Những năm qua, việc quản lý thuế của thành phố Đồng Hới nói chung, Chi cục Thuế Thành phố Đồng Hới nói riêng đã có nhiều thành tựu, đóng góp tích cực vào nguồn thu ngân sách cho thành phố. Tuy nhiên, vấn đề nợ thuế còn nhiều tồn tại, quá trình triển khai công tác quản lý nợ thuế cũng còn gặp phải một số vướng mắc, khó khăn nên tình trạng nợ đọng thời gian qua vẫn còn ở mức cao, gây thất thu cho NSNN. Đứng trước thực trạng đó, công tác quản lý nợ thuế của toàn Ngành Thuế nói chung và Chi cục Thuế thành phố Đồng Hới nói riêng đang là vấn đề cấp bách, đòi hỏi phải có những biện pháp khả thi để thực hiện tốt công tác này. Xuất phát từ những lý do trên, tác giả lựa chọn nghiên cứu đề tài: “Quản lý nợ thuế tại Chi cục Thuế thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình” với mục đích vận dụng những kiến thức học được vào thực tiễn của Chi cục Thuế thành phố Đồng Hới và qua đó có những đóng góp khoa học thiết thực với hoạt động quản lý của cơ quan Thuế.
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
………./………
BỘ NỘI VỤ
……./……
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
NGÔ THẾ HẢI
QUẢN LÝ NỢ THUẾ TẠI CHI CỤC THUẾ THÀNH PHỐ ĐỒNG HỚI, TỈNH QUẢNG BÌNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
THỪA THIÊN HUẾ, NĂM 2016
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
………./………
BỘ NỘI VỤ
……./……
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
NGÔ THẾ HẢI
QUẢN LÝ NỢ THUẾ TẠI CHI CỤC THUẾ THÀNH PHỐ ĐỒNG HỚI, TỈNH QUẢNG BÌNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
Chuyên ngành: Tài chính ngân hàng
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan bản luận văn thạc sĩ chuyên ngành Tài chính - Ngân hàng này là công trình nghiên cứu khoa học độc lập, do chính tôi thực hiện Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng và
đề tài chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Ngô Thế Hải
Trang 4Lời Cảm Ơn
Để hoàn thành chương trình đào tạo thạc sĩ Tài chính Ngân hàng tại Học viện Hành chính Quốc gia, bên cạnh sự cố gắng của bản thân, tôi đã nhận được sự động viên, hướng dẫn, giảng dạy và nhiều ý kiến đóng góp quý báu của các thầy giáo, cô giáo, gia đình, bạn bè và đồng nghiệp trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn Nhân tiện đây, tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành của mình tới Ban lãnh đạo Học viện Hành chính Quốc gia, các thầy giáo, cô giáo Khoa Sau đại học, Khoa Tài chính công, Cơ sở Học viện Hành chính khu vực miền Trung.
-Đặc biệt tôi vô cùng trân trọng biết ơn PGS TS Trần Văn Giao, Học viện Hành chính Quốc gia đã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện để hoàn thành luận văn này.
Tuy đã có nhiều cố gắng trong việc đầu tư thời gian và công sức nghiên cứu hoàn thành luận văn, nhưng chắc chắn không thể tránh khỏi những khiếm khuyết, kính mong các thầy giáo, cô giáo và các bạn đọc thông cảm.
Xin trân trọng cám ơn!
Tác giả luận văn
NGÔ THẾ HẢI
Trang 5MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cảm ơn
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục các bảng
Danh mục các sơ đồ
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 8
PHẦN MỞ ĐẦU 1
Chương 1: 7
CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ QUẢN LÝ NỢ THUẾ 7
1.1 Tổng quan về nợ thuế 7
1.1.1 Khái niệm 7
1.1.2 Đặc điểm của nợ thuế 8
1.1.3 Các hình thức nợ thuế và điều kiện xuất hiện hành vi nợ thuế 10
1.2 Quản lý nợ thuế 22
1.2.1 Quản lý nợ thuế 22
1.2.2 Các chỉ tiêu đánh giá kết quả quản lý, đôn đốc thu nợ thuế 31
1.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lý nợ thuế 34
1.3 Kinh nghiệm quản lý nợ thuế của một số nước trên thế giới và bài học kinh nghiệm rút ra cho Việt Nam 38
1.3.1 Kinh nghiệm quản lý nợ thuế của một số nước trên thế giới 38
1.3.2 Bài học kinh nghiệm rút ra cho Việt Nam 39
Chương 2: 41
Trang 6THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ NỢ THUẾ TẠI CHI CỤC THUẾ
THÀNH PHỐ ĐỒNG HỚI, TỈNH QUẢNG BÌNH 41
2.1 Đặc điểm kinh tế - xã hội của thành phố Đồng Hới và cơ cấu tổ chức Chi cục thuế thành phố Đồng Hới 41
2.1.1 Đặc điểm tình hình kinh tế xã hội 41
2.1.2 Đặc điểm người nộp thuế trên địa bàn thành phố Đồng Hới 43
2.1.3 Cơ cấu tổ chức bộ máy và tình hình hoạt động của Chi cục Thuế thành phố Đồng Hới 45
Tổ chức bộ máy thu thuế 45
2.2 Thực trạng công tác quản lý nợ thuế tại Chi cục Thuế thành phố Đồng Hới 51
2.2.1 Khái quát tình hình thực hiện công tác quản lý nợ thuế tại Chi cục Thuế thành phố Đồng Hới 51
2.2.2 Thực trạng quản lý nợ thuế tại Chi cục thuế thành phố Đồng Hới 53
2.3 Đánh giá thực trạng quản lý nợ thuế tại Chi cục thuế thành phố Đồng Hới 69
2.3.1 Kết quả đạt được 69
2.3.2 Hạn chế 70
2.3.3 Nguyên nhân 71
Chương 3: 79
ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN NHẰM TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ NỢ THUẾ TẠI THÀNH PHỐ ĐỒNG HỚI 79
3.1 Phương hướng phát triển kinh tế – xã hội thành phố Đồng Hới và định hướng đổi mới công tác quản lý nợ thuế 79
3.1.1 Phương hướng phát triển kinh tế – xã hội thành phố Đồng Hới 79
3.1.2 Định hướng đổi mới công tác quản lý nợ thuế 81
3.2 Giải pháp tăng cường quản lý nợ thuế tại thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình trong thời gian tới 83
Trang 73.2.1 Nhóm giải pháp chung 83
3.2.2 Nhóm giải pháp chuyên môn, nghiệp vụ 86
3.2.3 Nhóm giải pháp điều kiện 90
3.3 Một số khuyến nghị với Nhà nước và địa phương 95
3.3.1 Kiến nghị với Bộ Tài Chính 95
3.3.2 Kiến nghị với Tổng cục Thuế 96
3.3.3 Kiến nghị với Tỉnh uỷ, Hội đồng nhân dân, UBND tỉnh Quảng Bình .96
KẾT LUẬN 98
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 99
Trang 8GTGT Thuế giá trị gia tăng
KK&KTT Kê khai và kế toán thuế
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG Bảng 2.1: Một số chỉ tiêu kinh tế của thành phố Đồng Hới giai đoạn 2013 - 2015
43
Bảng 2.2 Tình hình cán bộ Chi cục Thuế Đồng Hới giai đoạn 2013 – 2015 49
Bảng 2.3 Bảng tổng hợp kết quả thu NSNN giai đoạn 2013-2015 51
Biểu 2.4 Tổng hợp số người nộp thuế đang hoạt động 52
trên địa bàn thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình 52
Bảng 2.5: Cơ cấu nợ thuế theo khu vực giai đoạn 2013-2015 56
Bảng 2.6: Tổng hợp nợ thuế theo sắc thuế giai đoạn 2013 - 2015 58
Bảng 2.7: Nợ thuế qua các năm phân loại theo tính chất nợ 60
Bảng 2.8: Kết quả thu nợ đọng giai đoạn 2013 – 2015 62
Bảng 2.9: Biện pháp đôn đốc thu nợ 63
Bảng 2.10: Các biện pháp cưỡng chế nợ thuế đã được thực hiện 76
Trang 10DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 1.1: Sơ đồ quản lý nợ thuế 25
Sơ đồ 2.1 Tổ chức bộ máy Chi Cục Thuế Thành phố Đồng Hới 47
Trang 11PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài luận văn
Như chúng ta đã biết, thuế luôn là mối quan tâm hàng đầu của mọi Nhànước Thuế là một công cụ tài chính quan trọng không chỉ thể hiện ở việc tạonguồn thu chủ yếu cho ngân sách Nhà nước, mà thuế còn là một công cụ hữuhiệu để Nhà nước tiến hành điều chỉnh vĩ mô nền kinh tế góp phần điều hoà thunhập, thực hiện công bằng xã hội trong phân phối Tuy nhiên, đặc điểm của thuế
là không hoàn trả trực tiếp, sự chuyển giao thu nhập thông qua thuế không mangtính chất đối giá Vì vậy, một số tổ chức, cá nhân vẫn còn tâm lý muốn chậm trể,chiếm dụng tiền thuế làm phát sinh số thuế nợ đọng Ngoài ra, một số NNT dokhó khăn về tài chính, những rủi ro hoặc sự cố bất thường gây ảnh hưởng đếnkhả năng nộp thuế cũng làm phát sinh nợ đọng thuế Nợ đọng thuế là hiện tượngphổ biến và luôn gắn liền với việc thực hiện nghĩa vụ thuế
Nợ đọng thuế là phổ biến, song nếu như số nợ đọng thuế là lớn và thườngxuyên thì sẽ có tác động không nhỏ tới việc thực hiện các mục tiêu phát triểnkinh tế - xã hội của đất nước, làm giảm vai trò của đất nước trong việc động viênnguồn thu cho NSNN Nợ thuế cao cũng sẽ ảnh hưởng tới hiệu quả, hiệu lực củachính sách cũng như công tác quản lý của CQT Do vậy, việc đẩy mạnh công tácquản lý nợ thuế, hạn chế đến mức thấp nhất nợ đọng thuế là một trong nhữngmục đích quan trọng của ngành thuế
Quản lý nợ thuế, là một trong những chức năng chính của mô hình quản
lý thuế theo chức năng trong cơ chế tự khai - tự nộp Quản lý được nợ đọng vàkết quả đem lại từ việc đôn đốc thu nợ và cưỡng chế nợ thuế là một trong nhữngthước đo cơ bản để đánh giá chất lượng và hiệu quả công tác quản lý thuế
Việc triển khai thực hiện Luật quản lý thuế đã tạo cơ sở pháp lý để đổi mớicông tác quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế; ngược lại việc quản lý nợ đọng tốt lại cótác động to lớn với công tác quản lý thuế nói chung, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ cả
từ phía NNT và CQT Do đó, việc tăng cường công tác quản lý nợ thuế có ý nghĩa
Trang 12vô cùng quan trọng không chỉ với việc giảm số thuế nợ đọng, tăng thu cho NSNN
mà còn có ý nghĩa quan trọng trong công tác quản lý thuế nói chung
Những năm qua, việc quản lý thuế của thành phố Đồng Hới nói chung,Chi cục Thuế Thành phố Đồng Hới nói riêng đã có nhiều thành tựu, đóng góptích cực vào nguồn thu ngân sách cho thành phố Tuy nhiên, vấn đề nợ thuế cònnhiều tồn tại, quá trình triển khai công tác quản lý nợ thuế cũng còn gặp phảimột số vướng mắc, khó khăn nên tình trạng nợ đọng thời gian qua vẫn còn ởmức cao, gây thất thu cho NSNN Đứng trước thực trạng đó, công tác quản lý nợthuế của toàn Ngành Thuế nói chung và Chi cục Thuế thành phố Đồng Hới nóiriêng đang là vấn đề cấp bách, đòi hỏi phải có những biện pháp khả thi để thựchiện tốt công tác này
Xuất phát từ những lý do trên, tác giả lựa chọn nghiên cứu đề tài: “Quản
lý nợ thuế tại Chi cục Thuế thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình” với mục
đích vận dụng những kiến thức học được vào thực tiễn của Chi cục Thuế thànhphố Đồng Hới và qua đó có những đóng góp khoa học thiết thực với hoạt độngquản lý của cơ quan Thuế
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn
2.1 Các công trình đã nghiên cứu và kết quả của các công trình đó
QLNT là một đề tài mới, chưa thực sự thu hút sự quan tâm của nhiều nhàkhoa học, các nhà lãnh đạo, quản lý Qua tìm hiểu được biết có khá ít các côngtrình được nghiên cứu liên quan đến đề tài Có thể nói đến một số công trìnhkhoa học tiêu biểu dưới đây:
- Luận văn thạc sỹ của Đỗ Hoàng Nam về “Nâng cao hiệu quả công tácQLN & CCNT ở nước ta hiện nay” đã trình bày lý luận về các khái niệm, cáccách phân loại nợ, những tiêu chí đánh giá hiệu quả của công tác quản lý vàcưỡng chế nợ thuế để từ đó nhìn nhận công tác quản lý và cưỡng chế nợ thuế làmột chức năng quan trọng trong công tác quản lý thuế
Nghiên cứu kinh nghiệm công tác quản lý và cưỡng chế nợ thuế của một
Trang 13số nước trên thế giới gắn với mục tiêu và yêu cầu của công tác quản lý và cưỡngchế nợ thuế để có thể nghiên cứu áp dụng vào thực tiễn nước ta.
- Luận văn thạc sỹ “Tăng cường công tác Quản lý nợ & cưỡng chế nợ thuếtrên địa bàn Huyện Đông Anh - Thành phố Hà Nội” của Nguyễn Thị Thu Hạnhcũng đã trình bày lý luận chung về các khái niệm, các cách phân loại nợ, nhữngtiêu chí đánh giá hiệu quả của công tác quản lý và cưỡng chế nợ thuế để từ đó nhìnnhận công tác quản lý và cưỡng chế nợ thuế là một chức năng quan trọng trongcông tác quản lý thuế Luận văn đã tập trung phân tích, đánh giá thực trạng côngtác quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế tại địa bàn huyện Đông Anh - Hà nội Thôngqua đó đã đề cập đến các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng công tác quản lý nợ
và cưỡng chế nợ thuế của Huyện Đông Anh - Thành Phố Hà Nội
- Bài viết “Chi cục Thuế Nho Quan: Áp dụng biện pháp mạnh để thu hồi
nợ thuế” của tác giả Mạnh Huy được đăng trên Tạp chí Thuế nhà nước tháng6/2012 đã đề cập đến các biện pháp mạnh để thu hồi nợ thuế của Chi cục ThuếNho Quan - Ninh Bình, như mời các đối tượng nợ có số nợ phát sinh lớn đếnlàm việc tại trụ sở cơ quan thuế, phải có kế hoạch thanh toán số nợ, đối vớinhững DN có hoạt động khai thác khoáng sản nếu không nộp thuế nợ sẽ khôngcấp phép khai thác khoáng sản…
- Bài viết “ Ninh Bình - Giải pháp nào cho thu hồi nợ thuế” của tác giảMạnh Huy được đăng trên Website Tổng cục Thuế tháng 9/2012 đã đề cập đếncác giải pháp cho thu hồi nợ thuế của Cục Thuế tỉnh Ninh Bình như: Lãnh đạoCục Thuế đã chỉ đạo toàn ngành tập trung thực hiện đồng bộ các giải pháp thu
nợ thuế, trước mắt là tham mưu với UBND tỉnh thành lập đoàn công tác chốngthất thu liên ngành, tiến hành rà soát và yêu cầu các DN còn nợ thuế ký cam kếtnộp tiền vào ngân sách theo quy định; kiên quyết thực hiện biện pháp cưỡng chếmột số DN nợ thuế điển hình Yêu cầu Phòng Quản lý nợ và các Đội quản lý nợthuộc Chi cục Thuế phối hợp với các phòng chức năng thường xuyên đôn đốc,nhắc nhở các DN nộp thuế kịp thời, không để nợ mới phát sinh Đối với khoản
Trang 14nợ thuế khó thu của các DN lâm vào tình trạng phá sản, bỏ trốn, cơ quan Thuếtiến hành củng cố và hoàn tất hồ sơ đề nghị Bộ Tài chính, Tổng cục Thuế xoá nợtheo quy định của pháp luật Đối với khoản nợ thuế chờ xử lý, bao gồm số nợđược gia hạn, khoanh nợ, giãn nợ, miễn, giảm, chờ điều chỉnh, cần đi sâu phântích để phân loại sang khoản nợ khó thu hoặc nợ có khả năng thu, từ đó áp dụngbiện pháp xử lý phù hợp.
- Bài viết “Gian nan thu hồi nợ thuế” của tác giả Kim Thao được đăngtrên Website Cục Thuế tỉnh Khánh Hoà tháng 11/2012 đã đề cập đến những khókhăn gặp phải của ngành Thuế Khánh Hoà trong việc đôn đốc thu hồi nợ thuế
Cụ thể: Nợ thuế tăng cao ngoài việc DN gặp khó khăn trong sản xuất kinhdoanh, không có khả năng nộp thuế đúng hạn, còn do ý thức chấp hành chínhsách pháp luật thuế của nhiều DN kém Cục Thuế tỉnh đã nhiều lần thông tincông khai những DN nợ thuế trên các phương tiện truyền thông, nhưng DN vẫn
để nợ thuế kéo dài Trong khi đó, việc áp dụng biện pháp cưỡng chế theo trình tựquy định của Luật Quản lý thuế còn phức tạp nên công tác thu nợ gặp nhiều khókhăn Mặt khác, tài khoản của các DN không còn tiền để cơ quan Thuế có thểlàm thủ tục cưỡng chế nợ thuế qua ngân hàng; toàn bộ tài sản của DN đều đãthế chấp để vay vốn nên cơ quan Thuế không thực hiện được biện pháp kê biêntài sản Khi cơ quan Thuế lựa chọn biện pháp cưỡng chế phù hợp, các đốitượng bị cưỡng chế luôn tìm cách né tránh, không chịu hợp tác…Ngoài ra, tạimột số địa phương, công tác quản lý nợ thuế chưa được quan tâm đúng mức,thiếu kiên quyết trong việc chỉ đạo áp dụng các biện pháp thu hồi nợ thuế
2.2 Những vấn đề còn tồn tại cần tiếp tục nghiên cứu
Tuy đã đạt được kết quả nhất định, song đa số các công trình nghiên cứunêu trên đã nghiên cứu từ những năm trước, hai luận văn nghiên cứu từ năm
2008 là khi Luật Quản lý thuế mới có hiệu lực thi hành nên có một số vấn đềchưa được nghiên cứu một cách toàn diện Các công trình nghiên cứu trên đã đềcập các vấn đề nâng cao chất lượng công tác quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế
Trang 15nhưng chủ yếu tập trung vào quản lý và cưỡng chế nợ thuế ở tầm quản lý vĩ môcủa Đảng, Nhà nước và cụ thể của một đơn vị nhất định.
Trong quá trình nghiên cứu các đề án, đề tài, luận văn trên chưa có phầnnghiên cứu tổng quan về các công trình trước đây để phân tích đánh giá nhữngkết quả đã đạt được; những vấn đề còn hạn chế, bất cập cần tiếp tục nghiên cứu
và xác định định hướng nghiên cứu của đề tài
Như vậy có thể nhận xét: Chưa có luận văn, đề tài nào đề cập tới vấn đềCông tác quản lý nợ tại Chi Cục Thuế thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình
Do đó với việc chọn đề tài như trên của Tác giả có thể nói đây là công trìnhkhoa học độc lập và không có sự trùng lặp
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận văn: Trên cơ sở những vấn đề cơ bản lý
luận về quản lý nợ tác giả đã làm rõ thực trạng công tác QLNT trên địa bànthành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình đang thực hiện để từ đó rút ra những vấn
đề cần hoàn thiện, khắc phục
Nhiệm vụ nghiên cứu :
- Về lý thuyết: Hệ thống hóa những vấn đề cơ bản về thuế, về công tác QLNT
- Về thực tiễn: Nghiên cứu thực trạng công tác QLNT trên địa bàn thànhphố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình
- Đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý nợ vàcưỡng chế nợ thuế
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Công tác QLNT đối với các tổ chức, cá nhân gọi
chung là người nộp thuế còn nợ tiền thuế, tiền phạt
- Phạm vi nghiên cứu: Công tác QLNT đối với các tổ chức, cá nhân trên
địa bàn thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình giai đoạn 2013-2015
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu.
- Cơ sở lý luận: Dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật
Trang 16biện chứng, duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lê nin và hệ thống cơ sở lýluận có liên quan đến đề tài nghiên cứu và viết luận văn.
* Các phương pháp được sử dụng trong nghiên cứu bao gồm:
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu và kết hợp với khảo sát thực tế tại ChiCục Thuế thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình
- Phương pháp thống kê, thu thập thông tin
- Phương pháp phân tích - tổng hợp
- Phương pháp đối chiếu - so sánh
6 Những đóng góp của Luận văn
- Hệ thống hóa những vấn đề cơ bản đã được phản ánh trong Luật Quản lýthuế; Những hình thức, động cơ và thủ đoạn nợ thuế của người nộp thuế gây thấtthu NSNN và những biện pháp cưỡng chế của cơ quan quản lý thuế đối vớinhững trường hợp không nộp tiền thuế còn nợ vào NSNN
- Phân tích thực trạng công tác QLNT trên địa bàn thành phố Đồng Hới,những ảnh hưởng của việc nợ đọng tiền thuế đến môi trường kinh doanh vàngân sách tỉnh Quảng Bình
- Đề xuất những giải pháp nhằm tăng cường công tác quản lý nợ và cưỡng chế
nợ thuế trên địa bàn thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình trong những năm tới
7 Kết cấu của đề tài
Luận văn này ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo,luận văn bao gồm có 3 chương sau:
Chương 1: Cơ sở khoa học về quản lý nợ thuế
Chương 2: Thực trạng công tác quản lý nợ thuế trên địa bàn thành
phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình
Chương 3: Giải pháp nhằm tăng cường công tác quản lý nợ thuế trên
địa bàn thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình
Trang 17Tiền thuế nợ là các khoản tiền thuế; phí, lệ phí; các khoản thu từ đất; thu
từ khai thác tài nguyên khoáng sản và các khoản thu khác thuộc NSNN do cơquan thuế quản lý thu theo quy định của pháp luật (gọi chung là tiền thuế) nhưng
đã hết thời hạn quy định mà NNT chưa nộp vào NSNN [18]
Tiền thuế đang chờ điều chỉnh là các khoản tiền thuế; phí, lệ phí; các
khoản thu từ đất; thu từ khai thác tài nguyên khoáng sản và các khoản thu khácthuộc NSNN do cơ quan thuế quản lý thu theo quy định của pháp luật mà NNT
đã nộp nhưng có một số sai sót trên chứng từ nộp tiền; chứng từ luân chuyểnchậm hoặc thất lạc; chờ ghi thu - ghi chi; tiền thuế được gia hạn nộp thuế nhưngchưa kịp thời hạch toán/ghi nhận/cập nhật trên ứng dụng mà cơ quan thuế đangđiều chỉnh theo đúng quy định; tiền thuế không tính tiền chậm nộp [18]
Người nợ thuế là người nộp thuế có khoản tiền thuế nợ theo quy định.
[18]
Khoản nợ là số tiền thuế bắt đầu được tính nợ hay được gọi là bắt đầu
phát sinh tiền thuế nợ [18]
Tiền chậm nộp là khoản tiền được tính trên số tiền thuế nợ và số ngày nợ
thuế của một khoản nợ
Trang 18Số ngày nợ thuế của một khoản thuế nợ là khoảng thời gian liên tục tính
theo ngày, kể từ thời điểm bắt đầu tính nợ đến thời điểm số tiền nợ đó được nộpvào ngân sách nhà nước, bao gồm cả ngày nghỉ, ngày lễ theo Bộ Luật Lao động.[17]
Thời điểm bắt đầu tính nợ đối với một khoản thuế nợ là ngày tiếp theo
ngày hết hạn nộp thuế theo quy định của pháp luật về thuế [17]
Thời điểm kết thúc tính nợ đối với một khoản thuế nợ là ngày khoản nợ
được nộp vào ngân sách nhà nước; hoặc ngày có hiệu lực thi hành của văn bảnxoá nợ, miễn nộp hoặc xử lý bằng các hình thức khác [17]
Khoá sổ thuế là thời điểm ngừng nhập các chứng từ kế toán liên quan đếnnghĩa vụ thuế của NNT như tờ khai thuế, chứng từ nộp thuế, các quyết định,thông báo Sau khi khoá sổ thuế, mọi số liệu trên Sổ theo dõi thu nộp thuế cáctháng trước sẽ không được điều chỉnh, bổ sung ngay, mà chỉ được điều chỉnh, bổsung sau ngày khoá sổ và sẽ được hạch toán vào thời điểm phát hiện để điềuchỉnh, bổ sung vào kỳ thuế tiếp theo [18]
1.1.2 Đặc điểm của nợ thuế
Nợ thuế là một hành vi tâm lý phổ biến.
Như chúng ta đã biết, thuế là một hình thức phân phối thu nhập có tínhchất bắt buộc, mà người có nghĩa vụ phải nộp cho nhà nước Rõ ràng, hành vinộp thuế luôn luôn ảnh hưởng đến lợi ích kinh tế của người nộp thuế Vì thế, ởViệt Nam cũng như ở các nước khác trên thế giới, người nộp thuế luôn có xuhướng trốn hoặc tránh thuế Đặc biệt, trong điều kiện Việt Nam, khi mà nhậnthức xã hội về thuế còn thấp, đại bộ phận người dân chưa hiểu rõ bản chất tốtđẹp và lợi ích của công tác thuế, chưa phê phán, lên án mạnh mẽ các hành vigian lận tiền thuế, chưa hỗ trợ tích cực cho cơ quan thuế để thu thuế Tình trạngtrốn thuế, gian lận về thuế, nợ đọng thuế còn khá phổ biến vừa làm thất thu choNgân sách Nhà nước, vừa không đảm bảo công bằng xã hội Hay nói cách khác
họ tìm mọi cách để tối thiểu hoá số thuế mà người nộp thuế phải nộp Một trong
Trang 19những cách đó là họ tìm cách nợ thuế.
Vì thế, để hạn chế nợ thuế bên cạnh những biện pháp có tính chất luậtpháp để cưỡng chế người nộp thuế tuân thủ thì vấn đề tuyên truyền phổ biến đểngười nộp thuế tự giác thực hiện có ý nghĩa rất quan trọng
Nợ thuế là hành vi vi phạm pháp luật về thuế.
Quy phạm pháp luật về thuế bao gồm các quy phạm pháp luật điều chỉnhcác quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình các chủ thể thực hiện nghĩa vụ nộpthuế vào NSNN Quy phạm pháp luật thuế là các quy tắc xử sự có tính bắt buộcchung do nhà nước đặt ra và đảm bảo thực hiện để đqiều chỉnh các quan hệ xãhội phát sinh trong quá trình các chủ thể thực hiện nghĩa vụ nộp thuế vào ngânsách nhà nước
Trong các quy định của pháp luật về thuế luôn luôn đề cập đến các phạm
vi điều chỉnh như: mức nộp thuế, đối tượng nộp thuế, người nộp thuế và thờigian phải nộp thuế
Như vậy, nợ thuế là hành vi vi phạm pháp luật thuế của người nộp thuếbằng cách chậm nộp hoặc không nộp số tiền thuế phải nộp vào NSNN theo quyđịnh của Pháp luật
Quy định mức xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chậm nộp tiền thuế(nay gọi là tiền chậm nộp) tại Điều 106, Luật quản lý thuế, tiền chậm nộp là0,05% mỗi ngày tính trên số tiền thuế chậm nộp đối với những khoản nợ thuếdưới 90 ngày và 0,07% mỗi ngày tính trên số tiền thuế chậm nộp đối với nhữngkhoản nợ thuế trên 90
Nợ thuế chưa hẳn là hành vi trốn thuế
Trốn thuế là hành vi cố ý vi phạm pháp luật của đối tượng nộp thuế bằng mọihình thức, thủ đoạn để làm giảm số thuế phải nộp vào NSNN Còn nợ thuế mới chỉ
là hành vi dây dưa, chậm nộp thuế khi quá thời hạn nộp theo quy định của pháp luật
Nợ thuế có thể do những nguyên nhân khách quan hoặc chủ quan
- Về chủ quan: Do người nộp thuế cố tình vi phạm nhằm chậm nộp tiền
Trang 20thuế vào NSNN để lợi dụng số tiền thuế sử dụng cho mục đích khác.
- Về khách quan: Do có khó khăn về sản xuất kinh doanh hoặc thu nhập,chẳng hạn như khủng hoảng kinh tế, lạm phát mà NNT tạm thời thiếu tiền nộpthuế
Nợ thuế khác với hành vi tránh thuế
Tránh thuế là hành vi lợi dụng những sơ hở của pháp luật để giảm đượcmột phần nghĩa vụ phải nộp Ví dụ: DN kê khai chi phí thuê bản quyền sáng chế,nhãn mác cao hơn giá trị thị trường của nó để tăng chi phí, hạ thấp thu nhập chịuthuế Ngược lại, nợ thuế thì hoàn toàn khác về bản chất, đó là một nghĩa vụ đãđược luật pháp xác định nhưng cố tình dây dưa chậm nộp
1.1.3 Các hình thức nợ thuế và điều kiện xuất hiện hành vi nợ thuế
1.1.3.1 Phân loại nợ thuế
Là việc sắp xếp các khoản nợ thuế thành những nhóm khác nhau căn cứvào tính chất của từng khoản nợ
Các loại nợ thuế: Có nhiều tiêu chí khác nhau để phân loại nợ thuế.
Căn cứ vào khả năng thu hồi nợ
Căn cứ vào khả năng thu hồi tiền nợ dựa trên những thông tin về người nợthuế như: mức nợ, tuổi nợ, tình trạng hoạt động kinh doanh của người nợ thuếthì nợ thuế được phân loại thành nợ có khả năng thu, nợ khó thu và nợ không cókhả năng thu
Nợ có khả năng thu: Nợ có khả năng thu được hiểu là số tiền nợ thuế của
người nợ thuế được xác định phải nộp vào ngân sách nhà nước nhưng đã hết hạnnộp theo quy định của pháp luật mà chưa nộp, đồng thời không thuộc các trườnghợp nợ thuộc nhóm nợ khó thu và nợ không có khả năng thu hồi
Tùy vào tính chất, mục đích thu nợ của từng thời kỳ kinh tế xã hội thì cơquan thuế có thể tiếp tục chia nợ có khả năng thu hồi thành các loại: nợ thuếdưới 30 ngày, nợ thuế từ 30 ngày đến 90 ngày và nợ thuế trên 90 ngày
Trang 21Nợ khó thu: Nợ khó thu theo cách phân loại này bao gồm số tiền thuế nợ
của người nộp thuế đang trong giai đoạn bị điều tra, khởi tố hình sự hoặc đangchờ bản án hoặc kết luận của cơ quan pháp luật nên chưa thực hiện được nghĩa
vụ nộp thuế, hoặc nợ của người nợ thuế ngừng và tạm ngừng hoạt động kinhdoanh; nợ đang chờ giải quyết theo Luật phá sản
Nợ không có khả năng thu: Việc phân loại nợ trong nhóm này chủ yếu
căn cứ vào tình trạng tồn tại của người nộp thuế trong nhóm này, người nộp thuếhầu hết đã ngừng hoạt động sản xuất kinh doanh hoặc không còn tồn tại trongthực tế, bao gồm các khoản nợ thuộc các trường hợp như nợ của người nợ thuếlâm vào tình trạng giải thể, phá sản nhưng không làm các thủ tục, trình tự giảithể phá sản đúng pháp luật nên chưa có đủ căn cứ pháp lý để xử lý theo quy địnhcủa pháp luật Đặc điểm của trường hợp nợ này là có khó khăn về tài chính, kinhdoanh thua lỗ dẫn đến không còn khả năng thanh toán Trường hợp người nộpthuế lâm vào tình trạng giải thể phá sản nhưng đang được cơ quan có thẩmquyền thụ lý để giải quyết cho phép khoanh nợ thì cũng phải đưa vào nhóm này
để sau khi có quyết định khoanh nợ thì sẽ chuyển sang nhóm nợ không có khảnăng thu
Căn cứ vào nội dung nợ của người nộp thuế
Căn cứ vào nội dung các khoản nợ qua kê khai của người nộp thuế, quacông tác thanh tra, kiểm tra của cơ quan thuế thì nợ thuế được phân loại thành:
nợ thuế, phí thông thường; nợ phạt thuế, phí và nợ thuế, phí truy thu phải nộpsau thanh tra, kiểm tra
Nợ thuế, phí thông thường: Nợ trong nhóm này thường bao gồm các
khoản nợ phát sinh từ số thuế, phí phải nộp do người nộp thuế kê khai với cơquan thuế mà không bao gồm số thuế, phí bị truy thu, bị phạt chậm nộp do cơquan thuế thanh tra, kiểm tra phát hiện Thông thường trong nhóm nợ thuế, phínày cũng bao gồm nhiều khoản nợ có tuổi nợ, mức nợ khác nhau do người nộp
Trang 22thuế kê khai với cơ quan thuế và các khoản nợ thuế này được theo dõi trên hồ sơquản lý đối tượng nộp thuế lưu tại cơ quan thuế.
Nợ phạt thuế, phí: Theo Luật quản lý thuế hiện nay thì việc cơ quan thuế
xử phạt thuế, phí đối với người nộp thuế vi phạm về thuế thì sẽ có nhiều loại viphạm tương ứng với từng nội dung vi phạm, tương ứng với đó là các khoản nợphát sinh cho từng lần vi phạm Do đó, trong nhóm nợ phạt thuế, phí này còn cóthể chia ra thành các khoản mục nợ như: nợ do phạt nộp chậm; nợ phạt thiếuthuế phải nộp; nợ phạt trốn thuế; nợ phạt vi phạm thủ tục về thuế
Nợ thuế, phí truy thu phải nộp sau thanh tra, kiểm tra: Đây là khoản nợ
thuế mà cơ quan Thuế sau quá trình kiểm tra, thanh tra đã phát hiện thêm số thuếphải nộp mà đơn vị bỏ ngoài sổ sách, không kê khai hoặc khai không chính xác
ở tất cả các loại hồ sơ khai thuế trong năm tính thuế Ở thời điểm cơ quan Thuếtiến hành thanh tra, kiểm tra thì theo quy định số thuế này đã được nộp vào ngânsách nhưng có thể đơn vị do vô tình hoặc cố ý đã kê khai sai để trốn thuế Sốthuế này thường được thể hiện trên các biên bản kiểm tra, thanh tra và được cácđoàn kiểm tra, thanh tra chốt lại ở thời điểm 31/12 hàng năm để thể hiện tìnhhình thực hiện nghĩa vụ với ngân sách nhà nước của người nộp thuế
Căn cứ vào đối tượng nợ
Căn cứ vào đối tượng nợ thuế thì người ta có thể chia thành các nhóm nợkhác nhau như sau:
- Nợ thuế của doanh nghiệp nhà nước
- Nợ thuế của doanh nghiệp dân doanh
- Nợ thuế của doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
- Nợ thuế của hộ kinh doanh cá thể
- Nợ thuế thu nhập của cá nhân
- Nợ thuế của các đối tượng khác
Việc phân loại như trên có ý nghĩa quan trọng trong việc đánh giá mức độ
nợ thuế của từng loại hình nộp thuế Từ đó, có biện pháp, chính sách để khuyến
Trang 23khích các loại hình doanh nghiệp phát triển, đồng thời nghiên cứu những bất cậpcủa nhóm nợ khác để có những chính sách ưu đãi, miễn giảm thuế phù hợpnhằm tháo gỡ khó khăn về tài chính đối với những doanh nghiệp thuộc thànhphần kinh tế có mức nợ cao, tuổi nợ dài
Căn cứ vào tính chất nợ
Tiền thuế nợ đang xử lý: là số tiền thuế nợ của NNT có văn bản đề nghị xử lý
nợ, hồ sơ kèm theo văn bản đề nghị đầy đủ theo quy định, cơ quan thuế đã tiếp nhận hồ sơ và đang trong thời gian thực hiện các thủ tục tại cơ quan thuế để ban hành quyết định hoặc văn bản xử lý nợ, bao gồm các trường hợp sau: [18]
Thứ nhất, nợ đang chờ điều chỉnh: Là số tiền nợ thuế của người nợ thuế
do người nợ thuế hoặc cơ quan Thuế có sai sót khi kê khai thuế, tính thuế, đanglàm thủ tục để điều chỉnh lại hoặc do tạm tính số thuế phải nộp cao hơn số phátsinh tức là số tiền nợ do người nộp thuế đã kê khai số thuế tạm nộp hàng kỳ theoquy định nhưng thực tế thuế phát sinh phải nộp thấp hơn so với số thuế đã kêkhai tạm nộp, đang làm thủ tục để điều chỉnh lại Ngoài ra trong nhóm này còncó số tiền nợ do chứng từ luân chuyển chậm hoặc thất lạc, tiền thuế đã nộp vàotài khoản thu ngân sách nhà nước nhưng do chứng từ luân chuyển chưa kịp thờihoặc thất lạc nên trên sổ thuế vẫn ghi nợ
Thứ hai, nợ đang xử lý miễn, giảm, xoá nợ: là số tiền nợ thuế của người
nợ thuế đang trong thời gian làm các thủ tục tại cơ quan Thuế để được xử lýmiễn, giảm, xoá nợ theo quy định của pháp luật về thuế (bao gồm cả các trườnghợp đang làm thủ tục xử lý miễn, giảm áp dụng các điều khoản miễn, giảm theoHiệp định tránh đánh thuế hai lần); cá nhân được cơ quan pháp luật coi là đãchết, mất tích, mất năng lực hành vi dân sự mà không còn tài sản để nộp tiềnthuế, tiền phạt còn nợ; nợ của người nợ thuế bị tuyên bố phá sản đã thực hiệncác khoản thanh toán theo quy định của luật phá sản mà không còn tài sản đểnộp tiền thuế, tiền phạt Khi người nộp thuế đang có nợ thuế do đến kỳ phải thựchiện kê khai thuế đúng hạn nhưng theo quy định của pháp luật về thuế họ sẽ
Trang 24được miễn, giảm hoặc được xử lý cho ghi thu, ghi chi và đang làm thủ tục thìtạm thời đưa vào nhóm nợ chờ xử lý này để theo dõi chứ không áp dụng cácbiện pháp để cưỡng chế thu nợ.
Thứ ba, hiện nay theo các quy định tại các văn bản quy phạm pháp luật
về thuế và xử lý khiếu nại tố cáo thì trong quá trình khiếu nại khi cơ quan cóthẩm quyền chưa ra quyết định xử lý thì người nộp thuế vẫn phải nộp các khoảnthuế vào ngân sách nhà nước Do đó, phát sinh thêm khoản nợ chờ xử lý dokhiếu nại của người nộp thuế, xử lý thoái trả tiền thuế khi có quyết định chínhthức của cơ quan có thẩm quyền thì nợ này được đưa vào một trong hai nhóm nợcó khả năng thu hoặc nợ không có khả năng thu
Thứ tư, nợ đang được khoanh nợ, giãn nợ là số tiền thuế nợ của đối tượng
nộp thuế đã được xử lý cho khoanh nợ, giãn nợ hoặc đang trong thời hạn làmcác thủ tục tại cơ quan Thuế đã được xử lý giãn nợ theo qui định
Tiền thuế nợ thông thường: Là số tiền nợ thuế của người nợ thuế được
xác định phải nộp vào Ngân sách Nhà nước nhưng đã hết hạn nộp theo quy địnhcủa pháp luật về thuế mà chưa nộp vào Ngân sách Nhà nước và không thuộc cáctrường hợp nợ thuộc nhóm nợ chờ xử lý nêu trên Nợ thông thường được phânloại thành các trường hợp nợ dưới 30 ngày, từ 30 ngày đến 90 ngày và trên 90ngày
Tiền thuế nợ khó thu: Tương tự cách phân loại vào khả năng thu hồi nợ
của đối tượng nợ thì nợ khó thu bao gồm nợ của các đối tượng giải thể, phá sảnhoặc đang trong giai đoạn thực hiện các thủ tục giải thể, phá sản để giải quyết nợtheo trình tự của thủ tục giải thể phá sản doanh nghiệp; hoặc nợ của đối tượng
bỏ trốn, mất tích; nợ của đối tượng bị khởi tố là số tiền thuế nợ của đối tượngnộp thuế đang trong giai đoạn bị điều tra, khởi tố hình sự liên quan đến nghĩa vụnộp thuế, đang thi hành án, đang chờ bản án hoặc kết luận của cơ quan phápluật
Trang 25Ở Việt Nam, tính đến 31/3/2015 trở về trước các khoản nợ của các Chicục Thuế thuộc hệ thống thuế được phân loại theo Quyết định 1395/QĐ-TCT, kể
từ ngày 01/4/2015 đến ngày 27/7/2015 được phân loại theo Quyết định2379/QĐ-TCT và từ ngày 28/7/2015 đến nay được phân loại theo Quyết định1401/QĐ-TCT cho phù hợp với Luật Quản lý thuế sửa đổi bổ sung và các Thông
tư hướng dẫn: Thông tư số 156/2013/TT-BTC ngày 6/11/2013 hướng dẫn thihành một số điều của Luật Quản lý thuế; Luật sửa đổi bổ sung một số điều củaLuật Quản lý thuế và nghị định số 83/2013/NĐ-CP ngày 22/7/2013 của Chínhphủ Phân loại nợ thuế nhằm xác định được nguyên nhân, tình trạng, tuổi nợ củatừng khoản nợ thuế, qua đó có thể áp dụng các biện pháp quản lý thu nợ thuế cóhiệu quả Phân loại nợ thuế có thể dựa trên nhiều căn cứ như:
Căn cứ vào thông tin kê khai thuế, tài liệu, hồ sơ về NNT đã thu thập được, thông tin về người nợ thuế, số tiền nợ thuế theo khoản nợ và hạn nộp từ
bộ phận kê khai và kế toán thuế (phòng, đội) chuyển sang, công chức quản lý nợtiến hành phân loại nợ theo các tiêu thức tại Quy trình quản lý nợ thuế ban hành kèm theo Quyết định số 1401/QĐ-TCT ngày 28/7/2015 của Tổng cục trưởng Tổng cục Thuế
Tiền thuế nợ từ 01 đến 30 ngày là số tiền thuế đã quá thời hạn nộp từ 01
đến 30 ngày nhưng NNT chưa nộp vào NSNN và không thuộc nhóm tiền thuếđang khiếu nại, tiền thuế đã hết thời gian gia hạn nộp thuế, tiền thuế nợ đang xử
lý và tiền thuế nợ khó thu
Tiền thuế nợ từ 31 đến 60 ngày là số tiền thuế đã quá thời hạn nộp từ 31
đến 60 ngày nhưng NNT chưa nộp vào NSNN và không thuộc nhóm tiền thuếđang khiếu nại, tiền thuế đã hết thời gian gia hạn nộp thuế, tiền thuế nợ đang xử
lý và tiền thuế nợ khó thu
Tiền thuế nợ từ 61 đến 90 ngày là số tiền thuế đã quá thời hạn nộp từ 61
đến 90 ngày nhưng NNT chưa nộp vào NSNN và không thuộc nhóm tiền thuế
nợ đang xử lý và tiền thuế đã nộp NSNN đang chờ điều chỉnh
Trang 26Tiền thuế nợ từ 91 đến 120 ngày là số tiền thuế đã quá thời hạn nộp từ 91
đến 120 ngày nhưng NNT chưa nộp vào NSNN và không thuộc nhóm tiền thuếđang khiếu nại, tiền thuế đã hết thời gian gia hạn nộp thuế, tiền thuế nợ đang xử
lý và tiền thuế nợ khó thu
Tiền thuế nợ từ 121 ngày trở lên là số tiền thuế đã quá thời hạn nộp từ
121 ngày trở lên nhưng NNT chưa nộp vào NSNN và không thuộc nhóm tiềnthuế đang khiếu nại, tiền thuế đã hết thời gian gia hạn nộp thuế, tiền thuế nợđang xử lý và tiền thuế nợ khó thu
Tiền thuế đang khiếu nại là số tiền thuế mà NNT phải nộp NSNN theo
quy định nhưng NNT đã có văn bản gửi cơ quan thuế khiếu nại về số tiền thuế phải nộp, cơ quan thuế đang trong giai đoạn giải quyết khiếu nại
Tiền thuế đã hết thời gian gia hạn nộp thuế là số tiền thuế đã được gia
hạn nộp thuế nhưng khi hết thời gian gia hạn nộp thuế, NNT chưa nộp thuế vào NSNN
Tiền thuế nợ đang xử lý là số tiền thuế nợ của NNT có văn bản đề nghị
xử lý nợ, hồ sơ kèm theo văn bản đề nghị đầy đủ theo quy định, cơ quan thuế đã tiếp nhận hồ sơ và đang trong thời gian thực hiện các thủ tục tại cơ quan thuế để ban hành quyết định hoặc văn bản xử lý nợ, bao gồm các trường hợp sau:
Tiền thuế nợ khó thu, bao gồm các trường hợp sau:
- Tiền thuế nợ đang xác định đối tượng để thu, bao gồm các trường hợp sau:
+ Tiền thuế nợ của NNT được pháp luật coi là đã chết, mất tích, mất năng lực hành vi dân sự chưa có hồ sơ đề nghị xoá nợ
Trang 27+ Tiền thuế nợ có liên quan đến trách nhiệm hình sự: là số tiền thuế nợ của NNT đang trong giai đoạn bị điều tra, khởi tố hình sự, đang chờ bản án hoặckết luận của cơ quan pháp luật, chưa thực hiện được nghĩa vụ nộp thuế.
+ Tiền thuế nợ của NNT bỏ địa chỉ kinh doanh: là số tiền thuế nợ của NNT mà cơ quan thuế đã kiểm tra, xác định NNT không còn hoạt động kinh doanh và đã thông báo cơ sở kinh doanh không còn hoạt động tại địa chỉ đăng
ký kinh doanh với cơ quan thuế
+ Tiền thuế nợ của NNT chờ giải thể: là số tiền thuế nợ của NNT đã thôngqua quyết định giải thể doanh nghiệp nhưng chưa thanh toán đầy đủ các khoản
nợ thuế theo quy định của pháp luật
+ Tiền thuế nợ của NNT mất khả năng thanh toán: là số tiền thuế nợ của người nợ thuế đã có quyết định phá sản doanh nghiệp hoặc đang trong thời gian làm thủ tục phá sản doanh nghiệp nhưng chưa làm các thủ tục xử lý nợ theo quy định của pháp luật
- Tiền thuế nợ đã áp dụng hết các biện pháp cưỡng chế nợ thuế
+ Tiền thuế nợ đã áp dụng hết các biện pháp cưỡng chế nợ thuế và dưới
10 năm: là các khoản tiền thuế nợ mà cơ quan thuế đã áp dụng đến biện pháp cưỡng chế nợ thuế cuối cùng là thu hồi giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặc giấy phép thành lập và hoạt động, giấy phép hành nghề nhưng vẫn không thu hồi được tiền thuế nợ, thời gian nợ dưới 10 năm
+ Tiền thuế nợ đã áp dụng hết các biện pháp cưỡng chế nợ thuế và từ 10 năm trở lên: là các khoản tiền thuế nợ mà cơ quan thuế đã áp dụng đến biện pháp cưỡng chế nợ thuế cuối cùng là thu hồi giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặc giấy phép thành lập và hoạt động, giấy phép hành nghề nhưng vẫn không thu hồi được tiền thuế nợ, thời gian nợ từ 10 năm trở lên
Tiền thuế đang chờ điều chỉnh, bao gồm các trường hợp sau:
- Tiền thuế chờ điều chỉnh do sai sót:
+ NNT ghi sai, ghi thiếu các chỉ tiêu trên chứng từ thu NSNN;
Trang 28+ Các sai sót của KBNN, NHTM;
+ Các sai sót của cơ quan thuế như: xử lý sai dữ liệu về số thuế phải nộp hoặc đã nộp NSNN; NNT kê khai thuế với cơ quan thuế quản lý trực tiếp cơ sở sản xuất kinh doanh tại trụ sở chính, đã nộp thuế của cơ sở sản xuất trực thuộc tại địa bàn tỉnh/thành phố khác nơi đóng trụ sở chính, cơ quan thuế quản lý trực tiếp cơ sở sản xuất kinh doanh tại trụ sở chính chưa nhận được chứng từ nộp thuế
- Các sai sót khác
+ Tiền thuế chờ điều chỉnh do chứng từ luân chuyển chậm hoặc thất lạc: chứng từ luân chuyển từ KBNN, NHTM sang cơ quan thuế không thực hiện đúng quy định; chứng từ thất lạc, cơ quan thuế đã nhận được sau thời gian thất lạc do NNT hoặc KBNN, ngân hàng cung cấp; chứng từ do công chức thuế hoặc
ủy nhiệm thu đã thu nhưng chưa kịp thời thực hiện các thủ tục thanh toán tiền thuế, nộp tiền vào NSNN theo đúng quy định
- Tiền thuế chờ ghi thu - ghi chi: là số tiền thuế NNT đã kê khai và thực hiện các thủ tục nộp NSNN nhưng cơ quan có thẩm quyền làm thủ tục ghi thu, ghi chi vào NSNN hoặc số tiền chưa đến thời hạn được cơ quan có thẩm quyền thực hiện thủ tục ghi thu - ghi chi theo định kỳ (tháng, quý, năm)
- Tiền thuế được gia hạn nộp thuế nhưng chưa kịp thời hạch toán/ghi nhận/cập nhật trên ứng dụng dẫn đến hệ thống vẫn theo dõi là tiền thuế nợ
- Tiền thuế không tính tiền chậm nộp: là số tiền thuế nợ của NNT đã được
cơ quan thuế ban hành quyết định không tính tiền chậm nộp [18]
1.1.3.2 Những điều kiện làm xuất hiện hành vi nợ thuế
Do cơ chế chính sách thuế hiện hành.
Do cơ chế chính sách có thể làm cho gánh nặng thuế quá cao vượt quá sứcchịu đựng của NNT trong phạm vi khả năng nộp thuế của mình, khiến cho NNTtìm mọi cách để trốn thuế, hoặc họ không có khả năng nộp thuế nên phải nợ thuế
Trong thực tế, do mức thuế cao mà nhiều DN gặp khó khăn về tình hình
Trang 29tài chính, sản xuất kinh doanh thua lỗ nhiều năm dẫn đến nợ thuế kéo dài.
Do cơ chế quản lý.
- Do cơ chế kế hoạch hoá tập trung trước đây để lại Người nộp thuế từtrước đã quen với việc đôn đốc, ra thông báo hàng tháng thuế hàng tháng và cứđến khi có thông báo nộp thuế thì NNT mới đi nộp thuế Vì vậy, khi chuyển sang
cơ chế tự khai tự nộp, NNT chưa hình thành thói quen trong việc tự giác nộpthuế vào NSNN
- Do chuyển đổi loại hình doanh nghiệp, chính sách cổ phần hóa của nhànước Trong quá trình chuyển đổi chưa giải quyết dứt điểm các khoản nợ thuếtrước khi chuyển sang hoạt động ở loại hình doanh nghiệp mới
- Do cách quản lý lỏng lẻo, việc thực hiện Luật Thuế chưa nghiêm (Cơquan Thuế chưa tính phạt chậm nộp tiền thuế ngay nên để DN lợi dụng để chiếmdụng tiền thuế trong một thời gian dài để thực hiện đầu tư kinh doanh)
- Một thời gian dài chúng ta chưa coi trọng việc tuyên truyền giáo dục,cung cấp các dịch vụ hỗ trợ chất lượng cao để nâng cao sự hiểu biết, tự giác tuânthủ pháp luật của NNT Hiện nay chúng ta mới bước đầu tuyên truyền rộng rãi,tuy nhiên hiệu quả đạt được chưa cao
- Môi trường kinh tế xã hội chưa được cải cách đồng bộ, chưa tạo điều kiệnthuận lợi cho công tác quản lý thuế như quản lý thanh toán bằng tiền mặt Đó cũng
là một vấn đề cần quan tâm hiện nay, Nhà nước ta mới đang bước đầu thực hiệnthanh toán qua tài khoản đối với cán bộ công chức, các DN cần khấu trừ, hoàn thuếGTGT và đơn vị xuất nhập khẩu Trong khi đó luật quy định có quyền cưỡng chếthông qua việc trừ vào tài khoản của NNT Do vậy việc kiểm soát được tài khoảncủa người dân vẫn còn là một thách thức lớn đối với cơ quan thuế
- Mặt khác, công tác dự báo thị trường của Nhà nước và doanh nghiệpchưa chính xác kịp thời dẫn đến rủi ro cao, nhiều đơn vị thua lỗ khó có khả năngthanh toán nợ
Do công nghệ quản lý:
Trang 30Việc triển khai áp dụng phần mềm QLN chưa thực sự hiệu quả Đến nayqua nhiều lần nâng cấp đã đáp ứng tương đối đầy đủ các bước công việc theoquy trình quản lý nợ, quy trình cưỡng chế, tuy nhiên việc khai thác triệt để và sửdụng các dữ liệu hiện có phục vụ cho công tác quản lý ở cấp Chi cục Thuế vẫncòn hạn chế Nhất là báo cáo về kết quả công tác thu nợ và cưỡng chế nợ thuếchưa kịp thời.
Do đội ngũ cán bộ thuế:
Mặc dù đã đào tạo qua nhiều kỳ tập huấn nghiệp vụ của ngành, tham giacác hội thảo chuyên đề về công tác quản lý nợ Tuy nhiên một bộ phận cán bộ ýthức, thái độ chưa nhiệt tình, chưa tâm huyết với công việc Một số đơn vị còncoi nhẹ công tác quản lý nợ, chưa quan tâm chỉ đạo, sát sao và thường xuyên
Bố trí cán bộ lớn tuổi, yếu về năng lực dồn hết về bộ phận quản lý nợ Việc sửdụng phần mềm quản lý nợ cũng chưa thành thạo, chưa đáp ứng được yêu cầuquản lý thuế hiện đại và yêu cầu cải cách hành chính thuế, thậm chí một bộ phậncán bộ quản lý thuế chưa nắm vững và thực hiện tốt các chính sách thuế và quytrình nghiệp vụ quản lý thuế nói chung và nghiệp vụ quản lý nợ thuế nói riêng
Do ý thức của người nộp thuế:
Do nhìn nhận của công chúng về công tác thuế còn thiếu khách quan, nhiềungười dân chưa hiểu rõ bản chất tốt đẹp và lợi ích của công tác thuế, chưa phêphán, lên án mạnh các hành vi gian lận tiền thuế, chưa hỗ trợ tích cực cho cơ quanthuế để thu thuế Tình trạng trốn thuế, gian lận về thuế, nợ đọng thuế còn khá phổbiến vừa làm thất thu cho NSNN, vừa không đảm bảo công bằng xã hội
Do ý thức chấp hành pháp luật thuế của NNT còn hạn chế nên chưa tựgiác đi nộp thuế, chưa chấp hành nộp thuế theo thông báo nợ của cơ quan thuế,một số đối tượng cố tình chây ỳ tiền thuế, không nộp tiền thuế vào NSNN
Do điều kiện khách quan:
Do ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính, lạm phát, giá cả tăng cao, lãisuất ngân hàng trước đây cao hơn cả tỷ lệ phạt nộp chậm tiền thuế nên NNT thà
Trang 31bị phạt nộp chậm tiền thuế còn hơn là phải đi vay với lãi xuất cao hơn Tình hìnhtài chính của các doanh nghiệp nợ thuế là rất khó khăn, nhiều doanh nghiệp phảingừng hoạt động, rơi vào giải thể phá sản Chính vì vậy mà số DN chiếm dụngtiền thuế, không nộp vào NSNN có xu hướng tăng thêm.
1.1.3.3 Nguyên nhân và hậu quả của nợ thuế
Nguyên nhân nợ thuế
Nợ thuế xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau, nhưng có thể kháiquát một số nhóm nguyên nhân chủ yếu sau:
Thứ nhất, do ý thức chấp hành luật thuế của một bộ phận NNT còn hạn
chế, chưa tự giác nộp thuế, cố tình dây dưa, chây ỳ, chiếm dụng tiền thuế củaNSNN để thực hiện những mục đích khác
Thứ hai, do một số doanh nghiệp gặp khó khăn về tài chính, sản xuất kinh
doanh thua lỗ nên không có nguồn lực để nộp thuế, dẫn đến nợ thuế kéo dàinhiều năm
Thứ ba, do đại bộ phận người dân chưa phê phán và lên án mạnh mẽ các
hành vi gian lận tiền thuế, chưa hỗ trợ, phối hợp với CQT để thu thuế vàoNSNN Do đó, tình trạng trốn thuế, gian lận thuế, chiếm dụng tiền thuế củaNSNN còn xảy ra phổ biến, vừa làm thất thu NSNN, vừa không đảm bảo côngbằng giữa các ĐTNT
Ngoài ra, nợ thuế còn do ảnh hưởng của một số nguyên nhân khách quankhác: Khủng hoảng tài chính, lạm phát, giá cả tăng cao, chính sách quản lý củaNhà nước thay đổi
Hậu quả của nợ thuế: Nợ thuế không những có tác động nghiêm trọng
với công tác quản lý thuế mà còn có tác động đối với sự phát triển của nền kinh
tế - xã hội Những tác động đó có thể khái quát trên một số mặt sau:
Thứ nhất, Nợ thuế gây thất thu cho NSNN Thuế là nguồn thu chủ yếu của
NSNN Yêu cầu đối với quản lý thuế là phải thu đúng, thu đủ và thu kịp thời sốthuế phải nộp vào NSNN để Nhà nước có đủ nguồn lực tài chính thực hiện các
Trang 32nhiệm vụ về phát triển kinh tế - xã hội Nếu nguồn tài chính không đủ hoặckhông kịp thời thì các nhiệm vụ chi tiêu của Chính phủ sẽ không thực hiện đúngtiến độ, các cân đối kinh tế bị phá vỡ, các nhiệm vụ về an sinh, xã hội khôngđược thực hiện làm cho kinh tế suy thoái hoặc kém hiệu quả.
Thứ hai, nợ thuế gây mất công bằng về nghĩa vụ thuế giữa các ĐTNT và
tạo môi trường kinh doanh không bình đẳng giữa các tổ chức, cá nhân đang kinhdoanh trong việc thực hiện nghĩa vụ thuế Nộp thuế là quyền và nghĩa vụ của cácĐTNT Pháp luật thuế đã qui định cụ thể nghĩa vụ của các ĐTNT Tuy nhiên,việc một số ĐTNT không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ thuế, không nộp đầy đủ, kịpthời các khoản thuế phải nộp vào NSNN đã tạo ra sự không công bằng trong khinhững ĐTNT còn lại thực hiện nghiêm túc nghĩa vụ thuế
Thứ ba, nợ thuế tạo ra chi phí không cần thiết đối với xã hội liên quan đến
công tác quản lý thuế, gây mất thời gian, công sức, tiền của cho việc quản lý nợthuế Khi xuất hiện các khoản nợ thuế, đòi hỏi Nhà nước phải có một bộ phậnchuyên đảm nhận chức năng quản lý các khoản nợ thuế đó Hơn nữa nhữngkhoản nợ thuế này được nợ từ nhiều nguồn khác nhau, nhiều sắc thuế khác nhau
từ nhiều nguyên nhân khác nhau và biện pháp thu hồi cũng khác nhau Nợ thuếcó thể gây nhiều hậu quả nghiêm trọng về kinh tế - xã hội
1.2 Quản lý nợ thuế
1.2.1 Quản lý nợ thuế
1.2.1.1 Khái niệm và đặc điểm của quản lý nợ thuế
Khái niệm quản lý nợ thuế: Quản lý nợ thuế là hoạt động của cơ quan
thuế và cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, bao gồm các biện pháp, cách thức để đánh giá thực trạng nợ thuế, tổ chức thu nợ thuế, thu phạt chậm nộp thuế vào NSNN đầy đủ, đúng qui định.
Quản lý nợ là một trong bốn chức năng cơ bản trong mô hình quản lý thuếtheo chức năng, bao gồm: tuyên truyền - hỗ trợ NNT, Kê khai - kế toán thuế;quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế; thanh tra - kiểm tra thuế
Trang 33Đặc điểm quản lý nợ thuế
Thứ nhất, Quản lý nợ thuế là hoạt động quản lý nhà nước Quản lý nợ
thuế là hoạt động của cơ quan thuế và cơ quan Nhà nước có thẩm quyền do đó,nó chính là hoạt động quản lý nhà nước và có đầy đủ những đặc điểm của hoạtđộng quản lý nhà nước
Về cơ quan thực hiện: Cơ quan có chức năng thực hiện quản lý nợ thuế là
cơ quan thuế các cấp, phối hợp với các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền
Về biện pháp áp dụng: Biện pháp áp dụng trong quản lý nợ thuế là biệnpháp hành chính, mang tính chất bắt buộc cao và thể hiện quyền lực của Nhànước Nộp thuế là quyền và nghĩa vụ của NNT với NSNN Do đó, hành vi chậmnộp tiền thuế vào NSNN là hành vi vi phạm pháp luật về thuế Vì vậy, trongquản lý thuế, biện pháp áp dụng chỉ có biện pháp hành chính, không áp dụngbiện pháp thoả thuân
Về tính chất bắt buộc: tính chất bắt buộc của các biện pháp quản lý nợthuế rất cao, do được đảm bảo thực hiện bằng quyền lực Nhà nước
Thứ hai, Hoạt động quản lý nợ thuế mang tính chuyên môn, nghiệp vụ
cao Quản lý nợ thuế là một trong 4 khâu của mô hình quản lý thuế theo chứcnãng, bao gồm: tuyên truyền, hỗ trợ NNT; kê khai - kế toán thuế; quản lý nợ,cưỡng chế nợ thuế; thanh tra - kiểm tra thuế Quản lý nợ có vai trò quan trọngtrong quản lý thuế và có mối quan hệ mật thiết với 3 khâu còn lại trong mô hìnhquản lý theo chức năng Do đó, để thực hiện quản lý nợ đạt hiệu quả cao, côngchức quản lý nợ thuế không chỉ phải có hiểu biết về công tác quản lý nợ thuế màcòn phải có hiểu biết đầy đủ về các qui trình liên quan: kê khai - kế toán thuế,thanh tra - kiểm tra thuế Bên cạnh đó, để thực hiện phân tích, đánh giá thựctrạng nợ thuế, xem xét, phân loại nợ thuế thì công chức quản lý nợ thuế phảicó chuyên môn nghiệp vụ vững vàng về qui trình quản lý nợ thuế, luật quản lýthuế và các luật thuế có liên quan Vì vậy, hoạt động quản lý nợ thuế mang tínhchuyên môn, nghiệp vụ rất cao và có tính đặc thù riêng
Trang 34Xuất phát từ đặc điểm này của quản lý nợ thuế, để phân tích thực trạngcông tác quản lý nợ thuế cũng như đề xuất những giải pháp tăng cường công tácquản lý nợ thuế, chúng ta phải gắn với những đặc điểm đặc thù về chuyên môn,nghiệp vụ của công tác quản lý nợ thuế để những đánh giá mang tính đúng đắnnhất và những giải pháp đưa ra có tính khả thi cao.
Thứ ba, Hoạt động quản lý nợ thuế gắn liền với thực hiện pháp luật thuế
và quản lý thuế Quản lý nợ thuế là một trong những hoạt động để đảm bảo nângcao hiệu lực quản lý thuế và đảm bảo pháp luật thuế được thực hiện nghiêmminh trong thực tế Ngoài ra, trong quá trình thực hiện quản lý nợ thuế, côngchức quản lý nợ thuế cũng phải gắn chặt với pháp luật thuế cũng như luật quản
lý thuế để đảm bảo tính đúng đắn của các biện pháp thực thi, đảm bảo quản lý
nợ thuế thực hiện đúng chức năng của nó
1.2.1.2 Tầm quan trọng của công tác quản lý nợ thuế
Quản lý nợ thuế là khâu tiếp theo của quá trình quản lý kê khai và tínhthuế Quản lý nợ thuế có vai trò quan trọng trong công tác quản lý thuế cụ thể là:
Thứ nhất, thông qua quản lý nợ thuế, cơ quan thuế nắm bắt được chính
xác tình hình thực hiện nghĩa vụ của người nộp thuế; thúc đẩy người nộp thuếnộp các khoản thuế đầy đủ, kịp thời vào ngân sách Nhà nước; đảm bảo thực hiệnnghiêm túc pháp luật thuế Thông qua đó, quản lý nợ thuế góp phần nâng cao ýthức tuân thủ của người nộp thuế
Thứ hai, quản lý nợ thuế góp phần đảm bảo công bằng xã hội khi các cơ
sở kinh doanh cùng phát sinh nghĩa vụ thuế thì phải nộp vào ngân sách Nhànước theo quy định của pháp luật
Thứ ba, quản lý nợ thuế đảm bảo quản lý tất cả các khoản thu của Nhà
nước, chống thất thoát ngân sách Nhà nước Quản lý nợ tốt sẽ nâng cao hiệu quảcủa công tác quản lý thu thuế, góp phần nâng cao hiệu quả của các chức năngkhác như: Quản lý kê khai thuế và thanh tra, kiểm tra thuế xác định chính xácnghĩa vụ thuế nhưng điều quan trọng là nghĩa vụ thuế được xác định đó phải
Trang 35được thực hiện thông qua công tác đôn đốc thu nộp thuế, đây là một nội dungquan trọng của công tác quản lý nợ thuế.
Thứ tư, quản lý nợ thuế tốt cũng tạo ra một kênh thông tin đúng đắn để
xử lý các khoản nợ của người nộp thuế một cách đúng đắn Thông qua đó, cóbiện pháp xử lý phù hợp nợ thuế để tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động sảnxuất, kinh doanh của người nộp thuế
1.2.1.3 Yêu cầu của công tác quản lý nợ thuế
Quản lý nợ thuế phải đảm bảo các yêu cầu sau:
Thứ nhất, trong quản lý thuế nói chung và quản lý nợ thuế nói riêng thì
yêu cầu cơ bản và quan trọng nhất của công tác này là phải quản lý đầy đủ,không bỏ sót các khoản thu của NSNN, vì nếu quản lý không chặt chẽ, khôngbao quát hết các khoản thu sẽ gây thất thu cho NSNN, khi đó sẽ gây khó khăncho việc thực hiện các biện pháp thu và cưỡng chế thuế
Thứ hai, phải đảm bảo quản lý chính xác các khoản nợ để cơ quan thuế
có các biện pháp quản lý phù hợp Để thực hiện yêu cầu này, bên cạnh việc phânloại nợ theo các tiêu thức đã trình bày ở phần trên thì các tiêu thức phân loạiphải được kết hợp với nhau một cách hợp lý; qua đó cơ quan thuế sẽ đánh giá,xem xét và đưa ra các biện pháp thu nợ phù hợp với từng ngành nghề, lĩnh vực,trong từng thời kỳ phát triển kinh tế xã hội
Thứ ba, phải đảm bảo thu nợ kịp thời, tránh thất thu NSNN Yêu cầu này
là yêu cầu xuyên suốt của công tác quản lý nợ thuế và là mục tiêu của công tácquản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế trong toàn ngành Thuế nói chung và của Chicục Thuế tại các địa phương nói riêng
1.2.1.4 Nội dung quản lý nợ thuế trên địa bàn thành phố trực thuộc tỉnh
Toàn bộ nội dung và quy trình quản lý nợ thuế áp dụng cho cấp Chi cụcThuế hiện hành ở Việt Nam thể hiện khái quát qua sơ đồ sau:
Sơ đồ 1.1: Sơ đồ quản lý nợ thuế
Trang 36Lập kế hoạch thu nợ
Thứ nhất, xây dựng chương trình, chỉ tiêu, biện pháp quản lý thu nợ.
Chi cục Thuế căn cứ vào chỉ đạo, hướng dẫn của Tổng cục Thuế, Cục thuế tỉnh
và tình hình thực tế quản lý nợ thuế ở địa phương để xây dựng chương trình, chỉtiêu, biện pháp quản lý thu nợ thuế năm sau của toàn Chi cục Thuế, có văn bảnchỉ đạo, hướng dẫn các đội thuế thực hiện trong tháng 12 hàng năm
Chi cục thuế tổng hợp chương trình, chỉ tiêu, biện pháp quản lý thu nợcủa Chi cục gửi về Cục Thuế trước ngày 20 tháng một hàng năm
Thứ hai, điều chỉnh chương trình, chỉ tiêu, biện pháp thu nợ năm.
Trong quá trình thực hiện chương trình, chỉ tiêu, biện pháp thu nợ năm,Chi cục thuế có thể điều chỉnh chương trình, chỉ tiêu, biện pháp thu nợ năm nếucó các nguyên nhân ảnh hưởng đến việc thực hiện chương trình, chỉ tiêu, biệnpháp thu nợ năm Chi cục Thuế phải gửi văn bản điều chỉnh, trong đó nêu rõ nộidung cần điều chỉnh, lý do điều chỉnh gửi về Cục thuế tỉnh Thời gian điều chỉnhchương trình, chỉ tiêu, biện pháp thu nợ năm, trước ngày 30/9 năm thực hiện
Quản lý nợ và xử lý thu nợ
Thứ nhất, phân công công chức quản lý nợ
Căn cứ chức năng nhiệm vụ của bộ phận quản lý nợ và cưỡng chế thu
Trang 37nợ thuế các cấp, phụ trách bộ phận phân công công việc cho từng công chức
để thực hiện công tác quản lý nợ Ở mỗi bộ phận quản lý nợ có bộ phận tổng
hợp và bộ phận trực tiếp quản lý người nợ thuế (do trưởng bộ phận quản lý
nợ các cấp phân công).
Thứ hai, phân loại nợ và lập sổ theo dõi nợ thuế
Căn cứ vào tiêu thức phân loại nợ theo quy định của Tổng cục, của Cụcthuế tỉnh công chức quản lý nợ thực hiện rà soát từng trường hợp nợ của từngngười nợ thuế còn nợ thuế tháng trước chuyển sang và nợ mới phát sinh thángnày theo nguyên nhân, tình trạng và tuổi nợ để phân loại các khoản nợ Côngchức thực hiện việc phân loại phải chịu trách nhiệm về tính chính xác của việcphân loại nợ
Sau khi phân loại nợ, công chức quản lý nợ cập nhật kết quả phân loại nợvào Sổ theo dõi nợ thuế của từng người nợ, chuyển cho bộ phận tổng hợp đểtổng hợp nợ của toàn bộ phận
Căn cứ vào Sổ theo dõi thu nộp thuế của cơ quan thuế, công chức quản lý
nợ phải tiến hành lập và mở sổ theo dõi nợ thuế theo từng người nợ thuế để ghichép, phản ánh toàn bộ tình hình nợ thuế của người nợ thuế từ bộ phận kê khai
và kế toán thuế chuyển sang Sổ theo dõi nợ thuế được lập theo từng tháng.Hàng tháng vào ngày làm việc cuối cùng của tháng, căn cứ Sổ theo dõi nợ thuế,công chức quản lý nợ phải kết chuyển sổ theo dõi nợ sang tháng sau
Sau ngày 10 hàng tháng, bộ phận quản lý nợ được giao nhiệm vụ tổng hợpcông tác quản lý thu nợ của Đội thuế, Chi cục Thuế phải lập sổ tổng hợp theo dõi
nợ thuế Bộ phận quản lý nợ của Chi cục thuế tổng hợp chung toàn Chi cục,đồng thời in và lưu sổ tổng hợp theo dõi nợ thuế tại bộ phận quản lý nợ
Thứ ba, đôn đốc thu nợ thuế và cưỡng chế thuế.
- Thông báo nộp thuế Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày hết thời hạn
quy định nộp thuế theo từng sắc thuế, cơ quan thuế tiến hành đôn đốc nộpthuế bằng hình thức gọi điện thoại hoặc phát hành Thông báo nộp thuế
Trang 38- Thông báo nợ thuế và phạt chậm nộp thuế Hàng tháng, bộ phận quản lý
nợ và cưỡng chế nợ thuế căn cứ Sổ theo dõi nợ thuế tháng trước và kết quả phânloại nợ, lập thông báo tiền nợ thuế và tiền phạt chậm nộp đối với các khoản nợcó tuổi nợ trên 30 ngày gửi cho người nợ thuế Đối với khoản nợ chờ xử lý,
nợ khó thu của người nộp thuế bỏ trốn, mất tích, giải thể, phá sản thì tạm thờichưa phát hành thông báo phạt chậm nộp, khi có kết quả xử lý xác định chínhxác số nợ thuế, người nộp thuế hoạt động kinh doanh trở lại sẽ phát hành thôngbáo nợ thuế và tiền phạt chậm nộp
Việc thông báo chậm nộp thuế và phạt chậm nộp thuế được thực hiện sau
30 ngày kể từ ngày hết hạn nộp thuế của từng loại thuế
Trong thời gian từ ngày thứ 31 đến ngày thứ 90 kể từ ngày hết thời hạnnộp thuế theo quy định, cơ quan thuế đã ra thông báo báo tiền thuế nợ và tiềnphạt chậm nộp mà người nợ thuế vẫn chưa nộp tiền thuế vào NSNN thì côngchức quản lý nợ cần liên hệ với người nộp thuế để nắm thông tin về tình hìnhsản xuất kinh doanh, tình hình tài chính, nguyên nhân dẫn đến tình trạng chậmnộp tiền thuế, báo cáo với phụ trách bộ phận quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế
và có thể mời người nợ thuế lên làm việc tại cơ quan thuế, lập biên bản ghinhận kết quả làm việc và cam kết nộp thuế
Sau thời hạn 90 ngày kể từ ngày hết hạn nộp mà người nợ thuế chưa nộp tiền
nợ thuế và tiền phạt chậm nộp hoặc nộp chưa đủ số thuế còn thiếu thì cơ quan thuế
sẽ tiến hành các biện pháp cưỡng chế nợ thuế theo quy định của pháp luật
Thứ tư, phân tích, đánh giá và xử lý thu nợ Căn cứ vào Sổ theo dõi nợ
thuế, công chức được phân công theo dõi và quản lý nợ phải thực hiện các côngviệc sau:
a Đối với nhóm nợ khó thu Căn cứ vào Sổ theo dõi nợ thuế, công
chức được phân công theo dõi và quản lý các trường hợp thuộc nhóm nợ khóthu phải thực hiện các công việc cụ thể cho từng trường hợp nợ như sau:
Đối với nợ của người nợ thuế lâm vào tình trạng giải thể, phá sản, nhưng
Trang 39chưa tuyên bố giải thể, phá sản: Công chức quản lý nợ lập hồ sơ trình lãnh đạo
cơ quan thuế yêu cầu người nợ thuế giải trình về việc chưa nộp được tiền thuế,tiền phạt Đồng thời, gửi thông báo tới các cơ quan chức năng liên quan về tìnhtrạng nợ thuế để được xử lý theo quy định của Luật doanh nghiệp, Luậtphá sản, kiến nghị các biện pháp cưỡng chế thu hồi nợ
Đối với nợ của người nợ thuế đã có quyết định giải thể hoặc tuyên bố phá sản: Công chức quản lý nợ thu thập thông tin, hồ sơ, chứng từ, thủ tục
phá sản của người nợ thuế Khi có quyết định của Tòa án thì thực hiện thủ tụcthu hồi, xử lý nợ theo quyết định của Tòa án
Đối với nợ của người đã bỏ trốn, mất tích: Công chức quản lý nợ lập hồ
sơ trình lãnh đạo cơ quan thuế kiến nghị biện pháp thu hồi nợ thuế, biện phápcưỡng chế thuế hoặc các biện pháp xử lý nợ khác
Đối với nợ của người nợ thuế đang bị khởi tố hoặc đang chấp hành án phạt tù: Công chức quản lý nợ lập hồ sơ trình lãnh đạo cơ quan thuế tình trạng
nợ thuế của người nợ thuế, đồng thời gửi các cơ quan chức năng liên quan đểthông báo về tình trạng nợ thuế để được xử lý khi có kết luận của cơ quanpháp luật hoặc theo bản án của Toà án Công chức quản lý nợ lập hồ sơkhoanh nợ, theo dõi riêng Khi có kết luận của cơ quan điều tra, quyết địnhcủa Toà án thì thực hiện thủ tục thu hồi nợ thuế hoặc lập hồ sơ xoá nợ
Đối với nợ của người nợ thuế ngừng và tạm ngừng hoạt động kinh doanh: Sau khi đã làm đầy đủ các thủ tục cần thiết theo quy định của pháp
luật nhưng vẫn không thu hồi được nợ và xác định các khoản nợ đó không cókhả năng thu hồi thì làm hồ sơ đề nghị xoá nợ
Các trường hợp đã có quyết định hoặc chứng từ xử lý nợ phải được ghi sổtheo dõi nợ thuế của từng người nợ thuế, đồng thời chuyển cho bộ phận kê khai
và kế toán thuế để thực hiện ghi sổ theo dõi thu nộp thuế của từng người nợthuế và lưu hồ sơ người nợ thuế theo qui định
Công chức quản lý nợ phải ghi lại thời gian đã thực hiện các biện pháp xử
Trang 40lý vào sổ nhật ký đôn đốc thu nợ của từng người nợ thuế.
b Đối với nhóm nợ chờ xử lý Đối với nhóm nợ chờ xử lý, có hai phần
việc phải thực hiện: 1) hướng dẫn người nợ thuế lập và hoàn chỉnh hồ sơ đềnghị xử lý nợ; 2) theo dõi, cập nhật các kết quả xử lý nợ
c Đối với nhóm nợ có khả năng thu Đối với nhóm nợ này, cần thực hiện
hai nội dung công việc sau: 1) Lập kế hoạch phải thu nợ trong kỳ Hàng tháng,trên cơ sở công việc được phân công, công chức thuộc bộ phận quản lý nợ cấpChi cục Thuế căn cứ vào tình hình nợ và sổ theo dõi nợ của người nợ thuế đểxác định danh sách người nợ thuế phải thực hiện các biện pháp thu nợ trong
kỳ Danh sách phải được gửi cho phụ trách bộ phận quản lý nợ và cưỡng chế nợthuế để báo cáo; 2) Lập nhật ký thu nợ Công chức được phân công thu nợ phảilập Nhật ký theo dõi thu nợ trước khi tiến hành đôn đốc thu nợ Nhật ký phảiđược lập riêng cho từng người nộp thuế, để theo dõi từng khoản nợ thuế phảiđôn đốc thu và ghi chép tất cả các biện pháp đôn đốc thu đối với từng khoản nợvào nhật ký ngay sau khi thực hiện biện pháp thu nợ
d Thực hiện các biện pháp xử lý nợ khác theo pháp luật Các trường hợp
nợ thuế được áp dụng biện pháp thu nợ nêu trên, nếu người nợ thuế khôngnộp nợ thuế đúng hạn, cơ quan thuế xem xét nguyên nhân để xử lý theopháp luật như: Xem xét gia hạn nộp thuế, thực hiện biện pháp thu nợ đối vớitrường hợp người nộp thuế được hoàn trả tiền thuế; điều chỉnh thứ tự thu nợthuế, tiền phạt chậm nộp; thực hiện các biện pháp cưỡng chế thu tiền nợ thuế,tiền phạt
Thứ năm, lưu hồ sơ Hồ sơ liên quan đến công tác quản lý thu nợ
được lưu theo từng người nợ thuế và theo từng đơn vị quản lý
Hồ sơ về tình hình nợ thuế của người nợ thuế gồm: Sổ theo dõi nợ thuếhàng tháng, thông báo tiền thuế nợ và tiền phạt chậm nộp tiền thuế, các quyếtđịnh, thông báo áp dụng các biện pháp thu nợ và xử lý nợ, các giấy tờ, sổsách, tài liệu khác liên quan đến tình hình nợ thuế của người nộp thuế