1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

HOẠT ĐỘNG THANH TRA LAO ĐỘNG THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI Ở TỈNH QUẢNG NGÃI (LV thạc sĩ)

107 163 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 107
Dung lượng 1,24 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

HOẠT ĐỘNG THANH TRA LAO ĐỘNG THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI Ở TỈNH QUẢNG NGÃI (LV thạc sĩ)HOẠT ĐỘNG THANH TRA LAO ĐỘNG THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI Ở TỈNH QUẢNG NGÃI (LV thạc sĩ)HOẠT ĐỘNG THANH TRA LAO ĐỘNG THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI Ở TỈNH QUẢNG NGÃI (LV thạc sĩ)HOẠT ĐỘNG THANH TRA LAO ĐỘNG THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI Ở TỈNH QUẢNG NGÃI (LV thạc sĩ)HOẠT ĐỘNG THANH TRA LAO ĐỘNG THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI Ở TỈNH QUẢNG NGÃI (LV thạc sĩ)HOẠT ĐỘNG THANH TRA LAO ĐỘNG THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI Ở TỈNH QUẢNG NGÃI (LV thạc sĩ)HOẠT ĐỘNG THANH TRA LAO ĐỘNG THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI Ở TỈNH QUẢNG NGÃI (LV thạc sĩ)HOẠT ĐỘNG THANH TRA LAO ĐỘNG THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI Ở TỈNH QUẢNG NGÃI (LV thạc sĩ)HOẠT ĐỘNG THANH TRA LAO ĐỘNG THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI Ở TỈNH QUẢNG NGÃI (LV thạc sĩ)HOẠT ĐỘNG THANH TRA LAO ĐỘNG THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI Ở TỈNH QUẢNG NGÃI (LV thạc sĩ)HOẠT ĐỘNG THANH TRA LAO ĐỘNG THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI Ở TỈNH QUẢNG NGÃI (LV thạc sĩ)

Trang 1

LÊ THỊ THIÊN KIỀU

HOẠT ĐỘNG THANH TRA LAO ĐỘNG – THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI

Ở TỈNH QUẢNG NGÃI

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH

THỪA THIÊN HUẾ - NĂM 2017

Trang 2

LÊ THỊ THIÊN KIỀU

HOẠT ĐỘNG THANH TRA LAO ĐỘNG – THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI

Ở TỈNH QUẢNG NGÃI

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH

Chuyên ngành: Luật Hiến pháp và Luật Hành chính

Mã số: 60 38 01 02

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS NGUYỄN QUỐC HIỆP

THỪA THIÊN HUẾ - NĂM 2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Nguyễn Quốc Hiệp

Luận văn cao học này là sản phẩm của quá trình tìm tòi, nghiên cứu và trình bày của bản thân tôi về đề tài luận văn Mọi số liệu, quan điểm, quan niệm của các tài liệu và các nhà nghiên cứu khác được trích dẫn theo đúng quy định Các số liệu trong luận văn là số liệu trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác

Học viên

LÊ THỊ THIÊN KIỀU

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến lãnh đạo Học viện Hành chính Quốc gia, cùng tập thể các giáo sư, phó giáo sư, tiến sĩ và cán bộ quản lý của Học viện đã tận tình truyền đạt những kiến thức khoa học quý báu và tạo điều kiện thuận lợi giúp tôi hoàn thành chương trình cao học chuyên ngành Luật Hiến pháp và Luật Hành chính

Xin chân thành cảm ơn TS Nguyễn Quốc Hiệp đã tận tình hướng dẫn bản thân tôi nghiên cứu hoàn thành tốt luận văn này

Trong quá trình thực hiện, luận văn chắc chắn không tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót, rất mong nhận được sự thông cảm và chia sẻ của quý thầy,

cô giáo và người đọc

Xin chân thành cảm ơn!

Học viên

LÊ THỊ THIÊN KIỀU

Trang 5

MỤC LỤC LỜI CẢM ƠN

MỤC LỤC

DANH MỤC HÌNH

DANH MỤC BẢNG

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn 3

3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn 6

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn 7

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn 7

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn 8

7 Kết cấu của luận văn 8

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG THANH TRA LAO ĐỘNG – THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI 10

1.1 Quan niệm chung về hoạt động thanh tra 10

1.1.1 Khái niệm hoạt động thanh tra 10

1.1.2 Đặc điểm của thanh tra 11

1.2 Phân loại thanh tra 17

1.2.1 Thanh tra hành chính 17

1.2.2 Thanh tra chuyên ngành 18

1.3 Địa vị pháp lý của Thanh tra Lao động – Thương binh và Xã hội 20

1.3.1 Đặc điểm của Thanh tra Lao động – Thương binh và Xã hội 20

1.3.2 Vị trí, chức năng của Thanh tra Lao động- Thương binh và Xã hội 22

1.3.3 Nhiệm vụ, quyền hạn của Thanh tra Lao động - Thương binh và Xã hội 23

1.3.4 Tổ chức và hoạt động của Thanh tra lao động - Thương binh và Xã hội 23

1.3.5 Nguyên tắc hoạt động của Thanh tra Lao động – Thương binh và Xã hội 25

1.4 Địa vị pháp lý của Thanh tra lao động theo quy định của ILO và tham khảo mô hình tổ chức của Thanh tra Lao động một số quốc gia điển hình trên thế giới 28

Trang 6

1.4.1 Địa vị pháp lý của thanh tra lao động theo quy định của ILO 28

1.4.2 Tham khảo mô hình tổ chức của Thanh tra Lao động của một số quốc gia điển hình trên thế giới 30

1.4.3 Những kinh nghiệm có thể được áp dụng ở Việt Nam 33

1.5 Nhận xét chung về mô hình tổ chức, hoạt động của Thanh tra Lao động - Thương binh và Xã hội 35

Tiểu kết chương 1: 36

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG THANH TRA LAO ĐỘNG – THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI Ở TỈNH QUẢNG NGÃI 37

2.1 Đặc điểm tình hình kinh tế, xã hội địa phương 37

2.2 Giới thiệu về đơn vị thực hiện chức năng thanh tra Lao động – Thương binh và Xã hội ở tỉnh Quảng Ngãi 39

2.3 Thực trạng hoạt động 42

2.3.1 Công tác thanh tra chuyên ngành Lao động – Thương binh và Xã hội 42

2.3.2 Công tác thanh tra hành chính 51

2.3.3 Nhiệm vụ thực hiện các công tác khác của Thanh tra Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh Quảng Ngãi 53

2.4 Nguyên nhân của những tồn tại và hạn chế trong hoạt động Thanh tra Lao động – Thương binh và Xã hội ở tỉnh Quảng Ngãi 61

Tiểu kết chương 2 74

CHƯƠNG 3 PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM HOẠT ĐỘNG THANH TRA LAO ĐỘNG – THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI Ở TỈNH QUẢNG NGÃI TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY 75

3.1 Phương hướng bảo đảm hoạt động Thanh tra Lao động – Thương binh và Xã hội ở tỉnh Quảng Ngãi trong giai đoạn hiện nay 75

3.1.1 Nâng cao nhận thức 75

3.1.2 Nâng cao vị trí, vai trò của lực lượng thực hiện chức năng thanh tra Lao động - Thương binh và Xã hội 76

Trang 7

3.1.3 Tập trung các điều kiện để bảo đảm hoạt động Thanh tra Lao động – Thương

binh và Xã hội 77

3.2 Những giải pháp cơ bản nhằm bảo đảm hoạt động thanh tra Lao động – Thương binh và Xã hội ở tỉnh Quảng Ngãi 78

3.2.1 Hoàn thiện hệ thống pháp luật 78

3.2.2 Đổi mới tổ chức lực lượng thanh tra Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh Quảng Ngãi trong giai đoạn hiện nay 85

3.2.3 Bảo đảm hiệu quả hoạt động của thanh tra Lao động – Thương binh và Xã hội ở tỉnh Quảng Ngãi 88

3.2.4 Bảo đảm năng lực Thanh tra Lao động- Thương binh và Xã hội 88

3.2.5 Tăng cường mối quan hệ phối hợp với các cơ quan, tổ chức khác trong hoạt động giám sát, kiểm tra, thanh tra đối với hoạt động của Thanh tra Sở 90

3.2.6 Nâng cao trách nhiệm của các cơ quan, cá nhân trong hoạt động thanh tra của Thanh tra Sở 92

Tiểu kết chương 3 94

KẾT LUẬN 95

TÀI LIỆU THAM KHẢO 96

Trang 8

DANH MỤC HÌNH

Hình 1.1: Sơ đồ chu trình quản lý nhà nước 12 Hình 1.2: Sơ đồ hai hướng hoạt động chính của thanh tra 17

Trang 9

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1 So sánh những điểm khác nhau giữa thanh tra và kiểm tra 13 Bảng 2.1 Bảng tổng hợp số lượng cán bộ, công chức Thanh tra Sở qua các năm từ

2012-2016 41

Bảng 2.2: Bảng tổng hợp công tác tiếp công dân, giải quyết đơn, thư khiếu nại, tố

cáo của Thanh tra Sở Lao động – TB&XH tỉnh Quảng Ngãi từ năm 2012-2016 45

Bảng 2.3: Bảng tổng hợp thanh tra hành chính của Thanh tra Sở từ năm 2012 -

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Quảng Ngãi - quê hương của Núi Ấn, Sông Trà, là một tỉnh nằm trong vùng

tự do khu V trong 9 năm kháng chiến chống Pháp và phải đương đầu với đế quốc

Mỹ Toàn Đảng, toàn dân, toàn quân Quảng Ngãi đã ra sức xây dựng và bảo vệ tổ quốc, là hậu phương vững chắc, đóng góp sức người, sức của cho các chiến trường, lại bị ảnh hưởng nặng nề của thiên tai và biến đổi khí hậu Quảng Ngãi cùng với cả nước đang từng ngày thay da đổi thịt với sự phát triển không ngừng của nhiều khu kinh tế trọng điểm Miền Trung, những dự án đầu tư xây dựng lớn hợp tác giữa Việt Nam và các quốc gia khác như: khu công nghiệp, dịch vụ VSIP Quảng Ngãi (Việt Nam - Singapo), khu công nghiệp Dung Quất, Khu công nghiệp Tịnh Phong… Theo đó, sự gia tăng cả về số lượng và chất lượng các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh đã góp phần không nhỏ trong việc giải quyết việc làm, nâng cao đời sống của người lao động và nguồn thu ngân sách của tỉnh Tuy nhiên, trong thời gian gần đây vấn đề đình công, tranh chấp lao động tập thể và tai nạn lao động xảy

ra tại các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi rất nhiều và có chiều hướng tăng mạnh, có nhiều vụ rất nghiêm trọng đã gây ảnh hưởng lớn đến môi trường đầu tư của tỉnh, tính mạng, đời sống của người lao động và hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Bên cạnh đó, mặt trái của cơ chế thị trường, hậu quả của thiên tai để lại đã làm cho số người cần trợ giúp xã hội tăng lên đáng kể Trong đó có người cao tuổi, người khuyết tật, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, hộ nghèo, hộ gia đình cần được trợ giúp đột xuất hàng năm do thiên tai, hỏa hoạn, mất mùa, nên việc quan tâm, giúp đỡ những người yếu thế trong xã hội là công việc chung của toàn xã hội Tuy nhiên việc thực hiện các chính sách bảo trợ xã hội trong cả nước nói chung và trong tỉnh Quảng Ngãi nói riêng vẫn còn nhiều bất cập, một số cá nhân lợi dụng những chính sách của nhà nước để trục lợi cá nhân

Là nơi có chiến tranh ác liệt nhất tại Nam Trung Bộ, Đảng và nhân dân Quảng Ngãi đã chiến đấu kiên cường với địch đã dành nhiều thắng lợi vẻ vang làm nên lịch sử, thống nhất đất nước Chiến tranh đã đi qua, nhưng hậu quả của chiến

Trang 11

tranh còn để lại cho đất nước ta nói chung và tại quê hương Quảng Ngãi nói riêng là rất nặng nề trên thân thể của nhân dân và con cháu ta sau này Kế thừa và phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta “Uống nước nhớ nguồn, đền ơn đáp nghĩa” Hồ Chủ tịch đã nói: “Thương binh, bệnh binh, gia đình bộ đội, gia đình liệt sỹ là những người có công với Tổ quốc Bởi vậy bổn phận của chúng ta là phải biết ơn, thương yêu và giúp đỡ họ” Vì vậy, chăm sóc, ưu đãi người có công với cách mạng có ý nghĩa chính trị, xã hội to lớn và trở thành một nguyên tắc được ghi nhận trong Hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 tại Khoản 1 Điều 59

“Nhà nước, xã hội tôn vinh, khen thưởng, thực hiện chính sách ưu đãi đối với người

có công với nước” Đây là yếu tố nhằm thực hiện sự tiến bộ và công bằng xã hội, góp phần ổn định chính trị, thúc đẩy sự nghiệp đổi mới phát triển

Trong thời gian qua, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách đối với thương binh, bệnh binh, liệt sỹ và gia đình liệt sỹ, người và gia đình có công giúp đỡ cách mạng Chính sách này gắn liền với việc thực hiện chủ trương, chính sách phát triển kinh tế - xã hội, liên quan đến đời sống hàng ngày của hàng triệu người có công Bên cạnh những kết quả tích cực trong việc thực hiện chế

độ chính sách đối với người có công với cách mạng, tình trạng khai man, gian lận

hồ sơ người có công để hưởng chính sách ưu đãi của nhà nước vẫn còn xảy ra ở nhiều địa phương trong cả nước, gây bức xúc trong xã hội trong đó có địa phương tỉnh Quảng Ngãi Công tác quản lý nhà nước của chính quyền cơ sở trong việc thực hiện chính sách đối với người có công còn nhiều bất cập, hạn chế Một số văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn thực hiện “Pháp lệnh ưu đãi người có công” chưa đầy đủ, thiếu thống nhất Quy định hướng dẫn về điều kiện, tiêu chuẩn, quy trình, trách nhiệm xác nhận người có công chưa đồng bộ, thiếu hợp lý; có nội dung quá

“khắt khe”, gây khó khăn cho đối tượng; có nội dung quá “thông thoáng”, tạo kẽ hở cho phần tử xấu lợi dụng, dẫn đến tiêu cực

Chính vì điều đó Thanh tra Lao động – Thương binh và Xã hội đóng vai trò thiết yếu trong quản lý nhà nước về thực hiện chính sách cho người có công cách mạng, người lao động và trong việc thực hiện các chính sách bảo trợ xã hội và các

Trang 12

lĩnh vực khác của đời sống xã hội Mục đích của thanh tra là phòng ngừa, phát hiện

và xử lý hành vi vi phạm pháp luật, vi phạm các chính sách trên Đồng thời, phát hiện những sơ hở trong cơ chế quản lý, chính sách, pháp luật để kiến nghị nhà nước biện pháp khắc phục, phát huy nhân tố tích cực, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả của hoạt động quản lý nhà nước trong những lĩnh vực thuộc quản lý của ngành Lao động – Thương binh và Xã hội nói chung và của Sở Lao động – Thương binh

và Xã hội tỉnh Quảng Ngãi nói riêng

Trước sự đòi hỏi ngày càng cao của nhu cầu quản lý nhà nước và sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đặc biệt trước đòi hỏi của cơ chế thị trường trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội, hội nhập kinh tế quốc tế, Thanh tra Lao động- Thương binh và Xã hội còn nhiều hạn chế về tổ chức, hoạt động, số lượng, chất lượng, nguồn nhân lực, chế độ, chính sách nhìn chung chưa đáp ứng được so với yêu cầu Nhiều hiện tượng tiêu cực đã và đang xảy ra trong quá trình quản lý các lĩnh vực của ngành Lao động – Thương binh và Xã hội cần phải được phát hiện, chấn chỉnh và xử lý kịp thời Do vậy, đổi mới tổ chức và hoạt động của Thanh tra Lao động- Thương binh và Xã hội là một yêu cầu cấp thiết hiện nay Nhận thức

được điều đó, bản thân tôi quyết định chọn và nghiên cứu đề tài : “Hoạt động Thanh tra Lao động – Thương binh và Xã hội ở tỉnh Quảng Ngãi” để làm đề tài luận văn tốt nghiệp

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn

Trong những năm qua, vấn đề hoạt động thanh tra nói chung được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu Có thể nêu một số công trình điển hình như:

- Cuốn sách “Đổi mới tổ chức và hoạt động ngành thanh tra nhằm tăng cường năng lực phòng, chống tham nhũng” (2012) tác giả Nguyễn Quốc Hiệp (chủ biên) Nguyễn Tuấn Khanh, Trần Văn Long, nhà xuất bản chính trị - hành chính.Nội dung :Cuốn sách gồm những nội dung sau: Phần 1: Một số vấn đề chung về công tác thanh tra - cơ sở thiết lập tổ chức và hoạt động của ngành Thanh tra, trong đó đề cập đến vị trí, vai trò, đặc điểm của công tác thanh tra; Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan thanh tra; Yêu cầu đối với công tác thanh tra trong điều kiện phát

Trang 13

triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN và cải cách hành chính, yêu cầu đổi mới tổ chức và hoạt động của thanh tra nhằm tăng cường năng lực phòng, chống tham nhũng

- Luật Thanh tra và các quy định pháp luật về công tác thanh tra, nhà xuất bản chính trị quốc gia (2012)

- Tập bài giảng về văn bản quản lý nhà nước và văn bản trong hoạt động thanh tra, tác giả Trần Hậu Kiên, Ngô Mạnh, nhà xuất bản Chính trị quốc gia

- Thanh tra, kiểm tra doanh nghiệp, tác giả Phạm Văn Khanh, Nguyễn Du Cuốn sách được chia làm hai phần: Phần thứ nhất: Trình bày dưới dạng hỏi- đáp các quy định của pháp luật về thanh tra, kiểm tra doanh nghiệp như thẩm quyền, trình

tự, thủ tục thanh tra, kiểm tra, quyền hạn và trách nhiệm của cơ quan tiến hành thanh tra và kiểm tra, quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp được thanh tra, kiểm tra Phần thứ hai: cuốn sách tập hợp các văn bản pháp luật quy định về thanh tra, kiểm tra doanh nghiệp và sắp xếp theo từng lĩnh vực như tài chính, kế toán, chứng khoán, ngân hàng, công nghiệp, nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản, xây dựng, giao thông vận tải, bưu chính và viễn thông, thương mại, du lịch, lao động, môi trường, đất đai, y tế, văn hóa-thông tin, hải quan

- Quản lý nhà nước về công tác thanh tra, tác giả Mai Trung Sơn, Nguyễn Ngọ

- Luận văn Thạc sĩ “Thanh tra lao động theo pháp luật lao động Việt Nam” của tác giả Đỗ Thị Thu Hiền – Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội (2011) Luận văn đã Khái quát chung về thanh tra và thanh tra lao động Tìm hiểu những quan điểm, quan niệm, quy định của pháp luật lao động Việt Nam về thanh tra lao động, soi vào thực tiễn hoạt động của thanh tra lao động Từ đó nêu lên những khó khăn, vướng mắc, đề xuất kiến nghị hoàn thiện pháp luật về thanh tra lao động và nâng cao hơn nữa hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực lao động hiện nay

- Luận văn Thạc sĩ “Tổ chức và hoạt động của Thanh tra Lao động – Thương binh và Xã hội thực trạng và giải pháp” của tác giả Nguyễn Thị Hồng Diệp – khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội (2009) Làm sáng tỏ về mặt lý luận và thực tiễn về

Trang 14

khái niệm thanh tra và thanh tra chuyên ngành; tổ chức hoạt động của thanh tra lao động thương binh và xã hội; phân tích một số mô hình thanh tra của các nước trên thế giới, đặc biệt là mô hình tổ chức thanh tra lao động Đánh giá thực trạng tổ chức

và hoạt động của thanh tra lao động, thương binh và xã hội kể từ khi có luật thanh tra năm 2004 Nêu phương hướng và đề xuất các giải pháp cơ bản nhằm đổi mới tổ chức và hoạt động của thanh tra

- Quy trình và phương pháp tiến hành một cuộc thanh tra chính sách lao động do Nguyễn Xuân Bân – chủ biên (2000), NXB Lao động – Xã hội

- Các bài viết đăng trên các tạp chí thanh tra như: Viện khoa học Thanh tra, Thanh tra Việt Nam, Thanh tra Chính phủ, Thanh tra Bộ Lao động – Thương binh

và Xã hội: đề tài Báo cáo kết quả thanh tra, kết luận thanh tra những vấn đề lý luận

và thực tiễn của tác giả Đặng Khánh Toàn; Nâng cao hiệu lực, hiệu quả thanh tra trách nhiệm của các cơ quan hành chính Nhà nước; Thanh tra cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước – thực trạng và những bài học kinh nghiệm, tác giả: Lê Hồng Lĩnh; Mối quan hệ giữa Thanh tra chính phủ với các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ trong việc thực hiện quyền thanh tra và quản lý nhà nước về thanh tra tác giả: Trần Văn Tuấn; Một số giải pháp nhằm hạn chế trùng lắp chồng chéo trong hoạt động thanh tra; Đánh giá tính hợp pháp và hợp lý của các văn bản quản lý trong quá trình tiến hành thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo; Phương pháp thanh tra lao động, tác giả: Nguyễn Anh Tuấn; Một số sai phạm thường gặp trong việc thực hiện chính sách lao động và kỹ năng phát hiện sai phạm; Đề án nâng cao năng lực Thanh tra Lao động – Thương binh và Xã hội đến năm 2020 của Chính phủ

Tuy nhiên, các công trình nêu trên chủ yếu đề cập đến tổng thể công tác thanh tra ít có những tài liệu, bài viết có nội dung đi sâu vào công tác Thanh tra Lao động – Thương binh và Xã hội Đặc biệt, chưa có công trình nào tập trung nghiên cứu thực tiễn Hoạt động của Thanh tra Lao động – Thương binh và Xã hội của tỉnh Quảng Ngãi Đó cũng chính là một trong những lý do thôi thúc tôi lựa chọn nghiên cứu chủ đề luận văn nhằm tìm ra những giải pháp để khắc phục hạn chế, bất cập

Trang 15

trong Hoạt động của Thanh tra Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh Quảng Ngãi nhằm phòng ngừa, phát hiện và xử lý hành vi vi phạm pháp luật, vi phạm chính sách đối với người có công cách mạng, người lao động, người được bảo trợ và những chủ thể khác được pháp luật bảo vệ Đồng thời, phát hiện những sơ hở trong

cơ chế quản lý, chính sách, pháp luật để kiến nghị Nhà nước có biện pháp khắc phục, phát huy nhân tố tích cực, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả của hoạt động quản lý nhà nước trong lĩnh vực quản lý của Sở Lao động – Thương binh và

Xã hội tỉnh Quảng Ngãi

3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn

- Mục đích:

Luận văn có mục đích tổng quát là xây dựng luận cứ khoa học cho các giải pháp bảo đảm hoạt động Thanh tra Lao động- Thương binh và Xã hội nói chung và tại tỉnh Quảng Ngãi nói riêng nhằm bảo đảm quyền và lợi ích của người có công cách mạng, người lao động, người sử dụng lao động và những đối tượng yếu thế trong xã hội Đồng thời nêu lên thực trạng Hoạt động của Thanh tra Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh Quảng Ngãi, miêu tả một số mô hình tổ chức của các nước khác để học tập và đổi mới tổ chức của Thanh tra Lao động – Thương binh và

Xã hội nói chung và Thanh tra Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh Quảng Ngãi nói riêng nhằm mục đích cuối cùng là bảo đảm hoạt động của thanh tra trên tất

cả các lĩnh vực quản lý của Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh Quảng Ngãi Trên cơ sở đó, nêu ra các giải pháp để bảo đảm hoạt động của Thanh tra Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh Quảng Ngãi nhằm nâng cao hiệu lực và hiệu quả công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực Lao động - Thương binh và xã hội tại địa phương

- Nhiệm vụ:

Làm sáng tỏ về mặt lý luận và thực tiễn về khái niệm thanh tra và thanh tra chuyên ngành, tổ chức và hoạt động Thanh tra Lao động – Thương binh và Xã hội, phân tích một số mô hình tổ chức thanh tra lao động của các nước trên thế giới và địa vị pháp lý của Thanh tra lao động theo quy định của ILO

Trang 16

Rà soát, đánh giá hệ thống văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến lĩnh vực hoạt động của Thanh tra Lao động – Thương binh và Xã hội

Đánh giá tình hình hoạt động của Thanh tra Lao động – Thương binh và Xã hội , trong đó nêu rõ một số hạn chế trong hoạt động của Thanh tra Lao động – Thương binh và Xã hội ở địa phương hiện nay và nguyên nhân của những hạn chế

đó

- Kiến nghị một số giải pháp nhằm bảo đảm hoạt động của lực lượng Thanh tra Lao động – Thương binh và Xã hội ở tỉnh Quảng Ngãi trong giai đoạn hiện nay

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

- Đối tượng nghiên cứu:

Hoạt động của Thanh tra Lao động – Thương binh và Xã hội ở tỉnh Quảng Ngãi

Ngoài ra còn khái quát sơ bộ một số nhiệm vụ khác có liên quan

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn

Đề tài được thực hiện dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước ta trong công tác Thanh tra Lao động – Thương binh và Xã hội trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, hội nhập kinh tế quốc tế và cải cách hành chính

Để thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu, đề tài sử dụng các phương pháp nghiên

Trang 17

cứu cụ thể, bao gồm: Phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp thống kê, Các phương pháp nói trên được sử dụng để hệ thống hóa các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành về Hoạt động của Thanh tra Lao động – Thương binh

và Xã hội; tập hợp và đánh giá số liệu về Hoạt động của Thanh tra Lao động – Thương binh và Xã hội ở tỉnh Quảng Ngãi; tìm hiểu thực tiễn, so sánh và đánh giá thực trạng hoạt động Thanh tra Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh Quảng Ngãi; lập luận cho các giải pháp bảo đảm hoạt động của Thanh tra Lao động – Thương binh và Xã hội nói chung và tỉnh Quảng Ngãi nói riêng

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

Luận văn là công trình nghiên cứu một cách tương đối có hệ thống về Hoạt động của Thanh tra Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh Quảng Ngãi

Luận văn góp phần bổ sung nhận thức lý luận về vai trò, vị trí, mô hình tổ chức và hoạt động của Thanh tra Lao động – Thương binh và Xã hội nhằm mục đích cuối cùng là nâng cao hiệu lực và hiệu quả công tác thanh tra trong các lĩnh vực lao động, thương binh và xã hội nơi bản thân đang công tác

Luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các nhà nghiên cứu, những nhà tư vấn chính sách, sinh viên các trường đại học ngành Luật và những người làm công tác chính sách cho người có công cách mạng, lĩnh vực lao động, bảo trợ xã hội và những lĩnh vực khác có liên quan Đặc biệt, luận văn có giá trị tham khảo trong quá trình tìm kiếm các giải pháp bảo đảm hoạt động của Thanh tra Lao động – Thương binh và Xã hội ở tỉnh Quảng Ngãi

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm

ba chương:

Chương 1: Những vấn đề lý luận về hoạt động của Thanh tra Lao động –

Thương binh và Xã hội

Chương 2: Thực trạng hoạt động của Thanh tra Lao động – Thương binh và

Xã hội tỉnh Quảng Ngãi

Trang 18

Chương 3: Phương hướng và giải pháp bảo đảm hoạt động Thanh tra Lao

động – Thương binh và Xã hội tỉnh Quảng Ngãi

Trang 19

CHƯƠNG 1

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG THANH TRA LAO ĐỘNG – THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI

1.1 Quan niệm chung về hoạt động thanh tra

1.1.1 Khái niệm hoạt động thanh tra

Theo từ điển Tiếng việt thông thường, hoạt động được hiểu là vận động, cử động nhằm một mục đích nào đó, trong hoạt động quản lý nhà nước hoạt động được

hiểu là thực hiện một chức năng nào đó trong một chỉnh thể [26, trang 156]

Thanh tra (inspect) xuất phát từ gốc La-tinh (in-spectare) có nghĩa là "nhìn vào bên trong" chỉ sự xem xét từ bên ngoài vào hoạt động của một đối tượng nhất

định, "là sự kiểm soát đối với đối tượng bị thanh tra" [25, trang 379] trên cơ sở

thẩm quyền (quyền hạn và nghĩa vụ) được giao nhằm đạt được mục đích nhất định

Trong hoạt động quản lý nhà nước, trong sách báo chính trị, các tài liệu và văn bản pháp luật thường sử dụng cụm từ "thanh tra, kiểm tra" để chỉ một giai đoạn cần thiết của quá trình quản lý, một chức năng quản lý nhà nước

Ngoài ra, tên gọi thanh tra còn được dùng để chỉ một số tổ chức khác không hoàn toàn đúng tính chất và nhiệm vụ của nó như thanh tra nhân dân, thanh tra thủ trưởng

Về mặt lý luận cũng như thực tiễn, khái niệm thanh tra được xét đến trên nhiều khía cạnh khác nhau:

Một là, thanh tra là kiểm soát, xem xét tại chỗ việc làm của địa phương, cơ

quan, xí nghiệp Thanh tra được hiểu là công việc của con người: người làm nhiệm

vụ thanh tra [26, trang 185]

Hai là, thanh tra là phạm trù dùng chỉ hoạt động của các tổ chức thuộc Tổng

thanh tra Nhà nước và Thanh tra Nhà nước chuyên ngành (Thanh tra Bộ, Thanh tra

Sở) [16, trang 54].

Ba là, thanh tra là một trong các hình thức cụ thể của kiểm tra nhằm bảo đảm pháp chế và kỷ luật nhà nước [20,trang 15].

Trang 20

Theo quy định của khoản 1, Điều 3 Luật Thanh tra năm 2010 thì: "Thanh tra nhà nước là hoạt động xem xét, đánh giá, xử lý theo trình tự, thủ tục do pháp luật

quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với việc thực hiện chính sách,

pháp luật, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, tổ chức, cá nhân" [3, trang 4]

1.1.2 Đặc điểm của thanh tra

Từ các quan niệm trên cho thấy thanh tra có các đặc điểm như sau:

Thứ nhất, Thanh tra là chức năng thiết yếu của cơ quan quản lý nhà nước

Nhà nước là chủ thể quản lý của quản lý nhà nước Khái niệm quản lý nhà nước ở đây không chỉ có hệ thống Chính phủ mà là cả cơ cấu bao gồm các cơ quan thực hiện chức năng lập pháp, tư pháp, hành pháp Hệ thống các cơ quan này trong phạm vi trách nhiệm của mình đều thực hiện chức năng quản lý của mình đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người là sự tác động có tổ chức

và điều chỉnh mang tính quyền lực Nhà nước để duy trì và phát triển các mối quan

hệ xã hội và trật tự xã hội, nhằm thực hiện những chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước

Hiệu quả của việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của nhà nước phụ thuộc vào việc thiết lập các thiết chế nhằm phát hiện và loại bỏ các lệch lạc sai phạm trong quá trình thực hiện, làm cho đối tượng quản lý ngày càng tuân thủ pháp luật, chấn chỉnh lại các quyết định đã ban hành trước đây cho phù hợp thực tế và yêu cầu từ phía Nhà nước

Quản lý Nhà nước nói riêng có 3 chức năng cơ bản là: một là: ra quyết định quản lý, hai là: tổ chức thực hiện quyết định quản lý; ba là: kiểm tra việc thực hiện quyết định ấy Quyết định quản lý là sản phẩm đặc biệt của lao động quản lý và có

ở tất cả các cấp quản lý Nhưng việc chuẩn bị và đề ra các quyết định mới chỉ là điểm xuất phát trong quá trình quản lý, mà vấn đề quan trọng hơn là quyết định đó

đi vào đời sống, phát huy tác dụng như thế nào Có thể có những quyết định đúng đắn hứa hẹn hiệu quả cao, nhưng thiếu tổ chức thực hiện thì quyết định đó cũng chỉ nằm trên giấy hoặc cũng chỉ nằm trong đầu óc người ra quyết định mà Hơn thế, hoạt động quản lý không dừng lại ở việc ra quyết định đúng đắn Việc tổ chức thực

Trang 21

hiện quyết định kịp thời chiếm vị trí trung tâm của quá trình quản lý Tiếp theo đó hoạt động quản lý luôn phải chú trọng khâu kiểm tra việc thực hiện quyết định quản

lý, mà ở một cấp độ nhất định, hoạt động kiểm tra việc thực hiện quyết định quản lý chính là hoạt động thanh tra

Ở nước ta, theo quy định của pháp luật hiện hành, chủ thể của thanh tra là các cơ quan quản lý nhà nước; đối tượng của thanh tra là đối tượng quản lý nhà nước và mục đích của hoạt động thanh tra cũng nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước Đây là những yếu tố căn bản để phân biệt hoạt động thanh tra với các phương thức kiểm soát khác như hoạt động kiểm tra, giám sát của các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội, của công dân đối với hoạt động hành chính nhà nước (chức năng giám sát của Quốc hội và các cơ quan dân cử, giám sát của nhân dân, chức năng kiểm sát của Viện Kiểm sát các cấp, chức năng kiểm tra của Đảng và các

Thanh tra kiÓm tra

ban hµnh chÝnh s¸ch ph¸p luËt C¬ quan

qu¶n lý nhµ n-íc

Trang 22

do các cơ quan quản lý nhà nước tự tiến hành Giữa hai hình thức này có những điểm tương đồng và có những điểm khác nhau

Những điểm tương đồng:

Thứ nhất, thanh tra và kiểm tra giống nhau ở mục đích Thông qua thanh tra,

kiểm tra để nhằm phát huy nhân tố tích cực, nêu gương những điển hình tốt, đồng thời thông qua thanh tra, kiểm tra để phòng ngừa, hạn chế và xử lý vi phạm từ đó góp phần thúc đẩy và hoàn thành nhiệm vụ trong hoạt động quản lý Thanh tra, kiểm tra nhằm hoàn thiện cơ chế quản lý, tăng cường pháp chế, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức

Thứ hai, thanh tra, kiểm tra giống nhau ở phương pháp và tôn chỉ hoạt động Hoạt động thanh tra, kiểm tra phải dựa trên những công cụ, căn cứ mà pháp luật cho phép Qua thanh tra, kiểm tra phải xác định được sự thật khách quan, phải có kết luận chính xác dựa trên những sự thật khách quan đó

Thứ ba, thanh tra, kiểm tra giống nhau ở phương thức tiến hành Cả thanh tra và kiểm tra đều có thể tiến hành theo hai phương thức là đột xuất hoặc theo kế hoạch đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt

Những điểm khác nhau (xem bảng so sánh bên dưới)

Bảng 1.1 So sánh những điểm khác nhau giữa thanh tra và kiểm tra

Nội dung Đa dạng, phức tạp Thường đơn giản

Chủ thể Cơ quan hành chính nhà nước

(mang tính quyền lực công)

Đa dạng: Cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị

xã hội, … Tính chất

công việc

Đòi hỏi phải có trình độ, nghiệp

vụ cao và tuân theo những trình

tự, thủ tục nhất định

Không nhất thiết phải đòi hỏi trình độ nghiệp vụ quá chuyên sâu

Phạm vi hoạt

động

Hẹp, chỉ trong lĩnh vực quản lý nhà nước

Rộng, phụ thuộc vào đặc điểm của chủ thể kiểm tra

Trang 23

Mức độ Theo kế hoạch được duyệt hoặc

đột xuất theo chỉ đạo của thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước

Mang tính thường xuyên

Phân biệt thanh tra với giám sát:

Giám sát và thanh tra cũng đều là các hình thức của phương thức kiểm soát nói chung, trong kiểm soát hoạt động quản lý nhà nước nói riêng Hình thức giám sát thường chỉ hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân bên ngoài hệ thống tác động vào một hoạt động của một cơ quan, tổ chức nào đó Ở nước ta, giám sát thuộc chức năng, quyền hạn của cơ quan quyền lực nhà nước ( Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp), Tòa án nhân dân các cấp, các tổ chức xã hội và công dân nhằm bảo đảm sự tuân thủ nghiêm minh pháp chế xã hội chủ nghĩa Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp đối với các đối tượng, được thực hiện thông qua hoạt động tại các kì họp và chương trình giám sát của các tổ chức, các thành viên hoặc theo vụ việc Hoạt động giám sát của Tòa án nhân dân các cấp đối với hoạt động quản lý nhà nước được thực hiện thông qua hoạt động xét xử các vụ

án hình sự, kinh tế, dân sự, lao động, hành chính…

Các tổ chức xã hội và công dân thực hiện giám sát thông qua các hoạt động xây dựng pháp luật, tham gia góp ý, kiến nghị về các hoạt động của nhà nước, thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo…

Như vậy giám sát được quan niệm là việc theo dõi, kiểm tra xem xét của chủ thể bên ngoài hệ thống đối với hệ thống Giữa các cơ quan, cá nhân thực hiện quyền giám sát và chịu sự giám sát thường không có mối liên hệ trực tiếp

Phân biệt thanh tra và kiểm soát:

Kiểm soát là cơ chế tổ chức, kiểm tra xem xét nhằm phát hiện, ngăn chặn sai phạm, việc làm trái với qui định đã ban hành (ví dụ kiểm soát văn bản) Kiểm soát

là hoạt động xem xét của người có thẩm quyền về các việc làm trên cơ sở đối chiếu với các quy định đã có để đi đến điều chỉnh các việc làm Kiểm soát hoạt động quản

lý nhà nước được đặt ra nhằm bảo đảm tính đúng đắn, hiệu quả cho hoạt động của các cơ quan, các tổ chức và bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật, sự tuân thủ

Trang 24

pháp chế Hoạt động kiểm soát gắn liền với từng chủ thể quản lý nhà nước Kiểm soát còn được sử dụng để chỉ hoạt động xem xét, theo dõi đánh giá trong một doanh nghiệp (Ban kiểm soát trong các doanh nghiệp )

Thứ hai, Thanh tra là một phương thức hoạt động của chủ thể quản lý, nhân

danh quyền lực nhà nước xem xét, kiểm tra tận nơi, tại chỗ hoạt động của đối tượng

bị quản lý, nhằm tổ chức, điều hành hệ thống quản lý theo mục đích đề ra góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa Hoạt động thanh tra gắn liền với việc thực hiện nhiệm vụ quản lý Nhà nước trên tất

cả các lĩnh vực của đời sống kinh tế- chính trị - xã hội

Trước hết, thanh tra có đối tượng là các cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức trong các cơ quan nhà nước Do vậy, chức năng nhiệm vụ của các cơ quan thanh tra là thanh tra, kiểm tra việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ, kế hoạch nhà nước của các cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức nhà nước từ Trung ương đến địa phương Qua thanh tra phát hiện, ngăn ngừa các hiện tượng tham ô,

lãng phí, tham nhũng, cửa quyền, hách dịch vi phạm quy định pháp luật liên quan

đến việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ mà nhà nước trao quyền Ngoài ra, qua thanh tra sẽ phát hiện những sai sót, khiếm khuyết trong chỉ đạo, điều hành của Nhà nước, từ đó kiến nghị các biện pháp khắc phục, sửa chữa hoặc các phương pháp quản lý nhà nước thích hợp, xử lý các cá nhân, cơ quan vi phạm bằng các hình thức

kỷ luật của nhà nước Chính vì vậy thanh tra là phương thức đảm bảo kỷ luật, kỷ cương trong hoạt động quản lý nhà nước

Thanh tra còn có đối tượng thanh tra là cá nhân, tổ chức chịu sự điều chỉnh của pháp luật Ở vai trò này, thanh tra có nhiệm vụ kiểm tra, xem xét việc chấp hành các chính sách, pháp luật của cá nhân, tổ chức từ đó một mặt kiến nghị sửa đổi

bổ sung chính sách, pháp luật cho phù hợp, một mặt xử phạt các hành vi vi phạm chính sách, pháp luật đó Tác dụng của thanh tra là đảm bảo cho mọi cá nhân, tổ chức đều tuân thủ pháp luật và pháp luật phải phù hợp với cuộc sống

Những sai sót, bất hợp lý của những kế hoạch, chính sách, pháp luật và biện pháp quản lý đang thực hiện được thanh tra phát hiện sẽ giúp cho các chủ thể quản

Trang 25

lý xem xét lại, tìm ra biện pháp, cơ chế, chính sách quản lý cho phù hợp Như vậy, thanh tra, kiểm tra giúp cho hoạt động quản lý luôn luôn được đổi mới, làm cho chất lượng hoạt động quản lý được nâng lên

Hoạt động quản lý nhà nước có phạm vi rộng lớn, bao trùm tất cả các mặt hoạt động của đời sống xã hội và được thiết kế theo nhiều ngành, nhiều cấp Do đó, cần có một hệ thống thanh tra phù hợp để thực hiện nhiệm vụ thanh tra việc chấp hành chính sách,pháp luật, nhiệm vụ, kế hoạch của Nhà nước của các cơ quan, tổ chức và cá nhân ở các lĩnh vực của đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội là một tất yếu khách quan

Thứ ba, thanh tra có tính độc lập tương đối, đặc điểm này thể hiện ở chỗ

thanh tra có thẩm quyền xem xét đánh giá và xử lý những đơn vị, tổ chức có cùng địa vị pháp lý với mình, đồng thời có quyền đưa ra những kiến nghị, kết luận độc lập chỉ dựa trên những chứng cứ có thật được thu thập trong quá trình thanh tra Cần phải khẳng định rằng, mặc dù thanh tra thuộc khối hành pháp nhưng hoạt động của thanh tra nhà nước phải độc lập với các cơ quan quản lý hành chính Vấn đề có vẻ mâu thuẫn nhưng thực chất là có lý, vì không thể đảm bảo kỷ cương pháp chế, đấu tranh mạnh mẽ với những biểu hiện vi phạm pháp luật trong quản lý nhà nước đối với đối tượng thanh tra nếu như thanh tra bị phụ thuộc và bị chi phối Vì vậy, cần có chủ thể chuyên thực hiện chức năng thanh tra có thẩm quyền độc lập, chỉ tuân theo pháp luật, tránh sự chỉ đạo, theo dõi kiểm tra của riêng người Thủ trưởng Để đảm bảo tính khách quan, các cơ quan quản lý nhà nước sẽ không thể tự sửa chữa chính bản thân mình bởi sự kiểm tra của cơ quan cấp dưới của mình

Trang 26

Hình 1.2: Sơ đồ hai hướng hoạt động chính của thanh tra

1.2 Phân loại thanh tra

1.2.1 Thanh tra hành chính

Thanh tra hành chính là hoạt động thanh tra của cơ quan nhà nước có thẩm

quyền đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trực thuộc trong việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ, quyền hạn được giao [ 3, trang 4]

Thanh tra hành chính là loại hình thanh tra hướng vào các chủ thể quản lý nhà nước (là các cơ quan nhà nước và công chức nhà nước) Chức năng của loại

Trang 27

hình thanh tra này là xem xét việc chấp hành pháp luật của các cơ quan quản lý nhà nước và công chức nhà nước Tiêu biểu cho loại hình này ở một số nước là cơ quan Tổng Thanh tra Hành chính của Pháp, Bộ Giám sát Hành chính Ai Cập, Bộ Giám sát Hành chính Trung Quốc, Ban Thanh tra và Kiểm toán Hàn Quốc… Theo Luật Thanh tra năm 2010, Bộ máy cơ quan thanh tra theo cấp hành chính ở nước ta được

tổ chức từ trung ương đến địa phương Ở Trung ương có Thanh tra Chính phủ; ở địa phương có Thanh tra tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (gọi chung là Thanh tra tỉnh), Thanh tra huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (gọi chung là Thanh tra huyện)

Ngoài ra, các cơ quan quản lý nhà nước theo ngành, lĩnh vực cũng có chức năng thanh tra hành chính Chức năng này được quy định tại các nghị định quy định

về tổ chức, hoạt động của thanh tra chuyên ngành

1.2.2 Thanh tra chuyên ngành

Thanh tra chuyên ngành là hoạt động thanh tra của cơ quan nhà nước có

thẩm quyền theo ngành, lĩnh vực đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc chấp hành pháp luật chuyên ngành, quy định về chuyên môn – kỹ thuật, quy tắc quản lý

thuộc ngành, lĩnh vực đó [3, trang 4]

Như vậy, Thanh tra chuyên ngành là loại hình thanh tra hướng vào các đối tượng quản lý theo ngành, lĩnh vực (tổ chức, công dân) Loại hình thanh tra này thực hiện một phần chức năng quản lý (cai trị) Để thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành, người ta lập ra một bộ phận chuyên trách làm công tác thanh tra như Thanh tra Giáo dục, Thanh tra Tài chính, Thanh tra Lao động…

Về chức năng, nhiệm vụ của thanh tra chuyên ngành còn có nhiều ý kiến khác nhau Có ý kiến cho rằng thanh tra luôn luôn gắn liền với thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước Ở đâu có cơ quan quản lý nhà nước ở đó có cơ quan thanh tra Nhiệm vụ của cơ quan thanh tra là giúp thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước kiểm tra, thanh tra các đơn vị, cá nhân thuộc thẩm quyền quản lý trực tiếp của mình để xem xét, đánh giá các đơn vị, cá nhân thực hiện chức năng, nhiệm vụ như thế nào

Trang 28

Với chức năng này, thì chỉ có hoạt động thanh tra hành chính, còn việc kiểm tra việc thực hiện pháp luật đã có các cơ quan chức năng khác

Ý kiến khác cho rằng: thanh tra được tổ chức ở các cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành như Bộ ở Trung Ương và Sở ở các địa phương nhằm mục đích giúp cho Thủ trưởng các cơ quan đó kiểm tra, giám sát việc thực hiện các quy tắc, quy phạm kỹ thuật của ngành hoặc các chính sách, pháp luật thuộc phạm vi quản lý nhà nước của ngành đó Chính vì vậy, cơ quan thanh tra chuyên ngành có chức năng thanh tra, kiểm tra việc thực hiện các quy tắc, quy phạm và những quy tắc quản lý của ngành Qua thanh tra, kiểm tra có những kiến nghị đối với thủ trưởng

cơ quan mình về sửa đổi, bổ sung các quy định được ban hành cho phù hợp với thực tế và đồng thời áp dụng các hình thức xử phạt hành chính đối với các tổ chức,

cá nhân vi phạm các quy định của ngành

Thanh tra chuyên ngành trở thành cần thiết trong hoạt động quản lý là vì:

Thứ nhất, những kế hoạch, chính sách, pháp luật dù có đúng đắn và phù hợp

với thực tiễn đến mấy cũng không thể được thực hiện một cách nghiêm chỉnh nếu không có thanh tra, kiểm tra của Bộ, ngành chức năng; các nhà quản lý và các đối tượng thừa hành đều có thể mắc sai lầm, chưa tính đến tình trạng cục bộ bao sân trong các ngành và do đó, công tác Thanh tra chuyên ngành phát hiện những sai lầm, thiếu sót đó và kiến nghị lại với các nhà quản lý, điều hành nhà nước để sửa đổi, bổ sung cho phù hợp, ngoài ra còn xử phạt vi phạm hành chính các vi phạm trước khi nó trở thành nghiêm trọng

Thứ hai, trong nền kinh tế thị trường, các yếu tố cấu thành luôn luôn vận

động, để các biện pháp quản lý, chính sách quản lý phát huy được hiệu quả thì chính sách phải phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội trong từng thời kỳ Hoạt động thanh tra chuyên ngành góp phần phát hiện những thay đổi và dự báo những vấn đề

sẽ phát sinh để có biện pháp sửa đổi, phòng ngừa kịp thời Do đó, thanh tra, kiểm tra giúp cho các nhà quản lý theo sát và đối phó một cách kịp thời với sự thay đổi của môi trường chính trị, kinh tế, xã hội

Trang 29

Luật Thanh tra năm 2010 quy định theo hướng: thanh tra chuyên ngành có

cả chức năng thanh tra hành chính và thanh tra chuyên ngành Một mặt thanh tra hướng vào chính các cơ quan, tổ chức, cá nhân thuộc quyền quản lý trực tiếp của thủ trưởng đơn vị mình xem các cơ quan, tổ chức, cá nhân đó thực hiện chức năng, nhiệm vụ được giao như thế nào để kiến nghị điều chỉnh phương thức quản lý, điều hành Mặt khác, thanh tra hướng vào các đối tượng của quản lý nhà nước là tổ chức,

cá nhân - đối tượng tác động của các quy phạm pháp luật của ngành, lĩnh vực trong phạm vi quản lý nhà nước của Thủ trưởng cơ quan thanh tra Hoạt động thanh tra hành chính của các cơ quan này giống hoàn toàn hoạt động của cơ quan thanh tra theo cấp hành chính, còn hoạt động thanh tra chuyên ngành lại có một số đặc điểm riêng, phụ thuộc vào chức năng, nhiệm vụ của từng ngành

1.3 Địa vị pháp lý của Thanh tra Lao động – Thương binh và Xã hội

1.3.1 Đặc điểm của Thanh tra Lao động – Thương binh và Xã hội

Cơ sở pháp lý

Ngay từ Điều 3 Pháp lệnh Thanh tra năm 1990 đã quy định rõ hệ thống tổ chức Thanh tra nhà nước gồm có: Thanh tra Nhà nước; Thanh tra bộ, Ủy ban nhà nước, cơ quan thuộc Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ); Thanh tra tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và cấp tương đương; Thanh tra sở, ngành; Thanh tra huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và cấp tương đương; chức năng thanh tra nhà nước ở xã, phường do Ủy ban nhân dân cùng cấp đảm nhiệm Luật Thanh tra ban hành ngày 15/6/2004 đã quy định rõ hơn về thanh tra chuyên ngành, đặc biệt Luật đã quy định đối với thanh tra chuyên ngành có thể tiến hành thanh tra độc lập

mà không nhất thiết phải tổ chức theo đoàn thanh tra - một nội dung hoàn toàn mới

so với Pháp lệnh Thanh tra Tiếp tục kế thừa Luật Thanh tra 2010 khắc phục những hạn chế về hoạt động thanh tra chuyên ngành mà Luật Thanh tra năm 2004 và các văn bản hướng dẫn chưa quy định về cơ quan thanh tra chuyên ngành trực thuộc bộ, cho nên loại hình thanh tra này được tổ chức rất phức tạp và khác nhau, dẫn đến tình trạng không thống nhất về tổ chức, chồng chéo về chức năng nhiệm vụ, quyền hạn và nội dung hoạt động giữa các cơ quan thanh tra Luật Thanh tra chưa có quy

Trang 30

định nhưng trong thực tiễn, đã và đang tồn tại một số tổ chức, đơn vị có tên gọi là thanh tra, ví dụ như: thanh tra khu công nghiệp, khu chế xuất, khu kinh tế, thanh tra chi cục, thanh tra xây dựng tại cấp huyện và cấp xã đặt ra vấn đề cần nghiên cứu làm sáng tỏ vị trí, vai trò, tổ chức và hoạt động của các loại hình thanh tra này Luật Thanh tra năm 2010 đã khắc phục được những hạn chế tồn tại đó

Chính phủ đã cụ thể hóa các quy định tại Luật Thanh tra trong các Nghị định:

Nghị định số 07/2012/NĐ-CP ngày 09/02/2012 của Chính phủ quy định về

cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành và hoạt động thanh tra chuyên ngành;

Nghị định số 106/2012/NĐ-CP ngày 20/12/2012 của Chính phủ về việc quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội;

Nghị định số 39/2013/NĐ-CP ngày 24/4/2013 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của Thanh tra Lao động- Thương binh và Xã hội;

Những văn bản này là các sơ sở pháp lý rõ nét, cụ thể về vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức của Thanh tra Lao động- Thương binh và Xã hội nói chung, Thanh tra Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh Quảng Ngãi nói riêng Như vậy Thanh tra Lao động - Thương binh và Xã hội là một cơ quan trong

hệ thống tổ chức của Ngành Lao động - Thương binh và Xã hội, một bộ phận của tổ chức thanh tra nhà nước

Cơ sở thực tiễn

Thanh tra Lao động - Thương binh và Xã hội đã được thành lập và hoạt động

từ ngày 23/11/1945 khi Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 64-SL thành lập Ban

Thanh tra đặc biệt và Tòa án đặc biệt, Bộ Lao động đã có bộ phận đảm nhiệm công

tác thanh tra, kiểm tra việc thi hành các luật lệ lao động Trải qua nhiều thời kỳ lịch

sử, Thanh tra Lao động - Thương binh và Xã hội đã có sự tách, nhập theo sự biến động về tổ chức của Bộ Lao động, Bộ Thương binh và Xã hội Đến nay, Thanh tra Lao động - Thương binh và Xã hội được tổ chức từ Trung ương đến địa phương Ở

Trang 31

Trung ương có Thanh tra Bộ, Thanh tra Tổng cục Dạy nghề Ở 63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có Thanh tra Sở thực hiện công tác thanh tra hành chính và thanh tra chuyên ngành trong phạm vi quản lý nhà nước của Giám đốc Sở Lao động – Thương binh và Xã hội Ngoài việc thành lập và hoạt động theo Luật Thanh tra, Nghị định số 39, Nghị định số 07, Thanh tra Lao động - Thương binh và Xã hội trên thực tế còn được tổ chức và hoạt động theo quyết định của Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội về thanh tra viên phụ trách vùng

1.3.2 Vị trí, chức năng của Thanh tra Lao động- Thương binh và Xã hội

Thanh tra Lao động - Thương binh và Xã hội là tổ chức thanh tra thuộc Ngành Lao động - Thương binh và Xã hội, là một bộ phận của tổ chức thanh tra Nhà nước; ở Trung ương có Thanh tra Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội; Thanh tra Tổng cục Dạy nghề; ở tỉnh, thành phố trực thuộc Trung Ương có Thanh tra Sở Lao động - Thương binh và Xã hội; thực hiện chức năng thanh tra hành chính và thanh tra chuyên ngành về lao động, thương binh và xã hội trong phạm vi quản lý nhà nước theo quy định của pháp luật

Là cơ quan thanh tra chuyên ngành thuộc cơ quan quản lý đa ngành, đa lĩnh vực, Thanh tra Lao động - Thương binh và Xã hội có đối tượng thanh tra rất rộng Căn cứ vào hai chức năng chính có thể chia đối tượng của Thanh tra Lao động - Thương binh và Xã hội thành hai loại:

Loại đối tượng thứ nhất: Cơ quan, tổ chức, cá nhân thuộc quyền quản lý trực

tiếp của cơ quan quản lý nhà nước về lao động, thương binh, xã hội: Đó là các vụ, tổng cục, cục, văn phòng, viện, trung tâm, trường… ở cấp Bộ; các phòng, ban, trung tâm, trường… ở cấp Sở; các cục, phòng, ban, trường, trung tâm thuộc Tổng cục Dạy nghề

Loại đối tượng thứ hai: Cơ quan, tổ chức, cá nhân có tham gia các quan hệ

xã hội theo quy định của Bộ luật Lao động, Luật Dạy nghề, Luật đưa người Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài; các tổ chức bảo hiểm xã hội theo quy định tại Luật Bảo hiểm xã hội (bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm xã hội tự nguyện, bảo hiểm

Trang 32

thất nghiệp); tham gia trong lĩnh vực ưu đãi người có công với cách mạng; bảo trợ

xã hội; bảo vệ và chăm sóc trẻ em; bình đẳng giới; phòng, chống tệ nạn xã hội

1.3.3 Nhiệm vụ, quyền hạn của Thanh tra Lao động - Thương binh và Xã hội

Nhiệm vụ, quyền hạn của Thanh tra Lao động - Thương binh và Xã hội là tổng thể các nhiệm vụ, quyền hạn của Thanh tra Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Thanh tra Sở Lao động – Thương binh và Xã hội và Thanh tra Tổng cục Dạy nghề Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn chỉ nghiên cứu về tổ chức và hoạt động của Thanh tra Sở nên:

Theo quy định tại Nghị định số 39/2013/NĐ-CP ngày 24/4/2013 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của Thanh tra Lao động - Thương binh và Xã hội, có thể tóm tắt các nhiệm vụ, quyền hạn cơ bản của Thanh tra Sở Lao động - Thương binh và Xã hội như sau: Thanh tra việc thực hiện chính sách pháp luật về lao động, người có công và xã hội của các cơ quan, tổ chức và cá nhân trên phạm vi quản lý của Sở Lao động – Thương binh và Xã hội; Giải quyết khiếu nại, tố cáo về lao động, người có công và xã hội theo quy định của pháp luật; thanh tra việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân thuộc quyền quản lý của Giám đốc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội; Xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, người có công và xã hội; Kiến nghị với cơ quan có thẩm quyền đình chỉ hành vi vi phạm pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân; kiến nghị hủy bỏ quyết định trái pháp luật về lao động, người có công và xã hội khi có đủ căn

cứ cho rằng hành vi hoặc quyết định đó gây thiệt hại đến lợi ích Nhà nước, quyền

và lợi ích hợp pháp của công dân; Thực hiện nhiệm vụ phòng ngừa và đấu tranh chống tham nhũng thuộc lĩnh vực lao động, người có công và xã hội

1.3.4 Tổ chức và hoạt động của Thanh tra lao động - Thương binh và Xã hội

Thanh tra Lao động - Thương binh và Xã hội được tổ chức theo nguyên tắc

"song trùng trực thuộc" vừa phụ thuộc cơ quan quản lý nhà nước cùng cấp về lãnh đạo, chỉ đạo, vừa phụ thuộc cơ quan thanh tra cấp trên về tổ chức, nghiệp vụ, công tác: Ở trung ương có Thanh tra Bộ, Thanh tra Tổng cục dạy nghề; ở địa phương có Thanh tra Sở tại 63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương Thanh tra Bộ chịu sự

Trang 33

lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp của Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, đồng thời chịu sự chỉ đạo, hướng dẫn về công tác, tổ chức và nghiệp vụ thanh tra của Thanh tra Chính phủ Thanh tra Tổng cục dạy nghề chịu sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp của Tổng cục trưởng Tổng cục dạy nghề, đồng thời chịu sự chỉ đạo, hướng dẫn về công tác, tổ chức, nghiệp vụ thanh tra hành chính và thanh tra chuyên ngành của Thanh tra Bộ

Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương

có Thanh tra Sở Thanh tra Sở chịu sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp của Giám đốc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, đồng thời chịu sự chỉ đạo, hướng dẫn về công tác, tổ chức và nghiệp vụ thanh tra hành chính của Thanh tra cấp tỉnh và hướng dẫn

về công tác, nghiệp vụ thanh tra chuyên ngành của Thanh tra Bộ

Thanh tra Lao động - Thương binh và Xã hội là cơ quan thanh tra nhà nước, thực hiện hoạt động thanh tra hành chính và thanh tra chuyên ngành với hai hình thức thanh tra là thanh tra theo chương trình, kế hoạch và thanh tra đột xuất Thanh tra Lao động - Thương binh và Xã hội chỉ thực hiện hoạt động thanh tra theo chương trình, kế hoạch sau khi được Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Tổng cục trưởng Tổng cục Dạy nghề hoặc Giám đốc Sở phê duyệt Thanh tra đột xuất được tiến hành khi phát hiện cơ quan, tổ chức, cá nhân có dấu hiệu vi phạm pháp luật, theo yêu cầu của việc giải quyết khiếu nại, tố cáo hoặc do Thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền giao

Việc thanh tra được thực hiện theo phương thức Đoàn thanh tra hoặc Thanh tra độc lập Ngoài ra còn có phương thức Thanh tra viên phụ trách vùng theo Quyết định số 01/2006/QĐ-BLĐTBXH ngày l6/02/2006 của Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và phương thức sử dụng phiếu tự kiểm tra thực hiện pháp luật lao động theo Quyết định số 02/2006/QĐ- BLĐTBXH ngày l6/02/2006 của Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (sau đây gọi là Quyết định số 01/2006 và Quyết định số 02/2006)

Hoạt động của Thanh tra Lao động - Thương binh và Xã hội bao gồm hoạt động thanh tra hành chính và hoạt động thanh tra chuyên ngành, theo đó, hoạt động

Trang 34

thanh tra hành chính là thanh tra việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ của

cơ quan, tổ chức, cá nhân thuộc quyền quản lý của Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Tổng cục trưởng Tổng cục dạy nghề, Giám đốc Sở; hoạt động thanh tra chuyên ngành thanh tra đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân về việc thực hiện chính sách, pháp luật của Nhà nước trong các lĩnh vực:

- Lao động, việc làm, tiền lương, bảo hiểm xã hội, xuất khẩu lao động, an toàn lao động, vệ sinh lao động, dạy nghề;

- Ưu đãi người có công với cách mạng;

- Phòng chống tệ nạn xã hội, bảo trợ xã hội;

- Các lĩnh vực khác theo quy định của pháp luật

Nội dung chủ yếu là thanh tra việc thực hiện pháp luật lao động và Luật bảo hiểm xã hội tại các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh; thanh tra việc thực hiện chính sách ưu đãi người có công với cách mạng; thanh tra việc thu, chi, quản lý quỹ bảo hiểm xã hội và giải quyết các chế độ bảo hiểm xã hội cho người lao động tại các tổ chức bảo hiểm xã hội; thanh tra việc thực hiện các quy định của pháp luật liên quan đến bảo vệ và chăm sóc sức khỏe trẻ em; thanh tra việc thực hiện công tác phòng chống tệ nạn xã hội tại Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, Phòng lao động huyện; thanh tra việc thực hiện quy định của pháp luật về đào tạo, dạy nghề tại các Trung tâm giới thiệu việc làm; thanh tra việc thực hiện các quy định của pháp luật về đưa người Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng

1.3.5 Nguyên tắc hoạt động của Thanh tra Lao động – Thương binh và Xã hội

Nguyên tắc hoạt động thanh tra là cơ sở và tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt trong quá trình thực hiện hoạt động của các cơ quan thực hiện chức năng thanh tra nhà nước Chính vì vậy pháp Luật Thanh tra đã quy định nguyên tắc hoạt động thanh tra là: Tuân theo pháp luật, bảo đảm chính xác, trung thực, khách quan, công khai, dân chủ và kịp thời; không trùng lặp về phạm vi, đối tượng, nội dung, thời gian thanh tra giữa các cơ quan thực hiện chức năng thanh tra, không làm cản trở hoạt động bình thường của cơ quan, tổ chức, cá nhân là đối tượng thanh tra

Hoạt động thanh tra tuân theo pháp luật là yêu cầu đầu tiên và trước hết đối

Trang 35

với cán bộ, thanh tra viên trong hoạt động thanh tra Thanh tra là công cụ của quản

lý, là một trong ba yếu tố bảo đảm sự thành công hay thất bại của chủ trương, chính sách, pháp luật đã ban hành, là biện pháp quan trọng đảm bảo chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước được chấp hành nghiêm chỉnh, chính vì vậy, các cơ quan thanh tra nhà nước và cán bộ, thanh tra viên trong suốt quá trình hoạt động, không những phải tuân theo đúng các quy định của Luật Thanh tra và các văn bản pháp luật khác hướng dẫn thi hành về thẩm quyền, quyền hạn, trình tự, thủ tục trong tổ chức, chỉ đạo và thực hiện hoạt động thanh tra; mà còn tuân thủ các quy định của các pháp luật khác có liên quan đến công tác thanh tra, như các văn bản pháp luật có liên quan đến nội dung thanh tra,

Với vai trò, vị trí “Thanh tra là tai mắt của trên, là người bạn của dưới”, thanh tra là một bộ phận cấu thành công tác lãnh đạo, là một bộ phận hợp thành công tác quản lý nhà nước, nó đóng vai trò như cầu nối giữa cơ quan lãnh đạo, quản

lý – nơi ban hành và chỉ đạo tổ chức thực hiện chủ trương, chính sách và pháp luật và địa phương, cơ quan, tổ chức, đơn vị, cơ sở - nơi thực hiện mọi chủ trương, chính sách, pháp luật Như vậy, các cơ quan thanh tra nhà nước, cũng như cán bộ, thanh tra viên đóng một vai trò rất quan trọng là thu thập, tổng hợp, nhận xét, xử lý những thông tin trong thanh tra Người quản lý các cấp nắm được tình hình chấp hành, những ưu điểm khuyết điểm trong việc thực hiện cơ chế quản lý, chính sách, pháp luật ở địa phương, cơ quan, đơn vị được thanh tra mà còn cả những sơ hở của

cơ chế quản lý, chính sách, pháp luật hiện hành, cùng với những kiến nghị để cơ quan lãnh đạo, chỉ đạo có những biện pháp khắc phục những khuyết điểm của cấp dưới và sơ hở của cơ chế quản lý, chính sách, pháp luật Do đó, những thông tin

mà thanh tra cung cấp cho cơ quan cấp trên, cho người lãnh đạo đòi hỏi độ chính xác, khách quan, trung thực rất cao Muốn có được những thông tin chính xác, trung thực đó, thái độ của người cán bộ thanh tra là phải cẩn thận, xem xét một cách tỷ

mỷ, thấu đáo và có sự phân tích, đánh giá một cách khách quan, khoa học, không áp đặt theo ý muốn hoặc suy đoán chủ quan của mình

Hoạt động thanh tra cũng đồng thời bảo đảm yêu cầu công khai, dân chủ

Trang 36

Theo đó việc thanh tra phải có quyết định thanh tra và được công bố công khai với

sự có mặt của đối tượng thanh tra, để đối tượng thanh tra biết trước khi tiến hành thanh tra Bằng quyết định thanh tra và công bố, giao quyết định đó cho đối tượng thanh tra, hoạt động thanh tra thực hiện công khai cả nội dung, thời gian, thời hiệu thanh tra, công khai thành phần Đoàn thanh tra Trong quá trình thanh tra, yêu cầu dân chủ được bảo đảm bằng việc các quyền của đối tượng và đoàn thanh tra được tôn trọng thực hiện, thanh tra có quyền chất vấn, đối tượng thanh tra có quyền chứng minh, thanh tra có quyền nhận xét, đánh giá tình hình ưu, khuyết điểm của đơn vị được thanh tra, đối tượng thanh tra có quyền giải trình hoặc khiếu nại kết luận thanh tra thanh tra công khai, dân chủ còn được thể hiện ở việc trước khi kết luận chính thức, trưởng đoàn thanh tra thường dành thời gian nhất định để đối tượng thanh tra nghiên cứu, trao đổi, chứng minh, giải trình làm rõ hơn những nội dung dự thảo kết luận thanh tra Yêu cầu công khai, dân chủ có vai trò quan trọng để đảm bảo thanh tra được chính xác, khách quan, trung thực Yêu cầu công khai, dân chủ được thực hiện tốt bao nhiêu thì kết luận thanh tra chính xác, khách quan, trung thực bấy nhiêu

Thanh tra là nhằm mục đích giúp cấp trên nắm được tình hình, giúp cấp dưới sửa chữa, uốn nắn những sai lầm, lệch lạc, giúp đở cấp dưới thực hiện đúng chủ trương, chính sách pháp luật Do vậy công tác thanh tra luôn luôn đòi hỏi tính kịp thời Thanh tra kịp thời còn là phương châm, cách làm hiệu quả để đạt mục đích thanh tra nhằm phòng ngừa, phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật, phát hiện những sơ hở trong cơ chế quản lý, chính sách, pháp luật để kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền về các biện pháp khắc phục góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả của hoạt động quản lý nhà nước bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích của cơ quan, tổ chức, cá nhân

Mục đích hoạt động kiểm tra, thanh tra nhằm phát huy nhân tố tích cực, phòng ngừa, xử lý các vi phạm, góp phần thúc đẩy hoàn thành nhiệm vụ, hoàn thiện

cơ chế quản lý, tăng cường pháp chế, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân vì vậy hoạt động này không được làm cản trở hoạt động

Trang 37

bình thường của cơ quan, tổ chức, cá nhân là đối tượng thanh tra, không trùng lặp

về phạm vi, đối tượng, nội dung, thời gian thanh tra giữa các cơ quan thực hiện chức năng thanh tra

1.4 Địa vị pháp lý của Thanh tra lao động theo quy định của ILO và tham khảo

mô hình tổ chức của Thanh tra Lao động một số quốc gia điển hình trên thế giới

1.4.1 Địa vị pháp lý của Thanh tra Lao động theo quy định của ILO

Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) là cơ quan chuyên môn của Liên hợp quốc mưu cầu thúc đẩy sự công bằng xã hội, quyền lao động và quyền con người được công nhận trên bình diện quốc tế Với tư cách là thành viên của tổ chức này, Việt Nam đã phê chuẩn 16/187 Công ước, trong đó có Công ước số 81 về Thanh tra Lao động trong công nghiệp và thương mại năm 1947 (Việt Nam phê chuẩn năm một 1994)

Công ước 81 quy định về lĩnh vực Thanh tra Lao động; chức năng của hệ thống Thanh tra Lao động; quyền của Thanh tra viên lao động, những việc không được làm đối với Thanh tra viên lao động (Điều 15), về điều kiện tuyển dụng Thanh tra viên, điều kiện làm việc, về đào tạo … (Điều 7), về cơ chế đảm bảo cho hoạt động thanh tra (Điều 9), chế tài đối với việc vi phạm các quy định của pháp luật, cơ chế phối hợp hoạt động, cơ chế được thông tin, cơ chế báo cáo hàng năm về công tác thanh tra của cơ quan thanh tra

Công ước quy định mỗi nước thành viên của tổ chức lao động quốc tế mà tại

đó công ước này có hiệu lực, phải duy trì một hệ thống Thanh tra Lao động trong các cơ sở công nghiệp, cơ sở thương mại

Về chức năng của hệ thống Thanh tra Lao động, Công ước quy định:

Bảo đảm việc thi hành các quy định pháp luật về điều kiện lao động và về người lao động trong khi làm việc, như các quy định về thời giờ làm việc, tiền lương, an toàn, y tế và phúc lợi, việc sử dụng trẻ em và thiếu niên, và các mặt khác

có liên quan, trong giới hạn trách nhiệm mà các Thanh tra viên lao động được giao

về việc áp dụng những quy định đó

Trang 38

Cung cấp thông tin và góp ý kiến về kỹ thuật cho người sử dụng lao động và người lao động về cách thức hữu hiệu nhất để tuân thủ các quy định pháp luật

Như vậy, theo ILO, Thanh tra lao động không những thanh tra việc thực hiện pháp luật lao động; phát hiện những khiếm khuyết của pháp luật để kiến nghị biện pháp khắc phục mà còn có chức năng tư vấn về cách thức tuân thủ pháp luật cho người sử dụng lao động và người lao động - một cách nhìn hiện đại về vai trò của Thanh tra lao động

Về Thanh tra viên lao động, công ước quy định:

Các Thanh tra viên lao động mang theo những giấy tờ chứng minh về chức

vụ của mình sẽ được quyền:

Tự do vào không phải báo trước, bất kể giờ nào, ngày cũng như đêm, bất cứ

cơ sở nào dưới quyền kiểm soát của thanh tra;

Vào ban ngày tất cả các phòng ban mà họ có thể có lý do hợp lệ để cho rằng các phòng ban đó thuộc quyền kiểm soát của thanh tra

Tiến hành mọi cuộc xét nghiệm, kiểm tra hay điều tra xét thấy cần thiết để đảm bảo rằng các quy định pháp luật được thi hành chặt chẽ;

Có quyền đề xuất các biện pháp nhằm khắc phục những hư hỏng, phát hiện thấy trong một thiết bị, một nhà xưởng hoặc những phương pháp làm việc mà Thanh tra viên có thể có lý do hợp lệ để coi là một mối đe dọa cho sức khỏe hay an toàn của người lao động

Để đảm bảo thực hiện các biện pháp đó, Thanh tra viên có quyền ra lệnh hay

đề nghị ra lệnh về những sửa đổi cần thiết để bảo đảm việc tuân thủ những quy định pháp luật về vệ sinh và an toàn lao động; về việc phải có các biện pháp có hiệu lực tức thời trong các trường hợp có nguy cơ khẩn cấp đối với sức khỏe hay an toàn của người lao động; có quyền yêu cầu các cơ quan có thẩm quyền ra lệnh hay ban hành những biện pháp có hiệu lực tức thời

Như vậy, công ước đã trao cho Thanh tra viên những quyền năng rất cụ thể

và quy định cơ chế đảm bảo việc thực thi quyền năng đó nhằm mục đích cuối cùng

Trang 39

là bảo vệ người lao động và cân bằng mối quan hệ giữa người sử dụng lao động và người lao động

Là thành viên của Công ước, Việt Nam đã nội luật hóa các quy định của Công ước 81 thể hiện trong hệ thống pháp luật lao động nói chung và pháp luật về Thanh tra lao động nói riêng nhằm tạo mọi điều kiện thuận lợi và bảo vệ quyền lợi cho người lao động Các chính sách và các quy định của pháp luật lao động được sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với tình hình mới, đồng thời cũng là để tương thích với các tiêu chuẩn lao động quy định trong các Công ước của ILO mà Việt Nam là thành viên

1.4.2 Tham khảo mô hình tổ chức của Thanh tra Lao động của một số quốc gia điển hình trên thế giới

Trên thế giới, mô hình thanh tra chuyên ngành lao động được thiết lập khác nhau ở mỗi nước; hệ thống thanh tra lao động thường được chia thành "thanh tra chung" và "thanh tra chuyên ngành" Các nước theo mô hình "thanh tra chung" như Pháp, Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha và các nước nói tiếng Pháp và tiếng Tây Ban Nha Mô hình này, Thanh tra Lao động có trách nhiệm rất rộng không chỉ đối với vấn đề an toàn, vệ sinh lao động mà còn cả các vấn đề về điều kiện lao động, tiền lương, lao động di cư, lao động bất hợp pháp,… Các nước theo mô hình Anglo - scăngđinavi như Anh, Áo, các nước Bắc Âu, Ai Len, Niu-dilân, Thụy Điển có đặc điểm chung là Thanh tra Lao động tập trung chủ yếu vào việc bắt buộc tuân thủ các quy định về sức khỏe và an toàn lao động, phúc lợi và điều kiện chung trong những quy định về lao động Có nước chỉ tập trung vào lĩnh vực an toàn, vệ sinh lao động, còn vấn đề việc thực hiện chính sách lao động có một cơ chế giải quyết khác như

Hòa giải, Trọng tài và Tòa án [22, trang 35]

Mô hình Thanh tra lao động ở Áo:

Thanh tra lao động là một bộ phận của Bộ Kinh tế và lao động liên bang Cơ quan Thanh tra Lao động ở Trung ương chịu trách nhiệm quản lý 19 cơ quan thanh tra lao động khu vực (vùng) và một cơ quan thanh tra lao động đặc biệt về xây dựng Tất cả có khoảng 500 người được tuyển dụng vào các cơ quan thanh tra lao

Trang 40

động Có khoảng 300 cán bộ chịu trách nhiệm đối với 210.000 khu vực làm việc và giám sát việc tuân thủ các quy định về bảo hộ lao động của khoảng 2,4 triệu người lao động

Về tổ chức Thanh tra Lao động: mỗi một tiểu bang có ít nhất một cơ quan thanh tra lao động Mỗi một cơ quan thanh tra lao động có một bộ phận thanh tra về

vệ sinh lao động

Cơ quan thanh tra lao động trung ương: Tại Bộ kinh tế và Lao động liên bang có cơ quan thanh tra lao động trung ương Cơ quan thanh tra lao động Trung ương này có 6 bộ phận được trao quyền thực hiện các hoạt động hợp tác và tổ chức tối cao bao gồm:

• Bộ phận xây dựng và mỏ, hành chính

• Bộ phận các vấn đề kỹ thuật về an toàn, sức khỏe tại nơi làm việc

• Bộ phận các vấn đề pháp lý

• Bộ phận sức khỏe nghề nghiệp và vệ sinh nghề nghiệp

• Bộ phận đổi mới thanh tra lao động

• Bộ phận các vấn đề quốc tế về an toàn và sức khỏe tại nơi làm việc Một khối lượng lớn các hoạt động đòi hỏi phải có trình độ chuyên môn về kỹ thuật, chăm sóc sức khỏe nghề nghiệp và luật pháp Hầu hết các thanh tra viên đều phải học tập nghiên cứu Trong hai năm đầu tiên, họ phải tham gia những khóa học

về pháp luật, kỹ thuật, chăm sóc sức khỏe nghề nghiệp, và giao tiếp và phải đi thực

tế sau kỳ thi cuối cùng

Mô hình Thanh tra lao động ở Pháp:

Ủy ban Quan hệ lao động hoạt động dưới sự quản lý của Bộ trưởng có nhiệm

vụ đặc biệt là soạn thảo các quy định điều chỉnh quan hệ lao động của cá nhân và tập thể; xác nhận những điều kiện trong đó sức khoẻ và an toàn cho người công nhân tại nơi làm việc phải được bảo vệ Chính cơ quan này phải đầu tư, nỗ lực phát triển cấu trúc chính và thực hiện quá trình thảo luận và hành động tại một số lĩnh vực bao gồm:

• Tăng cường hệ thống phòng ngừa tai nạn nghề nghiệp;

Ngày đăng: 18/12/2017, 15:15

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[20] Đỗ Thị Thu Hiền (2012), “Thanh tra lao động theo pháp luật lao động Việt Nam” Luận văn thạc sỹ Luật – Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thanh tra lao động theo pháp luật lao động Việt Nam
Tác giả: Đỗ Thị Thu Hiền
Năm: 2012
[21] Nguyễn Thị Hồng Diệp (2014), “Tổ chức và hoạt động của Thanh tra Lao động – Thương binh và Xã hội thực trạng và giải pháp”, Luận văn Thạc sĩ Luật, khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức và hoạt động của Thanh tra Lao động – Thương binh và Xã hội thực trạng và giải pháp
Tác giả: Nguyễn Thị Hồng Diệp
Năm: 2014
[1] Đảng Cộng sản Việt Nam (2016), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, NXB Chính trị Quốc gia - Sự thật, Hà Nội Khác
[2] Quốc hội (2013), Hiến pháp Việt Nam, NXB Lao động- xã hội, Hà Nội - 2014 Khác
[3] Quốc hội (2010), Luật Thanh tra năm 2010, NXB Lao động, Hà Nội – 2010 Khác
[4] Quốc hội (2011), Luật Khiếu nại năm 2011, NXB Lao động, Hà Nội – 2011 Khác
[5] Quốc hội (2011), Luật Tố cáo năm 2011, NXB Lao động, Hà Nội – 2011 Khác
[6] Quốc hội (2012), Luật Tiếp công dân năm 2012, NXB Lao động, Hà Nội – 2012 Khác
[7] Quốc hội (2012), Bộ Luật lao động năm 2012, NXB Lao động Hà Nội – 2012 Khác
[8] Ủy ban Thường vụ Quốc hội (2012), Pháp lệnh ưu đãi người có công cách mạng, Hà Nội – 2012 Khác
[9] Chính phủ (2011), Nghị định 86/2011/NĐ-CP ngày 22/9/2011 quy định chi tiết và hướng dẫn một số điều của Luật Thanh tra năm 2010, Hà Nội Khác
[10] Chính phủ (2012), Nghị định 07/2012/NĐ-CP ngày 09/02/2012 của Chính phủ quy định chi tiết về cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành và hoạt động thanh tra chuyên ngành, Hà Nội Khác
[11] Chính phủ (2012), Nghị định 106/2012/NĐ-CP ngày 20/12/2012 của Chính phủ về việc quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Lao động – TB&XH , Hà Nội Khác
[12] Chính phủ (2013), Nghị định 39/2013/NĐ-CP ngày 24/4/2013 của Chính phủ quy định về tổ chức và hoạt động của thanh tra lao động – thương binh và xã hội, Hà Nội Khác
[13] Chính phủ (2013), Nghị định 95/2013/NĐ-CP ngày 22/8/2013 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, Hà Nội Khác
[14] Chính phủ (2014), Nghị định 119/2014/NĐ-CP ngày 14/12/2014 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Bộ Luật Lao động, Luật Dạy nghề và Luật người Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng lao động về khiếu nại, tố cáo, Hà Nội Khác
[15] Chính phủ (2005), Nghị định 04/2005/NĐ-CP ngày 11/01/2005 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ Luật lao động về khiếu nại, tố cáo, Hà Nội Khác
[16] Phạm Hồng Thái, Đinh Mậu (1996), Đại cương về nhà nước và pháp luật. NXB thành phố Hồ Chính Minh Khác
[17] Thủ tướng Chính phủ (2013), Quyết định 2155/QĐ-TTg ngày 11/11/2013 về việc phê duyệt Đề án nâng cao năng lực thanh tra ngành Lao động – Thương binh và Xã hội đến năm 2020 Khác
[18] Bộ trưởng Bộ Lao động – Thương binh và xã hội (2014), Quyết định 193/QĐ-LĐTBXH ngày 19/2/2014 của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội về việc ban hành Kế hoạch triển khai thực hiện Đề án nâng cao năng lực thanh tra ngành Lao động – Thương binh và Xã hội đến năm 2020 Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w