Tuy nhiên, xét trong mối tương quan giữa hệ thống ngân hàng Việt Nam so với các nước trong khu vực và thế giới thì hệ thống ngân hàng Việt Nam vẫn còn một số điểm cần phải được cải thiện
Trang 1Phân tích một ngành ở Việt Nam 2012 >2020
PHẦN I TỔNG QUAN VỀ NGÀNH NGÂN HÀNG TẠI VIỆT NAM 10 NĂM QUA.
Trong thời gian qua, ngành ngân hàng đã có sự tăng trưởng nhanh chóng cả về số lượng lẫn quy mô Số lượng ngân hàng tăng từ 9 ngân hàng trong năm 1991 lên 44 ngân hàng vào năm 2011 Số lượng ngân hàng tăng thêm tập trung vào 2 khối ngân hàng thương mại cổ phần
và chi nhánh ngân hàng nước ngoài, cho thấy sức hấp dẫn của ngành ngân hàng Việt Nam đối với các nhà đầu tư cũng như các tổ chức quốc tế
Tuy nhiên, xét trong mối tương quan giữa hệ thống ngân hàng Việt Nam so với các nước trong khu vực và thế giới thì hệ thống ngân hàng Việt Nam vẫn còn một số điểm cần phải được cải thiện, đặc biệt về mức độ cạnh tranh khả năng tiếp cận các sản phẩm dịch vụ ngân hàng của hệ thống ngân hàng nội địa
Như vậy đến thời điểm hiện nay hoạt động của hệ thống ngân hàng tại Việt nam khá đa dạng, tạo môi trường cạnh tranh khốc liệt
Theo luật các TCTD Việt Nam: Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan
Ở Mỹ: Ngân hàng là công ty kinh doanh tiền tệ, chuyên cung cấp các dịch vụ tài chính
và hoạt động trong ngành công nghiệp dịch vụ tài chính
PHẦN II PHÂN TÍCH MÔI TRƯỜNG NGÀNH NGÂN HÀNG TẠI VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2000 -2012.
I Môi trường vĩ mô.
1 Môi trường chính trị, pháp luật.
Ngày 7/11/2006, Việt Nam chính thức được kết nạp là thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) Các cam kết gia nhập WTO của Việt Nam trong lĩnh vực ngân hàng đã cho phép các tổ chức tín dụng nước ngoài được hiện diện ở Việt Nam dưới các hình thức khác nhau, mở rộng phạm vi và loại hình cung cấp các dịch vụ ngân hàng, tạo ra một sân chơi bình đẳng cho các ngân hàng Đây vừa là cơ hội cho các ngân hàng Việt Nam đồng thời cũng là thách thức đối với các ngân hàng khi phải chịu áp lực cạnh tranh cao khi gia nhập WTO
Chính phủ Việt Nam đang tiến hành cấu trúc lại hệ thống ngân hàng, tích cực cổ phần hóa Bằng sự phát triển của thị trường tài chính và thị trường chứng khoán hiện nay nhiều ngân hàng đã tận dụng cơ hội cổ phần hóa để nâng cao vốn điều lệ, tăng khả năng cạnh tranh cho mình
Việc thắt chặt chính sách của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam bao gồm việc kiểm soát tín dụng và nguồn cung tiền, cũng như kiểm soát việc tăng lãi suất Tăng trưởng tín dụng chậm lại, ước tính đến giữa tháng 8/2011 ở mức 23,6% tính theo năm và 8,2% tính từ đầu năm đến nay Điều này cho thấy Chính phủ có thể đạt được mục tiêu duy trì tăng trưởng tín dụng ở mức 20% trong năm 2011, giảm từ 32,4% trong năm 2010
Trong tương lai sẽ không có sự phân biệt các tổ chức tín dụng trong nước và ngoài nước trong các lĩnh vực hoạt động của ngân hàng Các chi nhánh ngân hàng nước ngoài được phép
mở rộng mạng lưới và trở thành ngân hàng bán lẽ với công nghệ hiện đại Sự thay đổi này sẽ dẫn đến cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng ngày càng khốc liệt hơn trong cuộc đua đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của nền kinh tế
Các bộ luật liên quan như Luật Cạnh tranh, Luật Ngân hàng, nhiều khái niệm chưa được
rõ ràng, điều này đã dẫn đến sự cạnh tranh không lành mạnh ở các ngân hàng trong những
Trang 2năm vừa qua Sự rắc rối trong khâu quản lý cũng như giải quyết vụ việc không thỏa đáng gây nhiều bức xúc trong dư luận, đồng thời cũng làm tăng thêm tính rủi ro cho ngành ngân hàng Thông tư 19/2010/TT-NHNN sửa đổi Thông tư 13/2010/TT-NHNN ngày 20/5/2010 đã
có những tác động đáng kể đến hệ thống ngân hàng chủ yếu sửa đổi ở nội dung Tỷ lệ cấp tín dụng so với nguồn vốn huy động:
Về tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu –CAR: qui định tăng từ 8-9% nhằm nâng cao năng lực tài chính và đảm bảo an toàn cho hệ thống ngân hàng
Về tác động đến lãi suất: khái niệm nguồn vốn huy động sẽ được chỉnh sửa theo hướng
mở rộng hơn bao gồm thêm 25% tiền gửi không kỳ hạn bổ sung để cho vay, tiền gửi của Kho bạc Nhà nước tại các tổ chức tín dung và các khoản vay của các tổ chức tín dụng có kỳ hạn 3 tháng trở lên
Những sửa đổi trong nội dung Thông tư 19 sẽ giúp giảm áp lực về lãi suất huy động và cho vay đối với ngân hàng.Tuy nhiên, xu hướng lãi suất còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác, trong đó quan trọng nhất là lạm phát, nếu lạm phát cao thì việc giảm lãi suất là rất khó
2 Môi trường kinh tế.
Tăng trưởng và lạm phát
- Tốc độ tăng trưởng kinh tế:
Năm 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011 Tốc độ
TT (%) 6.79 6.89 7.08 7.34 7.79 8.44 8.23 8.46 6.31 5.32 6.78 5,89 Việt Nam là một trong những nước có tốc độ tăng trưởng nhanh ở châu Á, với tiềm năng tăng trưởng to lớn trong các năm tiếp theo, đặc biệt là trong giai đoạn 2005 – 2007, đạt tốc độ tăng trưởng trung bình là 8.37% Tuy giai đoạn 2008 -2011 nền kinh tế Việt Nam có suy giảm
do ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế thế giới năm 2008 nhưng cũng bắt đầu tăng trưởng trở lại vào năm 2012 trở đi
Cơ hội: Tạo cơ hội phát triển cho các ngành nói chung và ngành ngân hàng nói riêng.
- GDP bình quân đầu người của VN cũng tăng hơn 03 lần trong vòng 10 năm qua Năm 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011 TNBQ
(USD) 402 413 440 492 553 639 724 835 1024 1100 1160 1.300
Cơ hội: Thu nhập ngày càng cao, đời sống người dân ngày càng cải thiện làm cho nhu
cầu sử dụng các dịch vụ của ngành ngân hàng ngày càng tăng lên
- Lạm phát ở nước ta từ năm 2000 đến nay luôn ở mức khá cao Từ năm 2000 đến nay, lạm phát luôn cao hơn tốc độ tăng trưởng kinh tế
Năm 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011 Lạm
phát -0.6 0.8 4.0 3.0 9.5 8.4 6.6 12.6 19.89 6.52 11.75 18.6
- Lạm phát cao và bất ổn kinh tế vĩ mô là bất lợi lớn đối với khuyến khích và thu hút đầu tư; làm cho môi trường kinh doanh ở nước ta kém cạnh tranh hơn so với các nước khác Lạm phát cao, biến động liên tục đã làm gia tăng chi phí sản xuất, giảm lợi nhuận; làm cho các kế hoạch đầu tư trung và dài hạn trở nên rủi ro hơn và không dự tính được một cách chắc chắn
Hệ quả là, các doanh nghiệp nói chung không những phải cắt giảm đầu tư phát triển, mà có thể phải cắt giảm cả quy mô sản xuất hiện hành để đối phó với lạm phát cao
Trang 3 Tín dụng và vấn đề thanh khoản của các ngân hàng: trước những dấu hiệu gia tăng
lạm phát trong những năm vừa qua Năm 2011, Ngân hàng Nhà nước đã theo đuổi chính sách tiền tệ thắt chặt nhằm hạn chế ảnh hưởng tiêu cực của nó đến ngành Ngân hàng cũng như đến nền kinh tế
- Đầu cơ và biến động giá cả: Bối cảnh kinh tế thế giới nhiều biến động như diễn biến
phức tạp của giá dầu mỏ, sự “nhảy múa” đến chóng mặt của giá vàng trong nước cũng như thế giới, “cơn sốt” giá lương thực…đã tạo ra môi trường thuận lợi cho các hoạt động đầu cơ quốc
tế Một số nhà đầu cơ và tập đoàn tài chính đa quốc gia với tài sản hàng nghìn tỉ USD đang thao túng thị trường giao dịch hàng hóa thiết yếu và đầu vào sản xuất quan trọng lần lượt là dầu thô, lương thực và vàng, tiếp đến là tiền tệ và tài sản tài chính của các quốc gia đã ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động của các Ngân hàng
3 Môi trường nhân khẩu học:
Việt Nam là một trong những nước có dân số đông nhất khu vực Châu Á nói chung và Đông Nam Á nói riêng Năm 2011, dân số Việt Nam vào khoảng 86,9 triệu người Tuy nhiên khác với các nước khác trong khu vực, trình độ của người dân chưa được nâng cao Vì vậy, việc nhận thức về những lợi ích của ngân hàng còn thấp Đây là một trong những yếu tố làm hạn chế khả năng tiếp cận của người dân với các sản phẩm dịch vụ của Ngân hàng Thêm vào
đó, tập quán sử dụng tiền mặt trong lưu thông còn rất phổ biến nên đã ảnh hưởng không tốt đến hoạt động thanh toán qua tài khoản của Ngân hàng Theo số lệu của Ngân hàng Nhà nước, đến tháng cuối năm 2011, cả nước chỉ có 20% người dân có tài khoản ngân hàng Qua số liệu trên có thể cho thấy rằng, số lượng người dân Việt Nam có tài khoản ngân hàng vẫn còn khá khiêm tốn Trong xu hướng phát triển hiện nay, việc thanh toán các khoản phí như: điện, nước, điện thoại, lương, nộp thuế,…được thực hiện thông qua tài khoản Ngân hàng Nhưng do tập quán sử dụng tiền mặt còn rất phổ biến nên đây cũng là một trong những nhân tố làm giảm lợi nhuận của Ngân hàng Vì vậy để có thể khai thác tốt cơ hội này, các ngân hàng tại Việt Nam
đã thực hiện những chương trình làm thẻ miễn phí cho người dân
4 Môi trường văn hóa xã hội:
Trong những năm gần đây, kinh tế Việt Nam ngày càng phát triển Điều đó thể hiện qua thu nhập bình quân hàng năm của người dân ngày càng được nâng cao Trong năm 2011, thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam đạt khoảng 26 triệu/năm Trong bối cảnh kinh tế được phục hồi như hiện nay thì thu nhập bình quân của người dân sẽ tiếp tục tăng trong thời gian tới Thu nhập của người dân tăng, họ có xu hướng tiếp cận với các dịch vụ của ngân hàng nhiều hơn Cụ thể người dân sẽ có nhu cầu gửi tiền nhiều hơn do tận dụng cơ hội từ số tiền nhàn rỗi Đây có thể là cơ hội cho các ngân hàng trong công tác huy động vốn của Ngân hàng
II Môi trường ngành
1 Sức ép từ phía khách hàng
Khách hàng của Ngân hàng có hai loại, đó là khác hàng đi vay vốn và khách hàng đóng vai trò là nhà cung cấp vốn – tức người đi gửi tiền Đối với khách hàng đóng vai trò cung cấp vốn thì quyền thương lượng khá mạnh Bởi sự phát triển và tồn tại của Ngân hàng luôn dựa trên đồng vốn huy động được của khách hàng Nên nếu không còn thu hút được dòng vốn của khách hàng thì Ngân hàng tất nhiên sẽ không thể phát triển Trong khi đó nguy cơ thay thế của Ngân hàng ở Việt Nam đối với khách hàng tiêu dùng là khá cao Với chi phí chuyển đổi thấp, khách hàng gần như không mất mát gì nếu muốn chuyển nguồn vốn của mình ra khỏi Ngân hàng đang đầu từ và chuyển sang đầu tư một Ngân hàng khác.Đối với khách hàng đi vay vốn thì lại khác, quyền lực thương lượng của họ yếu hơn so với các Ngân hàng Khi vay vốn,
Trang 4khách hàng cần phải trình bày các lý do, giấy tờ, chứng minh tài chính… và việc có vay được vốn hay không còn phải phụ thuộc vào quyết định của Ngân hàng
2 Sức ép từ nhà cung cấp
Các Ngân hàng huy động vốn từ phía các nhà cung cấp: dân chúng, cổ đông, các danh nghiệp, các ngân hàng khác, các đối tác liên minh chiến lược… và chịu sự tác động trực tiếp
từ các nhà cung ứng này
- Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Hệ thống các Ngân hàng thương mại ở Việt Nam phụ
thuộc và bị tác động bởi các chính sách của Ngân hàng Nhà nước thông qua tỷ lệ dự trữ bắt buộc, lãi suất chiết khấu, chính sách tỷ giá, chính sách về lãi suất và quản lý dự trữ ngoại tệ… Ngoài ra do mức độ tập trung ngành của ngành Ngân hàng, đặc điểm hàng hóa/dịch vụ tính chuyên biệt hóa sản phẩm/dịch vụ và khả năng tích hợp của các ngân hàng mà quyền lực thương lượng lúc này nghiêng về Ngân hàng Trung Ương
- Các tổ chức, khách hàng cá nhân gửi tiền tại ngân hàng: Mặc dù vai trò của các tổ chức
và khách hàng cá nhân gửi tiền tại Ngân hàng là rất lớn đối với hoạt động kinh danh của Ngân hàng nhưng quyền lực thương lượng của họ lại không cao do mức độ tập trung không cao và đặc điểm sản phẩm hàng hóa/dịch vụ
- Huy động vốn từ các ngân hàng khác: Trong ngành, các Ngân hàng liên doanh, liên kết
với nhau để hỗ trợ cùng nhau, do yếu tố về mức độ tập trung nên quyền lực thương lượng của các Ngân hàng không có quá nhiều sự khác biệt Hiện có 4 Ngân hàng có tiếng nói lớn nhất đó là: Ngân hàng NN và phát triển nông thôn Việt Nam Agribank, Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam BIDV, Ngân hàng TMCP công thương Việt Nam Viettinbank, Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam Vietcombank
3 Sức ép từ sản phẩm thay thế: Về cơ bản, các sản phẩm và dịch vụ của ngành ngân
hàng Việt Nam có thể xếp vào 5 loại: Là nơi nhận các khoản tiền (lương, trợ cấp, cấp dưỡng…) , giữ tiền (tiết kiệm…), thực hiện các chức năng thanh toán, cho vay tiền và hoạt động kiều hối
- Đối với khách hàng doanh nghiệp, nguy cơ ngân hàng bị thay thế không cao lắm do
đối tượng khách hàng này cần sự rõ ràng cũng như các chứng từ, hóa đơn trong các gói sản phẩm và dịch vụ của ngân hàng Nếu có phiền hà xảy ra trong quá trình sử dụng sản phẩm, dịch vụ thì đối tượng khách hàng này thường chuyển sang sử dụng một ngân hàng khác vì những lý do trên thay vì tìm tới các dịch vụ ngoài ngân hàng
- Đối với khách hàng tiêu dùng thì lại khác Ngoài hình thức gửi tiết kiệm ở ngân hàng,
người tiêu dùng Việt Nam còn có khá nhiều lựa chọn khác như giữ ngoại tệ, đầu tư vào chứng khoán, các hình thức bảo hiểm, đầu tư vào kim loại quý (vàng, kim cương…) hoặc đầu tư vào nhà đất hoặc các khoản đầu tư khác Vào thời điểm hiện tại, khi lạm phát gia tăng, lãi suất tiết kiệm bị kìm kẹp, bất động sản đóng băng, giá vàng lại đang sốt, tăng giảm đột biến trong ngày, trong khi đô la Mỹ ở thị trường tự do cũng biến động thì người dân có xu hướng rút tiền
từ ngân hàng để đầu cơ cho những vật đem lại giá trị cao và nhanh hơn Do đó sự đe doạ từ các sản phẩm/dịch vụ thay thế đối với các ngân hàng là rất lớn
4 Mối đe dọa từ các đối thủ cạnh tranh.
- Sự xuất hiện của các ngân hàng nước ngoài: Hiện tại, chỉ có 5 ngân hàng 100% vốn
nước ngoài (HSBC, Standard Chartered (Anh), ANZ (Úc-New Zealand), Shinhan (Hàn Quốc), Hong Leong Bank của Malaysia) hoạt động tại Việt Nam Dù thị phần của khối ngân hàng này còn khiêm tốn, nhưng với ưu thế về vốn, kinh nghiệm, kỹ năng quản trị, công nghệ, nhân sự,
họ là những đối thủ đáng gờm
Trang 5- Sự phát triển của hệ thống ngân hàng trong nước: Trong 20 năm qua, số lượng ngân
hàng trong nước đã tăng lên đáng kể Từ chỗ 9 ngân hàng (1991), đến tháng 10.2011, thị trường có tổng cộng 44 ngân hàng nội địa (5 ngân hàng thương mại quốc doanh, 39 ngân hàng thương mại cổ phần) Các ngân hàng này đang không ngừng phát triển cả về quy mô tài sản lẫn vốn điều lệ
Với đà tăng này, chỉ riêng việc cạnh tranh giành thị phần huy động và thị phần cho vay giữa các ngân hàng nội địa cũng đã rất khốc liệt Hiện nay, hơn 60% thị phần huy động lẫn cho vay đều nằm trong tay các ngân hàng quốc doanh Do đó, cùng với sự gia tăng về số lượng ngân hàng, miếng bánh dành cho các ngân hàng thương mại cổ phần sẽ càng bị thu nhỏ
5 Mối đe dọa từ các đối thủ tiềm ẩn
Trong giai đoạn nền kinh tế có nhiều biến động, nhưng, mức lợi nhuận mà các ngân hàng công bố hàng năm là khá ấn tượng
Như vậy, có thể thấy tiềm năng phát triển cũng như khả năng sinh lời của ngành ngân hàng vẫn còn khá cao và thu hút nhiều doanh nghiệp muốn gia nhập ngành.Tuy nhiên, tính đến thời điểm hiện tại, rào cản gia nhập ngành ngân hàng còn rất cao do sự trung thành của khách hàng về thương hiệu, lợi thế chi phí tuyệt đối và tính kinh tế theo qui mô, chi phí chuyển đổi, qui định của chính phủ
- Sự trung thành về nhãn hiệu: Hiện nay các ngân hàng đều đang cố gắng tạo ra sự
trung thành nhãn hiệu bằng việc quảng cáo liên tục nhãn hiệu và tên tuổi của mình thông qua các chiêu marketing, tổ chức tài trợ cho các sự kiện, nhấn mạnh vào chất lượng sản phẩm, và dịch vụ hậu mãi với quà tặng, khuyến mại, bốc thăm trúng thưởng Sự trung thành nhãn hiệu này sẽ gây khó khăn cho những người mới nhập cuộc muốn chiếm thị phần của các ngân hàng hiện tại
- Lợi thế chi phí tuyệt đối: Một khi các lợi thế về chi phí là đáng kể trong ngành thì
những người nhập cuộc phải ở vào tình thế, hoặc phải nhập cuộc với qui mô nhỏ và bỏ mất lợi thế về chi phí, hoặc phải chấp nhận mạo hiểm để nhập cuộc với qui mô lớn và chịu chi phí vốn lớn Và rủi ro hơn nữa có thể đến với người nhập cuộc qui mô lớn đó là khi nguồn cung sản phẩm tăng lên sẽ làm giảm giá điều đó gây ra sự trả đũa mãnh liệt của các ngân hàng hiện tại Như vậy khi các ngân hàng hiện tại có được tính kinh tế về qui mô thì đe dọa nhập cuộc giảm đi
- Chi phí chuyển đổi: hiện nay chi phí chuyển đổi giữa các ngân hàng không phải là
cao nhưng gây ra những bất tiện khi chuyển đổi Điều này đã kìm giữ chân khách hàng với ngân hàng kể cả khi sản phẩm của ngân hàng mới gia nhập tốt hơn
- Các qui định của Chính phủ: Về lịch sử, qui định của chính phủ đã tạo thành một rào
cản nhập cuộc lớn trong nhiều ngành Với ngành ngân hàng thì điều kiện thành lập ngân hàng mới ngày càng được siết chặt gây ra rất nhiều khó khăn với những ngân hàng muốn được thành lập (Quyết định 24/2007/QĐ-NHNN quy định điều kiện thành lập ngân hàng mới, mức vốn điều lệ tối thiểu của một ngân hàng thương mại cổ phần đô thị tăng từ 70 tỷ đồng lên 1.000 tỷ đồng Ngoài ra, mỗi ngân hàng phải có ít nhất 100 cổ đông, trong đó mỗi DN là cổ đông sáng lập phải có ít nhất 500 tỷ đồng vốn chủ sở hữu và phải đảm bảo làm ăn có lãi trong vòng 3 năm liên tiếp trước khi xin thành lập ngân hàng Trong năm 2010, ngân hàng Nhà nước
đã ra thông báo dự kiến yêu cầu vốn tối thiểu để lập ngân hàng trong năm 2012 là 5.000 tỷ đồng, và đến năm 2015, yêu cầu này sẽ được nâng lên 10.000 tỷ đồng)
Những nhân tố chiến lược của ngành ngân hàng, cho thấy những nhân tố này chiếm một
vị trí quan trọng trong sự phát triển của ngành cũng như ảnh hưởng không nhỏ đến môi trường kinh doanh trong ngành.Những cơ hội và thách thức mà ngành phải đối mặt cho ta thấy tiềm
Trang 6năng và triển vọng phát triển của ngành trong thời gian tới, và thị trường ngân hàng với những đối thủ mới xuất hiện sẽ ngày càng sôi động,đua tranh và quyết liệt
Phần II: DỰ ĐOÁN MÔI TRƯỜNG NGÀNH NGÂN HÀNG GIAI ĐOẠN 2012 -2020.
1 Phân tích môi trường bên ngoài:
a Môi trường chính trị, luật pháp:
- Nhà nước coi ngành tài chính là ngành kinh tế mũi nhọn, được Nhà nước ưu tiên, quan tâm hỗ trợ và khuyến khích phát triển, đã ban hành nhiều chính sách để phát triển:
+ Thông qua việc ban hành Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Luật Tổ chức tín dụng, NHNN cũng đã thể hiện quyết tâm cải thiện tính minh bạch và khả năng quản trị của các Ngân hàng trong nước, tập trung vào việc đẩy mạnh tổ chức quản lý các TCTD nhằm tiến gần hơn với chuẩn quốc tế
- Chính trị Việt Nam luôn luôn giữ được ổn định, tạo niềm tin cho các doanh nghiệp trong và ngoài nước yên tâm đầu tư, hoạt động sản xuất kinh doanh
- Việt Nam hội nhập mạnh mẽ vào nền kinh tế thế giới tạo cơ hội bình đẳng cho các ngân hàng nước ngoài đầu tư ở Việt Nam, tạo áp lực mạnh mẽ cho các ngân hàng trong nước
- Ngân hàng Nhà nước kiển soát các hoạt động của toàn hệ thống ngân hàng tạo cơ sở pháp lý cho hoạt động kinh doanh tiền tệ của các ngân hàng thương mại cổ phần, ngân hàng liên doanh và Ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam
- Tầm nhìn đến năm 2020 là xây dựng “Một hệ thống các TCTD vững mạnh, năng động
và một cơ sở hạ tầng tài chính hỗ trợ đủ năng lực đáp ứng các nhu cầu về tài chính và dịch vụ ngân hàng ngày càng gia tăng của nền kinh tế, hội nhập sâu hơn với khu vực và quốc tế, tiến lên ngang tầm với các quốc gia dẫn đầu nhóm nước có thu nhập trung bình trong khu vực ASEAN”
Cơ hội: Xây dựng được ngành tài chính thành ngành Kinh tế mũi nhọn của đất nước
b Môi trường kinh tế:
Kinh tế Việt Nam đến 2020 hướng tới một nước công nghiệp phát triển theo hướng hiện đại, có thu nhập trung bình (sau đó đến giữa thế kỷ là nước công nghiệp phát triển, có thu nhập cao), và vai trò của khu vực ngân hàng đối với việc thực hiện mục tiêu trên sẽ chi phối xu hướng phát triển hệ thống ngân hàng
Tốc độ phát triển kinh tế 7 - 8%/năm đã tạo ra nhu cầu mới cũng như cơ hội mới cho các doanh nghiệp Điều này đã đòi hỏi những dịch vụ tài chính hiệu quả Đồng thời, sự vững mạnh của các doanh nghiệp, cá nhân và hộ gia đình sẽ là nhân tố chính để duy trì sự ổn định của cả
hệ thống tài chính
Nền kinh tế phát triển và hội nhập kinh tế quốc tế, hoạt động ngân hàng có nhiều cơ chế khuyến khích về vốn, công nghệ, thị trường, tăng cường quản lý các doanh nghiệp, định hướng kinh doanh đạt kết quả cao
Cơ hội:
Trang 7- Tạo cơ hội cho ngành ngân hàng phát triển, đáp ứng mục tiêu phát triển đất nước.
- Nhu cầu sử dụng sản phẩm dịch vụ ngân hàng ngày càng cao
c Môi trường văn hóa, xã hội
- Nguồn nhân lực trẻ, dồi dào
- Chất lượng cuộc sống người dân được nâng cao ảnh hưởng tốt sản phẩm huy động vốn
và hoạt động tín dụng, ví dụ: tín dụng hộ gia đình, tín dụng tiêu dùng cá nhân, tín dụng bất động sản
- Chất lượng dịch vụ tài chính ngân hàng ngày càng chuyên nghiệp, nâng cao, đápứng tốc độ phát triển của ngành
d Môi truờng công nghệ
- Việc ứng dụng công nghệ ngân hàng mới, xu hướng chuyển giao công nghệ trong lĩnh vực ngân hàng ngày càng cao như: dịch vụ internet banking, mobile banking, thanh toán điện tử
- Hiện đại hóa công nghệ ngân hàng trong khâu thanh toán và các nghiệp vụ cơ bản, thanh toán điện tử chương trình kế toán ngân hàng, quản lý dữ liệu trên máy tính
e Môi trường kinh tế quốc tế
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và tự do hóa ngày càng gia tăng, những bất ổn khó lường của thị trường toàn cầu ngày càng mạnh mẽ hơn và tiến bộ công nghệ đang có những tác động mạnh đến sự phát triển hệ thống tài chính trong nước và toàn cầu, cách tiếp cận của các định chế tài chính Hội nhập nền kinh tế quốc tế là cơ hội và thức đối với hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam
Cơ hội - đe dọa
Cơ hội:
- Xây dựng được ngành công nghệ thông tin thành ngành Kinh tế mũi nhọn của đất nước
- Tạo cơ hội cho ngành CNTT phát triển:
- Nhu cầu tiêu thụ sản phẩm ngày càng cao
- Có được được nguồn nhân lực đạt chuẩn về chuyển môn và trình độ ngoại ngữ, đáp ứng được nhu cầu của cả doanh nghiệp trong và ngoài nước
- Nhu cầu sử dụng sản phẩm công nghệ cao được sản xuất trong nước, thương mại điện
tử tăng
Đe dọa:
- Các sản phẩm trong nước chịu áp lực cạnh tranh mạnh mẽ của hàng ngoại
Trang 81 Phân tích môi trường ngành:
Phân tích tính hấp dẫn của ngành: Để đánh giá mức độ hấp dẫn của ngành ngân
hàng trong giai đoạn này, thông qua một số phương pháp:
Mô hình 5 áp lực cạnh tranh của Michael Porter
a Đối thủ cạnh tranh trong ngành: Ngành ngân hàng trong giai đoạn này đã được tập trung vào một số Ngân hàng lớn của Việt Nam và một số doanh nghiệp nước ngoài mạnh.
Các Ngân hàng nước ngoài: Theo tiến trình hội nhập Việt Nam sẽ mở cửa cho các công
ty nước ngoài đâu tư vào lĩnh vực tài chính Với ưu thế về vốn, kinh nghiệm, kỹ năng quản trị, công nghệ, nhân sự, họ là những đối thủ đáng gờm
Cấu trúc của hệ thống ngân hàng trong nước ngày càng đa dạng về hình thức sở hữu và loại hình hoạt động Tuy nhiên, đã có sự phát triển không đều của các loại hình định chế này Một số Ngân hàng có quy mô lớn về vốn, năng lực cạnh tranh tốt, chiếm một thị phần đáng kể trong khu vực ngân hàng, nhưng vẫn tồn tại một số các Ngân hàng có quy mô rất nhỏ, khó có thể cạnh tranh hoạt động và trụ vững về tài chính trong dài hạn; các định chế tài chính phi ngân hàng phát triển ở mức hạn chế, thiếu các định chế tài chính vi mô
Vấn đề qui mô và năng lực tài chính của các định chế tài chính còn rất nhỏ bé so với các nước trong khu vực và trên thế giới Cho tới thời điểm hiện nay, chưa có một định chế tài chính nào có phạm vi hoạt động mang tính khu vực và toàn cầu
b Năng lực thương lượng của người mua:
Đối với khách hàng đóng vai trò cung cấp vốn thì quyền thương lượng khá mạnh do lúc này khách hàng có nhiều sự lựa chọn hơn Và chi phí chuyển đổi thấp, khách hàng dễ dàng chuyển hoạt động đầu tư của mình từ Ngân hàng sang Ngân hàng khác
Đối với khách hàng đi vay vốn thì lại khác, quyền lực thương lượng của họ yếu hơn so với các Ngân hàng
Năng lực thương lượng của nhà cung cấp:
Ngành Ngân hàng là một ngành có mức độ tập trung cao nên quyền lực thương lượng lúc này nghiêng về Ngân hàng
Tổ chức và khách hàng cá nhân gửi tiền tại Ngân hàng là rất lớn đối với hoạt động kinh danh của Ngân hàng nhưng quyền lực thương lượng của họ lại không cao do mức độ tập trung không cao về đặc điểm sản phẩm hàng hóa/dịch vụ
Các sản phẩm thay thế:
Ngày càng xuất hiện nhiều kênh đầu tư tài chính nên nguy cơ đe dọa từ các sản phẩm thay thế là rất cao
Nguy cơ của các đối thủ tiềm tàng:
Sự trung thành về nhãn hiệu: sẽ gây khó khăn cho những người mới nhập cuộc muốn chiếm thị phần của các ngân hàng hiện tại, do các Ngân hàng ngày càng tăng cường khả năng chăm sóc khách hàng, tạo nên sự trung thành tương đối cao trong ngành
Lợi thế chi phí tuyệt đối: Cạnh tranh gay gắt từ khối Ngân hàng nước ngoài sẽ buộc các Ngân hàng trong nước phải tiếp tục cải thiện về công nghệ, quản trị doanh nghiệp và tính minh bạch Lợi thế về công nghệ chính là nền tảng để các Ngân hàng nước ngoài cung cấp được các
Trang 9sản phẩm, dịch vụ tinh vi và hữu dụng hơn, từ đó phát triển mạnh mảng ngân hàng và đạt được biện lợi nhuận cao hơn so với các NH trong nước
Một khi các lợi thế về chi phí là đáng kể trong ngành thì những người nhập cuộc phải ở vào tình thế, hoặc phải nhập cuộc với qui mô nhỏ và bỏ mất lợi thế về chi phí, hoặc phải chấp nhận mạo hiểm để nhập cuộc với qui mô lớn và chịu chi phí vốn lớn Và rủi ro hơn nữa có thể đến với người nhập cuộc qui mô lớn đó là khi nguồn cung sản phẩm tăng lên sẽ làm giảm giá điều đó gây ra sự trả đũa mãnh liệt của các ngân hàng hiện tại Như vậy khi các ngân hàng hiện tại có được tính kinh tế về qui mô thì đe dọa nhập cuộc giảm đi
Các qui định của Chính phủ: trong các năm đến, các quy định của Chính phủ về việc thành lập Ngân hàng mới khó khăn hơn, sẽ là giảm khả năng thâm nhập của các dối thủ cạnh tranh Những nhân tố chiến lược của ngành ngân hàng, cho thấy những nhân tố này chiếm một
vị trí quan trọng trong sự phát triển của ngành cũng như ảnh hưởng không nhỏ đến môi trường kinh doanh trong ngành.Những cơ hội và thách thức mà ngành phải đối mặt cho ta thấy tiềm năng và triển vọng phát triển của ngành trong thời gian tới, và thị trường ngân hàng với những đối thủ mới xuất hiện sẽ ngày càng sôi động,đua tranh và quyết liệt
Các nhóm chiến lược trong ngành
Ngành ngân hàng Việt Nam được chia ra thành 2 nhóm chiến lược:
• Các Ngân hàng lớn trong nước: Các Ngân hàng lớn của Việt Nam Có ưu thế về thị
trường, uy tín và thương hiêu lâu năm, giá cả dịch vụ cạnh tranh với các công ty nước ngoài
• Các Ngân hàng nước ngoài: Các Ngân hàng này thường có ưu thế về vốn, công
nghệ và trình độ quản lý
Chu kỳ ngành: Ngành Ngân hàng tại Việt Nam đang trong giai đoạn tái tổ chức.
Trong ngành sẽ có sự cạnh tranh khốc liệt giữa các ngân hàng Dần dần các ngân hàng nhỏ bị các ngân hàng lớn thâu tóm, sáp nhâp, hình thành nên những ngân hàng giàu mạnh Cạnh tranh lại các tập đoàn tài chính đa quốc gia đầu tư vào Việt Nam
Phân tích nhân tố then chốt thành công:
a Công nghệ: Yếu tố công nghệ quyết định sự thành bại của doanh nghiệp trong lĩnh
vực CNTT Trong lĩnh vực CNTT, chỉ cần công nghệ thay đổi có khả năng dẫn đến sự phát
triển thịnh vượng của doanh nghiệp hay sự phá sản của doanh nghiệp đó
b Vốn: Vốn lớn hỗ trợ các doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp đầu tư, nghiên cứu, cải
tiến, phát
b Lực lượng dẫn dắt sự thay đổi:
Chính sách của Chính phủ
Công nghệ
- Hạ tầng tài chính phát triển chưa đầy đủ (công nghệ, hệ thống thanh toán, thị trường liên ngân hàng ) là thách thức không nhỏ để phát triển một khu vực ngân hàng ổn định
- Chất lượng nguồn nhân lực trong khu vực ngân hàng còn nhiều bất cập, số lượng cán bộ có kỹ năng nghiệp vụ cũng như quản trị điều hành và hoạch định chính sách tốt còn ít, các chương trình đào tạo còn chưa thật sát với yêu cầu thực tế Bên cạnh
đó, vấn đề đạo đức nghề nghiệp hiện cũng đang là một thách thức lớn
Trang 101 Điểm mạnh (S – Strength)
- Thứ nhất: Các NHTM Việt Nam trong những năm qua không những gia tăng mạng lưới hoạt động mà tốc độ tăng của vốn điều lệ cũng rất cao
- Thứ hai: Các NHTM Việt Nam đều đang từng bước hiện đại hóa, ứng dụng những phần mềm công nghệ hiện đại trong việc quản lý ngân hàng nói chung và trong hoạt động nghiệp
vụ NHQT nói riêng
- Thứ ba: Tích cực trong việc đa dạng hóa các sản phẩm dịch vụ NHQT
- Thứ tư: Am hiểu khách hàng trong nước và có một lượng lớn khách hàng truyền thống
- Thứ năm: Phí dịch vụ của các NHTM Việt Nam là tương đối thấp so với các ngân hàng nước ngoài
2 Điểm yếu
(W-Weaknesses)
- Thứ nhất: Năng lực của các NHTM Việt Nam còn quá thấp so với yêu cầu hội nhập
- Thứ hai: Mức phát triển công nghệ của các NHTM Việt Nam chưa đồng đều
- Thứ ba: Năng lực quản lý, điều hành trong lĩnh vực nghiệp vụ NHQT còn nhiều hạn chế
- Thứ tư: Chất lượng nguồn nhân lực theo tiêu chuẩn quốc tế chưa cao
- Thứ năm: Mức độ đa dạng của nghiệp vụ NHQT chưa cao, chưa đồng đều ở các NH
3 Cơ hội (O – Opportunities)
- Thứ nhất: Việc Việt Nam gia nhập WTO sẽ làm tăng uy tín và vị thế của các NHTM Việt Nam trên thị trường thế giới
- Thứ hai: Mở cửa nền kinh tế giúp các NHTM Việt Nam mở rộng quan hệ hợp tác, liên doanh, liên kết với các NH nước ngoài
- Thứ ba: Hội nhập kinh tế vừa là động lực vừa là sức ép, buộc các NHTM Việt Nam phải nâng cao năng lực phát triển nghiệp vụ NHQT
- Thứ tư: Hoạt động xuất nhập khẩu Việt Nam phát triển mạnh mẽ, đây là cơ sở thúc đẩy các nghiệp vụ NHQT phát triển, đặc biệt là thanh toán quốc tế và tài trợ XNK
4 Thách thức (T-Threats)
- Thứ nhất: Mở cửa hội nhập kinh tế quốc tế làm tăng số lượng các ngân hàng có tiềm lực mạnh về tài chính, công nghệ, trình độ quản lý
- Thứ hai: Trong quá trình hội nhập, hệ thống ngân hàng Việt Nam phải chịu tác động rất lớn của thị trường tài chính thế giới.
- Thứ ba: Tỷ giá hối đoái còn biến động