1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Thực trạng công tác thanh tra lao động về việc thực hiện pháp luật bảo hiểm xã hội tại các doanh nghiệp FDI trên cả nước

16 326 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 7,59 MB
File đính kèm 8.rar (242 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ban thanh tra của nước ta xuất hiện từ những năm 1945 khi đất nước mới bắt đầu xây dựng chế độ dân chủ. Sự cần thiết của việc thành lập đoàn thanh tra đã được chứng minh qua các thời kì phát triển của đất nước cho đến tận bây giờ. Cùng với việc phát hiện và xử lý các vi phạm pháp luật, công tác thanh tra còn đóng vai trò như một biện pháp phòng ngừa hữu hiệu các vi phạm pháp luật. Thanh tra cùng với các phương thức kiểm tra, giám sát luôn là hiện thân của kỷ cương pháp luật; công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát dù được thực hiện dưới bất cứ hình thức nào, cũng luôn có tác dụng hạn chế, răn đe những hành vi vi phạm pháp luật của các đối tượng quản lý. Mặt khác, các giải pháp được đưa ra từ hoạt động thanh tra, kiểm tra, giám sát không chỉ hướng vào việc xử lý các hành vi vi phạm pháp luật, mà còn có tác dụng khắc phục các kẽ hở của chính sách, pháp luật, ngăn ngừa tận gốc mầm mống phát sinh những vi phạm pháp luật. Xuất phát từ những vai trò quan trọng của công tác thanh tra và mong muốn được hiểu biết hơn về hoạt động thanh tra chuyên ngành lao động, vì vậy em quyết định lựa chọn đề tài: “Thực trạng công tác thanh tra lao động về việc thực hiện pháp luật bảo hiểm xã hội tại các doanh nghiệp FDI trên cả nước” làm đề tài nghiên cứu chuyên đề Thanh tra lao động.

Trang 1

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU

NỘI DUNG 1

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ THANH TRA LAO ĐỘNG 1

1.1 Các khái niệm về thanh tra lao động 1

1.2 Vị trí, chức năng, quyền hạn, nhiệm vụ của thanh tra lao động 1

1.3 Mục đích của thanh tra lao động 2

1.4 Nguyên tắc thanh tra lao động 2

1.5 Cơ cấu tổ chức 2

1.6 Hình thức hoạt động 2

1.7 Phương thức 2

1.8 Nội dung thanh tra lao động pháp luật về bảo hiểm xã hội 3

CHƯƠNG 2 THỰC TRANG CÔNG TÁC THANH TRA VIỆC THỰC HIỆN PHÁP LUẬT BẢO HIỂM XÃ HỘI TẠI CÁC DOANH NGHIỆP FDI TRÊN CẢ NƯỚC 4

2.1 Khái quát chung về các doanh nghiệp FDI tại Việt Nam 4

2.2 Thực trạng công tác thanh tra lao động về việc thực hiện pháp luật bảo hiểm xã hội tại các doanh nghiệp FDI trên cả nước 5

2.2.1 Cơ quan thực hiện chức năng thanh tra 5

2.2.2 Lực lượng thanh tra 5

2.2.3 Hình thức thanh tra 6

2.2.4 Mô tả 6

2.2.5 Kết quả thanh tra 7

2.3 Nhận xét chung 7

CHƯƠNG 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN CÔNG TÁC THANH TRA VIỆC THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI 9

3.1 Một số giải pháp 9

3.2 Một số kiến nghị 9

KẾT LUẬN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 2

LỜI MỞ ĐẦU

Ban thanh tra của nước ta xuất hiện từ những năm 1945 khi đất nước mới bắt đầu xây dựng chế độ dân chủ Sự cần thiết của việc thành lập đoàn thanh tra

đã được chứng minh qua các thời kì phát triển của đất nước cho đến tận bây giờ Cùng với việc phát hiện và xử lý các vi phạm pháp luật, công tác thanh tra còn đóng vai trò như một biện pháp phòng ngừa hữu hiệu các vi phạm pháp luật Thanh tra cùng với các phương thức kiểm tra, giám sát luôn là hiện thân của kỷ cương pháp luật; công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát dù được thực hiện dưới bất cứ hình thức nào, cũng luôn có tác dụng hạn chế, răn đe những hành vi vi phạm pháp luật của các đối tượng quản lý Mặt khác, các giải pháp được đưa ra

từ hoạt động thanh tra, kiểm tra, giám sát không chỉ hướng vào việc xử lý các hành vi vi phạm pháp luật, mà còn có tác dụng khắc phục các kẽ hở của chính sách, pháp luật, ngăn ngừa tận gốc mầm mống phát sinh những vi phạm pháp luật Xuất phát từ những vai trò quan trọng của công tác thanh tra và mong muốn được hiểu biết hơn về hoạt động thanh tra chuyên ngành lao động, vì vậy

em quyết định lựa chọn đề tài: “Thực trạng công tác thanh tra lao động về việc thực hiện pháp luật bảo hiểm xã hội tại các doanh nghiệp FDI trên cả nước” làm

đề tài nghiên cứu chuyên đề Thanh tra lao động

Trang 3

NỘI DUNG CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ THANH TRA LAO ĐỘNG

1.1 Các khái niệm về thanh tra lao động

Thanh tra là việc kiểm tra, xem xét, đánh giá và xử lý việc thực hiện

pháp luật của tổ chức, cá nhân do tổ chức, người có thẩm quyền thực hiện theo trình tự pháp luật quy định nhằm phục vụ cho hoạt động quản lý nhà nước, bảo

vệ lợi ích nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể quyền sở hữu công nghiệp và tổ chức, cá nhân khác

Thanh tra nhà nước là hoạt động xem xét, đánh giá, xử lý theo trình tự,

thủ tục do pháp luật quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, tổ chức, cá nhân Thanh tra nhà nước bao gồm thanh tra hành chính và thanh tra chuyên ngành

Thanh tra lao động là hoạt động xem xét, đánh giá và xử lí việc thực

hiện theo pháp luật lao động của tổ chức cá nhân do cơ quan có thẩm quyền trong lĩnh vực lao động thực hiện theo trình tự mà pháp luật quy định nhằm phục vụ cho hoạt động quản lí, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể lao động và tổ chức cá nhân khác

Theo quy định tại chương XVI Bộ luật lao động 2012

1.2 Vị trí, chức năng, quyền hạn, nhiệm vụ của thanh tra lao động

Chủ trì hoặc tham gia xây dựng văn bản quy phạm pháp luật theo sự phân công của Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội

Tổ chức tập huấn nghiệp vụ thanh tra chuyên ngành cho các thanh tra viên, công chức được giao thực hiện nhiệm vụ thanh tra chuyên ngành Lao động

- Thương binh và Xã hội

Tuyên truyền, hướng dẫn, đôn đốc, kiểm tra cơ quan, đơn vị thuộc Bộ thực hiện quy định của pháp luật về thanh tra

Tổng kết, rút kinh nghiệm về công tác thanh tra trong lĩnh vực lao động, thương binh và xã hội

Nghiên cứu khoa học về thanh tra trong lĩnh vực lao động, thương binh và

xã hội

Hợp tác quốc tế về công tác thanh tra trong lĩnh vực lao động, thương binh và xã hội

Tổng hợp, báo cáo Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Tổng Thanh tra Chính phủ về kết quả công tác thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố

Trang 4

cáo, phòng, chống tham nhũng trong phạm vi quản lý của Bộ Lao động -Thương binh và Xã hội theo quy định của pháp luật

Các nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của pháp luật

( Theo Điều 7, chương II Luật Thanh tra)

1.3 Mục đích của thanh tra lao động

Mục đích hoạt động thanh tra nhằm phát hiện sơ hở trong cơ chế quản lý, chính sách, pháp luật để kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền biện pháp khắc phục; phòng ngừa, phát hiện và xử lý hành vi vi phạm pháp luật; giúp

cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện đúng quy định của pháp luật; phát huy nhân

tố tích cực; góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước; bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân

( Theo Điều 2, chương I, Luật Thanh tra)

1.4 Nguyên tắc thanh tra lao động

Hoạt động của thanh tra ngành Lao động - Thương binh và Xã hội phải tuân theo pháp luật, bảo đảm chính xác, trung thực, khách quan, công khai, dân chủ và kịp thời

Hoạt động thanh tra hành chính được tiến hành theo Đoàn thanh tra; hoạt động thanh tra chuyên ngành được tiến hành theo Đoàn thanh tra hoặc do Thanh tra viên, công chức thanh tra chuyên ngành tiến hành độc lập.

( Theo Điều 2, chương I, Nghị định 39/2013)

1.5 Cơ cấu tổ chức

1 Các cơ quan thanh tra nhà nước:

a) Thanh tra Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội;

b) Thanh tra Sở Lao động - Thương binh và Xã hội các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương

2 Các cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành: a) Tổng cục Dạy nghề;

b) Cục Quản lý Lao động ngoài nước

( Theo Điều 5, chương 2, nghị định 39/2013)

1.6 Hình thức hoạt động

Đột xuất

Kế hoạch

1.7 Phương thức

Công tác thanh tra lao động tiến hành bằng phương thức thanh tra viên phụ trách vùng thông qua phiếu tự kiểm tra (Quyết định số

Trang 5

01/2006/QĐ-BLĐTBXH ngày 16 tháng 02 năm 2006 về việc ban hành quy chế hoạt động thanh tra nhà nước về lao động theo phương thức thanh tra viên phụ trách vùng, quyết định 02/2006/QĐ-BLĐTBXH ngày 16 tháng 02/2006 của Bộ LĐTBXH

về việc ban hành quy chế sử dụng phiếu tự kiểm tra thực hiện pháp luật lao động)

1.8 Nội dung thanh tra lao động pháp luật về bảo hiểm xã hội

1 Thanh tra hành chính:

a) Thanh tra việc thực hiện chính sách, pháp luật và nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, tổ chức, cá nhân quy định tại Khoản 1 Điều 2 Nghị định này;

b) Hoạt động thanh tra hành chính phải tuân theo các quy định của pháp luật về thanh tra hành chính và các quy định của pháp luật có liên quan

2 Thanh tra chuyên ngành:

Việc thực hiện các quy định pháp luật về bảo hiểm xã hội (bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm xã hội tự nguyện, bảo hiểm thất nghiệp): Việc thực hiện pháp luật về bảo hiểm xã hội của tổ chức bảo hiểm xã hội; việc thực hiện pháp luật về bảo hiểm xã hội của người sử dụng lao động và người lao động;

Hoạt động thanh tra chuyên ngành phải tuân theo các quy định của pháp luật về thanh tra chuyên ngành và các quy định của pháp luật có liên quan

Trang 6

CHƯƠNG 2 THỰC TRANG CÔNG TÁC THANH TRA VIỆC THỰC HIỆN PHÁP LUẬT BẢO HIỂM XÃ HỘI TẠI CÁC

DOANH NGHIỆP FDI TRÊN CẢ NƯỚC

2.1 Khái quát chung về các doanh nghiệp FDI tại Việt Nam

Theo quy định tại Khoản 6, Điều 3 của Luật Đầu tư 2005, doanh nghiệp

có vốn đầu tư nước ngoài là doanh nghiệp do nhà đầu tư nước ngoài thành lập

để thực hiện hoạt động đầu tư tại Việt Nam hoặc là doanh nghiệp Việt Nam do nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần, sáp nhập, mua lại

Tính chung trong năm 2013, tổng vốn FDI đăng ký cấp mới và tăng thêm

là 22,35 tỷ USD Hiện nay, khu vực FDI tăng trưởng ổn định ở hầu hết các lĩnh vực Tổng số doanh nghiệp FDI đang hoạt động trên phạm vi toàn quốc thời điểm 31/12/2013 là 9093 doanh nghiệp, gấp 6 lần năm 2000, bình quân giai đoạn 2000-2013 mỗi năm tăng xấp xỉ 16% Trong đó doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài là 7543 doanh nghiệp (chiếm 83% toàn bộ doanh nghiệp FDI) gấp 8,8 lần năm 2000, bình quân giai đoạn 2000 - 2013 mỗi năm tăng xấp xỉ 20% Doanh nghiệp liên doanh là 1550 doanh nghiệp (chiếm 17% số doanh nghiệp FDI) gấp 2,3 lần năm 2000, bình quân giai đoạn 2000-2013 mỗi năm tăng 6,7%

Số doanh nghiệp FDI đang hoạt động thuộc khu vực công nghiệp và xây dựng hiện chiếm tỷ lệ cao nhất với 73% (riêng ngành công nghiệp chiếm 66,4%) Tiếp đến là khu vực dịch vụ với 25,7% Trong khi số doanh nghiệp FDI hoạt động trong khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chỉ có 123 doanh nghiệp, chiếm 1,4%

Tổng số lao động làm việc trong các doanh nghiệp FDI tại thời điểm 31/12/2013 trên 3,2 triệu người, gấp gần 8 lần năm 2000, trong đó doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài chiếm 92% (năm 2000 là 70,2%), doanh nghiệp liên doanh với nước ngoài chiếm 8% (năm 2000 là 29,8%), bình quân mỗi năm thu hút thêm 216,5 nghìn lao động, góp phần đáng kể vào giải quyết việc làm của nền kinh tế Khu vực công nghiệp và xây dựng hiện thu hút lao động khu vực FDI đạt tỷ lệ cao nhất với 91% (riêng ngành công nghiệp 90,2%)

Tổng số vốn của khu vực doanh nghiệp FDI sử dụng vào hoạt động sản xuất kinh doanh thời điểm 31/12/2013 là 3411 nghìn tỷ đồng, gấp 14,2 lần năm

2000, bình quân giai đoạn 2000-2013 tăng 22,4%/năm Trong đó vốn FDI đầu

tư vào khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 55,2% (riêng công nghiệp là 54,1%); tiếp đến là khu vực dịch vụ 44,5% và khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản 0,3% ( xem biểu 1)

Trang 7

Trong 12 tháng của năm 2013 đã có 57 quốc gia và vùng lãnh thổ có dự

án đầu tư tại Việt Nam Nhật Bản dẫn đầu với số tổng vốn đầu tư đăng ký cấp mới và tăng thêm là 5,875 tỷ USD, chiếm 26,3% tổng vốn đầu tư đăng ký tại Việt Nam; Singapore đứng vị trí thứ hai với tổng vốn đầu tư đăng ký cấp mới và tăng thêm là 4,76 tỷ USD, chiếm 21,3% tổng vốn đầu tư; Hàn Quốc đứng vị trí thứ 3 với tổng vốn đầu tư đăng ký cấp mới và tăng thêm là 4,46 tỷ USD, chiếm 20% tổng vốn đầu tư đăng ký.( xem biểu 2)

2.2 Thực trạng công tác thanh tra lao động về việc thực hiện pháp luật bảo hiểm xã hội tại các doanh nghiệp FDI trên cả nước

2.2.1 Cơ quan thực hiện chức năng thanh tra

Thanh tra Bộ Lao động – Thương binh và xã hội là cơ quan thực hiện việc thanh tra về việc thực hiện pháp luật bảo hiểm xã hội tại các doanh nghiệp FDI trên phạm vị quốc gia

Chức năng, nhiệm vụ của thanh tra Bộ :

- chủ trì hoặc tham gia xây dựng avwn bản quy phạm pháp luật theo sự phân công của bộ trưởng; kiến nghị cấp có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành các văn bản quy phạm quy phạm pháp luật phù hợp với yêu cầu quản

lý nhà nước về lao động

- chủ trì xây dựng kế hoạch thanh tra trình Bộ trưởng; tổ chức thực hiện

kế hoạch thanh tra thuộc trách nhiệm của thanh tra Bộ, hướng dẫn theo dõi đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện kế hoạch thanh tra thuộc trách nhiệm của được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành thuộc bộ

- thanh tra việc thực hiện chính sách, pháp luật, quyền hạn của cơ quan tổ chức, cá nhân thuộc quyền quản lý trực tiếp của Bộ; thanh tra công vụ; thanh tra việc thực hiện hoạt động nghề nghiệp của viên chức thuộc ngành, lĩnh vực quản

lý của Bộ theo quy điịnh của pháp luật

( Theo điều 2 Quyết định số 614/QĐ – LĐTBXH)

2.2.2 Lực lượng thanh tra

Hiện nay cả nước có gần 500 thanh tra viên chịu trách nhiệm giám sát hơn

400000 doanh nghiệp với hàng triệu lao động trong nhiều lĩnh vực tài chính, tổ chức, trẻ em, bình đẳng giới Tính riêng doanh nghiệp FDI cũng có hơn 9000 doanh nghiệp Như vậy, tương quan giữa số thanh tra lao động với số doanh nghiệp cần thanh tra có sự chênh lệch quá lớn Bình quân một thanh tra viên cần thanh tra hàng nghìn doanh nghiệp, điều này là không thể Có địa phương chỉ có

2 – 3 thanh tra lao động Do vậy, việc số lương thanh tra lao động quá ít này dẫn đến hệ quả số doanh nghiệp được thanh tra hàng năm cũng chỉ dừng lại ở con số

Trang 8

rất ít chưa kể đến chất lượng thanh tra đã được đảm bảo hay chưa.

Thêm vào đó, lực lượng thanh tra thiếu chuyên môn nghiệp vụ, chưa được đào tạo bài bản, thực tế lực lượng thanh tra của cả nước vừa thiếu về số lượng vừayếu kém chuyên môn, các cán bộ thanh tra đa số là mới ra trường hoặc chuyển công tác chưa có nhiều kinh nghiệm Đặc biệt, thanh tra ngành bảo hiểm

xã hội chủ yếu là kiêm nhiệm, không được đào tạo chuyên sâu về lĩnh vực bảo hiểm xã hội Với trình độ của thanh tra lao động hiện nay thì chưa thể đáp ứng được nhu cầu thanh tra các doanh nghiệp nói chung, các doanh nghiệp FDI nói riêng và nhất là hiện nay các doanh nghiệp FDI đang không ngừng tăng lên

2.2.3 Hình thức thanh tra

Thanh tra theo chương trình, kế hoạch được phê duyệt

2.2.4 Mô tả

Báo cáo kết quả giám sát của Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam về tình hình thực hiện pháp luật về bảo hiểm xã hội tại các doanh nghiệp cho thấy, đến hết tháng 9-2016, tại cả ba tỉnh, thành phố (gồm Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Bình Dương) được giám sát đều có doanh nghiệp nợ bảo hiểm xã hội với tổng số nợ khoảng 5.723 tỷ đồng Tỷ lệ bao phủ bảo hiểm xã hội bình quân của ba tỉnh khoảng 50% trên tổng số lực lượng lao động thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội của địa phương Công tác nắm bắt, thống kê chính xác số lượng người lao động, người sử dụng lao động thuộc diện phải tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm xã hội tự nguyện, bảo hiểm y tế theo quy định của pháp luật còn chưa kịp thời Tính tuân thủ pháp luật của doanh nghiệp trong công tác khai trình lao động theo quy định còn nhiều hạn chế dẫn đến một bộ phận người lao động chưa được tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp Phần lớn doanh nghiệp đều lấy lý do kinh tế khó khăn, mới thành lập hoặc thay đổi cán bộ quản lý hoặc người lao động không muốn tham gia để không đóng bảo hiểm xã hội đầy đủ cho người lao động

Nhận thấy những bất cập trong việc đóng bảo hiểm xã hội cho người lao động tại các doanh nghiệp trên cả nước nói chung, các doanh nghiệp FDI nói riêng, Nhà nước cho tăng cường thành lập các đoàn thanh tra có trình độ chuyên môn nghiệp vụ, nhiều kinh nghiệm trực tiếp đến các doanh nghiệp kiểm tra, giám sát việc đóng bảo hiểm xã hội nhằm bảo vệ quyền lợi của người lao động,

có biện pháp xử lý kịp thời những sai phạm tránh gâu hậu quả nghiêm trọng Từ năm 2014, để tăng cường công tác giám sát, phản biện xã hội của Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các sở, ban, ngành và tổ chức thành viên của Mặt trận Tổ quốc ở địa phương đã nỗ lực đẩy mạnh thanh kiểm tra, giám sát

Trang 9

thực hiện chính sách pháp luật về bảo hiểm xã hội.

Các khiếu nại về bảo hiểm xã hội được các cơ quan kịp thời giải quyết Tuy nhiên, thực tế cho thấy tỷ lệ giám sát chính sách bảo hiểm xã hội còn thấp, chế tài xử phạt còn rất hạn chế Việc xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo hiểm xã hội theo Nghị định số 95/2013 và Nghị định số 88/2015 của Chính phủ chưa đủ sức răn đe Công tác hậu thanh tra, kiểm tra, giám sát và khởi kiện các hành vi vi phạm pháp luật còn vướng mắc Một số doanh nghiệp sau khi bị thanh tra, kiểm tra, xử phạt, không liên lạc với cơ quan bảo hiểm xã hội để thực hiện kết luận thanh kiểm tra hoặc không còn khả năng thanh toán nợ bảo hiểm

xã hội Do doanh nghiệp cũ giải thể, phá sản không còn hoạt động cho nên nhiều người lao động không được trả hồ sơ bảo hiểm xã hội

2.2.5 Kết quả thanh tra

Bên cạnh những doanh nghiệp FDI chấp hành nghiêm chỉnh quy định pháp luật, đóng bảo hiểm xã hội đầy đủ, kịp thời, vẫn một số doanh nghiệp nợ bảo hiểm xã hội Tính đến ngày 31/12/2016, tổng số nợ bảo hiểm xã hội của khối doanh nghiệp FDI vẫn còn cao là 1.241 tỷ đồng (chiếm 3,9% tổng số phải thu của các doanh nghiệp cùng khối FDI)

Tình trạng nợ, trốn đóng bảo hiểm xã hội đang diễn ra rất trầm trọng

Nợ đọng bảo hiểm xã hội gần đây rất lớn, nằm ở các doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên 40%, doanh nghiệp FDI là 14% Con số nợ, trốn đóng bảo hiểm xã hội hiện nay đã lên tới 12.000 tỷ đồng

Tình trạng đóng bảo hiểm xã hội sai quy định vẫn diễn ra phổ biến

Các doanh nghiệp thường có động thái như đóng không đúng tiền lương thực tế, đóng không đủ số lao động, thu tiền của người lao động rồi chiếm dụng,

nợ đọng bảo hiểm xã hội kéo dài để lách đóng bảo hiểm xã hội cho người lao động

2.3 Nhận xét chung

Qua quá trình thanh tra về việc thực hiên pháp luật về bảo hiểm xã hội,

em nhận thấy:

Lực lượng thanh tra lao động còn quá mỏng

Hiện nay, cả nước có gần 500 thanh tra viên chịu trách nhiệm giám sát hơn 400.000 doanh nghiệp với hàng triệu lao động trong nhiều lĩnh vực tài chính, tổ chức, lao động, trẻ em, bình đẳng giới Tính riêng số doanh nghiệp FDI cũng tới hơn 9000 doanh nghiệp Như vậy, tương quan giữa số thanh tra lao động với số doanh nghiệp cần thanh tra có sự chênh lệch quá lớn

Lực lượng thanh tra lao động thiếu chuyên môn, nghiệp vụ

Trang 10

Thực tế thì lực lượng thanh tra vừa thiếu về số lượng, vừa yếu kém về trình độ Có tới 30 - 50% cán bộ mới ra trường hoặc chuyển công tác 25% cán

bộ có trình độ cao đẳng, trung cấp Thêm nữa, thanh tra chuyên ngành Bảo hiểm

xã hội hiện nay chủ yếu là kiêm nhiệm, không được đào tạo chuyên sâu về lĩnh vực bảo hiểm xã hội

Công tác quản lý về bảo hiểm xã hội còn nhiều hạn chế

Trong tình hình kinh tế khó khăn hiện nay, việc nợ đóng, trốn đóng bảo hiểm xã hội là một trong những giải pháp mà các doanh nghiệp FDI lựa chọn để gia tăng lợi nhuận

Trong khi đó chế tài xử lý vi phạm trong lĩnh vực bảo hiểm xã hội còn nhiều bất cập, như mức xử phạt thấp, thủ tục xử phạt phức tạp, chưa có quy định xử lý hình sự khi chiếm dụng tiền đóng bảo hiểm xã hội của người lao động

Lợi dụng sơ hở của pháp luật, nhiều doanh nghiệp nói chung và các doanh nghiệp FDI nói riêng tìm đủ mọi cách để lách luật

Có nhiều nguyên nhân của tình trạng này, trong đó chủ yếu do một số doanh nghiệp gặp khó khăn, thậm chí phải giải thể, ngừng hoạt động; song vẫn còn đâu đó một số doanh nghiệp cố tình trốn đóng, chậm đóng, chiếm dụng vốn

từ khoản thu bảo hiểm xã hội của người lao động đầu tư vào mục đích khác, thiếu hợp tác tích cực với cơ quan bảo hiểm xã hội để giải quyết chế độ cho người lao động, đặc biệt còn có chủ doanh nghiệp bỏ trốn khỏi Việt Nam…

Những hạn chế này, làm ảnh hưởng tiêu cực đến quyền, lợi ích hợp pháp của người lao động, gây khó khăn cho tổ chức thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội, làm ảnh hưởng đến an sinh xã hội

Ngày đăng: 08/12/2018, 16:57

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

  • Đang cập nhật ...

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w