Các Tổ chức Du lịch Thế giới định nghĩa khách du lịch như những người "đi du lịch đến và ở lại ở những nơi bên ngoài nơi cư trú thường xuyên của họ trong hơn 24 giờ và không quá một năm
Trang 1Mục lục
A – MỞ ĐẦU 2
I Đinh nghĩa ngành 2
II Mô tả ngành 4
B – PHÂN TÍCH NGÀNH 6
I PHÂN TÍCH MÔI TRƯỜNG VĨ MÔ 6
1 Môi trường kinh tế 6
2 Môi trường công nghệ: 9
3 Môi trường văn hóa xã hội 10
4 Môi trường nhân khẩu học 11
5 Môi trường chính trị - luật pháp 13
II MÔI TRƯỜNG NGÀNH 15
1 Các đối thủ cạnh tranh tiềm tàng: 15
2 Mức độ cạnh tranh trong ngành: 15
3 Năng lực thương lượng của người mua: 16
4 Năng lực thương lượng của nhà cung cấp: 16
5 Các sản phẩm thay thế: 16
C – KẾT LUẬN 18
Trang 2A – MỞ ĐẦU
Du lịch là đi du lịch để vui chơi, giải trí hoặc nhằm mục đích kinh doanh; là việc thực hiện chuyến đi khỏi nơi cư trú, có tiêu tiền, có thể lưu trú qua đêm và có sự trở về Mục đích của chuyến đi là giải trí, nghỉ dưỡng, thăm thân nhân, công tác, hội nghị khách hàng hay du lịch khen thưởng, hoặc nhằm mục đích kinh doanh Các Tổ chức Du lịch Thế giới định nghĩa khách du lịch như những người "đi du lịch đến và ở lại ở những nơi bên ngoài nơi cư trú thường xuyên của họ trong hơn 24 giờ và không quá một năm liên tiếp cho giải trí, kinh doanh và các mục đích khác không liên đến những nhân viên hướng dẫn viên du lịch của tổ chức thực hiện việc du lịch đó."
Do hoàn cảnh khác nhau, dưới mỗi góc độ nghiên cứu khác nhau, mỗi người có một cách hiểu về du lịch khác nhau Do vậy có bao nhiêu tác giả nghiên cứu về du lịch thì có bấy nhiêu định nghĩa
Dưới con mắt của Guer Freuler thì “du lịch với ý nghĩa hiện đại của từ này là một hiện tượng của thời đại chúng ta, dựa trên sự tăng trưởng về nhu cầu khôi phục sức khoẻ và sự thay đổi của môi trường xung quanh, dựa vào sự phát sinh, phát triển tình cảm đối với vẻ đẹp thiên nhiên”
Kaspar cho rằng du lịch không chỉ là hiện tượng di chuyển của cư dân mà phải
là tất cả những gì có liên quan đến sự di chuyển đó Chúng ta cũng thấy ý tưởng này trong quan điểm của Hienziker và Kraff “du lịch là tổng hợp các mối quan hệ và hiện tượng bắt nguồn từ các cuộc hành trình và lưu trú tạm thời của các cá nhân tại những nơi không phải là nơi ở và nơi làm việc thường xuyên của họ” (Về sau định nghĩa này được hiệp hội các chuyên gia khoa học về du lịch thừa nhận)
Theo các nhà kinh tế, du lịch không chỉ là một hiện tượng xã hội đơn thuần mà
nó phải gắn chặt với hoạt động kinh tế Nhà kinh tế học Picara- Edmod đưa ra định
nghĩa: “du lịch là việc tổng hoà việc tổ chức và chức năng của nó không chỉ về phương diện khách vãng lai mà chính về phương diện giá trị do khách chỉ ra và của những
Trang 3khách vãng lai mang đến với một túi tiền đầy, tiêu dùng trực tiếp hoặc gián tiếp cho các chi phí của họ nhằm thoả mãn nhu cầu hiểu biết và giải trí.”
Khác với quan điểm trên, các học giả biên soạn bách khoa toàn thư Việt Nam
đã tách hai nội dung cơ bản của du lịch thành hai phần riêng biệt Theo các chuyên gia này, nghĩa thứ nhất của từ này là “một dạng nghỉ dưỡng sức tham quan tích cực của con người ngoài nơi cư trú với mục đích: nghỉ ngơi, giải trí, xem danh lam thắng cảnh…” Theo định nghĩa thứ hai, du lịch được coi là “một ngành kinh doanh tổng hợp
có hiệu quả cao về nhiều mặt nâng cao hiểu biết về thiên nhiên, truyền thông lịch sử và văn hoá dân tộc, từ đó góp phần làm tăng thêm tình yêu đất nước, đối với người nước ngoài là tình hữu nghị với dân tộc mình, về mặt kinh tế, du lịch là lĩnh vực kinh doanh mang lại hiệu quả rất lớn; có thể coi là hình thức xuất khẩu hàng hoá và dịch vụ tại chỗ
Để tránh sự hiểu lầm và không đầy đủ về du lịch, chúng ta tách du lịch thành hai phần để định nghĩa nó Du lịch có thể được hiểu là:
- Sự di chuyển và lưu trú qua đêm tạm thời trong thời gian rảnh rỗi của cá nhân hay tập thể ngoài nơi cư trú nhằm mục đích phục hồi sức khoẻ, nâng cao tại chỗ nhận thức về thế giới xung quanh, có hoặc không kèm theo việc tiêu thụ một số giá trị tự nhiên, kinh tế, văn hoá và dịch vụ của các cơ sở chuyên cung ứng
- Một lĩnh vực kinh doanh các dịch vụ nhằm thoả mãn nhu cầu nảy sinh trong quá trình di chuyển và lưu trú qua đêm tạm thời trong thời gian rảnh rỗi của cá nhân hay tập thể ngoài nơi cư trú với mục đích phục hồi sức khoẻ, nâng cao nhận thức tại chỗ về thế giới xung quanh
Theo Tổ chức Du lịch Thế giới (World Tourist Organization), một tổ chức thuộc Liên Hiệp Quốc, du lịch bao gồm tất cả mọi hoạt động của những người du hành, tạm trú, trong mục đích tham quan, khám phá và tìm hiểu, trải nghiệm hoặc trong mục đích nghỉ ngơi, giải trí, thư giãn; cũng như mục đích hành nghề và những mục đích khác nữa, trong thời gian liên tục nhưng không quá một năm, ở bên ngoài môi trường sống định cư; nhưng loại trừ các du hành mà có mục đích chính là kiếm tiền Du lịch cũng là một dạng nghỉ ngơi năng động trong môi trường sống khác hẳn nơi định cư
Du lịch là ngành không khói, ít gây ô nhiễm môi trường, giúp khách du lịch vừa được nghỉ ngơi, giảm strees vừa biết thêm nhiều điều hay mới lạ mà khách chưa biết
Trang 4Du lịch còn góp phần phát triển kinh tế của đất nước, tạo việc làm và tăng thu nhập cho người lao động (hướng dẫn viên, các dịch vụ liên quan )
Ngành du lịch Việt Nam được thành lập từ năm 1960 và hiện nay theo thống
kê, trên địa bàn cả nước có khoảng 50 điểm du lịch trải dài khắp cả nước trong đó tập trung nhiều ở miền Bắc và miền Trung Qua nhiều năm đổi mới và phát triển, ngành
du lịch trở thành ngành đóng vai trò trọng yếu trong việc phát triển kinh tế Việt Nam
Việt Nam có đủ các yếu tố để phát triển ngành du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn Với tiềm năng du lịch đa dạng và phong phú, đất nước ta đang là điểm đến nổi tiếng của thế giới
Trong những năm qua, du lịch Việt Nam tăng trưởng tương đối ổn định với tốc
độ trung bình ở mức tương đối cao (khoảng 20%), thị phần du lịch của Việt Nam trong khu vực đã tăng từ 5% năm 1995 lên trên 8% năm 2005, thu nhập từ ngành du lịch tăng lên nhiều lần Đây là một thành công lớn góp phần giúp du lịch trở thành một trong những ngành có đóng góp lớn vào GDP
Giai đoạn 1990-2000 có thể khẳng định là giai đoạn bứt phá trong tăng trưởng khách và thu nhập Khách quốc tế tăng trên 9 lần, từ 250 nghìn lượt (năm 1990) lên 2,05 triệu lượt (năm 2000); khách nội địa tăng 11 lần, từ 1 triệu lượt lên 11 triệu lượt; thu nhập du lịch tăng gần 13 lần từ 1.350 tỷ đồng lên 17.400 tỷ đồng 5 năm gần đây (2001-2005), tuy phải đối mặt với rất nhiều khó khăn như chiến tranh, khủng bố, dịch SARS và cúm gia cầm, nhưng do áp dụng các biện pháp táo bạo tháo gỡ kịp thời, nên lượng khách và thu nhập du lịch hàng năm vẫn tiếp tục tăng trưởng 2 con số Khách quốc tế năm 2001 đạt 2,33 triệu lượt, năm 2005 đạt gần 3,47 triệu lượt; khách nội địa năm 2001 đạt 11,7 triệu lượt; năm 2005 đạt 16,1 triệu lượt; người Việt Nam đi du lịch nước ngoài năm 2005 ước khoảng 900 nghìn lượt Du lịch phát triển đã góp phần tăng
tỷ trọng GDP của ngành dịch vụ (riêng GDP du lịch hiện chiếm khoảng 4% GDP cả nước, theo cách tính của UNWTO thì con số này khoảng 10%) Du lịch là một trong ít ngành kinh tế ở nước ta mang lại nguồn thu trên 2 tỷ USD/năm Hơn 10 năm trước, Du lịch Việt Nam đứng vào hàng thấp nhất khu vực, nhưng đến nay khoảng cách này đã
Trang 5được rút ngắn, đã đuổi kịp và vượt Philíppin, chỉ còn đứng sau Malaysia, Singapore, Thái Lan và Indonesia Theo UNWTO, hiện nay Việt Nam là một trong những nước
có tốc độ tăng trưởng du lịch cao nhất khu vực và thế giới Năm 2004, Du lịch Việt Nam được Hội đồng Du lịch và Lữ hành thế giới xếp thứ 7 thế giới về tăng trưởng lượng khách trong số 174 nước; Việt Nam được xếp vào nhóm 10 điểm đến hàng đầu thế giới
Năm 2008, Việt Nam đã đón 4,218 triệu lượt khách quốc tế, con số này năm
2009 là 3,8 triệu lượt, giảm 11% so với năm trước Tổng cục Du lịch Việt Nam dự báo con số lượt khách du lịch quốc tế đến Việt Nam năm 2010 là 4,5-4,6 triệu lượt, số lượt khách du lịch nội địa là 28 triệu lượt năm 2010, tăng 12% so với năm 2009.1
Doanh thu ngành du lịch Việt Nam năm 2009 đạt từ 68.000 đến 70.000 tỷ đồng.2
Theo dự báo của Tổng cục du lịch Việt Nam, năm 2015 ngành du lịch Việt Nam sẽ thu hút 7-8 triệu lượt khách quốc tế, 32-35 triệu khách nội địa, con số tương ứng năm 2020 là 11-12 triệu khách quốc tế; 45-48 triệu khách nội địa Doanh thu từ du lịch sẽ đạt 18-19 tỷ USD năm 2020.3
1 “Vietnam extends tourism promotion” (4 tháng 1 năm 2010) Truy cập 17 tháng 6 năm 2010.
2 “Năm 2009, doanh thu ngành du lịch tăng 9%” Truy cập 17 tháng 6 năm 2010.
3 “Năm 2020, Doanh thu từ du lịch sẽ đạt 18-19 tỷ USD” An ninh thủ đô Truy cập 17 tháng 6 năm 2010.
Trang 6B – PHÂN TÍCH NGÀNH
1 Môi trường kinh tế
Việt Nam là nền kinh tế lớn thứ 6 ở Đông Nam Á và lớn thứ 59 trên thế giới trong các nền kinh tế thành viên của Quỹ Tiền tệ Quốc tế xét theo quy mô tổng sản phẩm nội địa danh nghĩa năm 2009 và đứng thứ 128 xét theo tổng sản phẩm nội địa danh nghĩa bình quân đầu người Đây là nền kinh tế hỗn hợp, phụ thuộc cao vào xuất khẩu và đầu tư trực tiếp nước ngoài Đảng Cộng sản Việt Nam chủ trương xây dựng ở Việt Nam một hệ thống kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam là quốc gia thành viên của Liên Hiệp Quốc, Tổ chức Thương mại Thế giới, Quỹ Tiền tệ Quốc tế, Nhóm Ngân hàng Thế giới, Ngân hàng Phát triển Châu Á, Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á - Thái Bình Dương, ASEAN Việt Nam tham gia các hiệp định thương mại tự do đa phương với các nước ASEAN, Hàn Quốc, Nhật Bản, Trung Quốc Việt Nam cũng đã ký với Nhật Bản một hiệp định đối tác kinh tế song phương
Theo dự báo của PwC thì vào năm 2025, nền kinh tế Việt Nam có thể trở thành nền kinh tế lớn thứ 28 trong số những nền kinh tế có ảnh hưởng lớn đến kinh tế thế giới với GDP danh nghĩa đạt 841,661 tỉ USD và GDP bình quân đầu người là 5100 USD, cho đến năm 2050, nền kinh tế Việt Nam sẽ đứng thứ 14 trên thế giới có tốc độ tăng trưởng cao nhất trong các nền kinh tế mới nổi (10.3% mỗi năm) theo (PPP) là
3941 tỉ USD, bình quân đầu người đạt 23000 USD/năm và sẽ đạt 70% quy mô của nền kinh tế Vương quốc Anh vào năm 2050
Trang 7a Tốc độ tăng trưởng kinh tế từ năm 2000 – 2011
2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011
- 1.00
2.00
3.00
4.00
5.00
6.00
7.00
8.00
9.00
6.79 6.89 7.08
7.34 7.79
8.44 8.23 8.46
6.31 5.32
6.78 5.89
(Nguồn : Tổng cục thống kê)
Theo số liệu từ Tổng cục Thống kê, tốc độ tăng trưởng trung bình của giai đoạn
2001 – 2010 là 7,25% Trong đó, tăng trưởng trung bình giai đoạn 2001 – 2005 là 7,51% và giai đoạn 2006 – 2010 lại bị tụt lùi, còn 7% Chất lượng tăng trưởng kinh tế thấp thể hiện ở sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế chậm, tính hiệu quả của kinh tế thấp, đồng thời, sức cạnh tranh của nền kinh tế còn yếu
Hiện nay ở Việt Nam, các vấn đề về xã hội như lao động – việc làm, xóa đói giảm nghèo, công bằng xã hội… đều đang là những vấn đề bức xúc, còn môi trường đang ở mức báo động Theo tính toán của các chuyên gia, thiệt hại môi trường do các hoạt động kinh tế gây ra chiếm khoảng 5,5% GDP hàng năm
Có rất nhiều nguyên nhân tác động tới chất lượng tăng trưởng kinh tế của Việt Nam Tuy nhiên vấn đề mấu chốt tập trung vào một số nguyên nhân chủ yếu là năng suất lao động, hiệu quả sử dụng vốn vật chất và năng lượng thấp Với mức tăng 5,13% trong giai đoạn 2001-2010, tốc độ tăng năng suất lao động của Việt Nam được cho là thấp so với các nước trong khu vực khi Trung Quốc gấp trên 2 lần so với Việt Nam; Thái Lan gấp 4,5 lần; Malaysia gấp 12 lần và Hàn Quốc gấp 23,5 lần
Trang 8Trong suốt giai đoạn 2000 - 2010, mô hình tăng trưởng kinh tế của Việt Nam mới chỉ tập trung vào chiều rộng, tăng trưởng nhờ tăng vốn đầu tư, khai thác tài nguyên và sức lao động chứ chưa tập trung vào tăng trưởng chiều sâu
Theo tính toán, tỷ trọng đầu tư toàn xã hội đã tăng liên tục trong vòng hơn một thập kỷ qua từ mức 28,4% của GDP năm 1996 đến mức cao kỷ lục là 43,1% năm
2007 và 42,2% năm 2008 Nếu năm 1997, chỉ với mức đầu tư chiếm 28,7% GDP Việt Nam đạt được mức tăng trưởng 8,2% thì năm 2008 chúng ta đạt tốc độ tăng trưởng tương tự 8,5% nhưng với lượng vốn đầu tư tới 43,1% GDP
b Cơ cấu các ngành kinh tế
Kinh tế Việt Nam được chia thành 3 khu vực (hay còn gọi 3 ngành lớn) kinh tế, đó là:
- Nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản
- Công nghiệp (bao gồm công nghiệp khai thác mỏ và khoáng sản, công
nghiệp chế biến, xây dựng và sản xuất vật liệu xây dựng, sản xuất và phân phối khí, điện, nước)
- Thương mại, dịch vụ, tài chính, du lịch, văn hóa, giáo dục, y tế.
Vào năm 2007, khu vực thứ nhất chiếm 20,29 % GDP thực tế, khu vực thứ hai chiếm 41,58 % (trong đó công nghiệp chế biến chiếm 21,38 %) Ngành tài chính tín dụng chỉ chiếm 1,81 % GDP thực tế
Trang 9( Nguồn : Tổng cục thống kê)
Cơ cấu các ngành kinh tế Việt Nam từ 1990 - 2009
2 Môi trường công nghệ:
- Từ năm 2006 đến năm 2010, du lịch trực tuyến ở Ấn Độ được kỳ vọng sẽ tăng trưởng ở mức 271,6%, trong khi con số này của Việt Nam sẽ là 202%, của Trung Quốc và Indonesia lần lượt là 70% và 83% Ngoài Nhật Bản, các thị trường du lịch trực tuyến lớn nhấtxét theo doanh thu là Ấn Độ với 300 triệu USD và Trung Quốc với
200 triệu USD Trong khi đó, lĩnh vực du lịch trực tuyến của Mỹ được dự báo là sẽ chỉ
tăng trưởng 17% mỗi năm.
- Trong những năm nay, ngành du lịch chủ yếu được phát triển song song cùng
với hoạt động thương mại điện tử Khách hàng thường chọn địa điểm và xem mọi thông tin du lịch chủ yếu là qua Internet Vì vậy, việc đầu tư vào công nghệ thông tin
để quảng cáo cho ngành du lịch là một trong những kênh tốt nhất để tiếp cận với khách hàng
- Sử dụng thương mại điện tử trong ngành du lịch sẽ có những ưu điểm như giảm chi phí quảng cáo, hệ thống thông tin được quản lí và kiểm soát chặt chẽ, tiết kiệm thời gian cho khách hàng, tạo sự liên kết chặt chẽ với hê thống khách sạn, nhà hàng, hãng lữ hành, hàng không…
Trang 10Hiện nay, các nghiên cứu trong và ngoài nước đều cho thấy Việt Nam dù xuất phát chậm xong tiến rất nhanh và đang vượt nhiều nước trong khu vực Tiến sĩ Trần Minh Tiến, Viện trưởng Viện Chiến lược bưu chính viễn thông và công nghệ thông tin dẫn một công trình của Viện nghiên cứu Harvard (Mỹ) cho thấy năm 2002, Việt Nam đứng thứ 74/75 nước về trình độ công nghệ thông tin, bị Indonesia và Philippines bỏ
xa Tuy nhiên, chỉ trong vòng 1 năm, trình độ công nghệ thông tin của ta vươn lên hàng 68/102 quốc gia và vượt hai nước ASEAN kể trên Công trình này được xây dựng dựa trên các tiêu chí: môi trường, sự sẵn sàng và mức sử dụng công nghệ Phân tích sâu hơn cho thấy sự thay đổi là do chỉ số mức sử dụng công nghệ của Việt Nam, đặc biệt là khối doanh nghiệp và Chính phủ, biến chuyển rất tốt trong năm qua Tuy nhiên, một số yếu tố môi trường nền tảng, đặc biệt là môi trường cạnh tranh, còn yếu kém "VNPT hiện chiếm khoảng 90% thị phần, cho thấy tình trạng độc quyền quá cao", ông Tiến nhấn mạnh
Từ cơ sở trên, dự thảo nêu ra kế hoạch tới 2010 và xa hơn, Việt Nam phải là nước trung bình khá trong khu vực về phát triển và ứng dụng công nghệ thông tin Bốn mục tiêu định tính là nhân rộng ứng dụng, hoàn thành xa lộ thông tin quốc gia, chuyên nghiệp hoá nguồn nhân lực, đánh bại mọi âm mưu phản động trong độ công nghệ thông tin và các cuộc chiến tranh điện tử Mục tiêu định lượng là tốc độ phát triển 25-30%/năm của ngành độ công nghệ thông tin
3 Môi trường văn hóa xã hội
Một trong những động cơ khiến con người đi du lịch là để tìm kiếm những điều mới lạ, mở rộng sự hiểu biết của bản thân mình Hiển nhiên du lịch kể từ khi nó hình thành có sự gắn kết chặt chẽ với văn hóa bởi văn hóa giữa các vùng miền, giữa các khu vực là không giống nhau, luôn khơi gợi sự tò mò, kích thích sự khám phá Như vậy du lịch được coi như hành vi thỏa mãn văn hóa và hình thành nên loại hình “du lịch văn hóa” Trong quá trình phát triển, hoạt động du lịch được coi là một hiện tượng xã hội
và bản thân nó sản sinh ra những đặc thù văn hóa trong hành vi ứng xử của những con người tham gia hoạt động du lịch