Thuế có đặc điểm là một khoản thu không hoàn trả trực tiếp và liên quan đến lợi ích trực tiếp của người nộp thuế nên trong thực tế có nhiều cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp… vẫn còn tâm lý
Trang 1Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
NGUYỄN THỊ THU HÀ
TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ
NỢ THUẾ TẠI CHI CỤC THUẾ HUYỆN ĐỒNG HỶ,
TỈNH THÁI NGUYÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾChuyên ngành: QUẢN LÝ KINH TẾ
THÁI NGUYÊN - 2015
Trang 2Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
NGUYỄN THỊ THU HÀ
TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ
NỢ THUẾ TẠI CHI CỤC THUẾ HUYỆN ĐỒNG HỶ,
TỈNH THÁI NGUYÊN
Chuyên ngành: Quản lý Kinh tế
Mã số: 60.34.04.10
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: TS LƯU THÁI BÌNH
THÁI NGUYÊN - 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng cá nhân tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn này là trung thực và chưa từng được bảo vệ một học
vị khoa học hoặc công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều đã được trân trọng chỉ rõ nguồn gốc
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Thu Hà
Trang 4Tôi cũng xin chân thành cảm ơn Lãnh đạo, các đồng nghiệp đang công tác tại Chi cục thuế huyện Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên đã tạo điều kiện thuận lợi và cung cấp thông tin cần thiết cho tôi trong quá trình nghiên cứu thực hiện đề tài
Xin cảm ơn gia đình, bạn bè đồng nghiệp đã động viên và giúp đỡ tôi hoàn thành chương trình học tập và thực hiện Luận văn này
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Thu Hà
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT v
DANH MỤC CÁC BẢNG vi
DANH MỤC CÁC BIỂU, SƠ ĐỒ, HÌNH VẼ vii
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn 3
4 Những đóng góp của luận văn 3
5 ết cấu của luận văn 3
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ NỢ THUẾ 4
1.1 Cơ sở lý luận 4
1.1.1 Những vấn đề cơ bản về quản lý nợ thuế 4
1.1.2 Nội dung và những yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý nợ thuế 15
1.2 Cơ sở thực tiễn về công tác quản lý nợ thuế 18
1.2.1 Công tác quản lý nợ thuế tại Việt Nam nói chung 18
1.2.2 inh nghiệm công tác quản lý nợ thuế tại một số tỉnh trong nước 20
1.2.3 Bài học kinh nghiệm đối với Chi cục Thuế huyện Đồng Hỷ 24
Chương 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25
2.1 Câu hỏi nghiên cứu 25
2.2 Phương pháp nghiên cứu 25
2.2.1 Phương pháp thu thập số liệu 25
2.2.2 Phương pháp xử lý số liệu và phân tích 27
2.3 Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu 29
Trang 6Chương 3 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ NỢ THUẾ TẠI
CHI CỤC THUẾ HUYỆN ĐỒNG HỶ TỈNH THÁI NGUYÊN 30
3.1 Đặc điểm tự nhiên - kinh tế xã hội huyện Đồng Hỷ và cơ cấu tổ chức của chi cục thuế huyện Đồng Hỷ 30
3.1.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế xã hội 30
3.1.2 Cơ cấu tổ chức bộ máy và tình hình hoạt động của Chi cục thuế huyện Đồng Hỷ 34
3.1.3 Đặc điểm NNT trên địa bàn huyện Đồng Hỷ 46
3.2 Thực trạng công tác quản lý nợ thuế ở chi cục thuế huyện Đồng Hỷ 48
3.2.1 hái quát tình hình thực hiện công tác quản lý nợ thuế tại Chi cục thuế huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên 48
3.2.2 Thực trạng quản lý nợ thuế tại Chi cục thuế huyện Đồng Hỷ 51
3.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lý nợ 61
3.2.4 Đánh giá chung về công tác quản lý nợ tại Chi cục thuế huyện Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên 63
Chương 4 MỘT SỐ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ NỢ THUẾ TẠI CHI CỤC THUẾ HUYỆN ĐỒNG HỶ TỈNH THÁI NGUYÊN 71
4.1 Mục tiêu, định hướng giải pháp tăng cường công tác quản lý nợ thuế tại chi cục thuế huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên 71
4.2 Một số giải pháp tăng cường công tác quản lý nợ thuế tại chi cục thuế huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên đến năm 2020 73
4.2.1 Hoàn thiện thể chế chính sách về thuế 73
4.2.2 Đào tạo đội ngũ cán bộ ngành thuế 80
4.2.3 Hoàn thiện cơ cấu, tổ chức bộ máy ngành thuế 80
4.2.4 Giải pháp từ phía Chi cục Thuế huyện Đồng Hỷ 81
4.3 Một số kiến nghị 88
4.3.1 Đối với Tổng cục Thuế 88
4.3.2 Đối với Cục Thuế tỉnh Thái Nguyên 88
4.3.3 Đối với huyện Đồng Hỷ 89
KẾT LUẬN 90
TÀI LIỆU THAM KHẢO 92
PHỤ LỤC 95
Trang 7DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
CBCC : Cán bộ công chức
CCN : Cưỡng chế nợ
CQT : Cơ quan thuế
DN NQD : Doanh nghiệp ngoài quốc doanh
DN : Doanh nghiệp
DNNN : Doanh nghiệp nhà nước
ĐTNT : Đối tượng nộp thuế
GTGT : Giá trị gia tăng
UBND : Ủy ban nhân dân
UNT : Ủy nhiệm thu
XDCB : Xây dựng cơ bản
XNK : Xuất nhập khẩu
Trang 8
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1: Tổng hợp số thu NSNN trên địa bàn huyện Đồng Hỷ giai
đoạn 2011 - 2014 49
Bảng 3.2: Tổng hợp nợ thuế giai đoạn 2011 - 2014 50
Bảng 3.3: Cơ cấu nợ thuế theo khu vực giai đoạn 2011-2014 53
Bảng 3.4: Cơ cấu nợ thuế theo sắc thuế giai đoạn 2011-2014 54
Bảng 3.5: Nợ thuế phân loại theo tính chất nợ giai đoạn 2011 -2014 56
Bảng 3.6: ết quả thu nợ đọng giai đoạn 2011 - 2014 57
Bảng 3.7: ết quả thu nợ thuế bằng biện pháp đôn đốc thu nợ giai đoạn 2011 - 2014 58
Bảng 3.8: ết quả thu nợ thuế bằng biện pháp cưỡng chế thu nợ giai đoạn 2011 - 2014 59
Bảng 3.9: Đánh giá của doanh nghiệp về công tác quản lý nợ thuế của Chi cục thuế huyện Đồng Hỷ 63
Bảng 3.10: Đánh giá của doanh nghiệp về năng lực của cán bộ thuế trong công tác quản lý nợ thuế tại Chi cục thuế huyện Đồng Hỷ 64
Bảng 3.11: Tự đánh giá của cán bộ thuế trong công tác quản lý nợ thuế 65
Trang 9DANH MỤC CÁC BIỂU, SƠ ĐỒ, HÌNH VẼ
Hình 3.1: Bản đồ hành chính huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên 31
Sơ đồ 3.1: Bộ máy tổ chức Chi cục thuế Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên 34 Biểu đồ 3.1: Tổng thu NSNN Chi cục thuế huyện Đồng Hỷ giai đoạn
2011 - 2014 48
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Nhà nước có chức năng quản lý xã hội và điều tiết toàn bộ nền kinh tế
Để thực hiện được chức năng, nhiệm vụ của mình, đòi hỏi Nhà nước phải có nguồn thu, mà nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà nước (NSNN) là thuế Như vậy, Nhà nước có thực hiện được các chức năng, nhiệm vụ của mình hay không phụ thuộc rất nhiều vào nguồn thu từ thuế
Thuế có đặc điểm là một khoản thu không hoàn trả trực tiếp và liên quan đến lợi ích trực tiếp của người nộp thuế nên trong thực tế có nhiều cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp… vẫn còn tâm lý chây ỳ cố tình không chịu nộp thuế đúng hạn, chiếm dụng tiền thuế, thậm chí còn có hiện tượng trốn thuế làm cho số nợ đọng tiền thuế là rất lớn, nhiều khoản nợ thuế tồn tại nhiều năm không có khả năng thu, nhiều đối tượng có nợ thuế đã không còn tồn tại do bị giải thể, mất tích… gây thất thu lớn cho ngân sách Nhà nước
Cùng với thực hiện Luật quản lý thuế, ngành thuế đã chuyển đổi và kiện toàn hệ thống bộ máy quản lý thuế theo mô hình chức năng Quản lý nợ
và cưỡng chế nợ thuế là một trong những khâu quan trọng trong hệ thống quản lý thuế, là một chức năng chính của mô hình quản lý thuế trong cơ chế
tự khai - tự nộp thuế Mô hình này có vai trò rất quan trọng trong việc nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật thuế của đối tượng nộp thuế, đảm bảo thu đúng, thu đủ, thu kịp thời tiền thuế cho NSNN nhằm chống thất thu thuế, đảm bảo công bằng giữa các đối tượng nộp thuế Quản lý được nợ đọng thuế và kết quả đem lại từ việc đôn đốc thu nợ và cưỡng chế nợ thuế là một trong những thước đo cơ bản để đánh giá chất lượng và hiệu quả của công tác quản lý thuế Việc triển khai thực hiện Luật quản lý thuế đã tạo cơ sở pháp lý để đổi mới công tác quản lý nợ thuế và cưỡng chế thuế; ngược lại việc quản lý tốt nợ đọng thuế và cưỡng chế nợ thuế lại có tác động sâu sắc tới công tác quản lý thuế, tạo sự chuyển động mạnh mẽ cả từ phía đối tượng nộp và cơ quan quản
lý thuế nói chung
Trang 11Những năm qua, việc quản lý thuế của Cục Thuế tỉnh Thái Nguyên nói chung, Chi cục Thuế huyện Đồng Hỷ nói riêng đã có nhiều thành tựu, đóng góp tích cực vào nguồn thu ngân sách Tuy nhiên vấn đề nợ thuế vẫn còn nhiều tồn tại, công tác quản lý nợ thuế và cưỡng chế nợ thuế của Chi cục Thuế huyện Đồng Hỷ đang là vấn đề cấp bách, đòi hỏi phải có những biện pháp khả thi để thực hiện tốt công tác này
Xuất phát từ các lý do nêu trên, tác giả đã lựa chọn đề tài: "Tăng cường công tác quản lý nợ thuế tại Chi cục Thuế huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên" làm luận văn cao học
2 Mục tiêu nghiên cứu
Trang 123 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
- Đối tượng nghiên cứu: Đề tài tập trung đi sâu vào các vấn đề lý luận
và thực trạng công tác quản lý nợ thuế đối với các đối tượng nộp thuế trên địa bàn huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Phạm vi về thời gian: Số liệu nghiên cứu tập trung chủ yếu nghiên cứu, đánh giá công tác quản lý nợ thuế và cưỡng chế nợ thuế trên địa bàn huyện Đồng Hỷ giai đoạn 2011 - 2014 Giải pháp đến năm 2020 trên địa bàn huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên
+ Phạm vi về không gian: Nghiên cứu thực trạng về công tác quản lý
nợ thuế tại Chi cục Thuế huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên
4 Những đóng góp của luận văn
Làm sáng tỏ thực trạng công tác quản lý nợ thuế và cưỡng chế nợ thuế trong những năm qua, xác định điểm mạnh, điểm yếu và đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường công tác quản lý nợ thuế ở Chi cục Thuế huyện Đồng
Hỷ, tỉnh Thái Nguyên trong thời gian tới
5 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục các tài liệu tham khảo, luận văn có kết cấu gồm 4 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về công tác quản lý nợ thuế
Chương 2: Phương pháp và hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu về công tác quản lý nợ thuế
Chương 3: Thực trạng công tác quản lý nợ thuế tại Chi cục Thuế huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên
Chương 4: Một số giải pháp nhằm tăng cường công tác quản lý nợ thuế tại Chi cục Thuế huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên
Trang 13Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ NỢ THUẾ
1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Những vấn đề cơ bản về quản lý nợ thuế
1.1.1.1 Khái niệm nợ thuế và quản lý nợ thuế
Thuế ra đời là tất yếu khách quan gắn liền với sự ra đời, tồn tại và phát triển của nhà nước hi nhà nước xuất hiện, để đảm bảo sự tồn tại và hoạt động của mình, nhà nước phải dùng quyền lực chính trị vốn có để tập trung một phần của cải trong xã hội vào tay nhà nước nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu của nhà nước Việc huy động, tập trung của cải đó có thể được thực hiện bằng các cách khác nhau, trong đó có hình thức đóng góp bắt buộc được gọi là thuế
Giáo trình Lý thuyết thuế của Học viện Tài chính định nghĩa: “Thuế
là một khoản thu nhập được chuyển giao một cách bắt buộc từ các thể nhân
và pháp nhân cho nhà nước, do pháp luật quy định nhằm sử dụng cho mục đích công cộng”
Một trong những đặc trưng quan trọng của thuế là mang tính pháp lý cao Mỗi khoản thuế phát sinh được xác định trên cơ sở thu nhập của người nộp thuế và sẽ trở thành khoản nộp bắt buộc mà người nộp thuế phải có nghĩa
vụ chuyển giao cho nhà nước Tuy nhiên, trong thực tiễn do nhiều lý do khác nhau, người nộp thuế chưa nộp hoặc không nộp thuế cho nhà nước theo thời hạn quy định, từ đó hình thành nên khoản nợ thuế
- Khái niệm nợ thuế: là các khoản tiền thuế, phí, lệ phí, phạt chậm nộp
và các khoản phải nộp khác theo quy định của pháp luật về thuế mà người nộp thuế đã kê khai, cơ quan thuế đã tính, các cơ quan chức năng phát hiện và thông báo cho cơ quan thuế Cơ quan thuế xác định đây là nghĩa vụ của người nộp thuế và đã thông báo cho người nộp thuế nhưng đã hết thời hạn quy định
mà chưa nộp vào ngân sách Nhà nước
Trang 14- Quản lý nợ thuế là công việc theo dõi, nắm bắt thực trạng nợ thuế và các khoản thu khác do cơ quan thuế quản lý và thực hiện các biện pháp đôn đốc thu hồi số thuế nợ của người nộp thuế
Liên quan đến quản lý nợ thuế, ngoài khái niệm quản lý nợ thuế, còn một số khái niệm khác cần giải thích rõ làm cơ sở nghiên cứu về quản lý nợ thuế, đó là các khái niệm: Số thuế nợ, khoản nợ, tuổi nợ, mức nợ
Số thuế nợ là số tiền được xác định phải nộp vào ngân sách Nhà nước theo quy định của pháp luật nhưng chưa được nộp vào ngân sách nhà nước
Khoản nợ là số tiền thuế nợ được cơ quan có thẩm quyền xác định tại một thời điểm theo từng lần phát sinh phải nộp của một người nộp thuế nhất định Khái niệm này cho biết cơ quan quản lý thuế cần phải theo dõi, đôn đốc thu số thuế nợ của những người nộp thuế nào, với khoản thuế gì
Tuổi nợ là khoảng thời gian liên tục tính từ thời điểm bắt đầu nợ phát sinh đến thời điểm khoản nợ đó được cơ quan thuế thống kê nó Nợ thuế luôn gắn với một yếu tố quan trọng là thời gian nợ Rõ ràng xét trên bình diện tổng thể, không kể những trường hợp đặc biệt, với cơ quan thuế việc nợ thuế càng
ít càng ngắn thì càng tốt Với những khoản nợ quá hạn, tuổi nợ càng dài thì Nhà nước càng thiệt và mức độ rủi ro thu hồi nợ càng cao Do vậy, khái niệm này là một tiêu chí rất cần quan tâm trong quản lý nợ thuế và có thể coi nó là một trong những tiêu chí không thể không sử dụng trong phân loại nợ thuế
Mức nợ thuế là số tiền thuế còn nợ của người nợ thuế tại một thời điểm,
ở một ngưỡng nhất định Như vậy mức nợ phản ánh độ lớn của khoản nợ ở những quãng phân loại nhất định Một khoản nợ ở mức nợ lớn là khoản nợ cần quan tâm xử lý nhiều hơn với những khoản nợ mức nhỏ
Như vậy, để đảm bảo thu đúng, thu đủ, thu kịp thời tiền thuế vào ngân sách Nhà nước (NSNN) thì công tác quản lý nợ thuế là công tác quan trọng trong công tác quản lý thuế nói chung
Trang 151.1.1.2 Đặc điểm của nợ thuế
* Nợ thuế là một hành vi tâm lý phổ biến
Như chúng ta biết, trong hệ thống thuế bao gồm nhiều sắc thuế khác nhau, tuy nhiên các sắc thuế dù trực tiếp hay gián tiếp đều đánh vào thu nhập của các thể nhân hay pháp nhân trong nền kinh tế Nói cách khác, thuế là một hình thức phân phối thu nhập có tính chất bắt buộc mà mọi người có nghĩa vụ phải nộp cho nhà nước Như vậy, hành vi nộp thuế luôn luôn ảnh hưởng đến lợi ích kinh tế của người nộp thuế
Vì vậy, ở Việt Nam cũng như các nước khác trên thế giới, người nộp thuế thường có xu hướng trốn hoặc tránh thuế Tình hình này đặc biệt nghiêm trọng trong điều kiện các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam hiện nay, khi mà nhận thức xã hội về thuế còn thấp, đại bộ phận người dân chưa hiểu rõ bản chất tốt đẹp và lợi ích của việc nộp thuế, chưa phê phán, lên án mạnh mẽ các hành vi gian lận tiền thuế, chưa hỗ trợ tích cực cho cơ quan thuế
để thu thuế theo đúng pháp luật Tình trạng trốn thuế, gian lận thuế, nợ đọng thuế còn khá phổ biến vừa làm thất thu NSNN, vừa không đảm bảo công bằng
xã hội Hay nói cách khác, những người nộp thuế luôn tìm mọi cách để tối thiểu hóa số thuế mà họ phải nộp Một trong các cách đó là nợ thuế
* Nợ thuế là hành vi vi phạm pháp luật về thuế
Quy phạm pháp luật thuế là các quy tắc xử sự có tính bắt buộc chung
do nhà nước đặt ra và đảm bảo thực hiện để điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình các chủ thể thực hiện nghĩa vụ nộp thuế vào NSNN
Trong các quy định của pháp luật về thuế luôn luôn đề cập đến các phạm vi điều chỉnh như: mức nộp thuế, người nộp thuế và thời gian phải nộp thuế
Như vậy, hành vi nợ thuế là hành vi vi phạm luật thuế của người nộp thuế bằng cách chậm nộp hoặc không nộp số tiền thuế phải nộp vào NSNN theo quy định của pháp luật thuế
Trang 16* Nợ thuế chưa hẳn là hành vi trốn thuế
Trốn thuế là hành vi cố ý vi phạm pháp luật của đối tượng nộp thuế bằng mọi hình thức, thủ đoạn để làm giảm số thuế phải nộp vào NSNN Còn
nợ thuế mới chỉ là hành vi dây dưa, chậm nộp thuế khi quá thời hạn nộp theo quy định của pháp luật Tất nhiên, trong một số trường hợp việc nợ thuế có thể là một hành vi nằm trong chuỗi hành vi nhằm trốn thuế Chẳng hạn như, một số doanh nghiệp cố tình nợ một số thuế lớn sau đó bỏ trốn không thực hiện nghĩa vụ nộp thuế
* Nợ thuế khác với hành vi tránh thuế
Tránh thuế là hành vi lợi dụng sơ hở của luật thuế để giảm nghĩa vụ thuế Đây không phải là hành vi vi phạm pháp luật Còn nợ thuế thì khác hoàn toàn về bản chất, đó là nghĩa vụ đã được luật pháp xác định nhưng cố tình dây dưa, chậm nộp
1.1.1.3 Phân loại nợ thuế
Phân loại nợ thuế là việc phân chia nợ thuế thành những nhóm khác nhau theo những tiêu thức nhất định
Phân loại nợ thuế là phương pháp quan trọng giúp cơ quan thuế nắm bắt sâu sắc đặc điểm, tính chất, nguyên nhân của các khoản thuế nợ Qua đó,
có biện pháp quản lý, đôn đốc thu hồi nợ có hiệu quả Các cách phân loại nợ thuế chủ yếu
Thứ nhất, căn cứ vào thời gian nợ
- Nợ trong hạn Nợ thuộc nhóm này bao gồm các khoản nợ thuế vẫn còn trong thời hạn nộp thuế Chẳng hạn như, nợ thuế đối với hàng hoá XK,
NK trong thời gian ân hạn thuế Ngoài ra, còn có nợ thuế trong hạn do được gia hạn nộp thuế theo quy định của Luật Quản lý thuế Đối với khoản nợ thuế trong hạn thì việc nợ thuế là đương nhiên, không phải là vấn đề đáng lo ngại trong quản lý thuế Tuy nhiên, nợ thuế trong hạn cũng cần theo dõi nắm bắt, đôn đốc thu nộp kịp thời khi đến hạn nộp thuế
Trang 17- Nợ quá hạn Nợ trong nhóm này được phân loại như các khoản nợ thông thường theo tiêu thức phân loại theo khả năng thu hồi nợ Có nghĩa là những khoản nợ đến hạn trả theo quy định của pháp luật hoặc theo thông báo, được ghi trên quyết định của cơ quan thuế đến hạn nộp mà chưa nộp thì được coi là nợ thuế, theo tiêu thức phân loại theo thời gian nợ thì sẽ được coi
là nợ quá hạn Tùy theo yêu cầu quản lý, nợ quá hạn có thể được phân loại chi tiết hơn nữa theo mức độ quá hạn để có biện pháp quản lý và đôn đốc thu hồi nợ thuế phù hợp
Thứ hai, căn cứ vào nội dung nợ của người nộp thuế Căn cứ vào tiêu thức này, nợ thuế được chia thành nợ thuế, phí thông thường, nợ phạt về thuế, phí và nợ thuế, phí truy thu phải nộp sau thanh tra, kiểm tra
- Nợ thuế, phí thông thường Nợ trong nhóm này bao gồm các khoản nợ phát sinh từ số thuế, phí phải nộp do người nộp thuế kê khai với cơ quan thuế
mà không bao gồm số thuế, phí bị truy thu, bị phạt chậm nộp do cơ quan thuế thanh tra, kiểm tra phát hiện Xét theo những tiêu chí khác, trong nhóm nợ thuế, phí này cũng bao gồm nhiều khoản nợ có tuổi nợ, mức nợ khác nhau do người nộp thuế kê khai với cơ quan thuế và các khoản nợ thuế này được theo dõi trên hồ sơ quản lý đối tượng nộp thuế lưu tại cơ quan thuế
- Nợ phạt thuế, phí Theo Luật Quản lý thuế hiện nay thì việc cơ quan thuế xử phạt thuế, phí đối với người nộp thuế vi phạm về thuế thì sẽ có nhiều loại vi phạm tương ứng với từng nội dung vi phạm, tương ứng với đó là các khoản nợ phạt phát sinh cho từng lần vi phạm Do đó, trong nhóm nợ phạt thuế, phí này còn có thể chia ra thành các khoản mục nợ: Nợ do phạt nộp chậm; nợ phạt thiếu thuế phải nộp; nợ phạt trốn thuế; nợ phạt vi phạm thủ tục về thuế
- Nợ thuế, phí truy thu phải nộp sau thanh tra, kiểm tra Đây là khoản
nợ thuế mà cơ quan thuế sau quá trình kiểm tra, thanh tra đã phát hiện thêm số thuế phải nộp mà đơn vị bỏ sót ngoài sổ sách, không kê khai hoặc khai không chính xác ở tất cả các loại hồ sơ khai thuế trong năm tính thuế Ở thời điểm cơ
Trang 18quan thuế tiến hành thanh tra, kiểm tra thì theo quy định số thuế này đã phải nộp vào NSNN nhưng có thể đơn vị do vô tình hoặc cố tình đã kê khai sai để trốn thuế Số nợ thuộc nhóm nợ này phản ánh được số thuế phát hiện thêm được coi là nợ thuế của những người nộp thuế được thanh tra, kiểm tra Tuy nhiên, nó cũng có ý nghĩa quan trọng giúp cơ quan thuế có những biện pháp quản lý thích hợp với nhóm nợ này Đồng thời, việc theo dõi nợ thuế theo nhóm này giúp cơ quan thuế đánh giá được các mức độ vi phạm pháp luật thuế của đối tượng nộp thuế trong từng thời kỳ cụ thể
Trong công tác quản lý thuế, việc phân loại nợ thuế theo nội dung giúp thực hiện đúng trình tự thu thuế khi cưỡng chế thuế theo quy định của Luật Quản lý thuế Theo đó, tiền thuế phải được thu trước tiền phạt
Thứ ba, căn cứ vào khả năng thu hồi nợ Căn cứ vào khả năng thu hồi
nợ dựa trên những thông tin về người nợ thuế như: Mức nợ, tuổi nợ, tình trạng hoạt động kinh doanh của người nợ thuế thì nợ thuế được phân loại thành: Nợ có khả năng thu, nợ khó thu và nợ không có khả năng thu
- Nợ có khả năng thu Nợ có khả năng thu được hiểu là số tiền nợ thuế của người nợ thuế được xác định phải nộp vào ngân sách Nhà nước nhưng còn trong thời hạn nộp thuế hoặc đã hết hạn nộp theo quy định của pháp luật
mà chưa nộp và không thuộc các trường hợp nợ thuộc nhóm nợ khó thu và nợ không có khả năng thu hồi Thuộc nhóm này là nợ thuế của những người nộp thuế vẫn đang lao động hoặc tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh bình thường, không có dấu hiệu bất thường trong chấp hành pháp luật thuế, không lâm vào tình trạng quá khó khăn dẫn đến không có khả năng nộp thuế
Tuỳ theo yêu cầu quản lý, cơ quan thuế có thể tiếp tục chia nợ có khả năng thu hồi thành các loại: Nợ thuế chậm nộp dưới 30 ngày, Nợ thuế chậm nộp từ 30 ngày đến 90 ngày Mốc nợ thuế 90 ngày là mốc quan trọng vì có liên quan đến thời điểm xác định một trong những dấu hiệu phải áp dụng biện pháp cưỡng chế theo Luật Quản lý thuế
Trang 19- Nợ khó thu Nợ khó thu là nợ thuế của những người nộp thuế đang rất khó khăn về tài chính chẳng hạn như đang bị đình trệ SXKD trong một thời gian dài, đang phải tạm ngừng nghỉ kinh doanh do gặp khó khăn, đang lâm vào tình trạng phá sản, bị thua lỗ kéo dài hoặc không phải gặp khó khăn tài chính nhưng là đối tượng có ý thức chấp hành pháp luật rất kém, nợ thuế dây dưa kéo dài, có nhiều thủ đoạn đối phó, trốn tránh nghĩa vụ thuế và việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế thuế với những đối tượng này gặp nhiều khó khăn
Thuộc về nợ khó thu còn có loại nợ thuế của những đối tượng thực tế không còn tồn tại nhưng không làm thủ tục chấm dứt hoạt động và quyết toán thuế với cơ quan thuế Đó là nợ thuế của các doanh nghiệp bỏ trốn Hầu hết đây là các trường hợp cố tình nợ để trốn thuế Việc truy tìm và xử lý theo pháp luật các trường hợp này gặp rất nhiều khó khăn Do vậy, khoản nợ thuế của những đối tượng này không chỉ dừng lại ở mức khó thu mà có thể nói là rất khó thu Xét về lý thuyết thì nợ khó thu, còn xét về thực tế quản lý có thể xếp vào nhóm không thể thu hồi, vì trên thực tế có thể các cơ quan pháp luật
có thể truy bắt được thủ phạm nhưng họ không có tài sản để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ thuế đã nợ
- Nợ không có khả năng thu Việc phân loại nợ vào nhóm này chủ yếu căn cứ vào tình trạng tồn tại của người nộp thuế trong nhóm này Nợ thuế thuộc loại này là nợ thuế của các doanh nghiệp đã giải thể, phá sản nhưng không có tài sản để thực hiện nghĩa vụ thuế và cũng chưa làm các thủ tục để xoá nợ thuế theo quy định của pháp luật Thuộc nhóm này còn có nợ thuế của NNT là cá nhân đã chết, đã mất tích, mất năng lực hành vi dân sự nhưng chưa được xoá nợ thuế theo quy định của pháp luật
Phân loại nợ thuế theo tiêu thức này không chỉ giúp cơ quan thuế có biện pháp đôn đốc thu nợ thuế hoặc tổ chức cưỡng chế thuế mà còn có biện pháp xử lý phù hợp, chẳng hạn như khoanh nợ, gia hạn nộp thuế, hoặc xoá nợ theo quy định của pháp luật
Trang 20Thứ tư, căn cứ vào tính chất nợ
- Nợ thông thường Là số tiền nợ thuế của người nợ thuế mà khoản thuế
nợ đã được xác định rõ ràng, không sai sót, không nhầm lẫn, không có khiếu nại, không thuộc diện xét miễn giảm thuế
- Nợ chờ xử lý Nợ chờ xử lý là khoản nợ thuế xác định chưa thật chính xác cần điều chỉnh lại hoặc nợ thuế đang có khiếu nại, đang thuộc diện xét miễn giảm thuế cụ thể gồm các nhóm sau:
- Nợ đang chờ điều chỉnh: Là số tiền nợ thuế của người nợ thuế do có sai sót của NNT hoặc của cơ quan thuế khi kê khai thuế, tính thuế đang làm thủ tục để điều chỉnh lại hoặc do tạm tính số thuế phải nộp cao hơn số phát sinh, tức là, số tiền nợ do người nộp thuế đã kê khai số thuế tạm nộp hàng kỳ theo quy định nhưng thực tế thuế phát sinh phải nộp thấp hơn so với số thuế
đã kê khai tạm nộp, đang làm thủ tục điều chỉnh lại Ngoài ra, trong nhóm này còn có số tiền nợ do chứng từ luân chuyển chậm hoặc thất lạc, tiền thuế đã nộp vào tài khoản thu NSNN nhưng do chứng từ luân chuyển chưa kịp thời hoặc thất lạc nên trên sổ thuế vẫn ghi nợ
- Nợ đang xử lý miễn, giảm, xóa nợ: Là số tiền nợ thuế của người nợ thuế đang trong thời gian làm các thủ tục tại cơ quan thuế để được xử lý miễn, giảm, xóa nợ theo quy định của pháp luật về thuế (bao gồm cả các trường hợp đang làm thủ tục xử lý miễn, giảm áp dụng các điều khoản miễn, giảm theo các hiệp định tránh đánh thuế hai lần); cá nhân được cơ quan pháp luật coi là
đã chết, mất tích, mất năng lực hành vi dân sự mà không còn tài sản để nộp tiền thuế, tiền phạt còn nợ; nợ của người nợ thuế bị tuyên bố phá sản đã thực hiện các khoản thanh toán theo quy định của Luật phá sản mà không còn tài sản để nộp tiền thuế, tiền phạt hi người nộp thuế đang có nợ thuế do đến kỳ phải thực hiện kê khai thuế đúng hạn nhưng theo quy định của pháp luật về thuế họ sẽ được miễn, giảm hoặc được xử lý cho ghi thu, ghi chi và đang làm thủ tục thì tạm thời đưa vào nhóm nợ chờ xử lý này để theo dõi chứ không áp dụng các biện pháp cưỡng chế thu nợ
Trang 21- Nợ trong quá trình tranh chấp thuế: Theo quy định hiện hành tại các văn bản quy phạm pháp luật về thuế và xử lý khiếu nại tố cáo thì trong quá trình khiếu nại khi cơ quan có thẩm quyền chưa ra quyết định xử lý thì người nộp thuế vẫn phải nộp các khoản thuế vào NSNN, nhưng người nộp thuế vẫn không chấp hành nộp Do đó, phát sinh thêm khoản nợ chờ xử lý do khiếu nại của người nộp thuế, xử lý thoái trả tiền thuế khi có quyết định chính thức của
cơ quan có thẩm quyền thì nợ này được đưa vào một trong hai nhóm nợ có khả năng thu hoặc nợ không có khả năng thu
- Nợ đang được khoanh nợ, giãn nợ: Là số tiền thuế nợ của đối tượng nộp thuế đã được xử lý cho khoanh nợ, giãn nợ hoặc đang trong thời hạn làm các thủ tục tại cơ quan thuế đã được xử lý giãn nợ theo quy định
Thứ năm, căn cứ vào đối tượng nợ Căn cứ vào đối tượng nợ, nợ thuế
có thể được phân chia cụ thể thành các nhóm đối tượng theo tính chất sở hữu, loại hình hoặc đặc điểm tổ chức sản xuất kinh doanh Theo đó, nợ thuế có thể phân chia thành các nhóm: Nợ thuế của doanh nghiệp nhà nước; Nợ thuế của doanh nghiệp dân doanh; Nợ thuế của doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài; Nợ thuế của hộ kinh doanh cá thể; Nợ thuế thu nhập của cá nhân; Nợ thuế của các đối tượng khác
Cách phân loại này cho thấy mức độ nợ của từng đối tượng nợ như thế nào qua đó tìm hiểu nguyên nhân chung dẫn đến tình trạng nợ thuế của cả nhóm đối tượng Cách phân loại này cũng giúp cơ quan thuế đặt trọng tâm vào quản lý
nợ thuế của nhóm đối tượng mà có khả năng rủi ro cao trong thu hồi nợ
Thứ sáu, căn cứ vào sắc thuế Căn cứ vào tiêu thức này, nợ thuế được phân chia theo sắc thuế như: Nợ thuế GTGT, nợ thuế TTĐB, nợ thuế XNK,
nợ thuế TNDN, nợ thuế TNCN
Cách phân loại này cho biết sắc thuế nào có số nợ cao, sắc thuế nào có
số nợ thấp Qua đó, tìm hiểu những quy định pháp lý và thủ tục hành chính thu nộp sắc thuế đó đã hợp lý hay chưa, làm cơ sở hoàn thiện pháp luật thuế
và quản lý thuế
Trang 221.1.1.4 Hậu quả và vai trò của công tác quản lý nợ thuế
Nợ thuế có thể gây nhiều hậu quả nghiêm trọng về kinh tế - xã hội Thứ nhất, nợ thuế gây thất thu cho Ngân sách Nhà nước Như chúng ta biết, thuế là nguồn thu chủ yếu của NSNN Xuất phát từ chức năng cơ bản của thuế
là chức năng huy động nguồn lực tài chính cho Nhà nước Để đảm bảo nguồn thu, Nhà nước phải dùng quyền lực của mình thông qua pháp luật quy định nguồn thu của NSNN (trong đó có thuế), quy định mức độ thu NSNN hàng năm, quy định nghĩa vụ của các chủ thể trong việc đảm bảo nguồn thu cho NSNN Do vậy việc nợ thuế sẽ gây thất thu lớn cho NSNN Đối với những khoản nợ thuế trong thời gian ngắn, trước mắt sẽ làm Nhà nước thiếu hụt một lượng tài chính nhất định để giúp cho bộ máy Nhà nước được hoạt động trôi chảy, bình thường Đối với những khoản nợ thuế dây dưa, khó đòi thì đòi hỏi Nhà nước cần phải có những hoạch định chiến lược lâu dài để bù đắp khoản
nợ đó, khi đó Nhà nước cần phải sử dụng đến các biện pháp như khoanh nợ, giãn nợ thậm chí là xóa nợ và điều đó sẽ làm thất thu NSNN Vì vậy dù là nợ thuế trong ngắn hạn hoặc nợ lâu dài thì cũng gây thất thu lớn cho NSNN
Thứ hai, nợ thuế còn gấy mất công bằng về nghĩa vụ thuế và tạo môi trường kinh doanh không bình đẳng giữa các tổ chức và cá nhân đang kinh doanh trong việc thực hiện nghĩa vụ thuế Những tổ chức, cá nhân nợ thuế đã tạo ra sự mất công bằng về nghĩa vụ thuế với những tổ chức, cá nhân thực hiện tốt nghĩa vụ thuế Giả sử cũng một tổ chức, cá nhân có quy mô kinh doanh như nhau, ngành nghề kinh doanh như nhau, lợi nhuận kinh doanh trước thuế là như nhau, khi đó đối với những tổ chức, cá nhân thực hiện tốt nghĩa vụ thuế, sau khi tiến hành xong hoạt động sản xuất kinh doanh,
họ phải nộp một khoản thuế nhất định cho Nhà nước, làm lợi nhuận sau thuế của họ sẽ bị giảm một phần Còn đối với những tổ chức, cá nhân nợ thuế, sau khi tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh xong, họ chậm nộp hoặc không nộp thuế cho Nhà nước, khi đó lợi nhuận sau thuế của họ không hề thay đổi,
Trang 23thậm chí còn sinh lời nhiều hơn vì khoản tiền đáng lẽ ra họ phải nộp thuế cho Nhà nước nay họ chiếm dụng và sử dụng chúng vào mục đích khác Do
đó gây mất công bằng giữa những người nộp thuế, tạo “sân chơi” không bình đẳng giữa những người nộp thuế với nhau
Thứ ba, nợ thuế đã tạo ra chi phí không cần thiết đối với xã hội có liên quan đến công tác quản lý thuế, gây mất thời gian, công sức, tiền của cho việc quản lý nợ thuế và cưỡng chế thuế Khi xuất hiện các khoản nợ thuế, đòi hỏi Nhà nước phải có một bộ phận chuyên đảm nhận chức năng quản lý các khoản nợ thuế đó Hơn nữa những khoản nợ thuế này được nợ từ nhiều nguồn khác nhau, từ nhiều sắc thuế khác, từ nhiều nguyên nhân khác nhau và biện pháp thu hồi cũng khác nhau do vậy việc quản lý những khoản nợ này rất phức tạp, đòi hỏi tốn kém về thời gian, tiền của và nhân lực
Vấn đề quản lý nợ thuế có vai trò rất quan trọng trong việc đánh giá chất lượng và hiệu quả công tác quản lý thuế của cơ quan thuế
Thứ nhất, thông qua quản lý nợ thuế, cơ quan thuế nắm bắt được chính xác tình hình thực hiện nghĩa vụ của người nộp thuế; thúc đẩy người nộp thuế nộp các khoản thuế đầy đủ, kịp thời vào ngân sách Nhà nước; đảm bảo thực hiện nghiêm túc pháp luật thuế Thông qua đó, quản lý nợ thuế góp phần nâng cao ý thức tuân thủ của người nộp thuế
Thứ hai, quản lý nợ thuế góp phần đảm bảo công bằng xã hội khi các
cơ sở kinh doanh cùng phát sinh nghĩa vụ thuế thì phải nộp vào ngân sách Nhà nước theo quy định của pháp luật
Thứ ba, quản lý nợ thuế đảm bảo quản lý tất cả các khoản thu của Nhà nước, chống thất thoát ngân sách Nhà nước Quản lý nợ tốt sẽ nâng cao hiệu quả của công tác quản lý thu thuế, góp phần nâng cao hiệu quả của các chức năng khác như: Quản lý kê khai thuế và thanh tra, kiểm tra thuế xác định chính xác nghĩa vụ thuế nhưng điều quan trọng là nghĩa vụ thuế được xác định đó phải được thực hiện thông qua công tác đôn đốc thu nộp thuế, đây là một nội dung quan trọng của công tác quản lý nợ thuế
Trang 24Thứ tư, quản lý nợ thuế tốt cũng tạo ra một kênh thông tin đúng đắn để
xử lý các khoản nợ của người nộp thuế một cách đúng đắn Thông qua đó, có biện pháp xử lý phù hợp nợ thuế để tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động sản xuất, kinh doanh của người nộp thuế
1.1.1.5 Yêu cầu của công tác quản lý nợ thuế
Quản lý nợ thuế phải đảm bảo các yêu cầu sau:
Thứ nhất, trong quản lý thuế nói chung và quản lý nợ thuế nói riêng thì yêu cầu cơ bản và quan trọng nhất của công tác này là phải quản lý đầy đủ, không bỏ sót các khoản thu của NSNN, vì nếu quản lý không chặt chẽ, không bao quát hết các khoản thu sẽ gây thất thu cho NSNN, khi đó sẽ gây khó khăn cho việc thực hiện các biện pháp cưỡng chế thuế
Thứ hai, phải đảm bảo quản lý chính xác các khoản nợ để cơ quan thuế
có các biện pháp quản lý phù hợp Để thực hiện yêu cầu này, bên cạnh việc phân loại nợ theo các tiêu thức đã trình bày ở phần trên thì các tiêu thức phân loại phải được kết hợp với nhau một cách hợp lý; qua đó cơ quan thuế sẽ đánh giá, xem xét và đưa ra các biện pháp thu nợ phù hợp với từng ngành nghề, lĩnh vực, trong từng thời kỳ phát triển kinh tế xã hội
Thứ ba, phải đảm bảo thu nợ kịp thời, tránh thất thu NSNN Yêu cầu này là yêu cầu xuyên suốt của công tác quản lý nợ thuế và là mục tiêu của công tác quản lý nợ thuế trong toàn ngành nói chung và của Chi cục thuế huyện Đồng Hỷ nói riêng
1.1.2 Nội dung và những yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý nợ thuế
1.1.2.1 Nội dung của công tác quản lý nợ thuế
Xây dựng chỉ tiêu thu tiền thuế nợ: Xác định số tiền thuế nợ năm thực hiện, lập chỉ tiêu thu tiền thuế nợ năm kế hoạch, báo cáo chỉ tiêu thu tiền thuế
nợ đã xác định cho cơ quan thuế cấp trên phê duyệt chỉ tiêu thu tiền thuế nợ, triển khai thực hiện chỉ tiêu thu tiền thuế nợ trên cơ sở phê duyệt
Trang 25Đôn đốc thu và xử lý tiền thuế nợ: Phân công quản lý nợ thuế cho công chức quản lý nợ, phân loại tiền thuế nợ, lập nhật ký và sổ tổng hợp theo dõi tiền thuế nợ, đối chiếu số liệu số tiền thuế nợ
Xử lý các văn bản, hồ sơ đề nghị xóa nợ tiền thuế, gia hạn nộp thuế, hoàn kiêm bù trừ:
Xử lý tiền thuế đã nộp NSNN đang chờ điều chỉnh; khó thu và một số nguyên nhân gây chênh lệch tiền thuế nợ
Đôn đốc tiền thuế nợ đối với cơ sở sản xuất trực thuộc ở địa phương khác nơi cơ sở kinh doanh đóng trụ sở chính và đơn vị ủy nhiệm thu
Lập nhật ký và sổ theo dõi tình hình nợ thuế: Khi NNT phát sinh nợ thuế, công chức quản lý nợ lập và ghi nhật ký theo dõi tiền thuế nợ của NNT Nhật ký theo dõi tiền thuế nợ được lập riêng cho từng NNT để theo dõi từng khoản tiền thuế nợ Sau mỗi biện pháp đôn đốc, xử lý nợ thuế, công chức quản
lý nợ thực hiện ghi nhật ký Hàng tháng, sau khi lập nhật ký, công chức quản lý
nợ lập sổ theo dõi tình hình nợ thuế Công chức quản lý nợ phải nhập các dữ liệu kịp thời, theo dõi quá trình tự động lập và ghi nhật ký tại ứng dụng này
Báo cáo kết quả thực hiện công tác quản lý nợ
Lưu trữ tài liệu về quản lý nợ
1.1.2.2 Những yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý nợ thuế
Nhóm yếu tố chủ quan
Thứ nhất, quy trình quản lý nợ của cơ quan thuế có hợp lý hay không hợp lý sẽ có ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả công tác quản lý nợ thuế vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến thao tác nghiệp vụ của cán bộ thuế
Thứ hai, do cách quản lý lỏng lẻo, việc thực hiện Luật thuế chưa nghiêm (cơ quan thuế chưa thực hiện cưỡng chế nợ thuế ngay nên DN lợi dụng để chiếm dụng tiền thuế trong một thời gian để thực hiện đầu tư kinh doanh) Thủ tục hành chính còn rườm rà, phức tạp thậm chí còn chưa phù hợp với các chuẩn mực quản lý thuế tiên tiến trên khu vực và thế giới
Trang 26Thứ ba, các hoạt động hỗ trợ như tuyên truyền, giải đáp, hỗ trợ về chính sách pháp luật, cung cấp các hệ thống phần mềm hỗ trợ về kê khai kế toán thuế, đây cũng là yếu tố rất quan trọng tác động đến công tác quản lý nợ Một thời gian dài chúng ta chưa coi trọng việc tuyên truyền giáo dục, cung cấp các dịch vụ hỗ trợ chất lượng cao để nâng cao sự hiểu biết, tự giác tuân thủ pháp luật của đối tượng nộp thuế Hiện nay chúng ta mới bước đầu thực hiện tuyên truyền rộng rãi, tuy nhiên còn chưa thực sự hiệu quả
Thứ tư, chính sách, pháp luật là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến công tác quản lý nợ Chính sách, pháp luật phải đồng bộ, phù hợp với tình hình thực tế Do cơ chế chính sách thuế có thể làm cho gánh nặng thuế quá cao vượt quá sức chịu đựng của người nộp thuế trong phạm vi khả năng nộp thuế của mình, khiến cho người nộp thuế tìm mọi cách để trốn thuế, hoặc họ không
có đủ khả năng để nộp thuế nên phải nợ thuế
Thứ năm, chế tài xử lý về thuế chưa đủ mạnh, đây là yếu tố ảnh hưởng đến việc chống thất thu thuế nói chung và công tác thu hồi nợ thuế nói riêng
Thứ sáu, trình độ nghiệp vụ, năng lực chuyên môn của cán bộ làm công tác quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế còn hạn chế Con người luôn là nhân tố quyết định đến mọi thành bại của quản lý Quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế cũng không nằm ngoài quy luật này Đại bộ phận cán bộ thuế chưa có kỹ năng, chuyên sâu, chuyên nghiệp, khả năng ứng dụng các tiến bộ công nghệ tin học vào quản lý thuế chưa phù hợp với yêu cầu quản lý thuế hiện đại và yêu cầu cải cách hành chính thuế, thậm chí một bộ phận cán bộ quản lý thuế chưa nắm vững và thực hiện tốt các chính sách thuế và quy trình biện pháp nghiệp vụ quản lý thuế nói chung và nghiệp vụ quản lý nợ thuế nói riêng
Nhóm yếu tố khách quan
Thứ nhất, tình hình kinh tế xã hội có ảnh hưởng nhất định đến công tác quản lý nợ thuế Do ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính, lạm phát, giá cả tăng cao, lãi suất ngân hàng cao hơn cả tỷ lệ phạt nộp chậm tiền thuế nên
Trang 27NNT thà bị phạt nộp chậm tiền thuế còn hơn là phải đi vay với lãi suất cao hơn Chính vì vậy mà số doanh nghiệp chiếm dụng tiền thuế, không nộp vào NSNN có xu hướng tăng thêm Trong thực tế, do mức thuế cao mà nhiều doanh nghiệp đang gặp khó khăn về tình hình tài chính, sản xuất kinh doanh thua lỗ nhiều năm dẫn đến nợ thuế kéo dài
Thứ hai, sự phối kết hợp của các cơ quan hữu quan với cơ quan thuế trong công tác quản lý nợ cũng rất quan trọng
Thứ ba, đặc điểm của nền kinh tế cũng là một yếu tố tác động đến công tác đôn đốc thu nợ thuế
Thứ tư, ý thức chấp hành chính sách pháp luật về thuế của người nộp thuế cũng là một yếu tố rất quan trọng tác động đến công tác quản lý nợ thuế Người nộp thuế từ trước đã quen với việc đôn đốc, ra thông báo thuế hàng tháng và cứ đến khi có thông báo nộp thuế, có thúc giục, đôn đốc của cơ quan thuế thì người nộp thuế mới đi nộp thuế Vì vậy khi chuyển sang cơ chế tự khai tự nộp, người nộp thuế chưa hình thành thói quen cho người nộp thuế trong việc tự giác nộp thuế vào NSNN
1.2 Cơ sở thực tiễn về công tác quản lý nợ thuế
1.2.1 Công tác quản lý nợ thuế tại Việt Nam nói chung
Trong những năm gần đây, cùng với việc tăng số thu thuế thì số nợ thuế cũng gia tăng Hàng năm, cơ quan thuế đã triển khai quyết liệt nhiều biện pháp quản lý nợ, đôn đốc, xử lý thu nơ Từ năm 2011 đến năm 2014 đã thu được 101.800 tỷ đồng số tiền thuế nợ của năm trước chuyển sang năm sau, bình quân thu được 25.450 tỷ đồng/năm, đạt tỷ lệ 60% Tuy nhiên, số
nợ đọng xử lý thu được chưa đảm bảo theo tốc độ tăng thu và quy mô thu NSNN ngày càng tăng, dẫn đến tỷ trọng nợ thuế do ngành Thuế quản lý trên tổng thu NSNN vẫn ở mức cao, số tiền nợ tuyệt đối vẫn tăng nhanh qua các năm Bên cạnh đó, công tác xóa nợ tiền thuế, tiền phạt, tiền chậm nộp thuế còn chậm, nhiều khoản thuế nợ đọng không có khả năng thu hồi nhưng
Trang 28không đủ căn cứ pháp lý, hồ sơ để được xóa nợ thuế, dẫn đến việc các cơ quan quản lý thuế vẫn phải thực hiện theo dõi, làm tăng số nợ đọng thuế lũy
kế lên cao qua các năm ết thúc năm 2014, tổng số tiền nợ thuế là 70.241
tỷ đồng, tăng 14,9% so với thời điểm 31/12/2013 Trong đó, số địa phương
có mức nợ thuế tăng 20%, thậm chí 30% so với năm 2013 Trong khi đó, cả năm 2014 cơ quan Thuế các cấp cũng chỉ thu được 52% tổng số nợ thuế của năm 2013 chuyển sang năm 2014
Những nỗ lực đôn đốc thu nộp và quản lý nợ thuế:
Trước thực trạng nợ đọng thuế trên, trong thời gian qua, Tổng cục Thuế
đã thường xuyên nghiên cứu để xây dựng và sửa đổi quy trình quản lý nợ thuế
Cụ thể, Quy trình quản lý nợ thuế 477/QĐ- TCT, sau đó là quy trình TCT, quy trình 2379/QĐ -TCT và mới đây nhất là quy trình 1401/QĐ -TCT là
1395/QĐ-cơ sở quan trọng để thống nhất nghiệp vụ quản lý nợ thuế Quy trình này cũng
là cơ sở để Tổng cục Thuế tổ chức chỉ đạo và kiểm tra việc thực hiện công tác đôn đốc thu nộp, quản lý nợ thuế của các cơ quan thuế địa phương Mặt khác không ngừng đổi mới từ nhận thức, tư duy, phương pháp chỉ đạo, điều hành gắn liền với việc kiểm tra, giám sát của Lãnh đạo các cấp; triển khai quyết liệt, đồng bộ, có hiệu quả các nhiệm vụ, giải pháp, kế hoạch đề ra phù hợp với thực tiễn trong từng thời điểm, thời kỳ; đặc biệt quan tâm chỉ đạo công tác QLN và CCN thuế Thực hiện đồng bộ các giải pháp trong công tác QLN và CCN thuế: xây dựng kế hoạch QLN; giao chỉ tiêu thu nợ đến từng Cục thuế, Phòng, Chi cục, cán bộ thuế và gắn kết quả thu nợ làm căn cứ bình xét thi đua Tăng cường đôn đốc thu, đảm bảo thu đủ số thuế đã kê khai, không để nợ mới phát sinh, các khoản thuế được gia hạn đến hạn nộp, nhất là tiền sử dụng đất Chỉ đạo các đơn
vị tăng cường áp dụng các biện pháp đôn đốc thu nợ và CCN thuế theo đúng Luật quản lý thuế, Quy trình và quy chế phối hợp trong cơ quan Thuế cũng như ngoài ngành Phân loại nợ thuế, phân tích, đánh giá rõ thực chất tình hình nợ thuế, xử lý các khoản nợ ảo, nợ chờ điều chỉnh như: tính chất, mức độ, nguyên
Trang 29nhân nợ thuế của từng NNT để có biện pháp đôn đốc thu nộp và xử lý các khoản nợ đọng thuế, đối chiếu, điều chỉnh ngay các khoản nợ sai sót, chủ yếu
là nhầm mục, tiểu mục Ban hành thông báo nợ và tiền nộp chậm đối 100% đối tượng nợ thuế; thực hiện các bước CCN thuế đối với NNT có số nợ lớn, nợ kéo dài và thông báo sẽ CCN, ra lệnh thu, trích tiền từ tài khoản…Phối hợp tốt với các cơ quan chức năng tăng cường CCN thuế theo đúng thủ tục, trình tự quy định đối với những trường hợp chây ỳ, cố tình chiếm dụng tiền thuế; đưa tin lên phương tiện thông tin đại chúng những NNT cố tình dây dưa nợ, nợ thuế, thời gian nợ thuế kéo dài Các Chi cục tham mưu Chính quyền địa phương chỉ đạo các ngành chức năng phối hợp với cơ quan Thuế triển khai từng giải pháp, kết hợp với quy trình QLN để đôn đốc thu hồi nợ đọng thuế và thực hiện các biện pháp CCN thuế phù hợp
1.2.2 Kinh nghiệm công tác quản lý nợ thuế tại một số tỉnh trong nước
* Tại Chi cục thuế huyện Lương Sơn tỉnh Hoà Bình
Năm 2014 là năm ngành thuế Hoà Bình triển khai thực hiện nhiệm vụ
vô cùng khó khăn, do lạm phát và suy thoái, tốc độ tăng trưởng chậm, sức mua của thị trường giảm, doanh nghiệp không tiếp cận được nguồn vốn, hàng loạt các doanh nghiệp phải ngừng hoạt động hoặc giải thể
Xác định được những khó khăn trên, ngay từ đầu năm Chi cục huyện Lương Sơn tỉnh Hòa Bình đã nỗ lực tập trung mọi nguồn lực, triển khai quyết liệt và đồng bộ nhiều biện pháp quản lý thuế nhằm phấn đấu hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị được giao Rà soát căn bản việc xây dựng kế hoạch thu tiền thuế nợ theo từng tháng đối với số tiền thuế nợ tại thời điểm 31/12, đồng thời đề ra các biện pháp thực hiện kế hoạch có hiệu quả Một trong những biện pháp được lựa chọn đó là đẩy mạnh công tác thanh tra, kiểm tra chống thất thu thuế và giảm nợ đọng thuế; tăng cường công tác quản lý, giám sát địa bàn để phát hiện, khai thác nguồn thu từ các lĩnh vực, ngành nghề có điều kiện nhằm bù đắp cho các khoản hụt thu
Trang 30Tính đến hết 12/2014 tổng số nợ đọng có khả năng thu của toàn tỉnh là
13 tỷ đang chiếm 13,8% dự toán thu ngân sách năm 2014 Nợ thuế chủ yếu
là của khu vực kinh tế NQD chiếm khoảng 81% tổng số nợ, trong đó một số loại hình doanh nghiệp nợ đọng lớn tập trung chủ yếu vào các khoản thu liên quan đến đất đai, tài nguyên, khoáng sản, xây dựng cơ bản và kinh doanh nông sản Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến nợ đọng thuế đó là do tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 11/NQ-CP về các giải pháp chủ yếu tập trung kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội, giá cả các mặt hàng tăng cao, lạm phát gia tăng; Chính sách tiền tệ được quản lý chặt chẽ; Một
số chính sách Nhà nước thay đổi… đã ảnh hưởng không nhỏ đến sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp Nhiều doanh nghiệp kinh doanh thua lỗ, không tiếp cận được vốn tín dụng, không thu hồi được công nợ do các doanh nghiệp chiếm dụng vốn của nhau, sản xuất kinh doanh ngừng chệ, hàng hóa tồn kho nhiều từ đó các doanh nghiệp không có khả năng nộp Ngân sách Trước tình hình đó, Chi cục thuế huyện Lương Sơn tỉnh Hòa Bình đã triển khai các giải pháp thu hồi nợ thuế như: Chỉ đạo các bộ phận, cá nhân được phân công quản lý nợ thuế, đối chiếu xác định chính xác số tiền thuế nợ của từng người nộp thuế; phân loại các khoản nợ thuế; theo dõi, nắm bắt diễn biến, tình trạng nợ để xây dựng kế hoạch, biện pháp thu nợ chi tiết đến từng đối tượng nợ thuế; thường xuyên theo dõi, giám sát chặt chẽ công tác quản
lý nợ và cưỡng chế nợ thuế, kịp thời chấn chỉnh, xử lý nghiêm đối với các trường hợp chậm nộp, chây ỳ nợ thuế Tiến hành thu thập, xác minh thông tin người nợ thuế một cách linh hoạt, phù hợp với từng đặc điểm doanh nghiệp để có thông tin chính xác Tăng cường kiểm tra các hồ sơ khai thuế sai, nếu phát hiện không đúng, yêu cầu người nộp thuế điều chỉnh kịp thời tránh tình trạng khi phát hành thông báo tiền thuế nợ và tiền chậm nộp không chính xác ;
Trang 31Tiếp tục thực hiện thu tiền thuế nợ bù trừ qua hoàn thuế; phối kết hợp chặt chẽ với Kho bạc Nhà nước, Ngân hàng, Sở Kế hoạch và Đầu tư để đôn đốc hoặc thực hiện cưỡng chế thu hồi nợ thuế Tăng cường tham mưu cho UBND tỉnh và Ban Chỉ đạo Chống thất thu và đôn đốc thu, nộp Ngân sách Nhà nước, chỉ đạo kịp thời các ngành chức năng có liên quan trên địa bàn, phối hợp với cơ quan thuế để thu hồi nợ thuế, đặc biệt triển khai các biện pháp cưỡng chế nợ thuế
* Tại Chi cục thuế huyện Chợ Đồn tỉnh Bắc Kạn
Trước tình hình kinh tế trong nước gặp nhiều khó khăn, việc nợ thuế
có chiều hướng gia tăng, ngay từ đầu năm, ngành thuế đã triển khai nhiều biện pháp phân loại nợ đọng tiền thuế, quản lý thu nợ, đồng thời chỉ đạo quyết liệt các chi cục thuế, phòng thu ngân sách thực hiện tốt kế hoạch giảm nợ Các chi cục thuế xây dựng chương trình, kế hoạch thu nợ, giao chỉ tiêu thu nợ thuế cụ thể đến từng cán bộ thuế, từng địa bàn cụ thể để tăng cường quản lý, tăng thu, giảm nợ đọng tiền thuế Ngành thuế phấn đấu
tỷ lệ nợ thuế so với số thực hiện thu ngân sách trên địa bàn năm 2014 không vượt quá 5% Qua phân loại, đối với nợ tiền thuế có khả năng thu, ngành thuế tăng cường công tác vận động, tuyên truyền, giải thích để người nộp thuế hiểu rõ trách nhiệm và nghĩa vụ của người nộp thuế; nâng cao ý thức tự giác chấp hành nghĩa vụ nộp thuế vào ngân sách Nhà nước đúng thời hạn quy định
Thông qua công tác quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế cho thấy, đã có nhiều chuyển biến quan trọng về chất lượng, ý thức chấp hành pháp luật thuế của các doanh nghiệp trên địa bàn đã được nâng lên rõ rệt Đa số các doanh nghiệp thực hiện kê khai đã chủ động nộp thuế vào ngân sách Nhà nước Tuy nhiên, bên cạnh đó cho thấy số nợ đọng tiền thuế vẫn còn ở mức cao (6,98%) Thu nợ thuế gặp nhiều khó khăn hó khăn chung là năng lực
về tài chính của các doanh nghiệp trên địa bàn còn hạn chế, trong hoạt
Trang 32động sản xuất kinh doanh, nhất là xây dựng cơ bản còn chậm thanh toán vốn, theo nữa các lĩnh vực hoạt động như khai thác khoáng sản sản xuất ra tiêu thụ chậm, giá thấp, tác động đến sản xuất kinh doanh, dẫn tới khó khăn
về thu nợ Trên thực tế trong năm 2014 số doanh nghiệp mới hình thành thấp hơn số lượng doanh nghiệp bỏ kinh doanh, nhiều doanh nghiệp thường xuyên kê khai không có phát sinh thuế, tác động đến thu ngân sách và thu
nợ Các biện pháp cưỡng chế nợ thuế mới dừng lại ở việc phong tỏa tài khoản thông qua việc nắm bắt thông tin từ ngân hàng Việc thu thập thông tin về tài khoản của người nộp thuế mất nhiều thời gian do người nộp thuế
mở tài khoản tại nhiều ngân hàng Trong các doanh nghiệp có số tiền nợ thuế lớn thì hầu hết không có tiền trong tài khoản tại các ngân hàng nên ngành thuế không thể thực hiện cưỡng chế theo quy định Một số doanh nghiệp có thói quen thanh toán bằng tiền mặt hoặc thường xuyên thay đổi tài khoản tại ngân hàng, mở tài khoản tại ngân hàng ngoài tỉnh nhưng không khai báo với cơ quan thuế nên việc thực hiện cưỡng chế nợ thuế kéo dài, hiệu quả chưa cao
Để hoàn thành kế hoạch quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế năm 2014, Chi cục thuế huyện Chợ Mới thường xuyên thực hiện công tác rà soát người nộp thuế còn nợ thuế để đưa vào quản lý nợ thuế theo quy định, phối hợp với các ngành liên quan xử lý thu nợ đọng thuế, đôn đốc nộp các khoản thu sau kết luận thanh tra, kiểm tra thuế, kiểm toán nhà nước, tiền cấp quyền khai thác khoáng sản và tiền thuê đất…Tăng cường các biện pháp cưỡng chế người nộp thuế có số thuế nợ đọng lớn, đồng thời, hướng dẫn người nộp thuế thực hiện các thủ tục gia hạn đối với các trường hợp hoạt động trong lĩnh vực xây dựng cơ bản có số tiền nợ do nguyên nhân chưa được thanh toán vốn đầu
tư từ ngân sách Nhà nước
Trang 331.2.3 Bài học kinh nghiệm đối với Chi cục Thuế huyện Đồng Hỷ
Thứ nhất: cần phải nhận thức đúng vai trò của công tác quản lý nợ thuế Thứ hai: xây dựng bộ máy tổ chức quản lý nợ thuế giỏi về chuyên môn nghiệp vụ theo hướng chuyên sâu về từng lĩnh vực Cần tăng cường sự phối hợp chặt chẽ giữa các đội chức năng trong công tác quản lý nợ thuế Các bộ phận Quản lý nợ, bộ phận Kê khai kế toán thuế, bộ phận Kiểm tra thuế thực hiện phối hợp rà soát, đối chiếu, điều chỉnh các khoản nợ đảm bảo số liệu trên ứng dụng của cơ quan thuế chính xác và thống nhất với người nộp thuế; tăng cường thực hiện quản lý nợ trên ứng dụng và truyền báo cáo nợ thuế về cục thuế qua ứng dụng mạng internet và quản lý hệ thống;
Thứ ba: tranh thủ sự ủng hộ của chính quyền địa phương trong việc đôn đốc thu hồi nợ thuế Báo cáo kịp thời tình hình diễn biến nợ thuế với các cấp uỷ Đảng và chính quyền địa phương; đồng thời chủ động tham mưu, đề xuất các biện pháp để xử lý nợ đọng phù hợp Tuyên truyền thông báo trên phương tiện truyền thanh của xã phường đối với các hộ kinh doanh cố tình dây dưa nợ thuế;
Thứ tư: tăng cường công tác tuyên truyền, tư vấn thuế nhằm nâng cao ý thức chấp hành luật thuế của người nộp thuế và đội ngũ cán bộ công chức
Trang 34Chương 2
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Câu hỏi nghiên cứu
- Thực trạng công tác quản lý nợ thuế đối với người nộp thuế trên địa
bàn huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên như thế nào?
- Những nhân tố nào ảnh hưởng đến công tác quản lý nợ thuế đối với
người nộp thuế trên địa bàn huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên?
- Giải pháp nào để công tác quản lý nợ thuế đạt hiệu quả tốt nhất?
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Phương pháp thu thập số liệu
2.2.1.1 Thu thập số liệu thứ cấp
Các số liệu thứ cấp được thu thập chủ yếu bằng phương pháp tổng hợp
tài liệu Sử dụng các số liệu thống kê, số liệu báo cáo tháng, quý, năm của Đội
quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế của Chi cục thuế Đồng Hỷ, các báo cáo tổng
kết công tác thuế của Chi cục thuế huyện Đồng Hỷ theo từng mốc thời gian,
các sách giáo trình, các Website chính thức, các tạp chí, các báo cáo khoa học
đã được công bố Các tài liệu về tình hình chung của huyện Đồng Hỷ như:
điều kiện tự nhiên, dân số, kinh tế, xã hội, số thu nộp ngân sách, tình hình nợ
đọng NSNN năm 2011 - 2014 Cụ thể:
- Thu thập tài liệu về điều kiện tự nhiên, mật độ dân số và về tình hình
phát triển kinh tế xã hội trên địa bàn huyện Đồng Hỷ
- Thu thập tài liệu về tình hình thu nộp ngân sách nhà nước trên địa bàn
huyện Đồng Hỷ giai đoạn 2011 - 2014
- Thu thập các thông tin nợ thuế từ chương trình quản lý thuế, hệ thông
tin của người nộp thuế do cơ quan quản lý như kê khai, nộp thuế, quyết toán
thuế, các báo cáo tổng kết chuyên ngành, tạp chí chuyên ngành
- Các phân tích, đánh giá của các nghiên cứu trước về lĩnh vực của đề
tài cũng được thu thập giúp cho quá trình phân tích được sâu sắc thêm
Trang 352.2.1.2 Thu thập số liệu sơ cấp
Số liệu sơ cấp là thông tin thu thập được thông qua phiếu điều tra, phỏng vấn trực tiếp để làm rõ thực trạng quản lý nợ thuế tại địa bàn nghiên cứu
Về phương pháp điều tra: xây dựng phiếu điều tra nghiên cứu dưới dạng câu hỏi và tiến hành điều tra nghiên cứu các đối tượng khác nhau Phiếu điều tra nghiên cứu được thực hiện đối với đội ngũ cán bộ làm công tác quản
lý nợ thuế tại Chi cục thuế Đồng Hỷ và người nộp thuế trên địa bàn huyện Đồng Hỷ (đính kèm ở phần phụ lục)
* Phiếu điều tra dành cho cán bộ nhân viên trực tiếp làm công tác quản
Ngoài ra còn áp dụng phương pháp phỏng vấn sâu với mục đích tập trung xây dựng các nội dung phỏng vấn đối với các cán bộ quản lý nợ thuế tại Chi cục thuế huyện Đồng Hỷ Nội dung phỏng vấn chủ yếu tập trung vào thực trạng của công tác quản lý nợ thuế tại Chi cục thuế huyện Đồng Hỷ
Căn cứ để chọn mẫu khi áp dụng phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp
là căn cứ vào những bộ phận trực tiếp thực hiện công tác quản lý nợ thuế tại Chi cục thuế huyện Đồng Hỷ Những mẫu khách thể được chọn được căn cứ trên vị trí, chức vụ và những công việc hàng ngày mà cán bộ trực tiếp thực hiện có liên quan đến quản lý nợ thuế
Trang 36Đối tượng khách thể nghiên cứu được chọn gồm hai nhóm đối tượng chính:
- Các nhân tố nằm trong ban lãnh đạo Chi cục thuế huyện Đồng Hỷ Họ
là những người nắm rõ các hoạt động của Chi cục thuế, trong đó có kết quả và thực trạng của các hoạt động trong công tác quản lý nợ thuế tại Chi cục thuế huyện Đồng Hỷ
- Các cán bộ công nhân viên trực tiếp làm công tác quản lý nợ thuế và các đội chức năng có liên quan đến công tác quản lý nợ thuế trên cơ sở ý kiến
đề xuất từ Ban lãnh đạo Chi cục thuế huyện Đồng Hỷ
* Phiếu điều tra đối tượng nộp thuế: Thực hiện điều tra 50 doanh nghiệp đóng trên địa bàn, tập trung vào các tiêu chí như quy mô sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, ngành nghề kinh doanh của doanh nghiệp, mức nợ thuế của doanh nghiệp từ đó tiến hành phân tổ, phân nhóm và chọn mẫu điều tra theo các tổ các nhóm đối tượng
Điều tra nhóm đối tượng nộp thuế để có cái nhìn khách quan hơn về công tác quản lý nợ thuế tại Chi cục thuế huyện Đồng Hỷ Đồng thời tham khảo quan điểm, thái độ, ý kiến và sự thoả mãn của các Doanh nghiệp về hoạt động quản lý nợ thuế tại Chi cục thuế huyện Đồng Hỷ Cụ thể như tình hình
nợ thuế, nguyên nhân nợ thuế, nhận thức của doanh nghiệp về thuế và công tác quản lý nợ thuế, ý thức chấp hành pháp luật của chủ doanh nghiệp, đánh giá của doanh nghiệp về cán bộ thuế (trình độ, tác phong và kỹ năng làm việc,…), đánh giá của doanh nghiệp về chính sách thuế, kiến nghị của doanh nghiệp về chính sách, công tác quản lý,…
2.2.2 Phương pháp xử lý số liệu và phân tích
2.2.2.1 Phương pháp tổng hợp, xử lý số liệu
Phương pháp phân tổ thống kê để hệ thống hóa và tổng hợp tài liệu theo các tiêu thức phù hợp với mục đích nghiên cứu
Trang 37Xử lý và tính toán các số liệu, các chỉ tiêu nghiên cứu được tiến hành trên máy tính bằng các phần mềm Excel và phần mềm tin học của Tổng cục Thuế
Các số liệu tính toán được thể hiện trên bảng thống kê một cách có hệ thống, lôgíc nhằm mô tả cụ thể, rõ ràng các đặc trưng về mặt lượng của các hiện tượng nghiên cứu
2.2.2.2 Phương pháp phân tích
* Phương pháp thống kê mô tả: Phương pháp này được dùng để thống kê số tuyệt đối, số tương đối, số bình quân các chỉ tiêu thống kê sẽ được tính toán để mô tả thực trạng công tác quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế tại Chi cục Thuế huyện Đồng Hỷ và những thuận lợi và khó khăn trong quá trình quản lý nợ thuế Một số chỉ tiêu so sánh cũng được thể hiện trong quá trình làm đề tài
* Phương pháp so sánh: Phương pháp này được sử dụng sau khi số liệu
đã được tổng hợp, phân tích chúng ta sử dụng phương pháp so sánh để so sánh, đánh giá về các vấn đề nghiên cứu về công tác quản lý nợ thuế tại Chi cục Thuế huyện Đồng Hỷ, cụ thể:
- So sánh tình hình thu ngân sách qua các năm
- So sánh mức nợ thuế của Chi cục thuế huyện Đồng Hỷ qua các năm
- So sánh mức nợ thuế của các doanh nghiệp qua các năm
* Phương pháp phân tổ thống kê: Phương pháp này sử dụng để phân nhóm các đối tượng nợ thuế theo quy mô thuế phải nộp, thời hạn nộp thuế nhằm đánh giá ảnh hưởng của các yếu tố đến công tác quản lý nợ thuế và cưỡng chế nợ thuế Tiêu thức phân tổ cụ thể:
- Tình hình nợ thuế theo quy mô doanh nghiệp
- Tình hình nợ thuế theo loại hình doanh nghiệp
- Tình hình nợ thuế theo từng sắc thuế
- Tình hình nợ thuế theo địa bàn
Trang 382.3 Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu
Chỉ tiêu thực trạng quản lý nợ thuế:
- Tổng số thuế ghi thu (triệu đồng)
- Tốc độ tăng số thuế ghi thu (%)
Tỷ lệ thu
nợ thuế =
Tổng số thuế nợ đã thu năm thực hiện
x 100% Tổng số thuế nợ năm báo cáo
Tỷ lệ nợ có
khả năng thu =
Tổng số thuế nợ có khả năng thu
x 100% Tổng số thuế nợ
Trang 39vĩ Bắc; 105°46’-106°04’ độ kinh Đông
Với đặc trưng của vùng đất trung du miền núi, Đồng Hỷ có thế mạnh
về nông nghiệp, địa bàn lại nằm tiếp giáp với thành phố Thái Nguyên có đường quốc lộ 1B đi qua, nên đây là điều kiện thuận lợi để huyện tiêu thụ các mặt hàng nông, lâm sản của mình Trên địa bàn huyện có dòng Sông Cầu chảy qua hàng năm được bồi đắp một lượng phù sa lớn từ con Sông Cầu Trên địa bàn huyện có nhiều khu vực đất bằng phẳng, các khu ruộng nối liền với nhau thành một cánh đồng lớn, có hệ thống tưới tiêu tốt rất thuận tiện cho phát triển trồng trọt và chăn nuôi
Huyện Đồng Hỷ nằm gần thành phố Thái Nguyên, gần khu công nghiệp, gần các trung tâm văn hoá, khoa học, giáo dục của các tỉnh trung
du và miền núi Bắc Bộ nên chịu sự tác động lớn về giao lưu trong nhiều lĩnh vực kinh tế-xã hội, đây là điều kiện thuận lợi cho việc tiêu thụ, phổ biến và quảng bá sản phẩm hàng hoá sản xuất ra của trang trại và hộ nông dân trong huyện
Trang 40Hình 3.1: Bản đồ hành chính huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên
Đồng Hỷ có tổng diện tích đất tự nhiên 45.524,44 ha, có 3 thị trấn và
15 xã, là huyện miền núi và trung du, địa hình phức tạp không đồng nhất, có
độ cao trung bình khoảng 100m so với mặt nước biển, địa hình thấp dần từ Đông Bắc xuống Tây Nam, cao nhất là xóm Lung Phượng - xã Văn Lăng,