1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Phân tích sơn tinh thủy tinh

4 341 2

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 4
Dung lượng 22,38 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

PHÂN TÍCH TÁC PHẨM SƠN TINH THỦY TINHSách Tiếng Việt lớp 2, tập 2, trang 60 Bài làm Sơn Tinh – Thủy Tinh là tác phẩm tự sự văn học dân gian mang dáng dấp và đặc điểm của thể loại truyền

Trang 1

PHÂN TÍCH TÁC PHẨM SƠN TINH THỦY TINH

(Sách Tiếng Việt lớp 2, tập 2, trang 60)

Bài làm

Sơn Tinh – Thủy Tinh là tác phẩm tự sự văn học dân gian mang dáng dấp và đặc điểm

của thể loại truyền thuyết Tính truyền thuyết thể hiện rõ qua cách thức xây dựng hình tượng nhân vật Sơn Tinh theo khuynh hướng lí tưởng hóa, thể hiện sự tôn vinh và ngưỡng mộ của nhân dân về tài năng và sức mạnh phi thường của nhân vật Bên cạnh đó, chính màu sắc thần kỳ và những giá trị đặc sắc về mặt nội dung là một những đặc điểm

phù hợp để Sơn Tinh, Thủy Tinh trở thành một tác phẩm lôi cuốn trẻ thơ được đưa vào làm ngữ liệu cho phân môn Tập đọc của Tiếng Việt lớp 2 Có thể thấy, Sơn Tinh, Thủy Tinh đã thể hiện rõ đặc điểm về nội dung và hình thức của một tác phẩm tự sự dân gian, đồng thời nó cũng phản ánh tính giáo dục của văn học đối với con người trong việc nêu cao tinh thần bất khuất và ý chí kiên cường chống bão lụt của đồng bào ta suốt hàng

nghìn năm nay

Trước hết, truyền thuyết Sơn Tinh – Thủy Tinh vốn là tác phẩm văn học dân gian có rất

nhiều dị bản, sự khác biệt dễ thấy không phải rơi vào cốt truyện mà chủ yếu là ở cách diễn đạt lời văn, lời thoại và một số tên gọi của nhân vật Cốt truyện đa phần có cấu trúc,

bố cục giống nhau Theo đó, tác phẩm trong Sách giáo khoa có thể được tóm tắt như sau: Vua Hùng thứ XVIII có một người con gái xinh đẹp tuyệt trần tên là Mỵ Nương và vua cha muốn kén rễ cho con gái của mình Hay tin, có hai chàng trai tài ba, phi thường đến xin kén rễ, một người là Sơn Tinh – chúa miền non cao, một người là Thủy Tinh – vua vùng nước thẳm Vua Hùng đã ra điều kiện sính lễ: Một trăm ván cơm nếp, hai trăm nệp bánh chưng, voi chín ngà, gà chín cựa, ngựa chín hồng mao và ai đem đến trước sẽ được

gã Mỵ Nương Hôm sau, Sơn Tinh tới trước và cưới Mỵ Nương, Thủy Tinh đến sau bèn tức giận dâng nước cuồn cuộn Thủy Tinh dâng nước cao ba nhiêu, Sơn Tinh dâng núi cao lên bấy nhiêu Cuối cùng, Thủy Tinh đành rút lui và hằng năm vẫn dâng nước đánh Sơn Tinh nhưng lần nào Thủy Tinh cũng thua Như vậy về hình thức, câu chuyện này có

ba phần rõ ràng (sách giáo khoa có đánh số chia đoạn cụ thể): phần giới thiệu, phần diễn biến và phần kết thúc Ba phần có mối liên hệ chặt chẽ và được sắp xếp theo trật tự tuyến tính của thời gian, bao gồm nhiều tình tiết hấp dẫn, nhiều hình tượng nhân vật đậm chất

sử thi và những diễn biến thú vị xoay quanh các nhân vật Đó là những đặc điểm cốt tử về mặt hình thức, về cách thức xây dựng cốt truyện của một tác phẩm tự sự dân gian – truyền thuyết

Phần mở đầu, từ “Hùng Vương thứ mười tám” đến “vùng nước sâu thẳm” Ở phần này, truyện đi vào giới thiệu các thông tin chính như sau: truyện kể về thời đại vua Hùng thứ XVIII, vua có người con gái xinh đẹp tên là Mỵ Nương và vua muốn kén cho con gái một người chồng tài giỏi, xứng đáng với phẩm hạnh và nhan sắc của nàng Có hai chàng trai đến cầu hôn công chúa, đó là Sơn Tinh – chúa miền non cao và Thủy Tinh – vua vùng

Trang 2

nước thẳm Trước hết, Hùng Vương là cách gọi tên những vị vua nước Văn Lang của người Lạc Việt Theo truyền thuyết, Hùng Vương thứ I là con trai của Lạc Long Quân, lên ngôi vào năm 2879 trước công nguyên, đặt quốc hiệu là Văn Lang, chia nước làm 15

bộ, truyền đời đến năm 258 trước công nguyên (đời vua Hùng thứ XVIII) thì bị Thục Phán (An Dương Vương) chiếm mất nước Như vậy, thời vua Hùng là một thời đại có thật trong lịch sử, là một thời đại khởi nguồn của dân tộc Việt Nam Thế nhưng, hai hình tượng nhân vật Sơn Tinh và Thủy Tinh lại mang tính huyền thoại và hư ảo – bản chất là những vị thần trong văn hóa tín ngưỡng dân gian: thần núi và thần nước Yếu tố hư ảo và hiện thực đan cài khéo léo làm cho ranh giới từ tác phẩm đến tư duy hiện thực của người đọc mờ hẳn đi một cách rõ ràng; vô hình trung, người đọc có thể phớt lờ và tin tưởng rằng đây là một sự kiện lịch sử hoàn toàn có thật Đề cập đến một sự kiện hoặc nhân vật lịch sử và lý tưởng hóa nhân vật là một phạm trù của khái niệm truyền thuyết Thứ nữa,

Mỵ Nương là danh xưng chung cho những người con gái cả của vua Hùng, đây không phải là tên gọi dành riêng cho bất cứ một người con gái nào cố định như một số quan niệm lầm tưởng Chẳng hạn như: Tiên Dung Mỵ Nương là con gái vua Hùng đời thứ II, xuất hiện trong truyền thuyết Chử Đồng Tử; con gái của quan thừa tướng trong truyền thuyết Trương Chi cũng có tên Mỵ Nương Thậm chí, một số tác phẩm dị bản còn gọi đích danh Mỵ Nương, con vua Hùng đời thứ XVIII là Ngọc Hoa Và trong truyện, nàng được biết đến là một người con gái xinh đẹp tuyệt trần

Phần ba của tác phẩm bắt đầu từ “Hùng Vương chưa biết chọn ai, bèn nói” đến “được đón dâu về.” Ở phần này, truyện kể về sự kiện vua Hùng đã ra điều kiện để gã con gái: Một trăm ván cơm nếp, hai trăm nệp bánh chưng, voi chín ngà, gà chín cựa, ngựa chín hồng mao và việc Sơn Tinh đến trước nên cưới được Mỵ Nương Trong mẫu gốc này, yếu

tố có vai trò quyết định sự thành, bại của hai vị thần trong chuyện hôn nhân là thời gian sính lễ được mang tới sớm hay muộn Tác giả dân gian đã miêu tả về các món lễ vật rất

cụ thể “Voi chín ngà, gà chín cựa, ngựa chín hồng mao” Song nhiều tác giả đời sau đã không chú ý đến chi tiết đặc sắc này Như Việt điện u linh kể đã miêu tả ngắn gọn: “Thấy

cả hai người đều có thuật tinh thông, vua lấy làm mừng bảo Lạc Hầu rằng: “Hai người đều đáng làm rể, nhưng ta chỉ có một con gái, biết gả cho người nào đây?” Lạc Hầu tâu:

“Xin vua hẹn: hễ ai dẫn lễ cưới đến trước thì gả” Vua nghe lời, hẹn hai người về sửa lễ” (Tản Viên Hựu Thánh Khuông Quốc Hiển Ứng Vương) Lĩnh nam chích quái còn vắn tắt hơn: “Vua nói: “Hai vị đều có phép thần thông, nhưng ta chỉ có một con gái, vậy ai mang sính lễ tới trước, ta khắc gả cho”(Truyện núi Tản Viên) Ta có thể thấy, trong sính lễ của

nhà vua yêu cầu, đầu tiên đó là một trăm ván cơm nếp, hai trăm nệp bánh chưng Đây là những loại bánh làm từ nếp - một thứ lương thực vô cùng đắt giá, gắn với một câu chuyện cổ xưa “sự tích bánh Chưng, bánh Dày” Qua đó, ta thấy sính lễ của vua yêu cầu

là rất tinh túy và quý giá vô vùng; gạo nếp đã gợi lên một nét biểu tượng tuyệt đẹp của một nước thuần nông Âu Lạc Tuy nhiên, thứ làm người đọc bất ngờ trong yêu cầu sính lễ

chính là: Voi chín ngà, gà chín cựa, ngựa chín hồng mao Chữ “chín” trong những ngữ

đoạn này phải được hiểu là “chín” trong “chín chắn” hoặc “chín mọng”, hay rõ hơn,

Trang 3

những con vật đó phải trong độ tuổi trưởng thành, độ tuổi sung mãn nhất Thực vậy, voi con thì chưa có ngà, gà tơ thì chưa có cựa, ngựa non thì chưa đủ bờm để ra oai; ngà voi, cựa gà, bờm ngựa chính là dấu hiệu xác định mức độ “chín” hay độ trưởng thành, ngoài

ra nó còn thể hiện sự mạnh mẽ, uy nghi, trang trọng của các loài đó và cũng là sự tôn trọng của nhà trai đối với nhà gái

Ở hai phần trên đã giới thiệu bối cảnh khái quát và đưa ra lý do dẫn đến một cuộc chiến khốc liệt Và do đó, phần ba lại là phần trọng tâm của câu chuyện vì nó góp phần giải thích hiện tượng lũ lụt hằng năm và khẳng định ý chí kiên cường chống bão lũ và chinh phục tự nhiên của con người mà tác giả dân gian muốn gửi gắm Nội dung của phần này

là diễn biến cuộc chiến giữa Sơn Tinh và Thủy Tinh: Thủy Tinh dâng nước bao nhiêu, Sơn Tinh dâng núi cao lên bấy nhiêu để ngăn lũ Ý tưởng hàm ngôn ở đây là việc xây dựng biểu tượng Sơn Tinh không chỉ là một nhân vật trong truyện mà đã trở thành một biểu tượng sức mạnh của nhân dân trong việc đắp đê điều ngăn lũ Chi tiết Thủy Tinh thua khẳng định một chân lý: dù thiên nhiên có hung bạo như thế nào thì con người đều

có thể chinh phục được Tới đây ta chợt nhớ đến hai câu ca dao quen thuộc:

“Bàn tay ta làm nên tất cả

Có sức người sỏi đá cũng thành cơm”

Sức người có, ý chí có thì khó khăn đến mấy con người cũng khất phục được cả Nhưng thật ra ở đây ngụ ý của truyện không phải là thể hiện sự ngạo nghễ, khinh thường, chống lại tự nhiên mà qua đây, truyện đã khẳng định ý chí quật cườngd, sự nổ lực đáng quý và niềm yêu lao động của con người, hướng đến một cuộc sống chan hòa với tự nhiên

Như phân tích ở trên, nội dung của truyện truyền thuyết này đã có sự móc nối chặt chẽ giữa các chi tiết, truyện có xây dựng tuyến nhân vật và lời thoại, sử dụng yếu tố thần kỳ, siêu việt và đa dạng màu sắc trong lời dẫn truyện là các yếu tố của tác phẩm tự sự dân gian – truyền thuyết Về mặt hình thức, các từ ngữ trong truyện được sử dụng một cách

dễ hiểu, phù hợp với trình độ ngôn ngữ của học sinh lớp 2; một số câu văn có tính nhạc, tính họa cao khi sử dụng linh hoạt các biện pháp điện vần, điệp âm trong chuỗi ngữ đoạn

như: Một trăm ván cơm nếp, hai trăm nệp bánh chưng, voi chín ngà, gà chín cựa, ngựa chín hồng mao; hay sử dụng các câu ghép hô ứng: Thủy Tinh dâng nước cao lên bao nhiêu, Sơn Tinh lại dâng đồi núi cao lên bấy nhiêu; và số lượng tiếng trong bài gần 220

tiếng là hoàn toàn phù hợp với khối lượng chữ để đọc dành cho học sinh lớp 2, v.v… Truyện Sơn Tinh – Thủy Tinh là một tác phẩm truyền thuyết mang nhiều giá trị nhân văn về văn hóa, văn học, hàm ẩn nhiều triết lý nhân sinh của con người Việt nhưng cũng rất phù hợp với khả năng tiếp nhận của học sinh tiểu học Ngoài ra, Sơn Tinh, Thủy Tinh

đã không chỉ được nhắc đến trong các câu chuyện với tư cách là những nhân vật thần thoại mà các Ngài đã đi vào văn hóa tín ngưỡng của dân tộc, trong thờ cúng, tâm tưởng dân tộc và trở thành biểu tưởng của các loại hình văn hóa nghệ thuật

Ngày đăng: 27/08/2019, 19:40

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w