1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận môn pháp luật kinh tế (hợp đồng vô hiệu)

27 247 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 171,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI MỞ ĐẦU Giao dịch dân sự là một trong những phương thức hữu hiệu cho cá nhân, pháp nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác xác lập, thực hiện quyền và nghĩa dân sự nhằm thoả mãn nhu cầu sinh hoạt tiêu dùng, trong sản xuất, kinh doanh. Hợp đồng dân sự ngày càng có ý nghĩa quan trọng trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta trong giai đoạn hiện nay. Trong quá trình thực hiện, bên cạnh những mặt tích cực còn tồn tại những thực trạng là các tranh chấp về dân sự, nhất là các tranh chấp về hợp đồng có xu hướng tăng, trong đó hợp đồng vô hiệu chiếm tỷ lệ không nhỏ. Việc tuyên bố hợp đồng dân sự vô hiệu và giải quyết hậu quả pháp lý của hợp đồng dân sự vô hiệu vẫn là một vấn đề phức tạp nhất mà ngành Toà án đang vướng mắc. Do tính cấp thiết cũng như tầm quan trọng của chế định hợp đồng vô hiệu nên em chọn vấn đề “Hợp đồng dân sự vô hiệu” làm đề tài tiểu luận môn Pháp luật kinh tế. Do kiến thức hiểu biết còn hạn hẹp mà vấn đề lại có nhiều vấn đề phức tạp nên trong quá trình làm bài không tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến từ phía các thầy cô.

Trang 1

Đặc biệt em xin gửi lời cảm ơn, lòng biết ơn sâu sắc tới Giảng viên TS Trần

Lệ Thu, người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ em trong quá trình hoàn thành đề tài

tiểu luận này

Cuối cùng em xin kính chúc cô và các bạn lớp CH07 luôn dồi dào sức khỏe

và thành công trong công việc Là đề tài tiểu luận nâng cao, do điều kiện còn hạnchế về kiến thức cũng như tài liệu, thời gian nên khó tránh khỏi những sai sót vàkhiếm khuyết Vì vậy, em rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của cô giáo vàcác bạn để nội dung của đề tài này được hoàn thiện hơn

Em xin chân thành cảm ơn!

Trang 2

LỜI MỞ ĐẦU

Giao dịch dân sự là một trong những phương thức hữu hiệu cho cá nhân, phápnhân, hộ gia đình, tổ hợp tác xác lập, thực hiện quyền và nghĩa dân sự nhằm thoảmãn nhu cầu sinh hoạt tiêu dùng, trong sản xuất, kinh doanh Hợp đồng dân sựngày càng có ý nghĩa quan trọng trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hộichủ nghĩa ở nước ta trong giai đoạn hiện nay Trong quá trình thực hiện, bên cạnhnhững mặt tích cực còn tồn tại những thực trạng là các tranh chấp về dân sự, nhất

là các tranh chấp về hợp đồng có xu hướng tăng, trong đó hợp đồng vô hiệu chiếm

tỷ lệ không nhỏ Việc tuyên bố hợp đồng dân sự vô hiệu và giải quyết hậu quảpháp lý của hợp đồng dân sự vô hiệu vẫn là một vấn đề phức tạp nhất mà ngànhToà án đang vướng mắc Do tính cấp thiết cũng như tầm quan trọng của chế địnhhợp đồng vô hiệu nên em chọn vấn đề “Hợp đồng dân sự vô hiệu” làm đề tài tiểuluận môn Pháp luật kinh tế Do kiến thức hiểu biết còn hạn hẹp mà vấn đề lại cónhiều vấn đề phức tạp nên trong quá trình làm bài không tránh khỏi những thiếusót, rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến từ phía các thầy cô

Em xin chân thành cảm ơn !

2

Trang 4

I NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HỢP ĐỒNG VÔ HIỆU

1 Khái niệm của hợp đồng dân sự

Để tồn tại và phát triển mỗi cá nhân cũng như mỗi tổ chức phải tham gia vàocác mối quan hệ khác nhau Thông qua việc các bên thiết lập với nhau nhữngquan hệ để qua đó chuyển giao cho nhau các lợi ích vật chất nhằm đáp ứng nhucầu sinh hoạt tiêu dùng là một tất yếu đối với đời sống xã hội Tuy nhiên việcchuyển giao lợi ích vật chất ấy không thể tự tìm tới nhau để thiết lập nên các quan

hệ Các quan hệ tài sản chỉ được hình thành từ những hành vi có ý chí của conngười Mác nói rằng: “tự chúng, hàng hoá không thể đi đến thị trường và trao đổivới nhau được Muốn cho những vật đó trao đổi với nhau thì những người giữchúng phải đối xử với nhau như những người mà ý chí nằm trong các vật đó.”(Các Mác, “Tư bản”, quyển 1, tập 1, Nxb Sự thật 1973 trang 163) Mặt khác nếuchỉ có một bên thể hiện ý chí của mình mà không được bên kia cũng không thểhình thành một quan hệ để qua đó thể hiện việc chuyển giao tài sản Do đó chỉkhi nào có sự thể hiện ý chí thống nhất giữa các bên thì quan hệ trao đổi lợi íchvật chất mới được hình thành Quan hệ đó được gọi là hợp đồng dân sự Như vậy

cơ sở đầu tiên để hình thành nên một hợp đồng dân sự là việc thoả thuận ý chí tựnguyện của các bên Tuy nhiên hợp đồng đó chỉ có hiệu lực khi mà ý chí của cácbên phù hợp với ý chí của Nhà nước Các bên được thiết lập, tự do thoả thuậnhợp đồng nhưng sự tự do ấy phải được đặt trong giới hạn lợi ích của người khác,lợi ích chung của toàn xã hội

Khái niệm về hợp đồng dân sự cần phải được xem xét ở nhiều phương diện vàgóc độ khác nhau Theo phương diện khách quan thì hợp đồng dân sự là một bộphận của các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành nhằm điều chỉnh các mốiquan hệ phát sinh trong quá trình chuyển dịch các lợi ích vật chất Theo phươngdiện chủ quan hợp đồng dân sự là một giao dịch dân sự mà trong đó các bên tự ýtrao đổi với nhau nhằm đi đến một thoả thuận để cùng nhau làm phát sinh cácquyền và nghĩa vụ dân sự nhất định

Trang 5

Theo phương diện này khái niệm hợp đồng dân sự được xem xét ở dạng kháiquát và dạng cụ thể Để quy định của pháp luật có thể bao trùm được toàn bộ cáchợp đồng dân sự xảy ra trong thực tế, Điều 388 BLDS 2005 quy định: “Hợp đồngdân sự là sự thoả thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi, chấm dứt quyền vànghĩa vụ dân sự.” Như vậy hợp đồng dân sự không chỉ là sự thoả thuận của mộtbên chuyển giao tài sản, thực hiện một công việc cho bên kia mà có thể còn là sựthoả thuận để thay đổi hay chấm dứt các nghĩa vụ đó.

Ngoài ra cũng cần nói thêm rằng xét về nội dung kinh tế sẽ khó phân biệtgiữa một hợp đồng dân sự với một hợp đồng kinh tế, hợp đồng thương mại nếunội dung của chúng đều là sự mua bán, trao đổi các lợi ích vật chất Tuy nhiênyêu cầu của quá trình tiến hành tố tụng trong việc giải quyết các tranh chấp từhợp đồng đòi hỏi cần có sự phân biệt rạch ròi giữa một hợp đồng kinh tế với mộthợp đồng dân sự Có thể nói hợp đồng dân sự và hợp đồng kinh tế như cặp songsinh Vì vậy trong thực tế có rất nhiều trường hợp là hợp đồng kinh tế hay dân sự

Để có thể phân biệt được hai loại hợp đồng này phải được xác định cụ thể mụcđích của từng loại hợp đồng Hợp đồng với mục đích thoả mãn nhu cầu sinh hoạt,tiêu dùng thì được coi là hợp đồng dân sự Và chỉ được coi là hợp đồng kinh tếkhi các bên chủ thể khi tham gia vào hợp đồng nhằm mục đích kinh doanhthương mại, thu lợi nhuận

2 Khái niệm, đặc điểm của hợp đồng vô hiệu

2.1 Khái niệm

Hợp đồng vô hiệu không phát sinh hậu quả pháp lý mà các bên mong muốn

“vô hiệu” theo nghĩa thông thường là “không có hiệu lực, không có hiệu quả” nhưvậy có thể suy ra rằng hợp đồng vô hiệu là hợp đồng không tồn tại theo quy địnhcủa pháp luật, không có hiệu lực pháp lý mặc dù hợp đồng đó được xác lập, cácbên có thể chưa thực hiện, đang thực hiện hay đã thực hiện xong quyền và nghĩa

vụ như cam kết nhưng khi xác định là HĐVH thì mọi cam kết đã, đang thực hiệnthì đều không phải là các quyền và nghĩa vụ được pháp luật bảo vệ

Trang 6

Vậy hợp đồng vô hiệu là khi xác lập các bên đã có vi phạm ít nhất một trongcác điều kiện có hiệu lực do pháp luật quy định dẫn đến hậu quả pháp lý là khônglàm phát sinh các quyền và nghĩa vụ dân sự nào.

* So sánh với hợp đồng mất hiệu lực: Để hiểu rõ hơn cần phải có sự phân biệtgiữa hợp đồng vô hiệu và hợp đồng dân sự mất hiệu lực HĐVH là hợp đồngkhông có hiệu lực ở ngay thời điểm giao kết Còn hợp đồng mất hiệu lực là hợpđồng có hiệu lực ở thời điểm ký kết nhưng hợp đồng bị mất hiệu lực là do rơi vàotình trạng không thể thực hiện được Tình trạng mất hiệu lực của hợp đồng dân sự

có thể do một bên vi phạm, dẫn đến bên vi phạm yêu cầu huỷ hợp đồng hoặc cácbên tự thoả thuận với nhau chấm dứt hiệu lực của hợp đồng hoặc do trở ngại kháchquan nào khác Ví dụ 2 bên ký kết một hợp đồng mua bán gỗ, thời điểm này Nhànước không cấm mua bán mặt hàng này Nhưng khi hai bên đang thực hiện hợpđồng thì Nhà nước lại có quyết định cấm khai thác và buôn bán loại gỗ này dẫnđến hợp đồng không thể thực hiện được và bị mất hiệu lực

2.2 Đặc điểm của hợp đồng vô hiệu

Theo khoản 1 Điều 410 BLDS 2005 quy định: “Các quy định về giao dịchdân sự vô hiệu từ Điều 127 đến Điều 138 của Bộ luật này được áp dụng đối vớihợp đồng vô hiệu.” Vậy có thể thấy các quy định về hợp đồng vô hiệu được ápdụng giống như đối với giao dịch dân sự vô hiệu Mà theo quy định tại Điều 127BLDS 2005 quy định: “Giao dịch dân sự không có một trong các điều kiện đượcquy định tại Điều 122 của Bộ luật này thì vô hiệu.” Vậy đặc điểm chung của cáchợp đồng vô hiệu là không đáp ứng các điều kiện theo quy định của pháp luật Khihợp đồng vô hiệu các bên phải gánh chịu hậu quả pháp lý nhất định có thể bất lợi

về vật chất hoặc tinh thần nhưng không đạt được mục đích đã xác định nếu chưathực hiện được thì sẽ không thực hiện được tiếp, nếu đang thực hiện thì phải chấmdứt việc thực hiện đó để quay trở lại tình trạng ban đầu hoàn trả cho nhau những gì

đã nhận (khoản 2 điều 137 BLDS 2005)

2.2.1 Không đáp ứng được các điều kiện theo quy định của pháp luật với hợp đồng vô hiệu

Trang 7

- Năng lực hành vi dân sự của người tham gia hợp đồng

Bản chất của hợp đồng dân sự là sự thống nhất ý chí và bày tỏ ý chí của cácchủ thể tham gia hợp đồng nhưng không phải ai cũng có quyền tham gia vào bất kỳloại hợp đồng nào mà chỉ có các chủ thể được pháp luật cho phép mới có thể đượctham gia Trong một số trường hợp thì một số chủ thể chỉ được tham gia trong giớihạn của một số quan hệ dân sự nhất định Khi các chủ thể tham gia quan hệ hợpđồng phải có năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự mà năng lực pháp luật

là vốn có của chủ thể mà pháp luật quy định cho các chủ thể có quyền như nhau:Mọi cá nhân đều có năng lực pháp luật dân sự như nhau Năng lực pháp luật dân sựcủa cá nhân có từ khi người đó sinh ra và chấm dứt khi người đó chết (khoản 2, 3Điều 14 BLDS 2005) Còn năng lực hành vi thì pháp luật căn cứ vào khả năngnhận biết hành vi của từng con người cụ thể Việc phân định này dựa trên cơ sởsinh học và cơ sở xã hội Nếu như năng lực pháp luật là tiền đề, là quyền dân sựkhách quan của chủ thể thì năng lực hành vi là khả năng hành động của chủ thể đểtạo ra quyền và thực hiện nghĩa vụ Tư cách chủ thể tham gia hợp đồng dân sự là

sự thống nhất giữa năng lực pháp luật và năng lực hành vi Năng lực pháp luật làđiều kiện cần, năng lực hành vi là điều kiện đủ để tạo ra tư cách của một chủ thểkhi tham gia hợp đồng

- Mục đích và nội dung của các hợp đồng không đáp ứng đủ yêu cầu của phápluật hoặc trái đạo đức xã hội Trong chế định hợp đồng dân sự, các chủ thể cóquyền tự do thể hiện ý chí của mình, tự do trong việc quyết định nội dung, hìnhthức của giao dịch, thể hiện khi xác lập hợp đồng các chủ thể có quyền tự do lựachọn đối tác, tự do thoả thuận nội dung của hợp đồng, hình thức giao kết Nhưng

sự tự do không mang tính tuyệt đối mà bị ràng buộc bởi khuôn khổ pháp luật Sựràng buộc này hạn chế sự tự do của các chủ thể khi tham gia xác lập hợp đồng.Chủ thể không tuân theo sự hạn chế của pháp luật dẫn tới hợp đồng vô hiệu

+ Mọi thoả thuận không trái với pháp luật

+ Mọi thoả thuận không được trái với đạo đức xã hội

Trang 8

Không trái với pháp luật thì rõ nhưng không trái với đạo đức xã hội là mộtvấn đề phức tạp vì khái niệm đạo đức là một khái niệm trừu tượng Nhà nước đưa

ra khái niệm đạo đức xã hội trong luật : “Đạo đức xã hội là những chuẩn mực ứng

xử giữa người với người trong đời sống xã hội, được cộng đồng thừa nhận” (khổ 3Điều 128 BLDS 2005), nhưng không quy định cụ thể trường hợp nào là vi phạm.Chính vì vậy mà khi xác định nội dung của khái niệm đạo đức thường được xemtrong mối quan hệ với án lệ, nhưng về lý thuyết thì Nhà nước ta chưa thừa nhận án

lệ Chính vì thế trong thực tiễn hiện nay quy định này đã gây ra không ít khó khăntrong việc áp dụng

- Chủ thể tham gia xác lập hợp đồng không tự nguyện

Sự tự nguyện khi giao kết hợp đồng là một yếu tố cơ bản và không thể thiếuđược trong hợp đồng dân sự Vì vậy các chủ thể khi tham gia giao kết hợp đồngphải thể hiện ý chí đích thực của mình Mọi thoả thuận không phản ánh đúng ý chícủa các bên đều có thể dẫn đến hợp đồng vô hiệu Ý chí của chủ thể là thể hiệnmong muốn của mình ra bên ngoài trong khuôn khổ pháp luật cho phép mà không

bị sự ép buộc nào

- Hình thức hợp đồng không đúng quy định của pháp luật

Để đảm bảo cho trật tự xã hội, lợi ích của Nhà nước và cá nhân khi tham giagiao kết hợp đồng, ngoài việc các chủ thể tham gia xác lập hợp đồng phải thể hiện

ý chí của mình còn phải tuân theo các quy định của pháp luật về hình thức đối vớimột số loại hợp đồng nhất định Thông qua các biểu hiện về hình thức này ngườikhác có thể phần nào biết được nội dung của hợp đồng Việc quy định một số loạigiao dịch cần phải tuân theo các quy định về hình thức dựa trên cơ sở là đối tượngcủa các loại hợp đồng này có giá trị lớn hoặc có tính năng đặc biệt nên hình thứccủa hợp đồng là căn cứ xác đinh nội dung của hợp đồng Mặt khác, với những quyđinh này còn là cơ sở để các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền kiểm tra giám sátviệc chuyển dịch các tài sản này

2.2.2 Các bên tham gia hợp đồng phải gánh chịu hậu quả pháp lý nhất định

Trang 9

Khi hợp đồng vô hiệu thì: “… các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàntrả cho nhau những gì đã nhận; nếu không hoàn trả bằng hiện vật thì phải hoàn trảbằng tiền, trừ trường hợp tài sản giao dịch, hoa lợi, lợi tức thu được bị tịch thu theoquy định của pháp luật Bên có lỗi gây thiệt hại phải bồi thường.” (Khoản 2 Điều

137 BLDS 2005) Về mặt lý thuyết thì đây là sự tổn thất của các bên nên phải quaylại tình trạng ban đầu như trước khi tham gia hợp đồng Tuy nhiên về mặt thực tế

có trường hợp khi tuyên bố hợp đồng vô hiệu có bên được hưởng lợi, có bên bịthiệt hại

3 Phân loại hợp đồng vô hiệu

Vì các quy định về giao dịch dân sự từ Điều 127 đến Điều 138 được áp dụngcho hợp đồng vô hiệu nên dựa vào đó có thể thấy có những loại hợp đồng vô hiệudựa vào các căn cứ sau:

* Dựa vào mức độ vi phạm đối với từng loại hợp đồng dân sự cụ thể thì hợpđồng dân sự được chia thành:

- Hợp đồng dân sự vô hiệu toàn bộ: là hợp đồng mà toàn bộ nội dung của nóđều vi phạm điều kiện có hiệu lực của hợp đồng hoặc có một số nội dung của hợpđồng bị vô hiệu nhưng lại trực tiếp ảnh hưởng tới phần còn lại của hợp đồng

- Hợp đồng dân sự vô hiệu từng phần: là hợp đồng mà chỉ có một số nội dung

vi phạm các điều kiện có hiệu lực của HĐDS, còn các nội dung khác không viphạm hoặc có một phần của HĐVH nhưng không ảnh hưởng tới hiệu lực còn lạicủa hợp đồng

* Dựa vào mức độ vi phạm nghiêm trọng hay không của HĐDS cũng như căn

cứ vào ý chí của Nhà nước, ý chí của chủ thể tham gia giao dịch thì HĐVH đượcchia thành:

- Hợp đồng dân sự đương nhiên vô hiệu (vô hiêu tuyệt đối): là hợp đồngkhông có hiệu lực pháp luật ngay từ khi giao kết, không có giá trị về mặt pháp luậtkhông làm phát sinh quyền và nghĩa của các bên Do vậy cả trường hợp các bêntham gia hợp đồng đã ký kết và thực hiện sẽ không có giá trị pháp lý Các bên

Trang 10

tham gia phải chấm dứt thực hiện và quay lại trạng thái ban đầu và hoàn trả chonhau những gì đã nhận

- Hơp đồng vô hiệu khi có yêu cầu (vô hiệu tương đối): Là hợp đồng có khảnăng khắc phục, nó được coi là hợp đồng có thể hiệu lực nhưng cũng có thể bị vôhiệu theo sự lựa chọn của một trong các bên kia hợp đồng Hợp đồng này thôngthường không xâm phạm trật tự công cộng và đạo đức xã hội và chỉ có thể bị vôhiệu đối với bên có lỗi mà không vô hiệu với bên không có lỗi Khi xác định hợpđồng vô hiệu thì quyền và nghĩa vụ của các bên đã thoả thuận đều không có hiệulực pháp luật, còn trong trường hợp hợp đồng đó được thừa nhận sau khi đã khắcphục thì đương nhiên quyền, nghĩa vụ của các bên sẽ được pháp luật bảo vệ theo

sự cam kết thoả thuận của các bên Hợp đồng khắc phục là hợp đồng mới Với hợpđồng vô hiệu tuyệt đối lại khác Đây thường là hợp đồng vi phạm điều cấm củapháp luật nên trong thực tế Toà án và các cơ quan có thẩm quyền không cho phépkhắc phục mặc dù các bên có mong muốn được khắc phục

* Dựa vào các quy định trong BLDS 2005

- Hợp đồng dân sự vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội (Điều

128 BLDS 2005) Điều cấm của pháp luật là những quy định của pháp luật khôngcho phép chủ thể thực hiện những hành vi nhất định Đạo đức xã hội là nhữngchuẩn mực chung trong đời sống xã hội, đựơc cộng đồng thừa nhận và tôn trọng

- Hợp đồng vô hiệu do giả tạo (Điều 129 BLDS 2005)

Ý chí đích thực và sự thể hiện ý chí đó phải là sự thống nhất Khi hai cái đókhông có sự đồng nhất thì hợp đồng dân sự vô hiệu Trên cơ sở này, pháp luật quyđịnh HĐDS được xác lập một cách giả tạo thì hợp đồng này vô hiệu còn hợp đồng

bị che giấu vẫn có hiệu lực Nếu hợp đồng bị che giấu cũng vi phạm điều kiện cóhiệu lực của hợp đồng thì cũng bị coi là vô hiệu Ngoài ra khi các chủ thể xác lậphợp đồng nhằm trốn tránh nghĩa vụ với người thứ 3 thì cũng bị coi là vô hiệu

- Họp đồng dân sự vô hiệu do người chưa thành niên, người mất năng lựchành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự xác lập thực hiện (Điều

130 BLDS 2005) Đối với các HĐDS được xác lập, thực hiện bởi người chưa thành

Trang 11

niên, người mất NLHVDS, người bị hạn chế NLHVDS mà theo quy định của phápluật hợp đồng này phải do người đại diện của họ xác lập, thực hiện thì pháp luậtcho phép người đại diện của những người này có quyền yêu cầu Toà án tuyên bốHĐVH.

- Hợp đồng dân sự vô hiệu do nhầm lẫn (Điều 131 BLDS 2005) Ở đây,HĐDS được xác lập bởi sự nhầm lẫn không có sự thống nhất ý chí đích thực với

sự thể hiện ý chí đó ra bên ngoài Do đó bên bị nhầm lẫn có quyền yêu cầu Toà

án tuyên bố HĐDS vô hiệu mà không cần phải yêu cầu bên kia thay đổi nội dunghợp đồng

- Hợp đồng dân sự vô hiệu do bị lừa dối, đe doạ (Điều 132 BLDS 2005)

Là hợp đồng mà bản thân chủ thể xác lập hợp đồng bị “tê liệt” về ý chí vàkhông có sự lựa chọn nào khác ngoài việc lựa chọn ý chí của một bên (đe doạ)hoặc sự nhận thức không đúng về HĐDS bởi hành vi vi phạm pháp luật, bởi sựđịnh hướng ý chí của chủ thể thành một nội dung khác có lợi cho người địnhhướng (lừa dối)

- Hợp đồng dân sự vô hiệu do người xác lập không nhận thức và làm chủhành vi của mình (Điều 133 BLDS 2005)

Một người có năng lực hành vi dân sư đầy đủ có thể xác lập hợp đồng theo ýchí của mình Tuy nhiên trên thực tế có những trường hợp bản thân chủ thể xác lậphợp đồng mặc dù có NLHVDS đầy đủ nhưng đã không xác lập hợp đồng vào đúngthời điểm không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình Ví dụ trong tìnhtrạng say rượu, bia, các chất kích thích khác…

- Hợp đồng dân sự vô hiệu do không tuân thủ các quy định về hình thức.(Điều 134 BLDS 2005)

Đối với các HĐDS mà pháp luật buộc các bên phải thông qua một hình thứcnhất định nhưng các bên lại không thông qua hình thức này thì Toà án hoặc cơquan Nhà nước có thẩm quyền sẽ ấn định một thời hạn để các bên hoàn thành, quáthời hạn này mà các bên không hoàn thành thì HĐVH

Trang 12

- Hợp đồng vô hiệu từng phần (Điều 135 BLDS 2005) Hợp đồng vô hiệutừng phần khi một phần của hợp đồng vô hiệu nhưng không ảnh hưởng đến hiệulực của phần còn lại của hợp đồng.

- Hợp đồng dân sự vô hiệu do có đối tượng không thể thực hiện được (Điều

411 BLDS) Trong trường hợp ngay từ khi ký kết, hợp đồng có đối tượng khôngthể thực hiện được vì lý do khách quan thì HĐVH Đối với HĐ DS vô hiệu do cóđối tượng không thể thực hiện được cần xác định cụ thể: trong trường hợp ngay từkhi ký kết hợp đồng có đối tượng không thể thực hiện được vì lý do khách quan thìHĐVH Ví dụ do sự kiện bất khả kháng làm cho đối tượng của hợp đồng khôngcòn: lũ, lốc, bão cuốn trôi tài sản…Trong trường hợp khi giao kết hợp đồng màmột bên nếu biết hoặc phải biết về việc đối tượng của hợp đồng không thể thựchiện được nhưng không thông báo cho bên kia biết nên bên kia đã giao kết hợpđồng thì phải bồi thường thiệt hại cho bên kia Trong trường hợp hợp đồng cónhiều phần đối tượng không thể thực hiện được thì phần còn lại của hợp đồng vẫn

có hiệu lực

4 Thời hiệu yêu cầu Toà án tuyên bố hợp đồng vô hiệu

Các hợp đồng không bị hạn chế bởi thời hiệu yêu cầu của Toà án tuyên bốHĐVH là những hợp đồng mà mức độ vi phạm điều kiện có hiệu lực của hợp đồng

là nghiêm trọng như hợp đồng vô hiệu do vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạođức xã hội; HĐVH do giả tạo Các hợp đồng có thực hiện yêu cầu Toà án tuyên bốHĐVH là hai năm kể từ ngày xác lập hợp đồng bao gồm các loại hợp đồng: HĐVH

do người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lựcpháp luật dân sự; HĐVH do bị nhầm lẫn; HĐVH do bị lừa dối đe doạ; HĐVH dongười không nhận thức và làm chủ hành vi của mình xác lập; HĐVH do khôngtuân thủ các quy định của pháp luật về hình thức

5 Quy định về hợp đồng vô hiệu của pháp luật Việt Nam qua các thời kỳ

a Chế định hợp đồng dưới thời nhà Nguyễn

Quan niệm về khế ước trong luật phong kiến Việt Nam phần lớn giống quyđịnh của pháp luật về hợp đồng vô hiệu của chúng ta hiện nay Khế ước phải được

Trang 13

đặt trên sự ưng thuận của các bên tham gia, người tham gia khế ước phải có nănglực pháp lý nhất định Khi tham gia vào khế ước phải hoàn toàn ngay thẳng,nghiêm túc, không có sự lừa dối cưỡng ép, trong một số giao dịch có tính chất đặcbiệt, có giá trị lớn còn phải tuân theo các quy định về hình thức Nếu các bên thamgia khế ước không tuân thủc các điều kiện về nội dung, điều kiện về hình thức củakhế ước thì vô hiệu, không làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ của các bên thamgia khế ước Về nguyên tắc khế ước vô hiệu các bên quay trở lại tình trạng banđầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận Khi giải quyết hậu quả pháp lý khế ướcdân sự vô hiệu không thuần tuý là trách nhiệm dân sự mà trong nhiều trường hợpngoài các quy định về trách nhiệm dân sự còn áp dụng những chế tài của pháp luậthình sự Tuy nhiên cách lập pháp còn khác xa so với luật hiện tại đó là: không dựliệu được các tình huống xảy ra trong thực tế, không phân biệt giữa hai ngành luậtdân sự và luật hình sự, mang nặng tư tưởng chính trị, cổ hủ của chế độ phong kiếnthời đó

b Dưới thời Pháp thuộc

Thời Pháp thuộc lần đầu tiên trong lịch sử nước ta các bộ Dân luật được banhành với tư cách là một ngành luật độc lập Các bộ luật trong thời kỳ này ảnhhưởng trực tiếp của bộ Dân luật Pháp 1804 nhưng có nhiều điều được sửa đổi, bổsung cho phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội Việt Nam thời kỳ này và đặc biệtphù hợp với phương thức thanh toán phổ thông ở Việt Nam Kể từ năm 1945 đếntrước năm 1986 do đất nước ta còn chiến tranh và sau chiến tranh do duy trì nềnkinh tế tập trung quan liêu bao cấp nên chế định hợp đồng không phát triển, cácquy định của pháp luật điều chỉnh không nhiều Chỉ đến khi đất nước ta chuyểnsang nền kinh tế thị trường thì pháp luật dân sư mới phát triển mạnh mẽ So vớigiai đoạn trước chúng ta đã ban hành được nhiều các đạo luật quan trọng, tạo ramột khung pháp lý cho các giao dịch phát triển Tuy nhiên hệ thống pháp luật mớichỉ hạn chế ở việc ban hành các văn bản luật và dưới luật, nhiều khi chỉ mang tínhtình thế, tạm thời, còn chồng chất, không phù hợp, nhiều quan hệ dân sự chưa đượcđiều chỉnh, gây khó khăn cho các chủ thể tham gia quan hệ dân sự cũng như cơ

Ngày đăng: 21/08/2018, 10:22

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w