Tổng quan về chất ngọt nhân tạo (đường hóa học) Đường hóa học còn được gọi chất tạo ngọt nhân tạo là hóa chất tổng hợp dùng thay thế đường mía (đường cát, sucrose) vì có độ ngọt gấp trăm lần (và có thể hơn thế nữa) so với vị ngọt của đường tự nhiên. Đặc biệt, đường hóa học không cung cấp hoặc cung cấp rất ít năng lượng aspartame Aspartame có cấu trúc dipeptid, được cấu tạo từ 2 acid amin là acid aspartic và phenylalanin, hai thành phần này đều tồn tại trong tự nhiên. Tuy nhiên bản thân aspartame không tồn tại trong tự nhiên. Nó được điều chế thông qua các quá trình lên men và tổng hợp Aspartame có cấu trúc dipeptid, được cấu tạo từ 2 acid amin là acid aspartic và phenylalanin, hai thành phần này đều tồn tại trong tự nhiên. Tuy nhiên bản thân aspartame không tồn tại trong tự nhiên. Nó được điều chế thông qua các quá trình lên men và tổng hợp Aspartame có cấu trúc dipeptid, được cấu tạo từ 2 acid amin là acid aspartic và phenylalanin, hai thành phần này đều tồn tại trong tự nhiên. Tuy nhiên bản thân aspartame không tồn tại trong tự nhiên. Nó được điều chế thông qua các quá trình lên men và tổng hợp Liều dùng cho phép của aspartame mỗi ngày (ADI) là nhỏ hơn hoặc bằng 40mgkg thể trọng
Trang 1CHẤT NGỌT NHÂN TẠO -ĐƯỜNG HÓA HỌC
Trang 2Tổng quan về chất ngọt nhân tạo (đường hóa học)
Đường hóa học còn được gọi chất tạo ngọt nhân tạo là hóa chất tổng hợp dùng thay thế đường mía (đường cát, sucrose) vì có độ ngọt gấp trăm lần (và có thể hơn thế nữa) so với vị ngọt của đường tự nhiên Đặc biệt, đường hóa học không cung cấp hoặc cung cấp rất ít năng lượng
Trang 3MỘT SỐ LOẠI ĐƯỜNG HÓA HỌC
Trang 4 Những đường hóa học đang được phép sử dụng
Trang 5 Saccharine
Năm 1879
Trang 6Tính chất hóa học
CTPT:
C7H5NO3S Cách tổng hợp
Có tinh thể dạng bột trắng,
ổn định cả ở nhiệt độ thấp
và cao (3000 C), tan trong nước và ethanol, có độ ngọt gấp 300 lần sucrose
Được tổng hợp từ toluen
và chlorosulfonic acid
Liều saccharine dùng hàng ngày: 5mg/kg/ngày
Trang 7 Cyclamate
Được tổng hợp năm 1937 và công bố dạng thương phẩm năm 1950
Được tổng hợp bằng cách sulfur hóa các chất
như chlorosulfonic acid, sulfamic acid , Tạo
thành cyclohexylamine
Cyclamate có độ ngọt thấp nhất trong các chất tạo
ngọt nhân tạo, từ 30 - 50 lần so với đường kính
Mức tiêu thụ hằng ngày được chấp nhận (ADI):
9mg/ kg thể trọng (tiêu chuẩn châu Âu)
Trang 8 aspartame
Aspartame ngọt hơn đường 150-200 lần so với sucrose
Aspartame có cấu trúc dipeptid, được cấu tạo từ 2 acid amin là acid aspartic và phenylalanin, hai thành phần này đều tồn tại trong tự nhiên Tuy nhiên bản thân aspartame không tồn tại trong tự nhiên Nó được điều chế thông qua các quá trình lên men và tổng hợp
Liều dùng cho phép của aspartame mỗi ngày (ADI) là nhỏ hơn hoặc bằng 40mg/kg thể trọng
Đường hóa học có tác dụng kích thích các thụ thể vị giác tốt hơn nên với một lượng nhỏ cũng tạo nên kích thích mạnh, đó là lý do tại sao mà người ta nói đường hóa học có thể ngọt hơn đường tự nhiên rất nhiều lần
Trang 9 Lợi ích:
Đường hoá học là loại chất có tác dụng mạng đến vị ngọt, không có giá trị dinh dưỡng
và cũng khó chuyển hoá hơn đường tự nhiên
Độ ngọt cao và chi phí thấp nên đường hoá học cũng được sử dụng trong các quán ăn, các nhà máy chế biến thực phẩm với quy mô lớn nhằm giảm giá thành sản phẩm với liều lương cho phép
Trang 10 Tác hại
Trang 11 Tác hại
Ăn phải thực phẩm chứa nhiều đường hóa học có thể gây cảm giác nhức đầu, chóng mặt,
ù tai, buồn nôn hoặc có thể dị ứng nếu dùng với số lượng lớn
Đối với trẻ em việc sử dụng đường hóa học nhiều sẽ kìm hãm sự phát triển của trẻ, thậm chí sinh ra bệnh tật hay suy dinh dưỡng, hoặc trí não không phát triển bình thường
Trang 12 BIỆN PHÁP KHẮC PHỤC
Trang 13 BIỆN PHÁP KHẮC PHỤC
Trang 14• Người tiêu dùng nên sử dụng có sản phẩm nhãn mác rõ ràng, không ăn các quán ăn vỉa hè