1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận môn Pháp luật kinh doanh

12 215 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 301 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Câu 17: Phân tích đặc điểm pháp lý của Công ty cổ phần 1. Khái niệm công ty Cổ phần * Khái niệm: Là doanh nghiệp trong đó vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần; Cổ đông (người sở hữu cổ phần của công ty) chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp.

Trang 1

TIỂU LUẬN MÔN PHÁP LUẬT KINH DOANH Câu 17: Phân tích đặc điểm pháp lý của Công ty cổ phần

1 Khái niệm công ty Cổ phần

* Khái niệm: Là doanh nghiệp trong đó vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần; Cổ đông (người sở hữu cổ phần của công ty) chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp

2 Đặc điểm công ty Cổ phần

Công ty Cổ phần có những đặc điểm – đặc trưng pháp lý như sau:

- Phải có số lượng cổ đông tối thiểu là 3 thành viên và không hạn chế số lượng (có thể là cá nhân hoặc tổ chức là cổ đông);

- Vốn điều lệ của Công ty được chia thành các phần bằng nhau gọi là cổ phần, giá trị cổ phần gọi là mệnh giá cổ phần Mua cổ phần là hình thức chính để góp vốn vào công ty cổ phần, cổ hần gồm có cổ phần hổ thông và cổ phần ưu đãi;

- Cổ đông là người nắm giữ cổ phần và chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn đã góp;

- Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng phần vốn góp của mình cho người khác, trừ trường hợp là cổ đông sở hữu cổ phần ưu đãi biểu quyết và cổ phần phổ thông của cổ đông sáng lập;

- Doanh nghiệp cổ phần có thể phát hành chứng khoán theo quy định pháp luật

về chứng khoán;

- Công ty cổ phần là doanh nghiệp có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, chịu trách nhiệm hữu hạn về các khoản nợ của công ty trong phạm vi vốn điều lệ

Trang 2

3 Cơ cấu thể chế của công ty cổ phần

Cơ cấu tổ chức của một Công ty cổ phần được thể hiện như mô hình sau:

4 Ưu và nhược điểm công ty Cổ phần:

* Ưu điểm:

- Vì công ty cổ phần được góp vốn từ các cổ đông nên trách nhiệm về nợ và các nghĩa vụ tài sản của công ty thuộc phạm vi vốn đã góp và mức độ rủi ro sẽ thấp hơn;

- Khả năng huy động vốn cao từ ngành nghề, lĩnh vực khác nhau thông qua hình thức phát hành cổ phiếu ra thị trường;

- Chuyển nhượng vốn tương đối dễ dàng;

* Nhược điểm:

- Số lượng thành viên cổ đông lớn dẫn đến việc quản lý và điều hành công

ty phức tạp, có sự phân tách thành các nhóm cổ đông tranh giành về lợi ích;

- Theo quy định thì vị trí Giám đốc hoặc Tổng giám đốc của doanh nghiệp cổ phần không được đồng thời làm Giám đốc hoặc Tổng giám đốc doanh nghiệp khác;

Trang 3

Bài tập tình huống - Bài 1

Anh chị hãy tư vấn cho các thành viên công ty hợp danh VK về sự phù hợp của nội dung trong Điều lệ công ty họ so với quy định của Luật Doanh nghiệp 2005 Được biết Điều lệ công ty hợp danh VK có một số nội dung sau;

1 Thành viên góp vốn chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty

2 Thành viên công ty hợp danh không được làm chủ doanh nghiệp tư nhân hoặc thành viên của công ty hợp danh khác

3 Thành viên hợp danh được chia lợi nhuận, chịu lỗ ngang nhau không phụ thuộc vào tỷ lệ vốn góp vào công ty

4 Hội đồng thành viên bao gồm tất cả các thành viên hợp danh Mỗi thành viên hợp danh có một phiếu biểu quyết

5 Giám đốc công ty hợp danh là người duy nhất có quyền đại diện theo pháp luật và tổ chức điều hành công ty Công ty hợp danh có thể thuê Giám đốc

Trả lời:

Công ty hợp danh là một trong số những loại hình công ty được ghi nhận trong Luật doanh nghiệp năm 2005 Công ty hợp danh với những đặc trưng của

nó luôn có những ưu điểm và nhược điểm khi lựa chọn Để làm rõ những đặc điểm pháp lý cũng như quyền và lợi ích liên quan của thành viên công ty hợp danh, sau đây em xin trả lời các tình huống đề số 1 như sau

GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

1 Thành viên góp vốn chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi số vốn đã góp.

Điều lệ này công ty VK đã quy định rất phù hợp với quy định của pháp luật hiện hành

Giải thích: Ở đa số các nơcs trên thế giới, công ty hợp danh được pháp luật ghi nhận là một loại hình đặc trưng của công ty đối nhân, trong đó có ít nhất

2 thành viên (đều là cá nhân hoặc thương nhân cùng tiến hành hoạt động thương mại (theo nghĩa rộng) dưới một hãng chung (hay hội danh) và cùng liên đới chịu trách nhiệm vô hạn về mọi khoản nợ của công ty Căn cứ vào tính chất thành viên và chế độ chịu trách nhiệm tài sản, thì công ty giống với công ty hợp danh

Trang 4

theo pháp luật các nước, tức là chỉ bao gồm những thành viên hợp danh (chịu trách nhiệm vô hạn về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản của công ty) Loại thứ 2

là những công ty có cả thành viên hợ danh và thành viên góp vốn, thành viên góp vốn chỉ phải chịu trách nhiệm hữu hạn

Công ty VK là công ty hợp danh có nội dung của Điều lệ phù hợp với quy định của pháp luật, trong đó có viết: thành viên góp vốn chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi vốn đã góp vào công ty Điều lệ cũng là điểm c khoản 1 Điều 130 Luật Doanh nghiệp 2005 (LDN)

Thành viên góp vốn có thể là tổ chức hoặc cá nhân Thành viên góp vốn chỉ phải chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi số vốn đã góp, gọi là chịu trách nhiệm hữu hạn Chủ nợ hay các thành viên hợ danh khác của công ty không có quyền đòi thành viên góp vốn trả toàn bộ số nợ cho mình hoặc chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của họ nếu số nợ đó lớn hơn hạm vi chịu trách nhiệm của thành viên này Khi tham gia quản lý công ty: với tư cách

là thành viên của công ty đối nhân nhưng thành viên góp vốn hưởng chế độ trách nhiệm tài sản như một thành viên công ty đối vốn, những thành viên góp vốn chỉ góp vốn vào công ty hợp danh để hưởng phần trăm lợi nhuận tơng ứng với số vốn góp, họ chỉ quan tâm tới lợi nhuận hưởng phần trăm lợi nhuận tương ứng với số vốn góp, họ chỉ quan tâm tới lợi nhuận mà không có quan hệ gì với các thành viên hợp danh Tất nhiên đến lúc làm ăn thua lỗ, thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm trong phạm vi số vốn đã góp, đồng nghĩa với việc công ty làm ăn thua lỗ đến mức nào đi nữa thì thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm cao nhất là bằng giá trị số vốn đã góp vào kinh doanh Một trong những lý do quy định như vậy là LDN là vì thành viên góp vốn không có quyền trong việc quản lý công ty, điều hành hoạt động hay vạch hướng phát triển của công ty

Đồng thời theo quy định của Luật Doanh nghiệp 2005, thì chỉ có thành viên hợp danh mới phải chịu trách nhiệm vô hạn, nghĩa là phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với các khoản nợ và các nghĩa vụ tài chính của công ty Khi công ty làm ăn thua lỗ hoặc dẫn tới phá sản, tài sản công ty không đủ trả nợ, thành viên hợp danh sẽ phải dùng tài sản dân sự của mình để trả cho hết số nợ đó cho chủ nợ

Trang 5

Ví dụ: Ông A là thành viên góp vốn của công ty hợp danh ABC chiếm 30% vốn điều lệ Bà K là thành viên góp vốn của công ty Sau 5 năm năm hoạt động, công ty bị thua lỗ dẫn đến phá sản Hiện tài sản của công ty chỉ còn 3 tỷ, trong khi còn nợ ngân hàng những 6 tỷ Vì ông B là thành viên hợp danh nên phải chịu trách nhiệm vô hạn với các khoản nợ của công ty nên ông sẽ phải dùng

900 triệu tài sản cá nhân tương ứng với 30% số vốn đã góp vào công ty (điểm e khoản 2 Điều 134 Luật Doanh nghiệp 2005) đem ra trả nợ cho công ty Còn bà

K chỉ phải chịu trách nhiệm hữu hạn đối với công ty nên chỉ chịu trách nhiệm cao nhất bằng số vốn đã góp vào công ty Có thể bà K sẽ mất hết số vốn góp đó nhưng hoàn toàn không phải dùng tới tài sải cá nhân để trả nợ cho công ty

2 Thành viên công ty hợp danh không được làm chủ doanh nghiệp tư nhân hoặc thành viên của công ty hợp danh khác.

Sự quy định của công ty VK là phù hợp với quy định của pháp luật Giải thích:

Trước hết, theo khoản 1, Điều 130 Luật Doanh nghiệp 2005 quy định thành viên của công ty hợp danh bao gồm: thành viên hợp danh và có thể có thành viên góp vốn

Thành viên hợp danh phải là cá nhân, chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của công ty

Thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty

Như thế, công ty hợp danh sẽ có hai loại thành viên bao gồm: thành viên hợp danh và thành viên góp vốn Ta chia làm 2 trường hợp

Thứ nhất, thành viên hợp danh của công ty là hợp danh VK không được làm chủ doanh nghiệp tư nhân hoặc thành viên của công ty hợp danh khác

Quy định về nội dung của công ty là hợp lý so với quy định của Luật doanh nghiệp năm 2005

Cơ sở pháp lý của LDN năm 2005 quy định về vấn đề này như sau: căn

cứ vào khoản 1 Điều 133 Hạn chế đối với quyền của thành viên hợp danh

Thành viên hợp danh không được làm chủ doanh nghiệp tư nhân hoặc thành viên hợp danh của công ty hợp danh khác, trừ trường hợp được sự nhất trí của các thành viên hợp danh còn lại.”

Trang 6

Tại sao quy định trong nội dung điều lệ của công ty hợp danh VK khác so với khoản 1 Điều 133 LDN mà khẳng định là phù hợp, em xin giải thích như sau:

Việc pháp luật có quy định về trường hợp ngoại lệ đó là thành viên hợp danh có thể trở thành chủ doanh nghiệp tư nhân hoặc thành viên hợ danh của công ty hợp danh khác nếu có sự nhất trí của thành viên hợp danh khác bởi lý do trách nhiệm vô hạn và liên đới của thành viên hợ danh Khi đó nếu có sự thỏa thuận là một trong các thành viên hợp danh có thể đứng ra bảo đảm chịu toàn bộ rủi ro của công ty bằng tàn sản của mình thì thành viên hợp danh khác có thể trở thành chủ doanh nghiệp tư nhân hoặc thành viên hợp danh của Công ty khác Như vậy, khi các thành viên hợp danh khác đồng ý cho một thành viên làm chủ

sở hữu daonh nghiệp thì vẫn có thể đảm bảo khả năng chịu trách nhiệm vô hạn bằng mọi tài sản tài sản của thành viên còn lại đối với mọi khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của Công ty, đồng thời vẫn đảm bảo được niềm tin cũng như uy tín đối với khách hàng

Trở lại với nội dung trong Điều lệ của Công ty hợp danh Trước hết, Điều

lệ Công ty có thể hiểu là một cam kết được đồng ý bởi các chủ sở hữu Công ty, giữa những người sáng lập với nhau cũng như giữa những người sáng lập với những người góp vốn (thành viên hợp danh, thành viên góp vốn vào Công ty hợp danh, thành viên công ty trách nhiệm hữu hạn, cổ đông) nhằm xác lập các nội dung về danh tính Công ty, cách thức thành lập, góp vốn, bộ máy tổ chức, quản lý, hoạt động của công ty, cách thức công ty chấm dứt tồn tại và những nội dung khác Như vậy, việc quy định nội dung điều lệ của công ty hợp danh trong công ty Thiết nghĩ sẽ không còn có trường hợp ngoại lệ khác

Thứ hai: Thanh viên góp vốn của công ty hợp danh không được làm chủ doanh nghiệ tư nhân và thành viên hợp danh của công ty hợp danh khác

Quy định này trong nội dung điều lệ của công ty VK là hợp lý so với quy định của LDN năm 2005 Theo Luật doanh nghiệp năm 2005 tại điểm c, khoản 1 Điều 130 và điểm a, điểm b, khoản 2 Điều 140 có quy định: “thành viên góp vốn chịu trách nhiệm hữu hạn đối với các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty, đồng thời họ không được tham gia quản lý công ty” Bên cạnh đó, cũng không có điều luật nào quy định cấm thành viên góp vốn không được làm chủ sở hữu doanh nghiệp tư nhân hoặc là thành viên hợp danh của công ty hợp danh

Trang 7

khác Mặt khác, ta thấy nội dung của điều lệ của công ty là sự thỏa thuận của tất

cả thành viên công ty do đó tất cả các thành viên phải tuân theo quy định nội dung của điều lệ đã đề ra Căn cứ vào quy định về quyền và nghĩa vụ các thành viên góp vốn (điểm h, khoản 1 và điểm d, khoản 2 Điều 140 LDN) thì các thành viên góp vốn có quyền và nghĩa vụ phải tuân theo quy định của Luật và Điều lệ công ty

3 Thanh viên hợp danh được chia lợi nhuận, chịu lỗ ngang nhau không hụ thuộc vào tỷ lệ vóp vốn vào công ty.

Điều lệ này phù hợp với quy định của Luật doanh nghiệp 2005

Công ty hợp danh bắt buộc phải có thành viên hợp danh (ít nhất là hai thành viên), và cả hai là cá nhân Trách nhiệm tài sản của các thành viên hợp danh đối với nghĩa vụ của công ty là trách nhiệm vô hạn và liên đới Chủ nợ có quyền yêu cầu bất kì thành viên hợp danh nào thanh toán các khoản nợ của công

ty đối với chủ nợ Mặt khác, các thành viên hợp danh phải bằng toàn bộ tài sản của mình (tài sản đầu tư vào kinh doanh và tài sản dân sự) chịu trách nhiệm về các nghĩa vụ của công ty

Thanh viên hợp danh là những người quyết định sự tồn tại và phát triển của công ty về mặt pháp lý và thực tế Trong quá trình hoạt động các thành viên hợp danh được hưởng những quyền cơ bản, quan trọng của thành viên công ty đồng thời phải thực hiện những nghĩa vụ tương xứng để bảo vệ quyền lợi của công ty và những người liên quan Các quyền và nghĩa vụ của thành viên hợp danh được quy định trong Luật doanh nghiệp và Điều lệ công ty

Quyền và nghĩa vụ của thành viên hợp danh được quy định tai điều 134 LDN:

a Thành viên hợp danh có các quyền sau đây: Được chia lợi nhuận tương ứng với tỷ lệ vốn góp hoặc theo thỏa thuận quy định tại Điều lệ công ty, khi công ty giải thể hoặc phá sản, được chia một phần giá trị tài sản còn lại theo tỷ

lệ góp vốn vào công ty nếu Điều lệ công ty không quy định một tỷ lệ khác

b Thành viên hợp danh có các nghĩa vụ sau đây: Chịu lỗ tương ứng với phần vốn góp vào công ty trong trường hợp công ty kinh doanh bị lỗ

Như vậy việc công ty hợp danh VK quy định “Thành viên hợp danh được chia lợi nhuận, chịu lỗ ngang nhau không phụ thuộc vào tỷ lệ vốn góp vào công ty” là hù hợp với LDN vì Luật cho phép các thành viên tự thỏa thuận với nhau

Trang 8

về tỷ lệ chia lwoij nhuận, việc chịu lỗ khi công ty làm ăn có lãi cũng như mức

độ chịu lỗ của các thnahf viên khi xảy ra rủi ro trong quá trình kinh doanh

4 Hội đồng thành viên bao gồm tất cả các thành viên hợp danh Mỗi thành viên hợp danh có một phiếu biểu quyết.

a Hội đồng thành viên bao gồm tất cả các thành viên hợp danh.

Điều lệ này của công ty VK không trái với quy định của pháp luật nhưng không hoàn toàn hợp lý so với quy định của LDN năm 2005

Như chúng ta đã biết ở Việt Nam không có quy định cụ thể hai loại hình của công ty hợp danh đơn giản và công ty hợp danh hữu hạn mà quy định gọi chung là công ty hợp danh Căn cứ vào quy định tại khoản 1 Điều 135 “Tất cả thành viên hợp lại thành Hội đồng thành viên Hội đồng thành viên bầu một thành viên hợp danh làm chủ tịch hội đồng thành viên, đồng thời kiêm Giám đốc hoặc Tổng giám đốc công ty nếu Điều lệ công ty không có quy định khác” Tất

cả các thành viên được hiểu là bao gồm cả thành viên hợp danh và thành viên góp vốn Như vậy chúng ta cần chia làm hai trường hợp:

Trường hợp 1: Nếu công ty hợp danh chỉ có thành viên hợp danh thì quy định đó hoàn toàn hợp lý Bởi bản chất của công ty hợp danh là đối nhân, các thành viên thường có quan hệ mật thiết về thân nhân với nhau nên việc quản lý công ty hợp danh chịu rất ít sự ràng buộc của pháp luật Về cơ bản các thành viên có quyền tự thỏa thuận về việc quản lý, điều hành công ty

Trường hợp 2: Nếu thành viên công ty VK gồm thành viên hợp danh và thành viên góp vốn thì quy định trong nội dung điều lệ của công ty chưa bảo đảm được quyền lợi của các thành viên góp vốn trong công ty Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 140 LDN năm 2005 thành viên góp vốn được “tham gia họp, thảo luận và biểu quyết tại Hội đồng thành viên về việc sửa đổi, bổ sung Điều lệ công ty, sửa đổi, bổ sung các quyền và nghĩa vụ của thành viên góp vốn,

về tổ chức lại và giải thể công ty và các nội dung khác của Điều lệ công ty liên quan trực tiếp đến quyền và nghĩa vụ của họ” Vì vậy, công ty VK cần có sự cân nhắc trong quy định ở nội dung Điều lệ của công ty

b Mỗi thành viên hợp danh có một phiếu biểu quyết.

Quy định của công ty hoàn toàn hù hợp với quy định của LDN năm 2005

Trang 9

Cơ sở pháp lý: Khoản 1 Điều 134 quy định về các quyền và nghĩa vụ của thành viên hợp danh có “Mỗi thành viên hợp danh có một phiếu biểu quyết hoặc

có số phiếu biểu quyết khác quy định tại điều lệ công ty” Do đó, điều lệ công ty quy định rằng mỗi thành viên hợp danh có một phiếu biểu quyết là phù hợp với quy định của LDN hiện hành Việc quy định như vậy của công ty hợp danh thể hiện sự bình đẳng của các thành viên trong công ty không phụ thuộc vào số nhiều hay ít Quy định này của luật doanh nghiệp năm 2005 của Việt Nam về công ty hợp danh so với quy định về công ty hợp danh ở Pháp, Đức, Thụy Điển các thành viên có quyền tự quyết định các giao dịch của công ty và các thành viên khác chịu trách nhiệm hậu quả pháp lý của giao dịch đó

5 Giám đốc công ty hợp danh là người duy nhất có quyền đại diện theo phá luật và tổ chức điều hành công ty Công ty hợp danh có thể thuê giám đốc.

a Giám đốc công ty hợp danh là người duy nhất có quyền đại diện theo pháp luật và tổ chức điều hành công ty.

Xuất phát từ bản chất của công ty hợp danh là công ty đối nhân nên tính

an toàn pháp lý đối với công chúng cao, mặt khác các thành viên thường có quan hệ mật thiết về nhân thân Vì vậy, tong quá trình hoạt động của công ty, các thành viên hợp danh có quyền đại diện theo pháp luật và tổ chức điều hành hoạt động kinh doanh của công ty Thành viên hợp danh phân công nhau đảm nhận các chức danh quản lý và kiểm soát công ty, khi một số hoặc tất cả các thành viên cùng thực hiện một số công việc kinh doanh thì công việc được quyết định thông qua theo đa số

Trong công ty hợp danh, Hội đồng thành viên là cơ quan quyết định cao nhất của công ty bao gồm tất cả các thành viên Hội đồng thành viên bầu một thành viên hợp danh là Chủ tịch đồng thời kiêm Giám đốc hoặc Tổng giám đốc (nếu Điều lệ công ty không có quy định khác)

Tại điểm đ, khoản 4 Điều 137 LDN năm 2005 quy định: Chủ tịch Hội đồng thành viên, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc có nhiệm vụ sau đây:

Đại diện cho công ty trong quan hệ với cơ quan nhà nước đại diện cho công ty với tư cách là bị đơn hoặc nguyên đơn trong các vụ kiện, tranh chấp thương mại hoặc các tranh chấp khác

Trang 10

Như vậy, theo luật định về công ty hợp danh, cũng như về bản chất của loại hình doanh nghiệp này, chúng ta có thể thấy, cả Chủ tịch Hội đồng thành viên cũng như Giám đốc hoặc Tổng giám đốc đều có quyền đại diện theo pháp luật cho công ty, trừ khi là có vị trí Chủ tịch Hội đồng thành viên kiêm Giám đốc hoặc Tổng giám đốc, thì trong trường hợp này người đại diện trước pháp luật của công ty sẽ chỉ là một người

Tuy nhiên, theo khoản 3 Điều 135 LDN 2005:

Hội đồng thành viên có quyền quyết định tất cả công việc kinh doanh của công ty Nếu Điều lệ công ty không quy định thì quyết định các vấn đề sau đây phải được ít nhất ba phần tư tổng số thành viên hợp danh chấp thuận:

- Phương hướng phát triển công ty;

- Sửa đổi, bổ sung điều lệ công ty;

- Tiếp nhận thêm thành viên hợp danh mới;

- Chấp nhận thanh viên hợp danh rút khỏi công ty hoặc quyết định khai trừ thành viên;

- Quyết định dự án đầu tư;

- Quyết định việc vay và huy động vốn dưới hình thức khác, cho vay với giá trị bằng hoặc lớn hơn 50% vốn điều lệ của công ty, trừ trường hợp Điều lệ công ty quy định một tỷ lệ khác cao hơn;

- Quyết định mua, bán tài sản có giá trị bằng hoặc lớn hơn vốn điều lệ của công ty, trừ trường hợp điều lệ công ty quy định một tỷ lệ khác cao hơn;

- Quyết định thông qua báo cáo tài chính hàng năm, tổng số lợi nhuận được chia và số lợi nhuận chia cho từng thành viên;

- Quyết định giải thể công ty

Và tại khoản 2 Điều 137 LDN 2005 có quy định: “Trong điều hành hoạt động kinh doanh của công ty, thành viên hợp danh phân công nhau đảm nhiệm các chức danh quản lý và kiểm soát công ty Khi một số hoặc tất cả thành viên hợp danh cùng thực hiện một số công việc kinh doanh quyết định được thông qua theo nguyên tắc đa số”

Như vậy, từ quy định của khoản 3 Điều 135 và khoản 2 Điều 137 LDN

2005 đã nêu trên, thì điều lệ giám đốc công ty hợp danh là người duy nhất có quyền đại diện theo pháp luật và tổ chức điều hành công ty của công ty hợp

Ngày đăng: 31/08/2019, 21:53

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w