Đây là nguồn luận văn được tác giả sư tầm tư nhiều nguồn thư viện đáng tin cậy. Luận văn chứa đầy đủ thông tin về lý thuyết cũng như số liệu đều chuẩn xác với tên đề tài nghiên cứu. Bố cục Luận văn được áp dụng theo chuẩn về hình thức lẫn nội dung.
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ & QUẢN TRỊ KINH DOANH
TRƯƠNG QUANG HỢP
GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ NỢ THUẾ
TẠI CỤC THUẾ TỈNH BẮC NINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾCHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KINH TẾ
THÁI NGUYÊN - 2014
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ & QUẢN TRỊ KINH DOANH
TRƯƠNG QUANG HỢP
GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ NỢ THUẾ
TẠI CỤC THUẾ TỈNH BẮC NINH
Chuyên ngành: Quản lý kinh tế
Mã số: 60.34.04.10
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: TS TRẦN ĐÌNH THAO
THÁI NGUYÊN - 2014
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn "Giải pháp tăng cường công tác quản lý nợ thuế tại Cục thuế tỉnh Bắc Ninh” là
trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc
Ngày tháng năm 2014
Tác giả luận văn
Trương Quang Hợp
Trang 4Trước hết, với tình cảm chân thành và lòng biết ơn sâu sắc, tô xin gửi lời cảm ơn tới thầy giáo PGS.TS Trần Đình Thao đã trực tiếp hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu Nhà trường, Phòng Quản lý Đào tạo Sau Đại học, các khoa, phòng của Trường Đại học Kinh tế và Quản trị Kinh doanh - Đại học Thái Nguyên đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi về mọi mặt trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn ban lãnh đạo Cục thuế Bắc Ninh, các phòng ban, c ác Chi c ục thuế huyện thị xã , thành phố, các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong việc thu thập tài liệu và quá trình nghiên cứu đề tài luận văn
Cuối cùng, tôi xin bày tỏ sự biết ơn chân thành tới gia đình, đồng nghiệp và bạn bè - những người đã luôn bên tôi, động viên, giúp đỡ tôi về vật chất cũng như tinh thần trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn này
Thái Nguyên, ngày tháng 5 năm 2014
Tác giả luận văn
Trương Quang Hợp
Trang 5MỤC LỤC 4.4 Một số kiến nghị 99
Trang 6DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
CTCP Công ty cổ phần
CTN Công thương nghiệp
DNCTN&DVNQD Doanh nghiệp công thương nghiệp và
dịch vụ ngoài quốc doanhDNNN Doanh nghiệp Nhà nước
DNTN Doanh nghiệp tư nhân
ĐTNN Đầu tư nước ngoài
GDP Tốc độ tăng trưởng kinh tế
GTGT Giá trị gia tăng
NNT Người nộp thuế
NSNN Ngân sách Nhà nước
TNCN Thu nhập cá nhân
TNDN Thu nhập doanh nghiệp
TNHH Trách nhiệm hữu hạn
Trang 7DANH MỤC BẢNG 4.4 Một số kiến nghị 99 4.4 Một số kiến nghị 99
Trang 8DANH MỤC HÌNH, BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ
4.4 Một số kiến nghị 99
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Thuế là một trong những chính sách kinh tế - xã hội quan trọng của Đảng và Nhà nước ta, là công cụ điều tiết nền kinh tế phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa, tạo môi trường thuận lợi cho sản xuất kinh doanh phát triển, giải quyết các vấn đề kinh tế - xã hội của đất nước, góp phần vào tích luỹ ngân sách, tăng tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân, góp phần đảm bảo công bằng xã hội và hội nhập quốc tế Vì thế, Nhà nước đã ban hành các luật thuế và việc nộp thuế là quyền lợi và nghĩa vụ của mọi tổ chức và cá nhân Tuy nhiên, bên cạnh đại bộ phận người nộp thuế tự giác kê khai và nộp thuế nghiêm chỉnh đúng thời gian qui định, nhưng vẫn còn không ít tổ chức
và cá nhân vẫn còn có tâm lý dây dưa, chây ỳ cố tình không chịu nộp thuế đúng hạn, chiếm dụng tiền thuế, thậm chí còn có hiện tượng trốn thuế làm cho số nợ đọng tiền thuế ngày càng tăng cao, nhiều khoản nợ thuế tồn tại nhiều năm không có khả năng thu, nhiều đối tượng nợ thuế đã không còn tồn tại do bị giải thể, mất tích gây thất thu lớn cho NSNN Thực tê đó đòi hỏi ngành thuế phải tăng cường công tác quản lý thuế, trong đó Quản lý nợ thuế
là một khâu quan trọng trong hệ thống quản lý thuế, là một chức năng chính của mô hình quản lý theo chức năng đó là: Tuyên truyền, hỗ trợ người nộp thuế; thanh tra kiểm tra; kê khai kế toán thuế; quản lý nợ thuế Mô hình này
có vai trò quan trọng trong việc nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật của đối tượng nộp thuế nhằm đảm bảo thu đúng, thu đủ, thu kịp thời tiền thuế vào NSNN nhằm chống thất thu thuế, đảm bảo công bằng giữa các đối tượng nộp thuế
Trong bối cảnh chung của cả nước Cục thuế tỉnh Bắc Ninh đã và đang triển khai công tác quản lý thuế nói chung, trong đó có công tác quản lý nợ thuế nói riêng Thực tế thời gian qua cho thấy công tác quản lý nợ thuế ở Cục thuế tỉnh Bắc Ninh cũng đã đạt được nhiều kết quả tích cực Tuy nhiên trong
Trang 10quá trình triển khai công tác quản lý nợ thuế cũng còn gặp phải những vướng mắc, khó khăn và bất cập nên tình trạng nợ đọng thời gian qua vẫn còn diễn
ra nhiều gây thất thu cho NSNN
Đứng trước thực trạng đó, công tác quản lý nợ thuê của toàn ngành thuế nói chung và Cục thuế tỉnh Bắc Ninh nói riêng đang là vấn đề cấp bách, đòi hỏi phải có những biện pháp khả thi để thực hiện tốt công tác này
Xuất phát từ các lý do nêu trên, tôi chọn đề tài: "Giải pháp tăng cường công tác quản lý nợ thuế tại Cục thuế tỉnh Bắc Ninh" được lựa chọn để
nghiên cứu làm luận văn
2 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu chung
Trên cơ sở đánh giá thực trạng công tác quản lý nợ thuế tại Cục thuế tỉnh Bắc Ninh, để đề xuất giải pháp tăng cường nâng cao hiệu lực công tác quản lý nợ thuế
2.2 Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hoá cơ sở lý luận và thực tiễn về công tác quản lý nợ thuế của nhà nước
- Đánh giá thực trạng công tác quản lý nợ thuế tại Cục thuế tỉnh Bắc Ninh
- Đề xuất các giải pháp tăng cường hiệu lực công tác quản lý nợ thuế tại Cục thuế tỉnh Bắc Ninh
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Đề tài tập trung đi sâu vào các vấn đề lý luận và
thực trạng công tác quản lý nợ thuế đối với các đối tượng nộp thuế trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh Luận văn chỉ tập trung chủ yếu nghiên cứu công tác quản lý nợ tại văn phòng Cục thuế tỉnh Bắc Ninh
- Phạm vi nghiên cứu: tập trung chủ yếu nghiên cứu, đánh giá công tác
quản lý nợ thuế trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2010 - 2013
Trang 114 Những đóng góp của luận văn
Làm sáng tỏ thực trạng công tác quản lý nợ thuế trong những năm qua, xác định điểm mạnh, điểm yếu và đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường công tác quản lý nợ thuế ở Cục thuế tỉnh Bắc Ninh trong thời gian tới
5 Kết cấu luận văn
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về công tác quản lý nợ thuế.
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu.
Chương 3: Thực trạng công tác quản lý nợ thuế tại Cục thuế tỉnh Bắc Ninh Chương 4: Một số giải pháp nhằm tăng cường hiệu lực công tác tác quản
lý nợ thuế tại Cục thuế tỉnh Bắc Ninh
Trang 12Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ NỢ THUẾ
1.1 Cơ sở lý luận về quản lý nợ thuế
1.1.1 Những vấn đề cơ bản về quản lý nợ thuế
1.1.1.1 Khái niệm nợ thuế và quản lý nợ thuế
Thuế ra đời là tất yếu khách quan gắn liền với sự ra đời, tồn tại và phát triển của nhà nước Khi nhà nước xuất hiện, để đảm bảo sự tồn tại và hoạt động của mình, nhà nước phải dùng quyền lực chính trị vốn có để tập trung một phần của cải trong xã hội vào tay nhà nước nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu của nhà nước Việc huy động, tập trung của cải đó có thể được thực hiện bằng các cách khác nhau, trong đó có hình thức đóng góp bắt buộc được gọi
là thuế
Giáo trình Lý thuyết thuế của Học viện Tài chính định nghĩa: “Thuế là một khoản thu nhập được chuyển giao một cách bắt buộc từ các thể nhân và pháp nhân cho nhà nước, do pháp luật quy định nhằm sử dụng cho mục đích công cộng”
Một trong những đặc trưng quan trọng của thuế là mang tính pháp lý cao Mỗi khoản thuế phát sinh được xác định trên cơ sở thu nhập của người nộp thuế và sẽ trở thành khoản nộp bắt buộc mà người nộp thuế phải có nghĩa
vụ chuyển giao cho nhà nước Tuy nhiên, trong thực tiễn do nhiều lý do khác nhau, người nộp thuế chưa nộp hoặc không nộp thuế cho nhà nước theo thời hạn quy định, từ đó hình thành nên khoản nợ thuế
- Khái niệm nợ thuế: là các khoản tiền thuế, phí, lệ phí, phạt chậm nộp và
các khoản phải nộp khác theo quy định của pháp luật về thuế mà người nộp thuế đã kê khai, cơ quan thuế đã tính, các cơ quan chức năng phát hiện và thông báo cho cơ quan thuế Cơ quan thuế xác định đây là nghĩa vụ của người nộp thuế và đã thông báo cho người nộp thuế nhưng đã hết thời hạn quy định
mà chưa nộp vào ngân sách Nhà nước
Trang 13- Quản lý nợ thuế là công việc theo dõi, nắm bắt thực trạng nợ thuế và
các khoản thu khác do cơ quan thuế quản lý và thực hiện các biện pháp đôn đốc thu hồi số thuế nợ của người nộp thuế
Để hiểu rõ hơn bản chất của nợ thuế, cần thiết phải nghiên cứu đặc điểm của nợ thuế
1.1.1.2 Đặc điểm của nợ thuế
* Nợ thuế là một hành vi tâm lý phổ biến
Như chúng ta biết, trong hệ thống thuế bao gồm nhiều sắc thuế khác nhau, tuy nhiên các sắc thuế dù trực tiếp hay gián tiếp đều đánh vào thu nhập của các thể nhân hay pháp nhân trong nền kinh tế Nói cách khác, thuế là một hình thức phân phối thu nhập có tính chất bắt buộc mà mọi người có nghĩa vụ phải nộp cho nhà nước Như vậy, hành vi nộp thuế luôn luôn ảnh hưởng đến lợi ích kinh tế của người nộp thuế
Vì vậy, ở Việt Nam cũng như các nước khác trên thế giới, người nộp thuế thường có xu hướng trốn hoặc tránh thuế Tình hình này đặc biệt nghiêm trọng trong điều kiện các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam hiện nay, khi mà nhận thức xã hội về thuế còn thấp, đại bộ phận người dân chưa hiểu rõ bản chất tốt đẹp và lợi ích của việc nộp thuế, chưa phê phán, lên án mạnh mẽ các hành vi gian lận tiền thuế, chưa hỗ trợ tích cực cho cơ quan thuế
để thu thuế theo đúng pháp luật Tình trạng trốn thuế, gian lận thuế, nợ đọng thuế còn khá phổ biến vừa làm thất thu NSNN, vừa không đảm bảo công bằng
xã hội Hay nói cách khác, những người nộp thuế luôn tìm mọi cách để tối thiểu hóa số thuế mà họ phải nộp Một trong các cách đó là nợ thuế
* Nợ thuế là hành vi vi phạm pháp luật về thuế
Quy phạm pháp luật thuế là các quy tắc xử sự có tính bắt buộc chung do nhà nước đặt ra và đảm bảo thực hiện để điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình các chủ thể thực hiện nghĩa vụ nộp thuế vào NSNN
Trong các quy định của pháp luật về thuế luôn luôn đề cập đến các phạm vi điều chỉnh như: mức nộp thuế, người nộp thuế và thời gian phải nộp thuế
Trang 14Như vậy, hành vi nợ thuế là hành vi vi phạm luật thuế của người nộp thuế bằng cách chậm nộp hoặc không nộp số tiền thuế phải nộp vào NSNN theo quy định của pháp luật thuế.
* Nợ thuế chưa hẳn là hành vi trốn thuế
Trốn thuế là hành vi cố ý vi phạm pháp luật của đối tượng nộp thuế bằng mọi hình thức, thủ đoạn để làm giảm số thuế phải nộp vào NSNN Còn nợ thuế mới chỉ là hành vi dây dưa, chậm nộp thuế khi quá thời hạn nộp theo quy định của pháp luật Tất nhiên, trong một số trường hợp việc nợ thuế có thể là một hành vi nằm trong chuỗi hành vi nhằm trốn thuế Chẳng hạn như, một số doanh nghiệp cố tình nợ một số thuế lớn sau đó bỏ trốn không thực hiện nghĩa
vụ nộp thuế
* Nợ thuế khác với hành vi tránh thuế
Tránh thuế là hành vi lợi dụng sơ hở của luật thuế để giảm nghĩa vụ thuế Đây không phải là hành vi vi phạm pháp luật Còn nợ thuế thì khác hoàn toàn
về bản chất, đó là nghĩa vụ đã được luật pháp xác định nhưng cố tình dây dưa, chậm nộp
1.1.1.3 Phân loại nợ thuế
* Nhóm tiền thuế nợ khó thu
- Tiền thuế nợ của người nộp thuế được pháp luật cho là đã chết, mất tích, mất năng lực hành vi dân sự chưa có hồ sơ đề nghị xoá nợ
- Tiền thuế nợ có liên quan đến trách nhiệm hình sự: là số tiền thuế nợ của người nộp thuế đang trong giai đoạn bị điều tra, khởi tố hình sự, đang chờ bản án hoặc kết luận của cơ quan pháp luật chưa thực hiện được nghĩa vụ nộp thuế
- Tiền thuế nợ của người nộp thuế không còn hoạt động sản xuất kinh doanh tại địa điểm đăng ký kinh doanh hoặc có văn bản gửi đến cơ quan thuế
đề nghị chấm dứt hoạt động kinh doanh nhưng chưa hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế, cơ quan thuế đã kiểm tra xác định người nộp thuế không còn hoạt động kinh doanh Bao gồm cả trường hợp giải thể không theo trình tự của luật doanh nghiệp
Trang 15- Tiền thuế nợ của người nộp thuế đã giải thể là số tiền thuế nợ của người nộp thuế đã thông qua quyết định giải thể doanh nghiệp nhưng chưa thanh toán đầy đủ các khoản nợ thuế theo quy định của pháp luật.
- Tiền thuế nợ của người nộp thuế lâm vào tình trạng phá sản là số tiền thuế nợ của người nợ thuế đã có quyết định phá sản doanh nghiệp hoặc đang trong thời gian làm thủ tục phá sản doanh nghiệp nhưng chưa làm các thủ tục
xử lý nợ theo quy định của pháp luật
- Nợ khó thu khác là các khoản tiền thuế nợ trên 90 ngày, không thuộc các nhóm nêu trên, cơ quan thuế đã áp dụng đến biện pháp cưỡng chế nợ thuế cuối cùng là thu hồi giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặc giấy phép
thành lập và hoạt động, giấy phép hành nghề (theo qui định tại luật Quản lý thuế) nhưng vẫn không thu hồi được tiền thuế nợ.
* Nhóm tiền thuế nợ đến 90 ngày:
Là số tiền thuế đã quá thời hạn nộp từ 01 đến 90 ngày nhưng người nộp thuế chưa nộp vào NSNN và không thuộc nhóm tiền thuế nợ khó thu, tiền thuế nợ chờ xử lý, tiền thuế đã nộp NSNN đang chờ điều chỉnh, tiền thuế nợ trên 90 ngày, bao gồm cả tiền thuế nợ đang có khiếu nại, khiếu kiện
* Nhóm tiền thuế nợ trên 90 ngày:
Là số tiền thuế đã quá thời hạn nộp trên 90 ngày nhưng người nộp thuế chưa nộp vào NSNN và không thuộc nhóm tiền thuế nợ khó thu, tiền thuế nợ chờ xử lý, tiền thuế đã nộp NSNN đang chờ điều chỉnh, tiền thuế nợ đến 90 ngày bao gồm cả tiền thuế nợ đang có khiếu nại, khiếu kiện Cơ quan thuế thực hiện cưỡng chế nợ thuế đối với nhóm tiền thuế nợ này
* Nhóm tiền thuế nợ chờ xử lý bao gồm các trường hợp sau:
- Xử lý miễn, giảm: là số tiền thuế nợ của người nộp thuế đang trong thời gian thực hiện các thủ tục tại cơ quan thuế để được xử lý miễn, giảm theo quy định của pháp luật về thuế
- Xử lý gia hạn nộp thuế: là số tiền thuế nợ của người nộp thuế đang được cơ quan thuế xử lý để gia hạn nộp thuế Các trường hợp được gia hạn nộp thuế thực hiện theo quy định của pháp luật về thuế
Trang 16- Xử lý xoá nợ: là số tiền thuế nợ của người nộp thuế đang trong thời gian thực hiện các thủ tục tại cơ quan thuế để được xử lý xoá nợ theo quy định của pháp luật về thuế.
- Xử lý bù trừ các khoản nợ NSNN với số tiền thuế được hoàn trả: là số tiền thuế nợ của người nộp thuế đã gửi hồ sơ và cơ quan thuế đang làm thủ tục hoàn thuế tại cơ quan thuế hoặc đang được cơ quan thuế thực hiện thủ tục lập Quyết định hoàn thuế kiêm bù trừ thu NSNN
* Nhóm tiền thuế đã nộp ngân sách nhà nước đang chờ điều chỉnh: là số
tiền thuế đã nộp Ngân sách Nhà nước nhưng cơ quan thuế đang làm thủ tục điều chỉnh, bao gồm các trường hợp sau:
- Tiền thuế chờ điều chỉnh do sai sót
+ Người nộp thuế ghi sai, ghi thiếu các chỉ tiêu trên chứng từ thu Ngân sách Nhà nước
+ Các sai sót của kho bạc, Ngân hàng thương mại
+ Các sai sót của cơ quan thuế như: Nhập sai dữ liệu về số thuế phải nộp,
đã nộp ngân sách nhà nước hoặc người nộp thuế kê khai thuế với cơ quan thuế nơi đóng trụ sở chính, đã tạm nộp tại các cơ quan thuế quản lý các chi nhánh nhưng cơ quan thuế nơi đóng trụ sở chính chưa nhận được chứng từ nộp thuế
- Tiền thuế chờ điều chỉnh do chứng từ luân chuyển chậm hoặc thất lạc: chứng từ luân chuyển từ kho bạc nhà nước, ngân hàng thương mại sang cơ quan thuế không thực hiện đúng quy định; chứng từ thất lạc, cơ quan thuế đã nhận được sau thời gian thất lạc do người nộp thuế hoặc Kho bạc nhà nước, ngân hàng cung cấp; chứng từ do công chức thuế hoặc ủy nhiệm thu đã thu nhưng chưa kịp thời thực hiện các thủ tục thanh toán tiền thuế, nộp tiền vào NSNN
- Tiền thuế chờ ghi thu - ghi chi: là số tiền thuế người nộp thuế đã kê khai
và thực hiện các thủ tục nộp NSNN nhưng đang chờ cơ quan có thẩm quyền làm thủ tục ghi thu, ghi chi vào NSNN hoặc số tiền được cơ quan có thẩm quyền thực hiện thủ tục ghi thu - ghi chi, theo định kỳ (tháng, quý, năm)
Trang 17Căn cứ vào các nhóm tiền thuế nợ trên ta phân loại nợ thuế cụ thể như sau:
* Căn cứ vào khả năng thu hồi nợ
Căn cứ vào khả năng thu hồi nợ dựa trên những thông tin về người nợ thuế theo mức nợ, tuổi nợ, tình trạng hoạt động kinh doanh của người nợ thuế thì nợ thuế được phân loại thành: nợ có khả năng thu, nợ khó thu và nợ không
có khả năng thu
- Nợ có khả năng thu:
Theo thống kê, khoản nợ thuộc nhóm này thường chủ yếu là các khoản
nợ mới phát sinh sau thời hạn nộp thuế được quy định tại các văn bản pháp quy về thuế
Do vậy, nợ có khả năng thu được hiểu là số tiền nợ thuế của người nợ thuế được xác định phải nộp vào NSNN nhưng đã hết thời hạn nộp theo quy định của pháp luật mà chưa nộp, đồng thời không thuộc nhóm nợ khó thu và nhóm nợ không có khả năng thu
Tùy thuộc vào tính chất, mục đích thu nợ của từng thời kỳ kinh tế xã hội thì cơ quan thuế có thể tiếp tục chia nợ có khả năng thu hồi thành các loại: nợ thuế chậm nộp dưới 30 ngày, nợ thuế chậm nộp từ 30 ngày đến 90 ngày và nợ thuế quá 90 ngày
nợ đang chờ giải quyết theo Luật phá sản
Khi người nộp thuế rơi vào tình trạng này thì có thể có trường hợp cơ quan điều tra đã phong tỏa tài khoản, số sách kế toán nên người nộp thuế không thể thực hiện việc nộp thuế hoặc người nộp thuế đã nộp thuế nhưng phải nộp vào tài khoản của cơ quan điều tra nên trên sổ theo dõi thu nộp của
Trang 18cơ quan thuế vẫn báo nợ Khi người nộp thuế đang bị điều tra, khởi tố liên quan đến nghĩa vụ thuế hoặc không liên quan đến nghĩa vụ thuế thì cơ quan thuế phải tạm thời phân loại các khoản nợ của người nộp thuế này vào nhóm
nợ khó thu để chờ kết luận cuối cùng của cơ quan có thẩm quyền
Đối với người nộp thuế gặp khó khăn về tài chính, hoặc ngừng và tạm ngừng kinh doanh thì việc tiếp xúc với người nộp thuế để thu nợ là khó khăn nên phân loại vào nhóm này để có biện pháp quản lý theo dõi phù hợp Tương
tự, đối với trường hợp nợ đang chờ giải quyết theo Luật phá sản thì số tiền thuế nợ của người nợ thuế đã có quyết định phá sản doanh nghiệp hoặc đang trong thời gian làm thủ tục phá sản doanh nghiệp nhưng chưa làm các thủ tục
xử lý nợ theo quy định của pháp luật thì cũng cần được phân vào nhóm này
để cơ quan thuế có biện pháp quản lý thích hợp
- Nợ không có khả năng thu
Việc phân loại nợ vào nhóm này chủ yếu căn cứ vào tình trạng tồn tại của người nộp thuế Người nộp thuế hầu hết đã ngừng hoạt động sản xuất kinh doanh hoặc không còn tồn tại trong thực tế, bao gồm các khoản nợ thuộc các trường hợp như nợ của người nợ thuế lâm vào tình trạng giải thể, phá sản nhưng không làm các thủ tục, trình tự giải thể phá sản đúng pháp luật nên chưa có đủ căn cứ pháp lý để xử lý theo quy định của pháp luật Đặc điểm của trường hợp này là khó khăn về tài chính, kinh doanh thua lỗ dẫn đến không còn khả năng thanh toán Trường hợp người nộp thuế lâm vào tình trạng giải thể phá sản nhưng đang được cơ quan có thẩm quyền thụ lý để giải quyết cho phép khoanh nợ thì cũng phải đưa vào nhóm này để sau khi có quyết định khoanh nợ thì sẽ chuyển sang nhóm nợ không có khả năng thu này
Ngoài ra, nợ thuế của một loại đối tượng khác cũng có thể coi là không có khả năng thu, đó là nợ thuế của các doanh nghiệp bỏ trốn Hầu hết đây là các doanh nghiệp ma, chỉ thành lập để mua bán hóa đơn, không thực tế kinh doanh
Trang 19* Căn cứ vào nội dung nợ của người nộp thuế
Căn cứ vào nội dung các khoản nợ qua kê khai của người nộp thuế, qua công tác thanh tra - kiểm tra của cơ quan thuế thì nợ thuế được chia thành: nợ thuế, phí thông thường; nợ phạt thuế, phí; và nợ thuế, phí truy thu phải nộp sau thanh tra, kiểm tra
- Nợ thuế, phí thông thường:
Nợ trong nhóm này bao gồm các khoản nợ phát sinh từ số thuế, phí phải nộp do người nộp thuế kê khai với cơ quan thuế mà không bao gồm số thuế, phí bị truy thu, bị phạt chậm nộp do cơ quan thuế thanh tra, kiểm tra phát hiện Thông thường trong nhóm nợ thuế, phí này cũng bao gồm nhiều khoản
nợ có tuổi nợ và mức nợ khác nhau do người nộp thuế kê khai với cơ quan thuế và các khoản nợ thuế này được theo dõi trên hồ sơ quản lý đối tượng nộp thuế lưu tại cơ quan thuế
- Nợ phạt thuế, phí:
Theo Luật Quản lý thuế hiện nay thì việc cơ quan thuế xử phạt thuế, phí đối với người nộp thuế vi phạm về thuế thì sẽ có nhiều loại vi phạm tương ứng với từng nội dung vi phạm, tương ứng với đó là các khoản nợ phạt phát sinh cho từng lần vi phạm Do vậy, trong nhóm nợ phạt thuế, phí này còn có thể chia ra thành các khoản mục nợ: nợ do phạt nộp chậm; nợ phạt thiếu thuế phải nộp; nợ phạt trốn thuế; nợ phạt vi phạm thủ tục về thuế
Việc phân loại thành các nhóm nợ nhỏ theo từng loại vi phạm như trên vừa có tác dụng phân loại nợ, vừa có ý nghĩa thống kê vi phạm của người nộp thuế để cơ quan thuế có biện pháp quản lý hiệu quả
- Nợ thuế, phí truy thu phải nộp sau thanh tra, kiểm tra:
Đây là khoản nợ thuế mà cơ quan thuế sau quá trình kiểm tra, thanh tra
đã phát hiện thêm số thuế phải nộp mà đơn vị bỏ sót ngoài sổ sách, không kê khai hoặc khai không chính xác ở tất cả các loại hồ sơ khai thuế trong năm tính thuế Ở thời điểm cơ quan thuế tiến hành thanh tra, kiểm tra thì theo quy
Trang 20định số thuế này đã phải nộp vào NSNN nhưng có thể đơn vị do vô tình hoặc
cố tình đã kê khai sai để trốn thuế Số thuế này thường được thể hiện trên các biên bản kiểm tra, thanh tra và được các đoàn kiểm tra, thanh tra chốt lại ở thời điểm 31/12 hàng năm để thể hiện tình hình thực hiện nghĩa vụ với NSNN của người nộp thuế
Việc thống kê, phân loại nhóm nợ này không phải là chính xác tuyệt đối bởi trong kế hoạch thanh tra, kiểm tra thuế của cơ quan thuế hàng năm thì không phải tất cả các đối tượng nộp thuế đều được thanh tra, kiểm tra Do vậy, số nợ thuộc nhóm nợ này chỉ phản ánh được số thuế phát hiện thêm được coi là nợ thuế của những người nộp thuế được thanh tra, kiểm tra Tuy nhiên, việc phân loại này cũng có ý nghĩa quan trọng giúp cơ quan thuế có những biện pháp quản lý thích hợp với nhóm nợ này đồng thời cũng giúp cơ quan thuế đánh giá được các mức độ vi phạm pháp luật thuế của đối tượng nộp thuế trong từng thời kỳ cụ thể
* Căn cứ vào thời hạn nợ
- Nợ trong hạn:
Nợ thuộc nhóm này bao gồm các khoản nợ thuế xuất, nhập khẩu vẫn còn trong thời hạn nộp thuế Bên cạnh đó, còn có nợ thuế trong hạn do được gia hạn nộp thuế theo quy định của pháp luật Ngoài ra nhằm thực hiện các biện pháp khuyến khích xuất khẩu thì thuế xuất khẩu hoặc nhập khẩu thường được
cơ quan quản lý cho phép nộp chậm sau khi khai báo với cơ quan hải quan tại cửa khẩu, do đó các khoản này thường chưa được tính phạt nộp chậm mà phải được theo dõi như là các khoản nợ trong hạn nộp
- Nợ quá hạn:
Nợ trong nhóm này được phân loại như các khoản nợ thông thường theo tiêu thức phân loại theo khả năng thu hồi nợ Có nghĩa là những khoản nợ đến hạn trả theo quy định của pháp luật hoặc theo thông báo, được ghi trên quyết định của cơ quan thuế đến hạn nộp mà chưa nộp thì được coi là nợ thuế, theo
Trang 21tiêu thức phân loại theo thời gian nợ thì sẽ được coi là nợ quá hạn Tùy theo từng thời kỳ kinh tế mà người ta chia thành các khoản nợ nhỏ theo mức nợ, nhóm nợ khác nhau để có biện pháp quản lý phù hợp theo các nhóm ở trên.
* Căn cứ vào đối tượng nợ
Nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay có nhiều thành phần kinh tế tham gia, góp phần đa dạng hóa nền kinh tế, thúc đẩy quá trình cạnh tranh và là động lực phát triển đất nước Tuy nhiên,
về mặt quản lý của các cơ quan chức năng thì việc có nhiều thành phần kinh
tế tham gia vào hoạt động kinh tế cũng tương ứng với việc quản lý sẽ có nhiều khó khăn, phức tạp Việc quản lý thuế nói chung và quản lý nợ thuế nói riêng cũng không phải là ngoại lệ
Vì vậy, căn cứ vào đối tượng nợ thuế thì người ta có thể chia thành các nhóm nợ khác nhau như sau:
- Nợ thuế của doanh nghiệp nhà nước
- Nợ thuế của doanh nghiệp Ngoài quốc doanh
- Nợ thuế của doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
- Nợ thuế của hộ kinh doanh cá thể
- Nợ thuế thu nhập của cá nhân
- Nợ thuế của các đối tượng khác
Việc phân loại này có ý nghĩa quan trọng trong việc đánh giá mức độ nợ thuế của từng loại hình người nộp thuế Từ đó có biện pháp, chính sách để khuyến khích các loại hình doanh nghiệp phát triển, đồng thời nghiên cứu những bất cập của nhóm nợ khác để có phương pháp quản lý hoặc xử lý phù hợp
* Căn cứ vào tính chất nợ
- Nợ chờ xử lý
Khác với việc phân loại nợ theo các nhóm trên thì nợ chờ xử lý căn cứ vào tính chất của khoản nợ và áp dụng đối với đối tượng nộp thuế đang tồn tại
để phân loại Do vậy, các khoản nợ thuộc các trường hợp được đưa vào nhóm
nợ chờ xử lý để theo dõi thường bao gồm:
Trang 22Thứ nhất, nợ đang chờ điều chỉnh: Là số tiền nợ thuế của người nợ thuế
do người nợ thuế hoặc cơ quan thuế có sai sót khi kê khai thuế, tính thuế đang làm thủ tục để điều chỉnh lại hoặc do tạm tính số thuế phải nộp cao hơn số phát sinh Tức là, số tiền nợ do người nộp thuế đã kê khai số thuế tạm nộp hàng kỳ theo quy định nhưng thực tế thuế phát sinh phải nộp thấp hơn so với số thuế đã
kê khai tạm nộp, đang làm thủ tục điều chỉnh lại Ngoài ra, trong nhóm này còn
có số tiền nợ do chứng từ luân chuyển chậm hoặc thất lạc, tiền thuế đã nộp vào tài khoản thu NSNN nhưng do chứng từ luân chuyển chưa kịp thời hoặc thất lạc nên trên sổ thuế vẫn ghi nợ
Thứ hai, nợ đang xử lý miễn, giảm, xóa nợ: là số tiền nợ thuế của
người nợ thuế đang trong thời gian làm các thủ tục tại cơ quan thuế để được xử lý miễn, giảm, xóa nợ theo quy định của pháp luật về thuế; cá nhân được cơ quan pháp luật coi là đã chết, mất tích, mất năng lực hành vi dân sự mà không còn tài sản để nộp tiền thuế, tiền phạt còn nợ; nợ của người nợ thuế bị tuyên bố phá sản đã thực hiện các khoản thanh toán theo quy định của Luật phá sản mà không còn tài sản để nộp tiền thuế, tiền phạt Khi người nộp thuế đang có nợ thuế do đến kỳ phải thực hiện kê khai thuế đúng hạn nhưng theo quy định của pháp luật về thuế họ sẽ được miễn, giảm hoặc được xử lý cho ghi thu, ghi chi và đang làm thủ tục thì tạm thời đưa vào nhóm nợ chờ xử lý này để theo dõi chứ không áp dụng các biện pháp cưỡng chế thu nợ
Thứ ba, theo quy định của pháp luật về thuế và xử lý khiếu nại tố cáo
thì trong quá trình khiếu nại khi cơ quan có thẩm quyền chưa ra quyết định
xử lý, người nộp thuế vẫn phải nộp các khoản thuế vào NSNN Do đó, phát sinh thêm khoản nợ chờ xử lý do khiếu nại của người nộp thuế, xử lý thoái trả tiền thuế khi có quyết định chính thức của cơ quan có thẩm quyền thì nợ này được đưa vào một trong hai nhóm nợ có khả năng thu hoặc nợ không có khả năng thu
Trang 23Thứ tư, nợ đang được khoanh nợ, giãn nợ là số tiền thuế nợ của người
nộp thuế đã được xử lý cho khoanh nợ, giãn nợ hoặc đang trong thời hạn làm các thủ tục tại cơ quan thuế đã được xử lý giãn nợ theo quy định
- Nợ thông thường có khả năng thu
Là số tiền nợ thuế của người nợ thuế được xác định phải nộp vào NSNN nhưng đã hết hạn nộp theo quy định của pháp luật về thuế mà chưa nộp vào NSNN và không thuộc các trường hợp thuộc nhóm nợ chờ xử lý nêu trên
- Nợ khó thu
Tương tự cách phân loại vào khả năng thu hồi nợ của đối tượng nợ thì khó thu bao gồm nợ của các đối tượng giải thể, phá sản hoặc đang trong giai đoạn thực hiện các thủ tục giải thể, phá sản để giải quyết nợ theo trình tự của thủ tục giải thể, phá sản doanh nghiệp; hoặc nợ của đối tượng bỏ trốn, mất tích; của đối tượng bị khởi tố là số tiền thuế nợ của đối tượng nộp thuế đang trong giai đoạn bị điều tra, khởi tố hình sự liên quan đến nghĩa vụ nộp thuế, đang thi hành án, đang chờ bản án hoặc kết luận của cơ quan pháp luật
Đối với những người nộp thuế rơi vào tình trạng này thì việc thu nợ sẽ gặp nhiều khó khăn, người nộp thuế thường không có tiền trả nợ thuế hoặc không tìm được chủ doanh nghiệp, khi đó cơ quan thuế sẽ phải phụ thuộc vào kết quả xử lý của cơ quan có thẩm quyền khác, do đó sẽ không chủ động trong việc đưa ra các biện pháp thu nợ kịp thời Chính vì vậy, việc phân loại các nhóm nợ này có ý nghĩa quan trọng trong việc quản lý nợ đối với những trường hợp người nộp thuế rơi vào tình trạng này
1.1.1.6 Nội dung quy trình quản lý nợ
* Xây dựng chỉ tiêu thu tiền thuế nợ
- Xác định số tiền thuế nợ năm thực hiện
- Lập chỉ tiêu thu tiền thuế nợ năm kế hoạch
- Báo cáo chỉ tiêu thu tiền thuế nợ đã xác định ở điểm 2 cho cơ quan thuế cấp trên
Trang 24- Phê duyệt chỉ tiêu thu tiền thuế nợ.
- Triển khai thực hiện chỉ tiêu thu tiền thuế nợ trên cơ sở phê duyệt tại điểm 4
* Đôn đốc thu và xử lý tiền thuế nợ
- Phân công quản lý nợ thuế
- Phân loại tiền thuế nợ
- Lập nhật ký và sổ tổng hợp theo dõi tiền thuế nợ
- Đối chiếu số liệu
- Xử lý các văn bản, hồ sơ đề nghị xóa nợ tiền thuế, gia hạn nộp thuế, hoàn kiêm bù trừ
- Xử lý tiền thuế đã nộp NSNN đang chờ điều chỉnh; khó thu (trừ trường hợp đã được xóa nợ tại điểm 6) và một số nguyên nhân gây chênh lệch tiền
thuế nợ
- Đôn đốc tiền thuế nợ đối với đơn vị xây dựng cơ bản vãng lai, các chi nhánh, đơn vị hạch toán phụ thuộc và đơn vị ủy nhiệm thu
- Báo cáo kết quả thực hiện công tác quản lý nợ
- Lưu trữ tài liệu về quản lý nợ
1.1.1.7 Vai trò của công tác quản lý nợ thuế
Quản lý nợ thuế có vai trò quan trọng trong công tác quản lý thuế cũng như có vai trò trong hoạt động kinh tế xã hội Cụ thể là:
Thứ nhất, quản lý nợ thuế để quản lý, theo dõi tình hình thực hiện nghĩa
vụ của đối tượng nộp thuế, đảm bảo người nộp thuế nộp các khoản thuế đầy
đủ, kịp thời vào NSNN; đảm bảo công bằng xã hội khi các cơ sở kinh doanh cùng phát sinh nghĩa vụ thuế thì phải nộp vào NSNN đúng hạn
Thứ hai, quản lý nợ thuế để đảm bảo quản lý tất cả các khoản thu của
Nhà nước, chống thất thoát NSNN Quản lý nợ đảm bảo các chính sách thuế được thực hiện đúng và triệt để thông qua việc cơ quan thuế có các tác động, can thiệp kịp thời và xử lý nghiêm các trường hợp có hành vi vi phạm thời hạn nộp thuế nhằm nâng cao ý thức tuân thủ của người nộp thuế
Trang 25Thứ ba, việc quản lý nợ thuế để đảm bảo cơ quan thuế có biện pháp thu
nợ phù hợp, hiệu quả; mặt khác quản lý nợ là một thước đo để đánh giá hiệu quả của công tác quản lý thu thuế, góp phần nâng cao hiệu quả của các chức năng khác như: thanh tra, kiểm tra chống thất thu thuế
1.1.1.8 Yêu cầu của công tác quản lý nợ thuế
Quản lý nợ thuế phải đảm bảo các yêu cầu sau:
Thứ nhất, trong quản lý thuế nói chung và quản lý nợ thuế nói riêng thì
yêu cầu cơ bản và quan trọng nhất của công tác này là phải quản lý đầy đủ, không bỏ sót các khoản thu của NSNN, vì nếu quản lý không chặt chẽ, không bao quát hết các khoản thu sẽ gây thất thu cho NSNN, khi đó sẽ gây khó khăn cho việc thực hiện các biện pháp cưỡng chế thuế
Thứ hai, phải đảm bảo quản lý chính xác các khoản nợ để cơ quan thuế
có các biện pháp quản lý phù hợp Để thực hiện yêu cầu này, bên cạnh việc phân loại nợ theo các tiêu thức đã trình bày ở phần trên thì các tiêu thức phân loại phải được kết hợp với nhau một cách hợp lý; qua đó cơ quan thuế sẽ đánh giá, xem xét và đưa ra các biện pháp thu nợ phù hợp với từng ngành nghề, lĩnh vực, trong từng thời kỳ phát triển kinh tế xã hội
Thứ ba, phải đảm bảo thu nợ kịp thời, tránh thất thu NSNN Yêu cầu
này là yêu cầu xuyên suốt của công tác quản lý nợ thuế và là mục tiêu của công tác quản lý nợ thuế trong toàn ngành nói chung và của Cục thuế Bắc Ninh nói riêng
1.2 Những yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý nợ
1.2.1 Nhóm yếu tố chủ quan
Thứ nhất, quy trình quản lý nợ của cơ quan thuế có hợp lý hay không
hợp lý sẽ có ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả công tác quản lý nợ thuế vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến thao tác nghiệp vụ của cán bộ thuế
Thứ hai, các hoạt động hỗ trợ như tuyên truyền, giải đáp, hỗ trợ về chính
sách pháp luật, cung cấp các hệ thống phần mềm hỗ trợ về kê khai kế toán thuế, đây cũng là yếu tố rất quan trọng tác động đến công tác quản lý nợ
Trang 26Thứ ba, chính sách, pháp luật là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến công
tác quản lý nợ Chính sách, pháp luật phải đồng bộ, phù hợp với tình hình thực tế
Thứ tư,Chế tài xử lý về thuế chưa đủ mạnh, đây là yếu tố ảnh hưởng đến
việc chống thất thu thuế nói chung và công tác thu hồi nợ thuế nói riêng
Thứ năm, trình độ nghiệp vụ, năng lực chuyên môn của cán bộ làm công
tác quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế còn hạn chế Con người luôn là nhân tố quyết định đến mọi thành bại của quản lý Quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế cũng không nằm ngoài quy luật này
1.2.2 Nhóm yếu tố khách quan
Thứ nhất, tình hình kinh tế xã hội có ảnh hưởng nhất định đến công tác
quản lý nợ thuế
Thứ hai, sự phối kết hợp của các cơ quan hữu quan với cơ quan thuế
trong công tác quản lý nợ cũng rất quan trọng
Thứ ba, đặc điểm của nền kinh tế cũng là một yếu tố tác động đến công
tác đôn đốc thu nợ thuế
Thứ tư, ý thức chấp hành chính sách pháp luật về thuế của người nộp
thuế cũng là một yếu tố rất quan trọng tác động đến công tác quản lý nợ thuế
1.3 Cơ sở thực tiễn về công tác quản lý nợ thuế
1.3.1 Công tác quản lý nợ thuế tại Việt Nam nói chung
Trong những năm gần đây, cùng với việc tăng số thu thuế thì số nợ thuế cũng gia tăng Tốc độ tăng nợ thuế đáng lo ngại nhất là vào những năm 2012.Tuy nhiên, xét tỷ lệ nợ thuế so với tổng thu từ thuế thì năm 2012 có tỷ lệ
nợ thuế trên số thu nội địa trừ dầu cao nhất, ở mức 9,94% Đây cũng là năm tăng vọt về tỷ lệ nợ thuế trên số thu so với hai năm trước đó (tỷ lệ nợ thuế trên tổng thu nội địa trừ dầu chỉ là 6,05% và 6,94%) Năm 2009 và 2010, tỷ lệ nợ thuế so với tổng thu nội địa trừ dầu giảm đáng kể so với năm 2008 nhưng vẫn
ở mức cao, với các tỷ lệ tương ứng là 8,54% và 7,59%
Trang 27Để thấy rõ hơn tình hình nợ thuế cũng như hiệu quả của công tác đôn đốc thu nộp và quản lý nợ thuế, cần đánh giá nợ thuế và quản lý nợ thuế theo loại nợ Ngoại trừ năm 2006 với tỷ trọng nợ có khả năng thu thấp nhất là 55,7%, các năm còn lại, tỷ trọng nợ có khả năng thu khá cao, dao động khoảng từ 65% đến 72%.
Nợ khó thu là loại nợ chiếm tỷ trọng thấp nhất trong 3 nhóm nợ với tỷ trọng dao động khoảng từ xấp xỉ 10% đến 13%, trừ năm 2006 với tỷ trọng cao hơn ở mức 24,4% Đây là nợ của những đối tượng sau: doanh nghiệp (DN) lâm vào tình trạng phá sản, giải thể; người nộp thuế bỏ trốn, mất tích; DN đang chờ giải quyết theo Luật Phá sản; người nộp thuế ngừng và tạm ngừng hoạt động kinh doanh; người nộp thuế bị khởi tố Với đặc điểm của đối tượng
nợ thuế như trên, tỷ trọng khoảng trên 10% nói trên tuy là thấp so với hai loại
nợ còn lại, song vẫn là một tỷ lệ đáng lo ngại, vì tuy mới xếp vào nhóm khó thu nhưng thực chất khả năng thu nợ thuế của những đối tượng này rất nhỏ, gần như là không thể thu được Cần lưu ý rằng, trong số nợ thuế nói trên có một tỷ lệ không nhỏ nợ của DN bỏ trốn, mất tích Đối với những trường hợp này, khả năng thu nợ hầu như không có Bởi vậy, có thể nói, số nợ thuế trên 3 nghìn tỷ đồng lũy kế đến 31/12/2010 là con số khó thu hồi
Những nỗ lực đôn đốc thu nộp và quản lý nợ thuế:
Trước thực trạng nợ đọng thuế trên, trong thời gian qua, Tổng cục Thuế
đã thường xuyên nghiên cứu để xây dựng và sửa đổi quy trình quản lý nợ thuế Cụ thể, Quy trình quản lý nợ thuế 1123/QĐ- TCT, sau đó là quy trình 477/QĐ-TCT và bây giờ là quy trình 1395/QĐ -TCT là cơ sở quan trọng để thống nhất nghiệp vụ quản lý nợ thuế Quy trình này cũng là cơ sở để Tổng cục Thuế tổ chức chỉ đạo và kiểm tra việc thực hiện công tác đôn đốc thu nộp, quản lý nợ thuế của các cơ quan thuế địa phương Mặt khác, giao chỉ tiêu cụ thể cho các cục thuế địa phương về tỷ lệ nợ tối đa cho phép, số nợ thuế thu hồi; tổ chức kiểm tra đánh giá việc thực hiện các chỉ tiêu này của các cục thuế
Trang 28địa phương Việc theo dõi, quản lý số nợ thuế đã được thực hiện trên các ứng dụng tin học, trong đó, đáng chú ý là năm 2010 đã nghiên cứu, xây dựng
và triển khai trên phạm vi cả nước ứng dụng quản lý nợ cấp chi cục thuế
Với việc triển khai các biện pháp nói trên, công tác quản lý nợ đọng thuế đã dần đi vào nề nếp và đạt được những kết quả tích cực Từ năm 2010 đến nay, bình quân mỗi năm, toàn Ngành đã thu trên 75% nợ thuế có khả năng thu và phân loại, có biện pháp xử lý giảm ít nhất 25% nợ khó thu và nợ chờ xử lý đối với nợ của năm trước chuyển sang
1.3.2 Kinh nghiệm công tác quản lý nợ thuế tại một số tỉnh trong nước
* Tại Hoà Bình
Năm 2012 là năm ngành thuế Hoà Bình triển khai thực hiện nhiệm vụ vô cùng khó khăn, do lạm phát và suy thoái, tốc độ tăng trưởng chậm, sức mua của thị trường giảm, doanh nghiệp không tiếp cận được nguồn vốn, hàng loạt các doanh nghiệp phải ngừng hoạt động hoặc giải thể Bên cạnh đó, Chính phủ ban hành tháo gỡ khó khăn trong SX- KD, hỗ trợ thị trường, miễn, giảm, giãn một số khoản thuế để tháo gỡ khó khăn cho các DN, do vậy đã có tác động không nhỏ đến nguồn thu NSNN trên địa bàn tỉnh
Xác định được những khó khăn trên, ngay từ đầu năm Cục Thuế đã nỗ lực tập trung mọi nguồn lực, triển khai quyết liệt và đồng bộ nhiều biện pháp quản lý thuế nhằm phấn đấu hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị được giao Một trong những biện pháp được lựa chọn đó là đẩy mạnh công tác thanh tra, kiểm tra chống thất thu thuế và giảm nợ đọng thuế; tăng cường công tác quản lý, giám sát địa bàn để phát hiện, khai thác nguồn thu từ các lĩnh vực, ngành nghề có điều kiện nhằm bù đắp cho các khoản hụt thu
Tính đến hết 11/2012 tổng số nợ đọng có khả năng thu của toàn tỉnh là
149 tỷ đang chiếm 9,4% dự toán thu ngân sách năm 2012 Nợ thuế chủ yếu là của khu vực kinh tế NQD chiếm khoảng 78% tổng số nợ, trong đó một số loại hình doanh nghiệp nợ đọng lớn tập trung chủ yếu vào các khoản thu liên quan
Trang 29đến đất đai, tài nguyên, khoáng sản, xây dựng cơ bản và kinh doanh nông sản Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến nợ đọng thuế đó là do năm 2012 tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 11/NQ-CP về các giải pháp chủ yếu tập trung kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội, giá cả các mặt hàng tăng cao, lạm phát gia tăng; Chính sách tiền tệ được quản lý chặt chẽ; Một số chính sách Nhà nước thay đổi… đã ảnh hưởng không nhỏ đến sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp Nhiều doanh nghiệp kinh doanh thua lỗ, không tiếp cận được vốn tín dụng, không thu hồi được công nợ do các doanh nghiệp chiếm dụng vốn của nhau, sản xuất kinh doanh ngừng chệ, hàng hóa tồn kho nhiều từ đó các doanh nghiệp không có khả năng nộp Ngân sách Trước tình hình đó, ngành thuế đã triển khai các giải pháp thu hồi nợ thuế như: Đẩy mạnh tuyên truyền, hỗ trợ, tư vấn pháp luật về thuế cho người nộp thuế, tiến hành các bước đúng theo quy trình thu nợ thuế, đối với các trường hợp cố tình dây dưa nộp chậm tiền thuế thì ngành thuế tiến cưỡng chế theo các biện pháp như trích tiền từ tài khoản tiền gửi ngân hàng để nộp thuế và tiền phạt hoặc các hình thức khác như đình chỉ sử dụng hoá đơn
Đồng thời làm tốt công tác tham mưu cho UBND tỉnh cùng với các ngành chức năng trong tỉnh như: Tài chính, Kế hoạch & Đầu tư; Tài nguyên
& Môi trường; Công thương, Công an tỉnh, Kho bạc Nhà nước; CN Ngân hàng NN&PTNT tỉnh Hoà Bình triển khai các giải pháp thu hồi nợ đọng thuế Kiên quyết xử lý dứt điểm các doanh nghiệp cố tình nợ thuế kéo dài bằng biện pháp cưỡng chế:
Đối với bộ phận Quản lý nợ & cưỡng chế nợ của thuế Cục Thuế và các Chi cục Thuế huyện, thành phố: Thực hiện nghiêm túc chức năng, nhiệm vụ theo quy định và quy trình quản lý nợ, thường xuyên theo dõi chặt chẽ các khoản nợ mới phát sinh, kết hợp các phòng chức năng liên quan đôn đốc, nhắc nhở các doanh nghiệp nộp kịp thời vào NSNN, đồng thời tiến hành các thủ tục theo quy trình quản lý nợ Phân tích rõ tuổi nợ của các khoản nợ, xem
Trang 30xét, đánh giá về khả năng tài chính của các doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp có số nợ lớn để có kế hoạch cưỡng chế cụ thể Đối với khoản nợ thuế khó thu hồi của một số doanh nghiệp lâm vào tình trạng giải thể phá sản, doanh nghiệp bỏ trốn mất tích, bị khởi tố thì tiến hành củng cố hồ sơ đề nghị Bộ Tài chính, Tổng cục Thuế xoá nợ theo quy định của pháp luật thuế Đối với khoản nợ thuế chờ xử lý: Gồm số nợ được gia hạn khoanh nợ, giãn
nợ, chờ xoá nợ, miễn giảm, chờ điều chỉnh tiến hành đi sâu phân tích chuyển sang khoản nợ khó thu hoặc nợ có khả năng thu để áp dụng biện pháp xử lý phù hợp Đối với khoản nợ có khả năng thu thì lập danh sách người nộp thuế
nợ quá hạn 90 ngày trình Lãnh đạo Cục Thuế, Chi cục Thuế phê duyệt, cương quyết thực hiện các bước biện pháp cưỡng chế nợ thuế
* Tại Thanh Hóa
Trước tình hình kinh tế trong nước gặp nhiều khó khăn, việc nợ thuế có chiều hướng gia tăng, ngay từ đầu năm, ngành thuế đã triển khai nhiều biện pháp phân loại nợ đọng tiền thuế, quản lý thu nợ, đồng thời chỉ đạo quyết liệt các chi cục thuế, phòng thu ngân sách thực hiện tốt kế hoạch giảm nợ Các chi cục thuế xây dựng chương trình, kế hoạch thu nợ, giao chỉ tiêu thu nợ thuế cụ thể đến từng cán bộ thuế, từng địa bàn cụ thể để tăng cường quản lý, tăng thu, giảm nợ đọng tiền thuế Ngành thuế phấn đấu tỷ lệ nợ thuế so với số thực hiện thu ngân sách trên địa bàn năm 2012 không vượt quá 5% Qua phân loại, đối với nợ tiền thuế có khả năng thu, ngành thuế tăng cường công tác vận động, tuyên truyền, giải thích để người nộp thuế hiểu rõ trách nhiệm và nghĩa vụ của người nộp thuế; nâng cao ý thức tự giác chấp hành nghĩa vụ nộp thuế vào ngân sách Nhà nước đúng thời hạn quy định Ngành phân công cụ thể cán bộ quản lý theo từng doanh nghiệp nợ, thông báo “mẫu 06/QTR-QTN” đến tất cả các tổ chức, cá nhân còn nợ đọng tiền thuế, đồng thời xác định nguyên nhân
và lập biên bản yêu cầu nộp thuế đối với những trường hợp có khả năng thu nhưng chây ỳ thực hiện nghĩa vụ nộp ngân sách Nhà nước Trường hợp doanh
Trang 31nghiệp vẫn cố tình chây ỳ, ngành thuế sẽ áp dụng các biện pháp cưỡng chế để thu hồi nợ thuế vào ngân sách Nhà nước Đối với những khoản nợ thuế khó thu, ngành tập trung rà soát, phân loại và củng cố hồ sơ pháp lý để xử lý dứt điểm và kiến nghị cấp có thẩm quyền xóa nợ theo quy định Đối với các khoản nợ của người nộp thuế bỏ trốn mất tích, đang trong giai đoạn điều tra, khởi tố hình sự, ngành lập hồ sơ để chờ kết quả điều tra, xử lý của cơ quan có thẩm quyền Đối với những khoản nợ chờ xử lý, ngành tiến hành rà soát các khoản nợ mà người nộp thuế có thể nộp nhầm, nộp sai mục lục ngân sách, do chứng từ luân chuyển chậm dẫn đến các khoản thừa thiếu để tiến hành điều chỉnh và do người nộp thuế không kê khai rõ trường hợp được giảm nộp theo chế độ quy định
Thông qua công tác quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế cho thấy, đã có nhiều chuyển biến quan trọng về chất lượng, ý thức chấp hành pháp luật thuế của các doanh nghiệp trên địa bàn đã được nâng lên rõ rệt Đa số các doanh nghiệp thực hiện kê khai đã chủ động nộp thuế vào ngân sách Nhà nước Tuy nhiên, bên cạnh đó cho thấy số nợ đọng tiền thuế vẫn còn ở mức cao (7,37%) Các biện pháp cưỡng chế nợ thuế ở các chi cục thuế mới dừng lại ở việc phong tỏa tài khoản thông qua việc nắm bắt thông tin từ ngân hàng Việc thu thập thông tin về tài khoản của người nộp thuế mất nhiều thời gian do người nộp thuế mở tài khoản tại nhiều ngân hàng Trong các doanh nghiệp có số tiền
nợ thuế lớn thì hầu hết không có tiền trong tài khoản tại các ngân hàng nên ngành thuế không thể thực hiện cưỡng chế theo quy định Một số doanh nghiệp có thói quen thanh toán bằng tiền mặt hoặc thường xuyên thay đổi tài khoản tại ngân hàng, mở tài khoản tại ngân hàng ngoài tỉnh nhưng không khai báo với cơ quan thuế nên việc thực hiện cưỡng chế nợ thuế kéo dài, hiệu quả chưa cao
Để hoàn thành kế hoạch quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế năm 2013, thời gian tới, ngành thuế thường xuyên thực hiện công tác rà soát người nộp thuế
Trang 32còn nợ thuế để đưa vào quản lý nợ thuế theo quy định, tăng cường các biện pháp cưỡng chế người nộp thuế có số thuế nợ đọng lớn, đồng thời, hướng dẫn người nộp thuế thực hiện các thủ tục gia hạn đối với các trường hợp hoạt động trong lĩnh vực xây dựng cơ bản có số tiền nợ do nguyên nhân chưa được thanh toán vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước.
1.3.3 Bài học kinh nghiệm
Thứ nhất: cần phải nhận thức đúng vai trò của công tác quản lý nợ thuế Thứ hai: xây dựng bộ máy tổ chức quản lý nợ thuế giỏi về chuyên môn
nghiệp vụ theo hướng chuyên sâu về từng lĩnh vực Cần tăng cường sự phối hợp chặt chẽ giữa các phòng chức năng trong công tác quản lý nợ thuế Các
bộ phận Quản lý nợ, bộ phận Kê khai kế toán thuế, bộ phận Kiểm tra thuế thực hiện phối hợp rà soát, đối chiếu, điều chỉnh các khoản nợ đảm bảo số liệu trên ứng dụng của cơ quan thuế chính xác và thống nhất với người nộp thuế; đối với các Chi cục Thuế phải thực hiện quản lý nợ trên ứng dụng đã triển khai, yêu cầu tất cả các Chi cục Thuế phải thực hiện quản lý nợ trên ứng dụng và truyền báo cáo nợ thuế về cục thuế qua ứng dụng mạng internet và quản lý hệ thống;
Thứ ba: tranh thủ sự ủng hộ của chính quyền địa phương trong việc đôn
đốc thu hồi nợ thuế Báo cáo kịp thời tình hình diễn biến nợ thuế với các cấp
uỷ Đảng và chính quyền địa phương; đồng thời chủ động tham mưu, đề xuất các biện pháp để xử lý nợ đọng phù hợp Tuyên truyền thông báo trên phương tiện truyền thanh của xã phường đối với các hộ kinh doanh cố tình dây dưa nợ thuế;
Thứ tư: tăng cường công tác tuyên truyền, tư vấn thuế nhằm nâng cao ý
thức chấp hành luật thuế của người nộp thuế và đội ngũ cán bộ công chức
Trang 33Chương 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Câu hỏi nghiên cứu
- Thực trạng công tác quản lý nợ thuế tại Cục thuế tỉnh Bắc Ninh hiện nay như thế nào?
- Cơ sở vật chất của ngành thuế cũng như trình độ của cán bộ thuế đã đáp ứng được yêu cầu quản lý nợ thuế chưa? tại sao phải đổi mới thiết bị tin học và vận dụng ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác quản lý nợ thuế?
- Giải pháp nào để công tác quản lý nợ thuế đạt hiệu quả tốt nhất?
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Phương pháp thu thập số liệu: Đề tài sử dụng hai nguồn dữ liệu thứ cấp
và sơ cấp
2.2.1.1 Thu thập số liệu thứ cấp
Các số liệu thứ cấp được thu thập chủ yếu bằng phương pháp tổng hợp tài liệu Sử dụng các số liệu thống kê, các báo cáo tổng kết công tác thuế, kế hoạch phân bổ thực hiện dự toán… có sẵn của Cục thuế tỉnh Bắc Ninh theo từng mốc thời gian, các Website chính thức, các tạp chí, sách báo tham khảo
và các báo cáo khoa học đã được công bố Các tài liệu về tình hình chung của tỉnh Bắc Ninh như: điều kiện tự nhiên, dân số, kinh tế, xã hội, số thu nộp ngân sách, tình hình nợ đọng NSNN năm 2010 - 2013 Cụ thể:
- Thu thập tài liệu về điều kiện tự nhiên, mật độ dân số và về tình hình phát triển kinh tế xã hội trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh
- Thu thập tài liệu về tình hình thu nộp ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2010 - 2013
- Thu thập các thông tin, tài liệu phục vụ cho nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về công tác quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế
- Thu thập các thông tin, số liệu liên quan đến tình hình nợ đọng tiền thuế trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh trong những năm gần đây
Trang 34- Thu thập tài liệu phản ánh thực trạng công tác quản lý nợ thuế và các biện pháp thu hồi nợ thuế, những kết quả đã đạt được và những khó khăn vướng trong công tác quản lý nợ tại Cục thuế tỉnh Bắc Ninh.
- Các vấn đề có liên quan đến việc nâng cao năng lực công tác quản lý
nợ và cưỡng chế thuế tại Cục thuế tỉnh Bắc Ninh
2.2.1.2 Thu thập số liệu sơ cấp
Số liệu sơ cấp là thông tin thu thập được thông qua phiếu điều tra, phỏng vấn trực tiếp để làm rõ thực trạng quản lý nợ thuế tại địa bàn nghiên cứu
* Điều tra cán bộ thuế:
- Số mẫu điều tra: 46 phiếu (trong đó có 36 phiếu của tất cả cán bộ trực tiếp làm công tác quản lý nợ thuế) Số lượng mẫu điều tra dựa trên các tiêu chuẩn:
+ Vị trí công tác: Lãnh đạo Cục thuế và cán bộ chi cục thuế
+ Trình độ của cán bộ thuế
+ kinh nghiệm của cán bộ thuế
- Nội dung điều tra: Chúng tôi sử dụng phương pháp phỏng vấn sâu, kết hợp với phiếu điều tra đối với cán bộ cơ quan thuế để qua đó nắm bắt được năng lực, trình độ chuyên môn nghiệp vụ của cán bộ thuế làm công tác quản
lý nợ đồng thời tìm hiểu thực trạng, nguyên nhân hạn chế và định hướng giải pháp cho việc nâng cao hiệu quả công tác quản lý nợ thuế của cục thuế tỉnh Bắc Ninh
* Điều tra đối tượng nộp thuế:
- Số mẫu điều tra: tiến hành lấy mẫu điều tra doanh nghiệp đóng trên địa bàn, theo các tiêu chí sau:
+ Quy mô sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
+ Ngành nghề kinh doanh của doanh nghiệp
+ Mức nợ thuế của doanh nghiệp
→ Từ các tiêu chí trên tiến hành phân tổ, phân nhóm và chọn mẫu điều tra theo các tổ, các nhóm đối tượng: số lượng chọn là 90 doanh nghiệp
Trang 35- Nội dung điều tra các doanh nghiệp: điều tra nhóm đối tượng nộp thuế
để có cái nhìn khách quan hơn về công tác quản lý nợ thuế tại Cục thuế Bắc Ninh Đồng thời tham khảo quan điểm, thái độ, ý kiến và sự thoả mãn của các Doanh nghiệp về hoạt động quản lý nợ thuế Cụ thể:
+ Tình hình nợ thuế
+ Nguyên nhân nợ thuế
+ Nhận thức của doanh nghiệp về thuế và công tác quản lý nợ thuế.+ Ý thức chấp hành pháp luật của chủ doanh nghiệp
+ Đánh giá của doanh nghiệp về cán bộ thuế (trình độ, tác phong và kỹ năng làm việc,…)
+ Đánh giá của doanh nghiệp về chính sách thuế
+ Kiến nghị của doanh nghiệp về chính sách, công tác quản lý,…
Dung lượng mẫu phiếu điều tra được thể hiện qua bảng 2.1 sau:
Bảng 2.1 Số lượng phiếu điều tra ở các nhóm đối tượng
1 Ban lãnh đạo (LĐ Cục thuế, phòng, các chi cục) 20
2 Cán bộ làm công tác quản lý nợ và cưỡng chế thuế 36
2.2.2 Phương pháp xử lý số liệu và phân tích
2.2.2.1 Phương pháp xử lý số liệu
- Phương pháp tổng hợp tài liệu: Toàn bộ tài liệu thu thập được tổng hợp thành bảng thống kê, so sánh kết hợp với việc phân tổ tài liệu và lập dãy số song song nhằm phân tích thực trạng tình hình quản lý nợ thuế trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh
- Xử lý dữ liệu: Kết hợp xử lý số liệu thủ công với xử lý số liệu bởi các phần mềm tin học như Word, Excel, SPSS
2.2.2.2 Phương pháp phân tích
Để thực hiện đề tài nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng các phương pháp
Trang 36phân tích sau:
* Phương pháp thống kê mô tả: Phương pháp này được dùng để thống
kê số tuyệt đối, số tương đối, số bình quân các chỉ tiêu thống kê sẽ được tính toán để mô tả thực trạng công tác quản lý nợ thuế tại Cục thuế tỉnh Bắc Ninh
và những thuận lợi và khó khăn trong quá trình công tác Một số chỉ tiêu so sánh cũng được thể hiện trong quá trình làm đề tài
* Phương pháp so sánh: Phương pháp này được sử dụng sau khi số liệu
đã được tổng hợp, phân tích chúng ta sử dụng phương pháp so sánh để so sánh, đánh giá về các vấn đề nghiên cứu về công tác quản lý nợ tại Cục thuế tỉnh Bắc Ninh, cụ thể:
- So sánh tình hình thu ngân sách qua các năm
- So sánh mức nợ thuế của Cục thuế Bắc Ninh qua các năm
- So sánh mức nợ thuế giữa các loại hình doanh nghiệp qua các năm
- So sánh mức nợ thuế của các doanh nghiệp qua các năm
* Phương pháp phân tổ thống kê: Phương pháp này sử dụng để phân
nhóm các đối tượng nợ thuế theo quy mô thuế phải nộp, theo từng sắc thuế, thời hạn nộp thuế nhằm đánh giá ảnh hưởng của các yếu tố đến công tác quản
lý nợ thuế.Tiêu thức phân tổ cụ thể:
- Tình hình nợ thuế theo quy mô doanh nghiệp
- Tình hình nợ thuế theo loại hình doanh nghiệp
- Tình hình nợ thuế theo từng sắc thuế
- Tình hình nợ thuế theo địa bàn
* Phương pháp phân tích cây vấn đề (Problem tree): Cây vấn đề là việc
phát hiện các hạn chế khó khăn chủ yếu (problem) và phân tích các nguyên nhân hạn chế, khó khăn theo dạng hình cây Các nguyên nhân hạn chế được phân tích theo các cấp độ khác nhau:
- Nguyên nhân cấp 1
- Nguyên nhân cấp 2
Trang 37+ Mục đích sử dụng trong đề tài: phương pháp này được sử dụng để phân tích những nguyên nhân nợ thuế và những khó khăn trong quản lý nợ thuế.
+ Nội dung của phương pháp được mô tả như sau:
2.3 Sơ đồ mô tả cây vấn đề
* Phương pháp SWOT: được sử dụng để đánh giá những thuận lợi, khó
khăn, cơ hội và thách thức trong quản lý nợ thuế Đồng thời đánh giá điểm mạnh, điểm yếu của các công cụ quản lý nợ thuế
- Điểm mạnh (S): Những điều kiện thuận lợi của doanh nghiệp, cơ quan thuế trong công tác quản lý nợ thuế
- Điểm yếu (W): các khó khăn có thể khắc phục của cơ quan thuế và người nộp thuế
- Cơ hội (O): Các thuận lợi bên ngoài mà cơ quan quản lý thuế và các doanh nghiệp có thể tận dụng trong công tác quản lý nợ thuế
- Thách thức (T): Các khó khăn bên ngoài ảnh hưởng đến quản lý nợ thuế
2.4 Bảng SWOT
Khó khăn chủ yếu
Nguyên nhân khó khăn 1
Nguyên nhân khó khăn 2
Nguyên
nhân 1
Nguyên nhân 2
Nguyên nhân 1 Nguyên nhân 2
Trang 38S: Thuận lợi bên trong W: Khó khăn bên trong
O: Cơ hội bên ngoài T: Thách thức bên ngoài
* Phương pháp chuyên gia: Tham khảo những người có kiến thức
chuyên sâu về lĩnh vực quản lý nợ thuế
2.5 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu
Chỉ tiêu thực trạng quản lý nợ thuế:
- Tổng số thuế ghi thu (triệu đồng)
- Tốc độ tăng số thuế ghi thu (%)
Tỷ lệ nợ có
khả năng thu =
Tổng số thuế nợ có khả năng thu
Tổng số thuế nợ
Trang 39Chương 3 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ NỢ THUẾ
TẠI CỤC THUẾ TỈNH BẮC NINH
3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu
3.1.1 Vị trí địa lý
Hình 3.1: Bản đồ tỉnh Bắc Ninh
Bắc Ninh là một tỉnh Việt Nam thuộc khu vực phía bắc của vùng đồng bằng sông Hồng và tiếp giáp với vùng trung du Bắc bộ tại tỉnh Bắc Giang Bắc Ninh là cửa ngõ phía đông bắc của thủ đô Tỉnh lỵ là thành phố Bắc Ninh nằm cách trung tâm Hà Nội 30 km về phía Đông Bắc Phía Tây và Tây Nam giáp thủ đô Hà Nội , phía Bắc giáp tỉnh Bắc Giang , phía Đông và Đông Nam giáp tỉnh Hải Dương, phía Nam giáp tỉnh Hưng Yên Trong quy hoạch xây dựng, tỉnh này thuộc vùng Thủ đô Vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ Theo số liệu thống kê năm 2010 tỉnh Bắc Ninh có diện tích tự nhiên 823 km2
với tổng dân số 1.038.229 người
Trang 40Vùng đất trù phú nơi đây khi xưa vốn là “xứ Kinh Bắc”, nổi tiếng với nhiều làng nghề và các lễ hội dân gian phong phú diễn ra hàng năm Vào năm 1822, xứ Kinh Bắc được Nhà Nguyễn đổi tên thành tỉnh Bắc Ninh Đến tháng 10.1962, theo Nghị quyết của Quốc hội Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, tỉnh Bắc Ninh sáp nhập với tỉnh Bắc Giang thành tỉnh Hà Bắc Từ
đó “Bắc Ninh” chỉ còn là tên của một đơn vị hành chính trong tỉnh Hà Bắc
và có tên gọi là Thị xã Bắc Ninh Sau đó, đến ngày 6.11.1996, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa 9 kỳ họp thứ 10 đã ra Nghị quyết tái lập tỉnh Bắc Ninh.
Bắc Ninh ở vị trí thuận lợi về giao thông đường bộ, đường sắt và đường thủy Các tuyến đường huyết mạch: Quốc lộ 1A, 1B, quốc lộ 18, quốc lộ 38, đường sắt Hà Nội- Lạng Sơn, Hà Nội - Quảng Ninh nối liền Bắc Ninh với các trung tâm kinh tế, văn hóa và thương mại của khu vực phía Bắc Việt Nam, với cảng hàng không quốc tế Nội Bài và liên thông với hệ thống các trục đường quốc lộ đến với mọi miền trong cả nước
3.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội của tỉnh Bắc Ninh
Bắc Ninh không giàu về tài nguyên khoáng sản và cũng ít tài nguyên rừng, nhưng vô cùng phong phú về tài nguyên nhân văn Đây là một trong những miền quê “địa linh nhân kiệt”, một trong những nơi hội tụ nhiều nhất các di tích lịch sử, văn hóa Tiêu biểu là chùa, đền, đình, miếu, các loại hình nghệ thuật dân gian gắn liền với các lễ hội, các làng nghề truyền thống Đặc biệt, các làn điệu dân ca quan họ không những đã trở thành di sản văn hóa của cả nước mà còn vượt qua mọi không gian, thời gian đến với bạn bè quốc tế
Nhờ vị trí địa lý thuận lợi cùng với các cơ chế và giải pháp phát triển kinh tế hợp lý, Bắc Ninh đã và đang khai thác các tiềm năng hiện có của tỉnh
để trở thành một trung tâm kinh tế- văn hóa phụ trợ, một thành phố vệ tinh quan trọng cho Hà Nội và là một điểm nhấn trong tam giác kinh tế trọng