nhất vào năm 2013 với số tiền
1 tỷ đồng Nợ đọng tập trung chủ yếu ở các DN sản xuất kinh doanh bao bì Nguyên nhân của tình trạng nợ đọng BHXH, BHYT chủ yếu do hoạt động của DN gặp nhiều khó khăn,
DN giải thể, ngừng hoạt động; thậm chí có DN còn chiếm dụng vốn từ khoản thu BHXH, BHYT của NLĐ đầu tư vào mục đích khác, không hợp tác với cơ quan BHXH để giải quyết chế độ với NLĐ Trong khi đó, cơ quan BHXH chỉ có nhiệm vụ kiểm tra, phát hiện
vi phạm về BHXH nhưng lại không được quyền thanh tra, xử phạt nên hiệu quả công tác kiểm tra của cơ quan BHXH không cao Đặc biệt, công tác khởi kiện và thi hành bản án của tòa án đạt hiệu quả chưa cao; việc thẩm định tài sản để thi hành án cũng gặp khó khăn do một số DN nợ BHXH đang trong nguy cơ dừng hoạt động
Để giảm tình trạng nợ đọng BHXH, BHYT, trong thời gian tới ngành BHXH tỉnh cần áp dụng nhiều giải pháp quyết liệt đòi nợ BHXH, BHYT đối với những DN chây ỳ, nợ đọng Kiểm soát chặt chẽ việc giải quyết chế độ BHXH và thanh toán chi phí khám, chữa bệnh BHYT tại các cơ sở khám chữa bệnh; tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, khởi kiện ra tòa đối với các DN nợ đọng BHYT, BHXH Đồng thời công khai các DN vi phạm pháp luật BHXH, BHYT trên các phương tiện thông tin đại chúng http://baovinhphuc.com.vn/kinh-te/27501/doanh-nghiep-fdi-voi-viec-chap-hanh-chinh-sach-phap-luat-ve-bhxh-bhyt.html
Kết quả thanh tra việc thực hiện pháp luật BHXH, BHTN, BHYT trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc
Thực hiện Quyết định số 1581/QĐ-LĐTBXH ngày 30/10/2015 của Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội về việc phê duyệt kế hoạch thanh tra năm 2016 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, ngày 29/02/2016, Chánh Thanh tra Bộ đã ban hành Quyết định số 08/QĐ-TTr về thanh tra việc thực hiện pháp luật bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế (sau đây viết tắt là BHXH, BHTN, BHYT) trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc Từ ngày 10/3/2016 đến ngày 6/4/2016, Đoàn thanh tra đã thanh tra việc thực hiện pháp luật bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế tại 04 tổ chức bảo hiểm
xã hội là Bảo hiểm xã hội (sau đây viết tắt là BHXH) và 16 đơn vị sử dụng lao động trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc Đoàn Thanh tra đã tập trung kiểm tra vào các nội dung: việc ban hành các văn bản hướng dẫn; công tác tuyên truyền, tập huấn nghiệp vụ; công tác thanh
Trang 10tra, kiểm tra; công tác thu; công tác giải quyết chế độ; công tác chi trả BHTN; công tác cấp, quản lý và sử dụng sổ BHXH
Qua quá trình thanh tra, ngoài việc ghi nhận những nội dung các đơn vị đã thực hiện tốt, Đoàn thanh tra đã phát hiện một số thiếu sót, hạn chế trong quá trình thực hiện chính sách, cụ thể:
- Tại tổ chức bảo hiểm xã hội: sự phối hợp giữa cơ quan BHXH và các ngành, các cấp trong công tác thanh tra, kiểm tra về lĩnh vực BHXH, BHTN, BHYT chưa thường xuyên; việc khảo sát, đôn đốc, phát triển lao động tham gia BHXH, BHTN, BHYT theo nội dung Công văn số 3940/BHXH-BT ngày 30/10/2009 của BHXH Việt Nam hiệu quả chưa cao; vẫn còn một số đơn vị sử dụng lao động trên địa bàn nợ đọng BHXH, BHTN, BHYT; việc phối hợp với các cấp, các ngành và đề nghị các cơ quan có thẩm quyền xử lý các đơn vị nợ đọng còn chưa thường xuyên hoặc đã phối hợp với các cơ quan có liên quan tổ chức các cuộc thanh tra liên ngành nhưng chưa xử phạt kịp thời những đơn vị và
cá nhân có hành vi vi phạm pháp luật BHXH; còn một số lao động báo tăng, giảm chưa kịp thời, phải truy thu thời gian dài từ 3 đến 23 tháng; hồ sơ truy thu chưa đầy đủ; chưa tính lãi chậm nộp trong thời gian truy thu; còn một số trường hợp chức danh nghề còn ghi chưa cụ thể; hồ sơ thanh toán chế độ BHXH ngắn hạn vẫn còn một số đơn vị nộp thừa giấy tờ không có trong quy định; các đối tượng nghỉ việc hưởng chế độ trên 14 ngày trong một tháng nhưng đơn vị không báo giảm và chưa có văn bản đề nghị được tiếp tục đóng BHXH nhưng cơ quan BHXH vẫn ghi đóng; một số trường hợp ký thay, nhận hộ không có giấy ủy quyền bằng văn bản nhưng vẫn được bưu điện chi trả; mặc dù
đã mở sổ theo dõi tăng giảm đối tượng được cấp sổ nhưng chưa kiểm tra, rà soát thường xuyên
- Tại các đơn vị sử dụng lao động: mục BHXH trong hợp đồng lao động chưa ghi cụ thể
% mức đóng của người lao động và chủ sử dụng lao động; vẫn còn có tháng chưa nộp BHXH kịp thời cho người lao động; tham gia BHXH, BHTN, BHYT cho người lao động không đúng mức quy định; việc theo dõi tăng, giảm đối tượng tham gia BHXH chưa chặt chẽ; có đối tượng tham gia BHXH, BHTN, BHYT chưa kịp thời phải truy thu thời gian trên 30 nhưng chưa tính lãi; có nhiều trường hợp nghỉ chế độ trên 14 ngày trong tháng nhưng công ty vẫn đóng BHXH, BHTN, BHYT mặc dù không có đề nghị của người lao động; có trường hợp nghỉ chế độ cả tháng nhưng vẫn đóng BHXH, BHTN, BHYT; có trường hợp đi làm hưởng lương nhưng vẫn hưởng chế độ BHXH; hồ sơ thanh toán chế độ
ốm đau vẫn còn nhiều trường hợp lưu trữ giấy tờ không theo quy định; chứng từ thanh toán chế độ nghỉ ốm chưa có dấu xác nhận đã thanh toán của cơ quan BHXH
Đoàn cũng đã thu nhận những đánh giá về thuận lợi, khó khăn và kiến nghị của địa phương trong quá trình thực hiện pháp luật BHXH, BHTN, BHYT để có biện pháp can thiệp kịp thời Căn cứ kết quả thanh tra, Chánh Thanh tra Bộ đã ban hành 17 Kết luận thanh
Tại các Kết luận thanh tra, với tổng số 63 kiến nghị (14 kiến nghị đối với các cơ quan BHXH, 49 kiến nghị đối với các đơn vị sử dụng lao động), Chánh Thanh tra Bộ đã yêu cầu các cơ quan, đơn vị khắc phục ngay những thiếu sótđã nêu./
http://thanhtralaodong.gov.vn/hoat-dong-khac/ket-qua-thanh-tra-viec-thuc-hien-phap-luat-bhxh-bhtn-bhyt-tren-dia-ban-tinh-vinh-phuc-40798.html