Tùy thuộc vào tính chất, mục đích thu nợ của từng thời kì kinh tế xã hội thì cơquan thuế có thể tiếp tục chia nợ có khả năng thu hồi thành các loại: nợ thuế chậmnộp dưới 30 ngày, nợ thuế
Trang 1BỘ TÀI CHÍNH HỌC VIỆN TÀI CHÍNH
-*** -CAO ANH TÀI
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI:
MỘT SỐ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ NỢ THUẾ VÀ CƯỠNG
CHẾ NỢ THUẾ TẠI CHI CỤC THUẾ QUẬN BA ĐÌNH - TP HÀ NỘI
Chuyên ngành : Thuế
Mã số : 02
NGƯỜI HƯỚNG DẪN: PGS.TS NGUYỄN THỊ LIÊN
Hà Nội – 2014
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Em xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của em
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực, xuất phát từ tình hình thực tếcủa đơn vị thực tập
Sinh viên
Cao Anh Tài
Trang 3MỤC LỤC
TRANG PHỤ BÌA……… i
LỜI CAM ĐOAN ii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU vii
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 4
TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ NỢ THUẾ VÀ CƯỠNG CHẾ THUẾ 4
1.1 Những vấn đề cơ bản về quản lý nợ thuế 4
1.1.1 Khái niệm nợ thuế và quản lý nợ thuế 4
1.1.2 Đặc điểm của nợ thuế 5
1.1.3 Phân loại nợ thuế 7
1.1.3 Vai trò của công tác quản lý nợ thuế 14
1.1.4 Yêu cầu của công tác quản lý nợ thuế 14
1.2 Những vấn đề cơ bản về cưỡng chế thuế 15
1.2.1 Khái niệm cưỡng chế thuế 15
1.2.2 Đặc điểm cưỡng chế thuế 16
1.2.3 Vai trò của công tác cưỡng chế thuế 16
1.2.4 Yêu cầu đối với công tác cưỡng chế thuế 18
1.3 Mối quan hệ giữa quản lý nợ thuế và cưỡng chế thuế 18
1.4 Những yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý nợ thuế và cưỡng chế thuế 19
1.4.1 Nhóm yếu tố chủ quan 20
1.4.2 Nhóm yếu tố khách quan 20
1.5 Quy trình quản lý nợ thuế và cưỡng chế thuế 21
1.5.1 Quy trình quản lý nợ thuế 21
Trang 41.5.2 Trình tự áp dụng các biện pháp cưỡng chế thuế 22CHƯƠNG 2 27THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ NỢ VÀ CƯỠNG CHẾ NỢ THUẾ TẠICHI CỤC THUẾ QUẬN BA ĐÌNH- THÀNH PHỐ HÀ NỘI 272.1 Sơ lược bối cảnh kinh tế- xã hội và cơ cấu bộ máy quản lý thu thuế tại quận
Ba Đình 27
2.1.1 Bối cảnh kinh tế- xã hội 27
2.1.2 Cơ cấu tổ chức bộ máy tại Chi cục thuế quận Ba Đình 272.2 Kết quả công tác thu thuế trên địa bàn Quận Ba Đình trong giai đoạn 2011-2013 312.3 Thực tiễn công tác Quản lý nợ thuế và cưỡng chế thuế trên địa bàn Quận BaĐình trong những năm gần đây 332.3.1 Thực trạng công tác quản lý nợ thuế tại Chi Cục thuế Quận Ba Đình 332.3.2 Thực trạng công tác cưỡng chế nợ thuế trên địa bàn Chi cục thuế quận
Ba Đình 442.3.3 Đánh giá chung về công tác quản lý nợ thuế và cưỡng chế thuế ở Chicục thuế quận Ba Đình- Thành phố Hà Nội 51CHƯƠNG 3 56MỘT SỐ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ NỢ THUẾ VÀCƯỠNG CHẾ NỢ THUẾ TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN BA ĐÌNH- TP HÀ NỘI 563.1 Những yêu cầu đặt ra đối với công tác quản lý nợ thuế và cưỡng chế nợ thuếtrên địa bàn quận Ba Đình 563.1.1 Quản lý nợ thuế và cưỡng chế nợ thuế phải đảm bảo tính nghiêm minh,
sự bình đẳng trong việc thực hiện các luật thuế đối với các đối tượng nộp thuế 563.1.2 Công tác quản lý nợ thuế và cưỡng chế nợ thuế phải đảm bảo bao quáttất cả các lĩnh vực sản xuất kinh doanh và theo từng khoản nợ thuế 573.1.3 Quản lý nợ thuế và cưỡng chế nợ thuế phải đảm bảo thực hiện tốt cácchỉ tiêu thu nợ theo kế hoạch đề ra 58
Trang 53.2 Giải pháp tăng cường công tác quản lý nợ thuế và cưỡng chế thuế ở Chi cục
thuế quận Ba Đình- TP Hà Nội 58
3.2.1 Giải pháp về nghiệp vụ quản lý nợ thuế 58
3.2.2 Xây dựng các tiêu chí đánh giá hiệu quả của công tác quản lý nợ thuế và cưỡng chế nợ thuế 62
3.2.2 Tăng cường trách nhiệm bộ phận quản lý nợ thuế và cưỡng chế thuế trong công tác quản lý nợ thuế 64
3.2.3 Tăng cường đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ thuế 65
3.2.4 Đảm bảo sự phối hợp nhịp nhàng giữa bộ phận quản lý nợ thuế và các bộ phận có liên quan khác trong quản lý nợ và đôn đốc thu nộp thuế 66
3.2.5 Tăng cường tuyên truyền, giáo dục đối với đối tượng nộp thuế 67
3.2.6 Hoàn thiện cơ sở hạ tầng, trang thiết bị phục vụ cho công tác quản lý nợ thuế và cưỡng chế nợ thuế tại Chi cục thuế quận Ba Đình 67
3.2.7 Phối hợp chặt chẽ với các cơ quan chức năng ban ngành để áp dụng các biện pháp cưỡng chế có hiệu quả 67
KẾT LUẬN 71
TÀI LIỆU THAM KHẢO 72
NHẬN XÉT CỦA ĐƠN VỊ THỰC TẬP 73
NHẬN XÉT CỦA NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC 74
NHẬN XÉT CỦA NGƯỜI PHẢN BIỆN 75
Trang 6DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Trang 8MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Hoàn thành nhiệm vụ thu ngân sách là một trong những nhiệm vụ quan trọng đểthực hiện các mục tiêu chiến lược trong phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm an sinh
xã hội và tăng phúc lợi cho người dân Để phấn đấu hoàn thành nhiệm vụ thu ngânsách được giao, hàng năm ngành thuế Hà Nội đã phấn đấu quyết liệt, vượt qua khókhăn, triển khai đồng bộ, có hiệu quả nhiều biện pháp quản lý thu, huy động đượcnguồn thu lớn, ổn định cho ngân sách Đồng thời, ngành thuế Hà Nội đã tích cựctham gia và triển khai kịp thời các chính sách của Nhà Nước, tạo điều kiện thuậnlợi cho các doanh nghiệp và người nộp thuế thực hiện hoạt động sản xuất kinhdoanh và tuân thủ chính sách pháp luật thuế Ngành thuế Hà Nội không nhữngđóng góp cho sự phát triển của Thủ đô mà còn góp phần cho cả sự nghiệp pháttriển của toàn ngành thuế cũng như sự phát triển kinh tế, xã hội của đất nước nóichung
Năm 2013, nền kinh tế Việt Nam thoát ra khỏi sự ảnh hưởng của khủng hoảngkinh tế toàn cầu Tuy vậy, hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp còn gặpkhông ít khó khăn, một số doanh nghiệp không thực hiện đúng thời hạn nộp thuếtheo quy định của luật quản lý thuế, dẫn đến những nợ đọng thuế, gây ảnh hưởngkhông nhỏ đến việc thực hiện nhiệm vụ thu ngân sách nói trên Và tại Chi cục thuếquận Ba Đình, thành phố Hà Nội cũng không nằm ngoài thực trạng đó Trong thờigian vừa qua, hiện tượng nợ đọng thuế, chây ỳ trong việc nộp thuế của các doanh
Trang 9nghiệp đã gây khó khăn trong công tác quản lý thu thuế của Chi cục Thực tế đó đãđặt ra yêu cầu cho cơ quan thuế của quận là làm thế nào để quản lý thuế tốt hơnnhằm nâng cao ý thức tự giác trong việc thực hiện nghĩa vụ thuế của các doanhnghiệp và tăng cường nguồn thu vào Ngân sách Nhà Nước Vì vậy, ngay từ đầunăm, công tác quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế đã được lãnh đạo và công chứcthuế của Chi cục thuế quận Ba Đình xác định là một trong những nhiệm vụ trọngtâm trong công tác quản lý thu thuế.
Trong quá trình thực tập tại Chi cục thuế quận Ba Đình, nhận thức được vấn đềtrên cùng kiến thức đã học ở trường, sự giúp đỡ tận tình của các thầy cô giáo vàcác cán bộ của Chi cục thuế quận Ba Đình, đặc biệt là các chú, anh, chị tại Độiquản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế, em đã đi sâu nghiên cứu và lựa chọn đề tài: “
Một số giải pháp tăng cường công tác quản lý nợ thuế và cưỡng chế nợ thuế tại Chi cục thuế quận Ba Đình – TP Hà Nội ” làm đề tài Luận văn tốt nghiệp của
mình
2. Mục đích nghiên cứu của đề tài
Mục đích chính của đề tài là đi nghiên cứu thực trạng của công tác quản lý nợthuế và cưỡng chế nợ thuế trên địa bàn quản lý của Chi cục thuế quận Ba Đình, từ
đó kiến nghị một số giải pháp để khắc phục những tồn tại và nâng cao hiệu quảcông tác quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế trên địa bàn
3 Nội dung và phạm vi nghiên cứu
Trang 10Đề tài tập trung nghiên cứu công tác quản lý thuế nói chung, công tác quản lý
nợ và cưỡng chế nợ thuế nói riêng trên địa bàn quận Ba Đình, do Chi cục thuếquận Ba Đình quản lý trong thời gian từ năm 2011-2013
Đề tài đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu truyền thống như phân tích,thống kê, tổng hợp, so sánh, đánh giá, quy nạp, diễn dịch trên cơ sở vận dụng cácnguyên lý của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử để phục
vụ cho mục đích nghiên cứu của mình
5. Kết cấu của đề tài
Đề tài gồm 3 chương:
Chương 1: Tổng quan về quản lý nợ thuế và cưỡng chế thuế
Chương 2: Thực trạng công tác quản lý nợ thuế và cưỡng chế nợ thuế tại chicục thuế quận Ba Đình- TP Hà Nội
Chương 3: Một số giải pháp tăng cường công tác quản lý nợ thuế và cưỡng chế
nợ thuế trên địa bàn quận Ba Đình- TP Hà Nội
Với kiến thức lý luận và thực tiễn còn hạn chế nên trong quá trình nghiên cứukhông tránh khỏi những khiếm khuyết trong nội dung và phương pháp Em kính
Trang 11mong nhận được sự góp ý, chỉ bảo của các thầy cô giáo, các cán bộ thuế và bạnđọc để đề tài được hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
Trang 12CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ NỢ THUẾ VÀ CƯỠNG CHẾ THUẾ
1.1 Những vấn đề cơ bản về quản lý nợ thuế
1.1.1 Khái niệm nợ thuế và quản lý nợ thuế
1.1.1.1 Thuế
Thuế là một khoản thu nhập được chuyển giao một cách bắt buộc từ các thể nhân
và pháp nhân cho Nhà Nước, do pháp luật quy định nhằm sử dụng cho mục đíchcông cộng
Một trong những đặc trưng quan trọng của thuế là mang tính pháp lý cao Mỗikhoản thuế phát sinh được xác định trên cơ sở thu nhập của người nộp thuế và sẽtrở thành khoản nộp bắt buộc mà người nộp thuế phải có nghĩa vụ chuyển giao choNhà Nước Tuy nhiên, do nhiều lý do khác nhau mà người nộp thuế chưa nộp hoặckhông nộp thuế cho Nhà Nước theo thời gian quy định nên hình thành các khoản
Trang 13Khoản nợ thuế là số tiền thuế được cơ quan có thẩm quyền xác định tại một thờiđiểm theo từng lần phát sinh phải nộp của một NNT tương ứng với một khoản thuếnhất định.
Người nợ thuế là các tổ chức cá nhân thuộc đối tượng nộp thuế còn nợ cáckhoản thuế, phí, lệ phí và các khoản phải nộp khác theo quy định tại văn bản quyphạm pháp luật
Mức nợ thuế là số tiền thuế còn nợ của người nộp thuế tại một thời điểm ở mộtngưỡng nào đó khi phân loại nợ thuế
Tuổi nợ: là khoảng thời gian liên tục tính từ thời điểm bắt đầu nợ phát sinh đếnthời điểm khoản nợ đó được cơ quan thuế thống kê
Thời điểm bắt đầu tính nợ đối với một khoản nợ thuế: là ngày tiếp theo ngày hếthạn nộp thuế theo quy định của pháp luật về thuế
Thời điểm kết thúc tính nợ đối với một khoản nợ thuế: là ngày tiếp theo ngàykhoản nợ được nộp vào ngân sách nhà nước, hoặc ngày có hiệu lực thi hành củavăn bản xóa nợ, miễn nộp hoặc xử lý bằng hình thức khác
1.1.1.3 Quản lý nợ thuế
Quản lý nợ thuế là công việc theo dõi, nắm bắt thực trạng nợ thuế và các khoảnthu khác do cơ quan thuế quản lý, thực hiện các biện pháp đôn đốc thu hồi số nợthuế của người nộp thuế
Trang 14Để đảm bảo cho việc tuân thủ nghĩa vụ nộp thuế, thực hiện nghiêm kỷ cương,
kỷ luật về thuế, Nhà Nước quy định những hành vi nợ thuế phải nộp phạt mộtkhoản tiền do chậm nộp thuế gọi là tiền phạt chậm nộp thuế
Tiền phạt chậm nộp thuế này là khoản tiền phạt được tính trên số tiền thuế nợ
và số ngày nợ thuế của khoản nợ Số ngày nợ thuế của khoản nợ là khoảng thờigian liên tục tính theo ngày kể từ thời điểm bắt đầu tính nợ đến thời điểm số tiền
nợ đó được nộp vào NSNN
1.1.2 Đặc điểm của nợ thuế
1.1.2.1 Nợ thuế là một hành vi tâm lý phổ biến
Như chúng ta biết, trong hệ thống thuế bao gồm nhiều sắc thuế khác nhau, tuynhiên các sắc thuế dù trực tiếp hay gián tiếp đều đánh vào thu nhập của các thểnhân hay pháp nhân trong nền kinh tế Nói cách khác, thuế là một hình thức phânphối thu nhập có tính chất bắt buộc mà mọi người có nghĩa vụ phải nộp cho NhàNước Như vậy, hành vi nộp thuế luôn luôn ảnh hưởng đến lợi ích kinh tế củangười nộp thuế Do đó, ở Việt Nam cũng như các nước khác trên thế giới, ngườinộp thuế thường có xu hướng trốn hoặc tránh thuế.Tình hình này đặc biệt nghiêmtrọng trong điều kiện các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam hiện nay, khi
mà nhận thức xã hội về thuế còn thấp, đại bộ phận người dân chưa hiểu rõ bản chấttốt đẹp và lợi ích của việc nộp thuế, chưa phê phán lên án mạnh mẽ các hành vigian lận tiền thuế, chưa hỗ trợ tích cực cho cơ quan thuế để thu thuế theo đúng luậtđịnh
Trang 151.1.2.2 Nợ thuế quá hạn là hành vi vi phạm pháp luật thuế
Quy phạm pháp luật thuế là các quy tắc xử sự có tính bắt buộc chung do NhàNước đặt ra và đảm bảo thực hiện để điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trongquá trình các chủ thể thực hiện nghĩa vụ nộp thuế vào NSNN
Trong các quy định của pháp luật về thuế luôn đề cập đến các vi phạm điềuchỉnh như: mức nộp thuế, người nộp thuế và thời gian phải nộp thuế
Như vậy hành vi nợ thuế quá hạn quy định của pháp luật là hành vi vi phạmpháp luật thuế của người nộp thuế bằng cách nộp chậm hoặc không nộp số tiềnthuế phải nộp vào NSNN theo thời hạn quy định của pháp luật thuế
1.1.2.3 Nợ thuế chưa hẳn là hành vi trốn thuế
Trốn thuế là hành vi cố ý vi phạm pháp luật của đối tượng nộp thuế bằng mọihình thức, thủ đoạn để làm giảm số thuế phải nộp vào NSNN còn nợ thuế mới chỉ
là hành vi chây ỳ, chậm nộp tiền thuế khi quá hạn nộp theo quy định của pháp luật.Tất nhiên, trong một số trường hợp, việc nợ thuế có thể là một hành vi nằm trongchuỗi hành vi trốn thuế, chẳng hạn như một số doanh nghiệp cố tình nợ một số tiềnthuế lớn sau đó bỏ trốn không thực hiện nghĩa vụ nộp thuế
1.1.3 Phân loại nợ thuế
1.1.3.1 Căn cứ vào khả năng thu hồi nợ
Căn cứ vào khả năng thu hồi nợ dựa trên những thông tin về người nợ thuế theomức nợ, tuổi nợ, tình trạng hoạt động kinh doanh của người nợ thuế thì nợ thuếđược phân loại thành: nợ có khả năng thu, nợ khó thu và nợ không có khả năngthu
Trang 16Tùy thuộc vào tính chất, mục đích thu nợ của từng thời kì kinh tế xã hội thì cơquan thuế có thể tiếp tục chia nợ có khả năng thu hồi thành các loại: nợ thuế chậmnộp dưới 30 ngày, nợ thuế chậm nộp từ 30 đến 90 ngày và nợ thuế quá 90 ngày.
- Nợ khó thu
Theo cách phân loại này, nợ khó thu bao gồm số tiền thuế nợ của người nộpthuế đang trong giai đoạn bị điều tra, khởi tố hình sự hoặc đang chờ bản án hoặckết luận của cơ quan pháp luật nên chưa thực hiện được nghĩa vụ nộp thuế hoặc nợcủa người nợ thuế ngừng và tạm ngừng hoạt động kinh doanh; nợ đang chờ giảiquyết theo Luật phá sản
Khi người nộp thuế rơi vào tình trạng này thì có thể có trường hợp cơ quan điềutra đã phong tỏa tài khoản, sổ sách kế toán nên người nộp thuế không thể thực hiệnviệc nộp thuế hoặc người nộp thuế đã nộp thuế nhưng chưa phải nộp vào tài khoảncủa cơ quan điều tra nên trên sổ theo dõi thu nộp của cơ quan thuế vẫn báo nợ Khingười nộp thuế đang bị điều tra, khởi tố liên quan tới nghĩa vụ thuế hoặc không
Trang 17liên quan đến nghĩa vụ thuế thì cơ quan thuế phải tạm thời phân loại các khoản nợcủa người nộp thuế này vào nhóm nợ khó thu để chờ kết luận cuối cùng của cơquan có thẩm quyền.
Đối với người nộp thuế gặp khó khăn về tài chính, hoặc ngừng và tạm ngừngkinh doanh thì việc tiếp xúc với người nộp thuế để thu nợ là khó khăn nên phânloại vào nhóm này để có biện pháp quản lý theo dõi phù hợp Tương tự với trườnghợp nợ đang chờ giải quyết theo Luật phá sản thì số tiền nợ của người nợ thuế đã
có quyết định phá sản doanh nghiệp hoặc đang trong thời gian làm thủ tục phá sảndoanh nghiệp nhưng chưa làm các thủ tục xử lý nợ theo quy định của pháp luật thìcũng cần được phân vào nhóm này để cơ quan thuế có biện pháp quản lý thích hợp
- Nợ không có khả năng thu
Việc phân loại nợ vào nhóm này chủ yếu căn cứ vào tình trạng tồn tại của ngườinộp thuế Người nộp thuế hầu hết đã ngừng hoạt động sản xuất kinh doanh hoặckhông còn tồn tại trong thực tế, bao gồm các khoản nợ thuộc các trường hợp như
nợ của người nợ thuế lâm vào tình trạng giải thể phá sản nhưng không làm thủ tục,trình tự giải thể phá sản đúng pháp luật nên chưa có đủ căn cứ pháp lý để xử lýtheo quy định của pháp luật Đặc điểm của trường hợp này là khó khăn về tàichính, kinh doanh thua lỗ dẫn đến không còn khả năng thanh toán Trường hợpngười nộp thuế lâm vào tình trạng giải thể phá sản nhưng đang được cơ quan cóthẩm quyền thụ lý để giải quyết cho phép khoanh nợ thì cũng phải đưa vào nhómnày để sau khi có quyết định khoanh nợ thì sẽ chuyển sang nhóm nợ không có khảnăng thu
Trang 18Ngoài ra, nợ thuế của một loại đối tượng khác cũng có thể coi là không có khảnăng thu, đó là nợ thuế các các doanh nghiệp bỏ trốn Hầu hết đây là các doanhnghiệp ma, chỉ thành lập để mua bán hóa đơn, không thực tế kinh doanh.
1.1.3.2 Căn cứ vào nội dung nợ của người nộp thuế
Căn cứ vào nội dung các khoản nợ qua kê khai của người nộp thuế, qua cáccông tác thanh tra- kiểm tra của cơ quan thuế thì nợ thuế được chia thành: nợ thuế,phí thông thường; nợ phạt thuế, phí; và nợ thuế, phí truy thu phải nộp sau thanh trakiểm tra
- Nợ thuế, phí thông thường
Nợ trong nhóm này bao gồm các khoản nợ phát sinh từ số thuế, phí phải nộp dongười nộp thuế kê khai với cơ quan thuế mà không bao gồm số thuế, phí bị truythu, bị phạt chậm nộp do cơ quan thuế thanh tra, kiểm tra phát hiện Thông thườngtrong nhóm nợ thuế, phí này cũng bao gồm nhiều khoản nợ có tuổi và mức nợ khácnhau do người nộp thuế kê khai với cơ quan thuế và các khoản nợ thuế này đượctheo dõi bên hồ sơ quản lý đối tượng nộp thuế lưu tại cơ quan thuế
- Nợ phạt thuế, phí
Theo Luật quản lý thuế hiện nay thì việc cơ quan thuế xử phạt thuế, phí đối vớingười nộp thuế vi phạm về thuế thì sẽ có nhiều loại vi phạm tương ứng với từngnội dung vi phạm, tương ứng với đó là các khoản nợ phạt phát sinh cho từng lần viphạm Do vậy, trong nhóm nợ phạt thuế, phí này còn có thể chia ra thành các
Trang 19khoản mục nợ: nợ do phạt nộp chậm; nợ phạt thiếu thuế phải nộp; nợ phạt trốnthuế; nợ phạt vi phạm thủ tục về thuế.
Việc phân loại thành các nhóm nợ nhỏ theo từng loại vi phạm như trên vừa cótác dụng phân loại nợ, vừa có ý nghĩa thống kê vi phạm của người nộp thuế để cơquan thuế có biện pháp quản lý hiệu quả
- Nợ thuế, phí truy thu phải nộp sau thanh tra, kiểm tra
Đây là khoản nợ thuế mà cơ quan thuế sau quá trình kiểm tra, thanh tra đã pháthiện thêm số thuế phải nộp mà đơn vị bỏ sót ngoài sổ sách, không kê khai hoặckhai không chính xác ở tất cả các loại hồ sơ khai thuế trong năm tính thuế, ở thờiđiểm cơ quan thuế tiến hành thanh tra, kiểm tra thì theo quy định số thuế này đãphải nộp vào NSNN nhưng có thể đơn vị do vô tình hoặc cố tình đã kê khai sai đểtrốn thuế Số thuế này thường được thực hiện trên các biên bản kiểm tra, thanh tra
và được các đoàn kiểm tra, thanh tra chốt lại ở thời điểm 31/12 hàng năm để thểhiện tình hình thực hiện nghĩa vụ với NSNN của người nộp thuế
Việc thống kê, phân loại nhóm nợ này không phải là chính xác tuyệt đối bởitrong kế hoạch thanh tra, kiểm tra thuế của cơ quan thuế hàng năm thì không phảitất cả các đối tượng nộp thuế đều được thanh tra, kiểm tra Do vậy, số nợ thuộcnhóm nợ này chỉ phản ánh được số thuế phát hiện thêm được coi là nợ thuế củanhững người nộp thuế được thanh tra, kiểm tra Tuy nhiên việc phân loại này cũng
có ý nghĩa quan trọng giúp cơ quan thuế có những biện pháp quản lý thích hợp vớinhóm nợ này đồng thời cũng giúp cơ quan thuế đánh giá được các mức độ vi phạmpháp luật thuế của đối tượng nộp thuế trong từng thời kì cụ thể
Trang 201.1.3.3 Căn cứ vào thời gian nợ
- Nợ trong hạn
Nợ thuộc nhóm này bao gồm các khoản nợ thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu vẫncòn trong thời hạn nộp thuế Bên cạnh đó, còn có nợ thuế trong hạn do được giahạn nộp thuế theo quy định của pháp luật Ngoài ra nhằm thực hiện các biện phápkhuyến khích xuất khẩu thì thuế xuất khẩu hoặc nhập khẩu thường được cơ quanquản lý cho phép nộp chậm sau khi khai báo với cơ quan hải quan tại cửa khẩu, do
đó các khoản này thường chưa được tính phạt nộp chậm mà phải được theo dõinhư là các khoản nợ trong hạn nộp
- Nợ quá hạn
Ở đây nợ được phân loại như các khoản nợ thông thường theo tiêu thức phânloại theo khả năng thu hồi nợ Có nghĩa là những khoản nợ đến hạn trả theo quyđịnh của pháp luật hoặc theo thông báo, được ghi trên quyết định của cơ quan thuếđến hạn nộp mà chưa nộp thì được coi là nợ thuế Theo tiêu thức phân loại theothời gian nợ thì sẽ được coi là nợ quá hạn Tùy vào từng thời kì kinh tế mà người tachia thành các khoản nợ nhỏ theo mức nợ, nhóm nợ khác nhau để có biện phápquản lý phù hợp
1.1.3.4 Căn cứ vào đối tượng nợ
Nền kinh tế nước ta hiện nay đang ngày càng phát triển với sự tham gia củanhiều thành phần kinh tế góp phần đa dạng hóa nền kinh tế, thúc đẩy quá trìnhcạnh tranh và là động lực phát triển đất nước Tuy nhiên về mặt quản lý của các cơ
Trang 21quan chức năng thì việc có nhiều thành phần kinh tế tham gia vào hoạt động kinh
tế sẽ có nhiều khó khăn phức tạp
Vì vậy, căn cứ vào đối tượng nợ thuế thì người ta có thể chia thành các nhóm
nợ khác nhau như sau:
- Nợ thuế của doanh nghiệp Nhà Nước
- Nợ thuế của doanh nghiệp dân doanh
- Nợ thuế của doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài
- Nợ thuế của hộ kinh doanh cá thể
- Nợ thuế thu nhập của cá nhân
- Nợ thuế của các đối tượng khác
Việc phân loại này có ý nghĩa quan trọng trong việc đánh giá mức độ nợ thuếcủa từng loại hình người nộp thuế Để từ đó có biện pháp, chính sách khuyến khíchcác loại hình doanh nghiệp phát triển đồng thời nghiên cứu những bất cập củanhóm nợ khác để có phương pháp quản lý hoặc xử lý phù hợp
1.1.3.5 Căn cứ vào tính chất nợ
- Nợ chờ xử lý
Nợ chờ xử lý là căn cứ vào tính chất của khoản nợ và áp dụng đối với đối tượngnộp thuế đang tồn tại để phân loại Các khoản nợ thuộc các trường hợp được đưavào nhóm nợ chờ xử lý để theo dõi thường bao gồm:
Trang 22Thứ nhất, nợ đang chờ điều chỉnh: là số tiền nợ thuế của người nợ thuế dongười nợ thuế hoặc cơ quan thuế có sai sót khi kê khai thuế, tính thuế đang làm thủtục để điều chỉnh lại hoặc do tạm tính số thuế phải nộp cao hơn số phát sinh Tức
là, số tiền nợ do người nộp thuế đã kê khai số thuế tạm nộp hàng kỳ theo quy địnhnhưng thực tế thuế phát sinh phải nộp thấp hơn so với số thuế đã kê khai tạm nộp,đang làm thủ tục điều chỉnh lại Ngoài ra, trong nhóm này còn có số tiền nợ dochứng từ luân chuyển chậm hoặc thất lạc, tiền thuế đã nộp vào tài khoản thuNSNN nhưng do chứng từ luân chuyển chưa kịp thời hoặc thất lạc nên trên sổ thuếvẫn ghi nợ
Thứ hai, nợ đang xử lý miễn, giảm, xóa nợ: là số tiền nợ thuế của người nợ thuếđang trong thời gian làm thủ tục tại cơ quan thuế để được xử lý miễn, giảm, xóa nợtheo quy định của pháp luật về thuế; cá nhân được cơ quan pháp luật coi là đã chết,mất tích, mất năng lực hành vi dân sự mà không có tài sản để nộp tiền thuế, tiềnphạt còn nợ; nợ của người nợ thuế bị tuyên bố phá sản đã thực hiện các khoảnthanh toán theo quy định của luật phá sản mà không còn tài sản để nộp tiền thuế,tiền phạt Khi người nộp thuế đang có nợ thuế do đến kỳ phải thực hiện kê khaiđúng hạn nhưng theo quy định của pháp luật về thuế họ sẽ được miễn, giảm hoặcđược xử lý cho ghi thu, ghi chi và đang làm thủ tục thì tạm thời đưa vào nhóm nợchờ xử lý này để theo dõi chứ không áp dụng các biện pháp cưỡng chế thu nợ
Thứ ba, theo quy định của pháp luật về thuế và xử lý khiếu nại tố cáo thì trongquá trình khiếu nại khi cơ quan có thẩm quyền chưa đưa ra quyết định xử lý, ngườinộp thuế vẫn phải nộp các khoản thuế vào NSNN Do đó, phát sinh thêm khoản nợchờ xử lý do khiếu nại của người nộp thuế, xử lý thoái trả tiền thuế khi có quyết
Trang 23định chính thức của cơ quan có thẩm quyền thì nợ này được đưa vào một trong hainhóm nợ có khả năng thu hoặc nợ không có khả năng thu.
Thứ tư, nợ đang được khoanh nợ, giãn nợ là số tiền thuế nợ của người nộp thuế
đã được xử lý cho khoanh nợ, giãn nợ hoặc đang trong thời hạn làm các thủ tục tại
cơ quan thuế đã được xử lý giãn nợ theo quy định
- Nợ thông thường
Là số tiền nợ thuế của người nợ thuế được xác định phải nộp vào NSNN nhưng
đã hết hạn nộp theo quy định của pháp luật về thuế mà chưa nộp vào NSNN vàkhông thuộc các trường hợp thuộc nhóm nợ chờ xử lý nêu trên
- Nợ khó thu
Tương tự cách phân loại vào khả năng thu hồi nợ của đối tượng nợ thì nợ khóthu bao gồm nợ của các đối tượng giải thể, phá sản hoặc đang trong giai đoạn thựchiện các thủ tục giải thể, phá sản để giải quyết nợ theo trình tự của thủ tục giải thể,phá sản doanh nghiệp; hoặc nợ của đối tượng bỏ trốn, mất tích; nợ của đối tượng bịkhởi tố là số tiền nợ của đối tượng nộp thuế đang trong giai đoạn bị điều tra, khởi
tố hình sự liên quan đến nghĩa vụ nộp thuế, đang thi hành án, đang chờ bản án hoặckết luận của cơ quan pháp luật
Đối với những người nộp thuế rơi vào tình trạng này thì việc thu nợ sẽ gặpnhiều khó khăn, người nộp thuế thường không có tiền trả nợ thuế hoặc không tìmđược chủ doanh nghiệp, lúc này cơ quan thuế sẽ phải phụ thuộc vào kết quả xử lý
Trang 24của cơ quan có thẩm quyền khác, do đó sẽ không chủ động được trong việc đưa racác biện pháp thu nợ kịp thời Chính vì vậy, việc phân loại các nhóm nợ này có ýnghĩa quan trọng trong việc quản lý nợ đối với những trường hợp người nộp thuếtrong tình trạng này.
1.1.3 Vai trò của công tác quản lý nợ thuế
Thứ nhất, quản lý nợ thuế để quản lý theo dõi tình hình thực hiện nghĩa vụ củađối tượng nộp thuế, đảm bảo người nộp thuế nộp các khoản thuế đầy đủ, kịp thờivào NSNN; đảm bảo công bằng xã hội khi các cơ sở kinh doanh cùng phát sinhnghĩa vụ thuế thì phải nộp vào NSNN đúng hạn
Thứ hai, quản lý nợ thuế để đảm bảo quản lý tất cả các khoản thu của NhàNước, chống thất thoát NSNN Quản lý nợ đảm bảo các chính sách thuế được thựchiện đúng và triệt để thông qua việc cơ quan thuế có các tác động, can thiệp kịpthời và xử lý nghiêm các trường hợp có hành vi vi phạm thời hạn nộp thuế nhằmnâng cao ý thức tuân thủ của người nộp thuế
Thứ ba, việc quản lý nợ thuế để đảm bảo cơ quan thuế có biện pháp thu nợ phùhợp, hiệu quả; mặt khác quản lý nợ là một thước đo để đánh giá hiệu quả của côngtác quản lý thu thuế, góp phần nâng cao hiệu quả của các chức năng khác như:thanh tra, kiểm tra chống thất thu thuế
1.1.4 Yêu cầu của công tác quản lý nợ thuế
Quản lý nợ thuế phải đảm bảo các yêu cầu sau:
Trang 25Thứ nhất, trong quản lý thuế nói chung và quản lý nợ thuế nói riêng thì yêu cầu
cơ bản và quan trọng nhất của công tác này là phải quản lý đầy đủ không bỏ sótcác khoản thu của NSNN Vì vậy, nếu quản lý không chặt chẽ, không bao quát hếtcác khoản thu của NSNN, khi đó sẽ gây ra khó khăn cho việc thực hiện các biệnpháp cưỡng chế thuế
Thứ hai, phải đảm bảo quản lý chính xác các khoản nợ để cơ quan thuế có cácbiện pháp quản lý phù hợp Để thực hiện yêu cầu này, bên cạnh việc phân loại nợtheo các tiêu thức đã trình bày ở phần trên thì các tiêu thức phân loại phải được kếthợp với nhau một cách hợp lý; qua đó cơ quan thuế sẽ đánh giá, xem xét và đưa racác biện pháp thu nợ phù hợp với từng ngành nghề, lĩnh vực, trong từng thời kỳphát triển kinh tế xã hội
Thứ ba, phải đảm bảo thu nợ kịp thời,tránh thất thu NSNN.Yêu cầu này là yêucầu xuyên suốt của công tác quản lý nợ và là mục tiêu của công tác quản lý nợ thuế
và cưỡng chế thuế trong toàn ngành nói chung và của Chi cục thuế Quận Ba Đìnhnói riêng
1.2 Những vấn đề cơ bản về cưỡng chế thuế
1.2.1 Khái niệm cưỡng chế thuế
Nếu đến thời hạn quy định được ghi trong thông báo nợ thuế hoặc trong quyếtđịnh xử phạt vi phạm hành chính về thuế nhưng cá nhân hoặc tổ chức vi phạm vềthuế không tự nguyện chấp hành quyết định của cơ quan thuế thì bị bắt buộc phảithực hiện nghĩa vụ thuế bằng các biện pháp cưỡng chế thuế
Trang 26Cưỡng chế thuế là việc cơ quan thuế và các cơ quan bảo vệ pháp luật áp dụngcác biện pháp buộc người nộp thuế phải thực hiện nghĩa vụ thuế.
Để công tác cưỡng chế thuế đạt hiệu quả tối đa và chi phí cưỡng chế là tối thiểuthì thông thường việc cưỡng chế thuế chỉ được thực hiện sau khi cơ quan thuế đã
áp dụng đầy đủ các biện pháp quản lý đôn đốc thu nợ của mình nhưng vẫn khôngthu đủ tiền nộp vào NSNN Vì vậy, để đảm bảo thu đúng, thu đủ tiền thuế thìcưỡng chế thuế được coi là công cụ bắt buộc để nâng cao hiệu lực của pháp luậtthuế và để góp phần chống thất thu NSNN
1.2.2 Đặc điểm cưỡng chế thuế
1.2.2.1 Cưỡng chế thuế là hành vi thi hành pháp luật về thuế
Cưỡng chế thuế là một trong các công tác quan trọng áp dụng đối với nhữngngười nợ thuế không tự nguyện chấp hành quyết định của cơ quan thuế nhằm mụcđích đảm bảo thu đúng, thu đủ tiền vào NSNN và góp phần thực hiện công bằnggiữa những người nộp thuế
1.2.2.2 Cưỡng chế thuế là hành vi xuất hiện sau hành vi nợ thuế
Cưỡng chế thuế chỉ được thực hiện khi phát sinh các khoản nợ thuế mà cơ quanthuế đã triển khai các biện pháp thu nợ mà vẫn chưa thu hồi được số tiền nợ thuế từnhững người nợ thuế Khi đó, công tác cưỡng chế thuế sẽ phát huy được vai trò thuhồi tiền nợ thuế về cho NSNN
1.2.2.3 Thực hiện các biện pháp cưỡng chế thuế đòi hỏi có sự phối kết hợp chặtchẽ giữa cơ quan thuế với các cơ quan thi hành pháp luật khác
Khi thực hiện công tác cưỡng chế thuế đòi hỏi phải có sự phối kết hợp giữa cơquan thuế với các cơ quan, ban , nghành chức năng như: Kho bạc, Công an, Viện
Trang 27kiểm sát Việc cưỡng chế thuế có liên quan đến lợi ích của người nộp thuế, do vậyphải có những thủ tục pháp lý chặt chẽ liên quan đến chức trách của nhiều cơ quankhác nhau Bởi vậy, việc phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan thuế với các cơ quan NhàNước khác là tất yếu để đảm bảo hiệu lực và hiệu quả của cưỡng chế thuế.
1.2.3 Vai trò của công tác cưỡng chế thuế
Cưỡng chế thuế là khâu cuối cùng trong quy trình quản lý thuế Cưỡng chế thuếthể hiện tính chất bắt buộc phải tuân thủ bởi quyền lực Nhà nước của thuế Vớitính chất như vậy, cưỡng chế thuế có các vai trò quan trọng sau đây:
Thứ nhất, cưỡng chế thuế đảm bảo thực hiện nghiêm túc pháp luật thuế, chốngthất thu thuế có hiệu quả Bằng các hình thức và biện pháp phù hợp tác động đếnlợi ích của người nộp thuế buộc họ phải thực hiện nghĩa vụ nộp thuế cho NhàNước, không để xảy ra tình trạng cố tình dây dưa, chây ỳ không nộp thuế, hoạtđộng cưỡng chế thuế đảm bảo thực hiện nghiêm pháp luật thuế Khi các khoảnthuế và thu khác thuộc Ngân sách Nhà Nước được thu nộp vào NSNN nghĩa làcông tác cưỡng chế thuế đã góp phần chống thất thu thuế cho NSNN
Thứ hai, cưỡng chế thuế đóng vai trò cảnh báo qua đó thúc đẩy sự tuân thủ tựnguyện của người nộp thuế Việc cưỡng chế thuế thành công đối với những đốitượng cố tình chây ỳ không thực hiện nghĩa vụ thuế sẽ phát đi một tín hiệu cảnhbáo với chính những đối tượng này rằng, trong tương lai ý đồ cố tình không tuânthủ của họ sẽ không thực hiện được và còn bị thiệt hại hơn là tuân thủ tự giác.Đồng thời, việc cưỡng chế thuế có hiệu quả cũng phát đi một tín hiệu cho nhữngngười nộp thuế khác biết về khả năng không thành công của sự cố tình không tuânthủ Qua đó, cưỡng chế thuế thúc đẩy sự tuân thủ tự nguyện của người nộp thuế
Trang 28Thứ ba, cưỡng chế thuế đảm bảo tính công bằng trong thực thi pháp luật thuế.Nếu hai người nộp thuế ở cùng vào một điều kiện và hoàn cảnh như nhau nên sốthuế phải nộp của họ là như nhau thì điều này phản ánh phần nào tính công bằngcủa pháp luật thuế một quốc gia Tuy nhiên, khi số thuế phải nộp của người nàyđược nộp vào NSNN còn của người khác thì lại không được nộp vào NSNN thìnghĩa vụ phải nộp như nhau trở nên vô nghĩa Chỉ khi nào số thuế phải nộp nhưnhau đó đều thực sự được nộp vào NSNN thì mới đảm bảo tính công bằng thực sựcủa pháp luật thuế Công tác cưỡng chế thuế có hiệu quả đảm bảo cho sự côngbằng đầy đủ này được thực hiện bằng cách buộc những người có nghĩa vụ thuếphải thực hiện nghĩa vụ đó, nếu không sẽ chịu sự trừng phạt của pháp luật.
1.2.4 Yêu cầu đối với công tác cưỡng chế thuế
Công tác cưỡng chế thuế chỉ đạt được hiệu quả khi xác định đúng mục tiêu vàphải đảm bảo các yêu cầu cụ thể sau:
Thứ nhất, cưỡng chế thuế phải đảm bảo tính hiệu lực của pháp luật Nhà Nước.Yêu cầu này đòi hỏi khi ban hành các quyết định cưỡng chế phải đảm bảo đượcthực hiện thống nhất từ cấp trung ương đến địa phương
Thứ hai, cưỡng chế thuế phải đảm bảo tính hiệu quả của cơ quan quản lý thuế
Có nghĩa là khi thực hiện một quyết định cưỡng chế thuế thì cơ quan thuế phảiđảm bảo tính hiệu quả cao mà chi phí thực hiện cưỡng chế là tối thiểu Muốn thựchiện được điều này, đòi hỏi trước khi ban hành các quyết định thực hiện cưỡng chếthuế cần tính đến các yếu tố có thể ảnh hưởng đến công tác thực hiện cưỡng chếnhư thời gian, địa điểm, hình thức cưỡng chế Bên cạnh đó, cơ quan thuế cần cân
Trang 29nhắc kỹ lưỡng từng trường hợp nợ thuế và xác định trường hợp nào thực hiện biệnpháp cưỡng chế nào là hợp lý.
Thứ ba, cưỡng chế thuế phải đảm bảo tính tuân thủ pháp luật của người nộpthuế, thông qua cưỡng chế thuế góp phần nâng cao tính hiệu quả của pháp luật,đồng thời góp phần răn đe, nâng cao ý thức tuân thủ của đối tượng nộp thuế
1.3 Mối quan hệ giữa quản lý nợ thuế và cưỡng chế thuế
Quản lý nợ thuế và cưỡng chế thuế là hai phạm trù hoàn toàn khác biệt nhưngchúng có mối quan hệ mật thiết, bổ sung cho nhau Công tác quản lý thuế chỉ đạthiệu quả cao khi mà công tác quản lý nợ thuế và cưỡng chế thuế thực hiện thốngnhất và phù hợp bổ sung cho nhau đảm bảo thu đủ, thu đúng, thu kịp thời tiền thuếvào NSNN Mối quan hệ này thể hiện qua một số điểm sau:
Quản lý nợ là cơ sở để cơ quan thuế lựa chọn và thực hiện các biện pháp cưỡngchế thuế hiệu quả Thông qua các phương pháp phân loại nợ thì cơ quan thuế cóthể xác định được những khoản nợ cần tập trung để thu nợ Đồng thời, trên cơ sở
đó đưa ra các biện pháp cưỡng chế phù hợp với từng đối tượng nợ thuế, chẳng hạnnhư có những trường hợp qua phân loại nợ nhận thấy các khoản nợ thông thườngchưa cần áp dụng các biện pháp cưỡng chế, hoặc qua phân loại nợ xác định đượcnhững khoản nợ khó thu thì cần áp dụng các biện pháp cưỡng chế như: trích tiềngửi ngân hàng, tổ chức tín dụng Nhằm mục đích thu đủ tiền thuế vào NSNN
Quản lý nợ thuế tốt dẫn đến việc đôn đốc thu nợ của cơ quan thuế đối với người
nợ thuế phát huy hiệu quả sẽ làm cho số lượng các khoản nợ thông thường giảm.Khi số lượng nợ chuyển sang nợ khó thu giảm đi nó sẽ làm cho khối lượng công
Trang 30việc cưỡng chế giảm, dẫn đến chi phí cưỡng chế thuế giảm Đồng thời, đạt đượcyêu cầu đặt ra là chi phí cưỡng chế thuế thấp nhất mà hiệu quả thu nợ lại là tối đa.
Khi công tác cưỡng chế thuế được thực hiện có hiệu quả sẽ trực tiếp làm cho số
nợ tiền thuế giảm và số lượng các khoản nợ đang theo dõi ở cơ quan thuế cũng sẽgiảm; tạo điều kiện cho cơ quan thuế tập trung nguồn lực vào các công tác khácnhư: tuyên truyền, hỗ trợ người nộp thuế, tăng cường công tác thanh tra- kiểm tra
Tóm lại, công tác quản lý nợ và cưỡng chế thuế có mối quan hệ tác động qua lạivới nhau, bổ sung cho nhau cùng phát triển để đạt hiệu quả cao Do đó, trên thực tếviệc nghiên cứu nâng cao hiệu quả quản lý nợ thuế cũng chính là để hoàn thiện vàonâng cao hiệu quả của công tác cưỡng chế thuế, góp phần nâng cao năng lực quản
lý thuế nói chung
1.4 Những yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý nợ thuế và cưỡng chế thuế
Công tác quản lý nợ và cưỡng chế thuế trong quá trình thực hiện thường bị ảnhhưởng bởi một số yếu tố khách quan và yếu tố chủ quan nhất định
1.4.1 Nhóm yếu tố chủ quan
Nhóm yếu tố này chủ yếu xuất phát từ phía cơ quan quản lý thuế, cụ thể nhưsau:
Thứ nhất, về quy trình quản lý nợ của cơ quan thuế Quy trình quản lý nợ hợp
lý hay không hợp lý sẽ có ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả công tác quản lý nợthuế vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến thao tác nghiệp vụ của cán bộ thuế
Trang 31Thứ hai, các công cụ hỗ trợ quản lý thuế như hệ thống phần mềm hỗ trợ về kêkhai kế toán thuế, quản lý nợ thuế cũng là yếu tố quan trọng tác động đến công tácquản lý nợ.
Thứ ba, chính sách, pháp luật là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến công tác quản
lý nợ thuế và cưỡng chế thuế Chính sách, pháp luật phải đồng bộ, phù hợp với tìnhhình thực tế Trong trường hợp người nộp thuế không có khả năng nộp thuế, nợđọng kéo dài nhưng cơ quan thuế vẫn phải tính phạt nộp chậm lại càng làm cho số
nợ đọng tăng lên, sẽ càng làm cho việc quản lý thu nợ gặp nhiều khó khăn Khi đóviệc đánh giá hiệu quả công tác quản lý nợ thuế và cưỡng chế thuế lại càng khôngchính xác
Thứ tư, trình độ nghiệp vụ của cán bộ làm công tác quản lý nợ thuế và cưỡngchế thuế Con người luôn là nhân tố quyết định đến mọi sự thành bại của quản lý
và đây cũng không phải là ngoại lệ
1.4.2 Nhóm yếu tố khách quan
Thứ nhất, tình hình kinh tế xã hội có ảnh hưởng nhất định đến công tác quản lý
nợ thuế và cưỡng chế thuế Giả sử khi tỉ lệ lạm phát tăng cao, Chính phủ sẽ phảithực hiện các chính sách tiền tệ thắt chặt, áp dụng mức lãi suất tín dụng cao làmcho giá cả các mặt hàng, nguyên liệu, đầu vào tăng Điều này sẽ làm cho chi phísản xuất kinh doanh tại các doanh nghiệp tăng dẫn đến hiệu quả sản xuất của cácdoanh nghiệp giảm nhiều và khi đó nhiều doanh nghiệp gặp khó khăn về vốnkhông có khả năng nộp thuế đúng thời hạn hoặc cố ý chậm nộp thuế dù biết sẽ bịphạt chậm nộp từ phía cơ quan thuế
Trang 32Thứ hai, sự phối hợp của các cơ quan hữu quan với cơ quan thuế trong công tácquản lý nợ thuế và cưỡng chế thuế rất quan trọng Nếu như các cơ quan chức năngkhông phối hợp hoặc phối hợp kém hiệu quả với cơ quan thuế để đôn đốc, cưỡngchế nợ thuế sẽ làm cho công tác thu nợ gặp nhiều khó khăn ảnh hưởng đến nguồnthu NSNN.
Thứ ba, đặc điểm của nền kinh tế cũng là một yếu tố tác động đến công tác đônđốc thu nợ thuế và cưỡng chế thuế Theo thống kê của các nhà nghiên cứu về thuếkhi nền kinh tế lạc hậu thì ý thức tuân thủ pháp lật của người nộp thuế thườngkhông cao Do đó ý thức có tác động quan trọng đến hiệu quả của công tác quản lý
nợ thuế và cưỡng chế thuế Giả sử, ý thức tuân thủ, chấp hành pháp luật thuế củađối tượng nộp thuế không tốt, cố tình chây ỳ không nộp thuế, hoặc trường hợp dochính sách quy định chưa rõ thì đối tượng nộp thuế sẽ lợi dụng điểm này để ápdụng tính thuế sai, khi cơ quan thuế phát hiện ra truy thu thì lại khiếu nại, cố tìnhkhông nộp
1.5 Quy trình quản lý nợ thuế và cưỡng chế thuế
1.5.1 Quy trình quản lý nợ thuế
Toàn bộ nội dung và quy trình quản lý nợ thuế áp dụng cho cơ quan thuế các cấpđược thể hiện khái quát qua sơ đồ sau:
Trang 33Bước 1: Lập
kế hoạch thu
nợ
- Xây dựng chương trình, chỉ tiêu, biện pháp quản lý nợ năm
- Điều chỉnh chương trình, chỉ tiêu, biện pháp quản lý nợ năm
- Thực hiện chương trình chỉ tiêu, biện pháp thu nợ năm
Bước 2: Thực
hiện quản lý
nợ và xử lý nợ
- Phân công công chức quản lý nợ
- Phân loại nợ và lập sổ theo dõi nợ
- Thực hiện các biện pháp đôn đốc thu nợ
Trang 341.5.2 Trình tự áp dụng các biện pháp cưỡng chế thuế
Theo quy định của Luật quản lý thuế, nguyên tắc áp dụng các biện pháp cưỡngchế thuế là phải áp dụng lần lượt các biện pháp cưỡng chế, nếu không đủ điều kiện
để áp dụng biện pháp thứ nhất thì mới áp dụng biện pháp thứ hai và cứ như thế chođến hết; không được tùy tiện bỏ qua biện pháp trước để tiến hành biện pháp sau
Để thực hiện cưỡng chế thuế, cơ quan thuế hoặc cơ quan Nhà Nước có thẩmquyền phải ban hành quyết định cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế.Quyết định cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế bao gồm các nội dungchủ yếu sau: Ngày, tháng, năm ra quyết định; căn cứ ra quyết định cưỡng chế; họtên, chức vụ, đơn vị người ra quyết định cưỡng chế; họ tên, nơi cư trú, trụ sở củađối tượng bị cưỡng chế; lý do, biện pháp cưỡng chế; thời gian, địa điểm thực hiệncưỡng chế; cơ quan chủ trì thực hiện quyết định cưỡng chế; cơ quan có tráchnhiệm phối hợp; chữ ký của người ra quyết định; dấu của cơ quan ra quyết địnhcưỡng chế
Quyết định cưỡng chế hành chính thuế phải được gửi cho đối tượng bị cưỡngchế và tổ chức, cá nhân có liên quan trong thời hạn 05 ngày làm việc trước khi thựchiện cưỡng chế ; quyết định cưỡng chế phải được gửi cho cơ quan thuế cấp trêntrực tiếp; trường hợp cưỡng chế bằng biện pháp kê biên tài sản thì quyết định phảiđược gửi cho Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi thực hiện cưỡngchế trước khi thực hiện
Quyết định cưỡng chế hành chính thuế có hiệu lực thi hành trong thời hạn 01năm, kể từ ngày ra quyết định Trường hợp cá nhân, tổ chức bị cưỡng chế cố tình
Trang 35trốn tránh, trì hoãn thi hành quyết định cưỡng chế thì thời hiệu thi hành được tínhlại kể từ thời điểm hành vi trốn tránh trò hoãn được chấm dứt.
Các biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế chấm dứt hiệulực kể từ khi tiền thuế, tiền phạt bị cưỡng chế đã được nộp đủ vào NSNN Căn cứ
đẻ chấm dứt hiệu lực của quyết định cưỡng chế thuế là chứng từ nộp đủ tiền thuế,tiền phạt vào NSNN của người bị cưỡng chế có xác nhận của Kho bạc Nhà Nướchoặc cơ quan được pháp thu thuế, ngân hàng thương mại , tổ chức tín dụng kháctrích tiền từ tài khoản của đối tượng bị cưỡng chế
Nội dung và trình tự thủ tục áp dụng các biện pháp cưỡng chế thuế
Biện pháp 1: Trích tiền từ tài khoản của đối tượng bị cưỡng chế thi hành quyếtđịnh hành chính thuế
Biện pháp này áp dụng đối với các trường hợp đối tượng bị cưỡng chế có tiềngửi tại Kho bạc Nhà Nước, Ngân hàng thương mại và tổ chức tín dụng khác
Người có thẩm quyền ra quyết định cưỡng chế trích tiền từ tài khoản tiền gửi tạingân hàng, Kho bạc Nhà nước, tổ chức tín dụng khác có quyền thu thập, xác minh
và yêu cầu ngân hàng, Kho bạc Nhà nước, tổ chức tín dụng khác, tổ chức tài chínhcung cấp các thông tin về tài khoản, số tiền hiện có trong tài khoản của cá nhân, tổchức bị cưỡng chế Đồng thời, người có thẩm quyền ra quyết định cưỡng chế cótrách nhiệm bảo mật những thông tin về tài khoản của đối tượng bị cưỡng chế khiđược ngân hàng, tổ chức tín dụng và tổ chức tài chính khác cung cấp
Trang 36Biện pháp 2: Cưỡng chế bằng biện pháp khấu trừ một phần tiền lương hoặc mộtphần thu nhập
Sử dụng đối với trường hợp không áp dụng được hoặc đã áp dụng biện pháptrên nhưng chưa thu được hoặc thu chưa đủ số tiền trả nợ thuế Biện pháp này ápdụng đối với NNT bị cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế đang làm việctheo biên chế hoặc hợp đồng từ sáu tháng trở lên hoặc đang được hưởng trợ cấphưu trí, mất sức
Tỷ lệ khấu trừ tiền lương, trợ cấp hưu trí hoặc mất sức đối với cá nhân khôngthấp hơn 10% và không quá 30% tổng tiền lương, trợ cấp hàng tháng của cá nhânđó; đối với những khoản thu nhập khác thì tỷ lệ khấu trừ căn cứ vào thu nhập thực
tế, nhưng không quá 50% tổng số thu nhập
Biện pháp 3: Cưỡng chế bằng biện pháp kê biên tài sản, bán đấu giá tài sản kê biên
Sử dụng đối với trường hợp không áp dụng được hoặc đã áp dụng các biện pháptrên nhưng chưa thu được hoặc thu chưa đủ số tiền nợ thuế
Giá trị tài sản bị kê biên của đối tượng bị cưỡng chế tương đương với số tiềnthuế đã ghi trong quyết định cưỡng chế và chi phí cho việc tổ chức thi hành cưỡngchế Việc kê biên tài sản phải được thông báo cho cá nhân, tổ chức bị kê biên tàisản, Ủy ban nhân dân xã nơi người đó cư trú hoặc tổ chức có trụ sở đóng trên địabàn hoặc cơ quan nơi người đó công tác trước khi tiến hành cưỡng chế 5 ngày, trừtrường hợp việc thông báo sẽ gây trở ngại cho việc tiến hành kê biên
Trang 37Biện pháp 4: Cưỡng chế bằng biện pháp thu tiền, tài sản của đối tượng bị cưỡngchế do tổ chức, cá nhân khác đang nắm giữ.
Biện pháp này được áp dụng khi có đủ hai điều kiện sau đây: (i) Cơ quan quản
lý thuế không áp dụng được 3 biện pháp cưỡng chế đã trình bày ở phía trên hoặc
đã áp dụng nhưng chưa thu đủ số tiền nợ thuế, tiền phạt; (ii) Cơ quan quản lý thuế
có căn cứ xác định bên thứ ba đang có khoản nợ hoặc giữ tiền, tài sản khác của đốitượng bị cưỡng chế
Biện pháp 5: Cưỡng chế bằng biện pháp dừng làm thủ tục hải quan đối với hànghóa nhập khẩu
Sử dụng đối với trường hợp không áp dụng được hoặc đã áp dụng các biện pháptrên nhưng chưa thu được hoặc chưa thu đủ số tiền nợ thuế và thực hiện đối vớinhững người nợ thuế có hoạt động nhập khẩu hàng hóa, vật tư, thiết bị Thủ trưởng
cơ quan hải quan nơi NNT có tiền thuế nợ quá hạn phải thông báo chậm nhất 5ngày làm việc trước khi áp dụng biện pháp dừng làm thủ tục hải quan đối với hànghóa nhập khẩu
Biện pháp 6: Cưỡng chế bằng biện pháp thông báo hóa đơn không còn giá trị sửdụng
Được sử dụng đối với các trường hợp không áp dụng được hoặc đã áp dụng cácbiện pháp trên nhưng vẫn chưa thu được hoặc thu chưa đủ số tiền nợ thuế và biệnpháp này chỉ áp dụng đối với người nợ thuế đang sử dụng hóa đơn do Bộ TàiChính phát hành hoặc hóa đơn tự in đăng ký sử dụng tại cơ quan thuế
Biện pháp 7: Thu hồi mã số thuế
Trang 38Khi quyết định thành lập tổ cưỡng chế và quyết định cưỡng chế được công bố,
Bộ phận kê khai căn cứ quyết định thực hiện đóng mã số thuế và lập biên bản thuhồi mã số thuế Áp dụng lại mã số thuế khi người nợ thuế đã hoàn thành nghĩa vụnộp tiền nợ thuế vào NSNN Khi đó, cơ quan thuế lập biên bản áp dụng lại mã sốthuế cho người nợ thuế bị cưỡng chế tiếp tục sử dụng
Biện pháp 8: Thu hồi giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặc giấy phép thànhlập và hoạt động, giấy phép hành nghề
Sử dụng đối với các trường hợp không áp dụng được hoặc đã áp dụng các biệnpháp cưỡng chế trên nhưng chưa thu được hoặc chưa thu đủ số tiền nợ thuế, tiềnphạt
Cơ quan thuế ban hành văn bản cưỡng chế thu hồi giấy chứng nhận đăng kýkinh doanh, giấy phép thành lập và hoạt động, giấy phép hành nghề trong thời giankhông quá 3 ngày làm việc, kể từ ngày xác định người nợ thuế phải áp dụng biệnpháp này
Qua việc nghiên cứu những vấn đề chung về công tác quản lý nợ thuế và cưỡngchế thuế thì hành vi nợ thuế quá hạn là một hành vi vi phạm pháp luật thuế Là mộttrong những nguyên nhân gây thất thu cho NSNN, gây mất công bằng xã hội, tạotâm lý coi thường pháp luật thuế đối với những đối tượng nộp thuế Và ta cũngphân biệt được hành vi nợ thuế và hành vi trốn thuế để có những biện pháp quản lýphù hợp
Trang 39CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ NỢ VÀ CƯỠNG CHẾ NỢ THUẾ TẠI
CHI CỤC THUẾ QUẬN BA ĐÌNH- THÀNH PHỐ HÀ NỘI 2.1 Sơ lược bối cảnh kinh tế- xã hội và cơ cấu bộ máy quản lý thu thuế tại quận Ba Đình
2.1.1 Bối cảnh kinh tế- xã hội.
Ba Đình là 1 trong 10 quận của thành phố Hà Nội, là trung tâm hành chính trị Quốc gia, là nơi tập trung các cơ quan lãnh đạo cao nhất của Đảng, NhàNước, Chính phủ, sứ quán và đoàn ngoại giao quốc tế Đây còn là trung tâm ngoạigiao, đối ngoại Ba Đình có trụ sở nhiều tổ chức quốc tế, sứ quán các nước, nơithường xuyên diễn ra các hội nghị quan trọng của Nhà Nước, quốc tế và khu vực
Địa giới hành chính của quận như sau: phía Bắc giáp quận Tây Hồ, phía Namgiáp quận Đống Đa, phía Đông giáp sông Hồng, phía Đông Nam giáp quận HoànKiếm, phía Tây giáp quận Cầu Giấy Quận Ba ĐÌnh có 14 phường gồm Cống Vị,Điện Biên, Đội Cấn, Giảng Võ ,Kim Mã, Liễu Giai, Ngọc Hà, Ngọc Khánh,Nguyễn Trung Trực, Phúc Xá, Quán Thánh, Thành Công, Trúc Bạch, Vĩnh Phúc
Ba Đình có địa giới hành chính hẹp, dân cư đông Tổng diện tích tự nhiên theo quyhoạch chi tiết của quận là 9.244 km2, dân số 228.352 người với mật độ 24.703người/km2 Tính đến hết năm 2013 theo số liệu thống kê của chi cục, hiện chi cụcđang quản lý trên 7000 doanh nghiệp đang hoạt động
2.1.2 Cơ cấu tổ chức bộ máy tại Chi cục thuế quận Ba Đình
Tổ chức bộ máy của Chi cục thuế Quận Ba Đình gồm 162 công chức ( tính tớithời điểm hiện tại)
Trang 40Ban lãnh đạo gồm 4 người:
- 1 Chi cục trưởng: có nhiệm vụ lãnh đạo chung toàn chi cục, đứng đầu chịu
trách nhiệm trước Cục trưởng Cục thuế Hà Nội về việc tổ chức thực hiện nhiệm vụ
quản lý thuế của Chi cục
- 3 Chi cục phó: giúp cho Chi cục trưởng và lãnh đạo các bộ phận
Sơ đồ tổ chức:
Chi cục trưởng
Các phó chi cục trưởng( 3 cán bộ )
Độithuếliênphường
Độikiểmtra nộibộ
Độitrước
bạ vàthukhác
Độiquản
ký nợvàcưỡngchếthuế
Độitổnghợpnghiệp
vụ dựtoán
Độihànhchínhnhân
sự vàtài vụ
Độikiểmtrathuế
hỗ trợ NNT
và quản
lý ấn chỉ