Một điều dễ nhận thấy trong chương trình mới của các môn học, hoạt động giáo dục là tăng cường tính tích hợp như: đẩy mạnh việc tích hợp trong nội dung môn Tự nhiên – Xã hội, Hoạt động t
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC
TRẦN DUY PHƯƠNG
NGUYỄN THÁI XUÂN MAI
NGUYỄN THẠCH PHƯƠNG LINH
XÂY DỰNG KẾ HOẠCH DẠY HỌC
PHÂN MÔN CÔNG NGHỆ Ở TIỂU HỌC
THEO HƯỚNG TÍCH HỢP
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
ThS Trần Thanh Dư
Thành phố Hồ Chí Minh 5/2020
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Chúng tôi xin cam đoan đề tài Xây dựng KHDH phân môn Công nghệ ở tiểu học
theo hướng tích hợp là sản phẩm nghiên cứu khoa học của riêng chúng tôi Các số liệu, tư
liệu được sử dụng trong bản báo cáo này là trung thực, có nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng và được ghi trong tài liệu tham khảo
TÁC GIẢ ĐỀ TÀI
Trần Duy Phương
Nguyễn Thái Xuân Mai
Nguyễn Thạch Phương Linh
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Chúng tôi xin chân thành cảm ơn ThS Trần Thanh Dư - giảng viên hướng dẫn khoa học cho đề tài Thầy đã tận tình chỉ dẫn, hỗ trợ chúng tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài này, cả kinh nghiệm lẫn tình cảm Ngoài ra, chúng tôi xin cảm ơn tất cả thầy cô trong Khoa Giáo dục Tiểu học, Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh đã nhiệt tình giúp đỡ chúng tôi; những thầy cô là GV Tiểu học đã tham gia khảo sát thực trạng; Ban giám hiệu, thầy cô Trường Tiểu học TVO (quận 11), đặc biệt là cô Lê Thị U P - GV chủ nhiệm của một lớp 3 cùng với tất cả HS trong lớp đã tạo điều kiện cho chúng tôi thực nghiệm thành công đề tài Và chúng tôi xin cảm ơn tất cả anh chị, bạn bè trong Khoa Giáo dục Tiểu học đã truyền đạt những kinh nghiệm quý báu, giúp đỡ, động viên chúng tôi trong những lúc gặp khó khăn
TÁC GIẢ ĐỀ TÀI
Trần Duy Phương
Nguyễn Thái Xuân Mai
Nguyễn Thạch Phương Linh
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN 2
LỜI CẢM ƠN 3
MỤC LỤC 4
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 7
DANH MỤC CÁC BẢNG 8
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ 9
MỞ ĐẦU 10
1 Lí do chọn đề tài 10
2 Mục tiêu nghiên cứu 11
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 12
4.Giả thuyết nghiên cứu 12
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 12
6 Phạm vi nghiên cứu 14
7 Phương pháp nghiên cứu 15
8 Đóng góp của đề tài 16
9 Bố cục của đề tài 17
10 Sản phẩm của đề tài 18
NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 19
Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ DẠY HỌC PHÂN MÔN CÔNG NGHỆ Ở TIỂU HỌC THEO HƯỚNG TÍCH HỢP 19
1.1 Tổng quan lịch sử nghiên cứu vấn đề dạy học phân môn Công nghệ theo hướng tích hợp 19
1.1.1 Nghiên cứu về dạy học phân môn Công nghệ theo hướng tích hợp trên thế giới 19
1.1.2 Nghiên cứu dạy học phân môn Công nghệ theo hướng tích hợp ở Việt Nam 21
1.2 Các khái niệm cơ bản 24
1.2.1 Khái niệm “Công nghệ” 24
1.2.2 Khái niệm “môn Công nghệ” 25
1.2.3 Hoạt động dạy học 26
1.2.4 Dạy học theo định hướng phát triển năng lực 28
1.2.5 Dạy học theo hướng THLM 34
1.2.6 Xây dựng KHDH 30
1.3 Dạy học phân môn Công nghệ theo hướng tích hợp ở tiểu học 31
1.3.1 Mục đích và nguyên tắc của dạy học tích hợp 31
1.3.2 Một số hình thức dạy học tích hợp 32
Trang 51.3.3 Điều kiện và quy trình tổ chức dạy học tích hợp, liên môn 33
1.3.4 Dạy học phân môn Công nghệ ở tiểu học theo hướng THLM 35
1.4 Đặc điểm tâm sinh lí, nhận thức của HS tiểu học khối lớp 3 41
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 43
Chương 2 THỰC TRẠNG DẠY HỌC PHÂN MÔN CÔNG NGHỆ THEO HƯỚNG TÍCH HỢP Ở MỘT SỐ TRƯỜNG TIỂU HỌC TRÊN ĐỊA BÀN TP HỒ CHÍ MINH 44
2.1 Phân môn Công nghệ trong Chương trình Giáo dục phổ thông 62
2.1.1 Phân môn Công nghệ trong Chương trình Giáo dục phổ thông hiện hành (Chương trình 2000) 62
2.1.2 Phân môn Công nghệ trong Chương trình Giáo dục phổ thông mới (Chương trình 2018) 63
2.2 Giới thiệu về khảo sát thực trạng 44
2.2.1 Mục đích khảo sát 44
2.2.2 Nội dung khảo sát 45
2.2.3 Đối tượng khảo sát 49
2.2.4 Phạm vi khảo sát 49
2.2.5 Phương pháp khảo sát 49
2.3 Kết quả khảo sát 49
2.3.1 Thực trạng dạy học phân môn Công nghệ theo hướng THLM ở một số trường tiểu học trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh 49
2.3.2 Đánh giá chung 59
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 61
Chương 3 XÂY DỰNG VÀ THỰC NGHIỆM MỘT SỐ KHDH THEO HƯỚNG THLM TRONG DẠY HỌC PHÂN MÔN CÔNG NGHỆ Ở TIỂU HỌC 62
3.1 Mục đích và nguyên tắc xây dựng KHDH phân môn Công nghệ theo hướng THLM 65
3.1.1 Mục đích xây dựng 65
3.1.2 Nguyên tắc thiết kế 65
3.2 Xây dựng KHDH phân môn Công nghệ lớp 3 ở tiểu học theo hướng THLM 67
3.2.1 Xây dựng nội dung phân môn Công nghệ lớp 3 ở tiểu học theo hướng THLM 67 3.2.2 Quy trình xây dựng KHDH phân môn Công nghệ lớp 3 ở tiểu học theo hướng THLM 70
3.2.3 Một số KHDH phân môn Công nghệ lớp 3 ở tiểu học theo hướng THLM mà đề tài đã thiết kế 72
3.3 Thực nghiệm KHDH phân môn Công nghệ lớp 3 theo hướng THLM mà đề tài đã xây dựng 90
3.3.1 Mục đích thực nghiệm 90
Trang 63.3.2 Nội dung thực nghiệm 90
3.3.3 Đối tượng, thời gian, và địa bàn thực nghiệm 90
3.3.4 Cách thức triển khai thực nghiệm 91
3.3.5 Kết quả thực nghiệm và bình luận 92
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 103
KẾT LUẬN 104
TÀI LIỆU THAM KHẢO 106
PHỤ LỤC 108
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG Bảng 2.1 Tần suất GV tiểu học các khối lớp tham gia khảo sát… 47
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
Biểu đồ 2.1 Quan niệm của GV tiểu học về dạy học tích hợp 50
Biểu đồ 2.2 Quan niệm của GV về định nghĩa dạy học THLM 51
Biểu đồ 2.3 Quan niệm của GV về ý nghĩa của dạy học THLM 52
Biểu đồ 2.4 Mức độ vận dụng hình thức dạy học tích hợp của GV tiểu học 53
Biểu đồ 2.5 Tần suất các môn học mà GV đã sử dụng tích hợp với môn Thủ công - Kĩ thuật 54
Biểu đồ 2.6 Đánh giá của GV về sự phù hợp xây dựng các chủ đề THLM của phân môn Công nghệ 55
Biểu đồ 2.7 Tần suất GV chọn đúng các bước lập KHDH THLM 57
Biểu đồ 2.8 Những khó khăn GV tiểu học gặp phải trong việc dạy học THLM 58
Biểu đồ 3.1 Các mức độ đánh giá về mặt nội dung 93
Biểu đồ 3.2 Tỉ lệ trung bình các mức độ đánh giá về mặt nội dung 93
Biểu đồ 3.3 Tỉ lệ trung bình về các mức độ hứng thú của GV với KHDH 94
Biểu đồ 3.4 Đánh giá về hiệu quả áp dụng KHDH vào thực tiễn dạy học 95
Biểu đồ 3.5 Tỉ lệ trung bình các mức độ đánh giá về hiệu quả áp dụng KHDH vào thực tiễn dạy học 95
Biểu đồ 3.6 Thái độ của HS với các tiết học thực nghiệm 96
Hình 3.1 HS trong quá trình thực hành làm diều giấy theo nhóm 97
Hình 3.2 HS đang học cách tạo ra màu đậm, màu nhạt từ màu gốc 97
Hình 3.3 HS thực hành trang trí diều giấy bằng màu đậm, màu nhạt 98
Biểu đồ 3.7 Những hoạt động mà HS yêu thích trong các tiết học thực nghiệm 98
Biểu đồ 3.8 Cảm xúc của HS nếu chỉ được học về cách làm diều giấy mà không được học về cách trang trí diều 99
Biểu đồ 3.9 Nhận thức của HS về khả năng của bản thân có thể làm được diều giấy sau khi học xong các tiết học 99
Biểu đồ 3.10 Nhận thức của HS về khả năng của bản thân có thể trang trí được diều giấy bằng màu đậm, màu nhạt sau khi học xong các tiết học 100
Biểu đồ 3.11 Mong muốn của HS về việc tiếp tục học những nội dung liên môn 101
Hình 3.4 Một số sản phẩm diều giấy của HS đã được trang trí 101
Hình 4.1 Dạy học theo phương pháp hoạt động nhóm 141
Hình 4.2 Học sinh ứng dụng màu đậm, màu nhạt và hình vẽ để trang trí diều giấy 141
Hình 4.3 Học sinh thực hành tạo màu đậm, màu nhạt 142
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Dạy học tích hợp đã và đang định hình để trở thành một xu hướng dạy học lớn mạnh trong nền giáo dục hiện đại Việt Nam và các nước phát triển khác trên thế giới Thông qua dạy học tích hợp, HS có thể lĩnh hội được kiến thức, kĩ năng của không chỉ một môn, lĩnh vực khoa học mà của rất nhiều môn có mối quan hệ hỗ trợ, liên quan mật thiết với nhau Ở một số môn học, việc kết hợp với các môn học khác có ý nghĩa rất quan trọng như một phương tiện truyền tải nội dung của môn học ấy, nếu thiếu vắng sự có mặt của những môn học phương tiện được tích hợp, nội dung của môn học đơn lẻ khó có thể tác động một cách hiệu quả đến người học Mặt khác, các vấn đề trong cuộc sống luôn tồn tại ở dạng phức tạp, để xử lí nó, kiến thức, kĩ năng xuất phát từ những môn học riêng rẽ không đủ sức để giải quyết các vấn đề trong thực tiễn cuộc sống Các vấn đề ấy đòi hỏi phải có sự vận dụng linh hoạt, phối hợp nhiều môn học, nhiều lĩnh vực khác nhau để cùng giải quyết, và dạy học tích hợp, đặc biệt là THLM đáp ứng được yêu cầu này Ngoài ra, dạy học tích hợp còn
có một số đặc điểm ưu việt khác như: giảm thời lượng học tập khi phải học quá nhiều môn, phối hợp giữa các môn để thấy được sự giao thoa kiến thức, kĩ năng mà theo đó, HS sẽ hiểu được giá trị của kiến thức, kĩ năng mình đang học và nhớ lâu hơn những điều ấy Ngày 26 tháng 12 năm 2018, Bộ GD&ĐT đã ban hành Chương trình GDPT tổng thể
và Chương trình các môn học ở phổ thông (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2018a) Trong chương trình mới này, một trong những quan điểm xây dựng chương trình nổi bật chính là tích hợp Chú trọng tích hợp ở các lớp học dưới và phân hóa dần ở các lớp học trên đang là một định hướng chung (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2018b) Một điều dễ nhận thấy trong chương trình mới của các môn học, hoạt động giáo dục là tăng cường tính tích hợp như: đẩy mạnh việc tích hợp trong nội dung môn Tự nhiên – Xã hội, Hoạt động trải nghiệm, Tin học và Công nghệ, Tiếng Việt (không còn phân chia theo phân môn mà đã thiết kế nội dung dạy học theo 4 kĩ năng chính: viết, đọc, nói và nghe; đồng thời khuyến khích việc sử dụng các kĩ năng này vào những môn học, hoạt động giáo dục khác để rèn luyện) Ở các môn học có tính công cụ cao như Tiếng Việt, Toán và Mĩ thuật trong chương trình đều khuyến khích việc thực hành và trải nghiệm bằng cách tích hợp với các nội dung môn học, hoạt động giáo dục khác; linh hoạt trong việc ứng dụng các kĩ năng đã được học vào giải quyết các vấn đề học tập của các môn học khác và các vấn đề trong thực tiễn cuộc sống của HS (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2018c), (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2018d) (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2018e)
Bên cạnh đó, trong chương trình mới này, môn Công nghệ là một môn học mới, được dạy từ lớp 3 đến lớp 12 Ở tiểu học, nó kết hợp với môn Tin học để tạo thành môn Tin học và Công nghệ mà HS sẽ được học từ lớp 3 đến 5 (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2018f) Tính tích hợp cũng được nhấn mạnh trong chương trình môn Công nghệ này, thể hiện rõ ở
Trang 11phương pháp dạy học của chương trình: “Vận dụng sáng tạo quan điểm giáo dục tích hợp Khoa học, Công nghệ, Kĩ thuật và Toán học (STEM) góp phần hình thành, phát triển năng lực, phẩm chất gắn với giáo dục hướng nghiệp cho HS” (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2018g) Điều này lần nữa cho thấy tính cần thiết của việc dạy học tích hợp cho những nội dung Công nghệ ở cấp Tiểu học Mặt khác, các nội dung trong môn Công nghệ ở Tiểu học trong chương trình GDPTTT có mối liên hệ chặt chẽ với một số môn học khác trong chương trình như: Tiếng Việt, Toán, Đạo đức, Tự nhiên – Xã hội, Như vậy, môn Công nghệ là một môn học mới, giàu tiềm năng để khai thác hoặc vận dụng cho những kiến thức, kĩ năng của những môn học cần có nơi áp dụng để rèn luyện Bên cạnh đó, môn Công nghệ ở cấp THCS và THPT lâu nay vốn bị xem là một môn học phụ, ít nhận được sự quan tâm của người dạy lẫn người học (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2019); nhưng trong chương trình giáo dục phổ thông 2018, môn Công nghệ đóng vai trò chính yếu trong việc hình thành năng lực công nghệ cho HS; và cũng trong xu hướng phát triển của xã hội ngày nay – thời đại của cuộc cách mạng Công nghiệp 4.0, nơi mà tồn tại rất nhiều lĩnh vực của xã hội có liên quan đến công nghệ, kĩ thuật Thiết nghĩ, đã đến lúc chúng ta cần có những thay đổi nhất định trong suy nghĩ và hành động để cải thiện vị trí, vai trò của môn Công nghệ trong thực
tế giáo dục và xã hội Do đó, chúng tôi chọn môn học này để nghiên cứu với vấn đề dạy học tích hợp
Và chúng tôi chọn xây dựng KHDH làm phương tiện để thể hiện ý tưởng dạy học chủ đề THLM phân môn Công nghệ lớp 3 với một số môn học khác là vì KHDH là cái cụ thể hóa nhất của một chương trình và thứ cần thiết phải có để dạy học Trong một KHDH, chúng tôi có thể trình bày được hết những tinh yếu mà chúng tôi muốn thể hiện ở các mặt: mục tiêu, phương pháp, ý tưởng dạy học, đánh giá mà ở đó người đọc (đối tượng tiếp nhận gần gũi nhất chính là GV tiểu học) có thể hiểu và nắm bắt một cách thấu triệt cách thức xây dựng một tiết dạy theo hình thức dạy học mới: tích hợp, liên môn – thứ mà chúng tôi muốn gửi gắm qua đề tài
Vì những lí do trên, chúng tôi lựa chọn đề tài Xây dựng KHDH phân môn Công nghệ
ở tiểu học (lớp 3) theo hướng tích hợp (liên môn) để thực hiện
2 Mục tiêu nghiên cứu
Thông qua việc hệ thống hóa cơ sở lí luận và nghiên cứu thực trạng của vấn đề dạy học phân môn Công nghệ ở tiểu học theo hướng THLM tại một số trường tiểu học trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh, chúng tôi xây dựng đề tài này nhằm hướng đến những mục tiêu sau đây:
Xây dựng được KHDH phân môn Công nghệ ở tiểu học theo hướng THLM Thiết
kế tài liệu hỗ trợ cho việc dạy học phân môn Công nghệ lớp 3 theo hướng THLM Thực nghiệm đề tài để kiểm tra được tính khả thi của những KHDH liên môn của phân môn Công nghệ lớp 3
Trang 12Định hướng cho những nghiên cứu khác có liên quan như: xây dựng các KHDH THLM cho môn Công nghệ lớp 4, lớp 5
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
- Khách thể nghiên cứu: Hoạt động dạy học phân môn Công nghệ lớp Ba
- Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động dạy học phân môn Công nghệ lớp Ba theo hướng tích hợp liên môn
4 Giả thuyết nghiên cứu
Sự gặp gỡ giữa nội dung chương trình phân môn Công nghệ lớp 3 với nội dung của một số môn học khác (thuộc chương trình GDPT tổng thể mới) là yếu tố cơ sở để chúng tôi thiết kế, xây dựng các chủ đề THLM và ứng dụng chúng vào thực tiễn dạy và học Từ
đó, một số giả thuyết khoa học cho đề tài có thể được đưa ra như sau:
Việc xây dựng các chủ đề THLM và KHDH cho những chủ đề liên môn (phân môn Công nghệ với một số môn học khác, thuộc chương trình GDPT tổng thể) là hoàn toàn khả thi
Bên cạnh đó, việc thiết kế và giảng dạy theo các KHDH THLM sẽ giúp cho HS tiểu học chiếm lĩnh trọn vẹn nội dung của phân môn Công nghệ lớp 3 và nội dung của một số môn học khác Nhằm tạo điều kiện thuận lợi để phát triển các phẩm chất và năng lực của các môn học được tích hợp trong từng chủ đề, phù hợp với định hướng dạy học theo định hướng phát triển năng lực
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
Đề tài Xây dựng KHDH phân môn Công nghệ theo hướng tích hợp (liên môn) cần đảm bảo một số nhiệm vụ cần thiết như sau:
Một là, nghiên cứu các vấn đề lí luận liên quan đến lịch sử nghiên cứu dạy học THLM môn Công nghệ ở tiểu học trong và ngoài nước; khái niệm dạy học theo định hướng phát triển năng lực, dạy học tích hợp và THLM, xây dựng KHDH chủ đề THLM; nội dung chương trình phân môn Công nghệ lớp 3 và một số môn học được tích hợp thuộc chương trình GDPT 2018; đề xuất phương pháp dạy học phân môn Công nghệ ở tiểu học
Hai là, khảo sát, nắm bắt thực trạng dạy học THLM Thủ công, Kĩ thuật lớp 3 – một phạm trù của môn Công nghệ mới, bao gồm thực trạng dạy học và nhu cầu dạy học THLM của GV và HS, để làm cơ sở thực tiễn cho đề tài Nói cách khác, nếu việc dạy học môn Thủ công, Kĩ thuật hiện hành theo hướng tích hợp còn hạn chế ở một số trường tiểu học và nhu cầu của GV và HS đối với việc dạy học tích hợp môn Thủ công, Kĩ thuật (môn Công
Trang 13nghệ) cao, thì việc xây dựng các chủ đề liên môn và dạy học theo các chủ đề ấy mà đề tài đang thực hiện là một vấn đề mới mẻ và đáng để quan tâm
Ba là, tìm hiểu, phân tích nội dung chương trình phân môn Công nghệ lớp 3 và nội dung của các môn học khác ở tiểu học (thuộc chương trình GDPT mới); so sánh, đối chiếu
sự liên kết giữa nội dung của các môn học trên và thiết kế chúng thành 9 chủ đề THLM Trong đó, nội dung yêu cầu cần đạt của phân môn Công nghệ lớp 3 được thể hiện một cách trọn vẹn Đồng thời, kĩ năng và kiến thức của các môn học tương quan khác được tích hợp, vừa thể hiện hết nội dung cần thiết của những môn học đó, vừa khéo léo trong việc hỗ trợ truyền tải nội dung của phân môn Công nghệ Ví dụ, thông qua hoạt động viết đoạn văn miêu tả cái quạt điện, HS lớp 3 vừa rèn luyện kĩ năng viết đoạn văn miêu tả (môn Tiếng Việt), vừa có thể nắm bắt được đặc điểm cấu tạo của các bộ phận và vai trò của chiếc quạt điện (môn Công nghệ) Đó là tính chất đặc trưng của các chủ đề THLM: sự hài hòa, thống nhất giữa các môn học trong cùng một chủ đề
Bốn là, xây dựng KHDH cho các chủ đề THLM đã tạo lập theo định hướng phát triển phẩm chất, năng lực của HS – định hướng dạy học mới Nghĩa là, mục tiêu của các KHDH này không bao gồm hai hay ba yếu tố truyền thống: kiến thức, kĩ năng hoặc kiến thức, kĩ năng và thái độ, mà sẽ bao gồm ba yếu tố trọng yếu: phẩm chất chung, năng lực chung và năng lực đặc thù Mỗi ý nhỏ trong các mục này phải được rút ra từ chương trình GDPT tổng thể và chương trình GDPT mới của mỗi môn học thuộc các chủ đề liên môn được thiết kế Phần phương pháp, phương tiện, hình thức và nội dung dạy học vẫn sẽ được xây dựng cẩn trọng, phù hợp để đáp ứng trọn vẹn các mục tiêu đã đề ra Việc thiết kế theo cấu trúc này giúp GV dễ dàng kiểm soát những phẩm chất và năng lực mà mình mong muốn hình thành ở HS, vừa đảm bảo yêu cầu dạy học theo định hướng phát triển phẩm chất, năng lực của chương trình mới
Năm là, xây dựng Tài liệu tham khảo hướng dẫn dạy học các chủ đề THLM phân môn Công nghệ lớp 3 và một số môn học khác nhằm hướng dẫn cho GV và HS thực hành dạy và học các chủ đề liên môn Cuốn tài liệu tham khảo được trình bày theo phong cách gần gũi, dễ thương, hấp dẫn HS cùng các hình thức như: câu lệnh, tranh ảnh, các bài tập thực hành có chừa không gian để HS rèn luyện kĩ năng viết văn, tính toán, thống kê, Cuốn tài liệu tham khảo này chỉ mang tính định hướng, làm ví dụ; nó được thiết kế theo nội dung của các KHDH mẫu đã đề xuất GV có thể xây dựng các bài tập tương tự theo nội dung THLM mà mình xây dựng
Sáu là, thiết kế Cẩm nang hướng dẫn làm một số đồ dùng thủ công, kĩ thuật lớp 3 (thuộc chương trình GDPT mới) nhằm hỗ trợ cho HS thực hành làm một số đồ dùng học tập, biển báo giao thông và đồ chơi đơn giản khác so với những sản phẩm đã được đề xuất trong các KHDH nêu trên, nhằm đa dạng hóa các sản phẩm công nghệ - thủ công để HS phát huy tính thực hành và khám phá Nhìn chung, nội dung của cẩm nang chỉ đơn thuần
Trang 14là nội dung của Thủ công và Kĩ thuật (môn Công nghệ) chứ không mang tính chất của một tài liệu dạy học tích hợp
Bảy là, thực nghiệm, kiểm chứng tính khả thi của các KHDH và các tài liệu, cẩm nang tham khảo, soạn theo hướng THLM Thu hoạch các sản phẩm thực nghiệm để kiểm tra, đánh giá mục tiêu của từng chủ đề THLM được đưa ra thực nghiệm; kiểm tra, đánh giá mục tiêu của đề tài
6 Phạm vi nghiên cứu
Trước hết, trong đề tài này, chúng tôi chỉ khai thác hình thức THLM mà không phải
là các hình thức tích hợp khác Bởi vì, THLM là hình thức tích hợp cao, đòi hỏi phải có sự liên kết giữa các môn học có liên quan với nhau, thường được thiết kế thành các chủ đề lớn hoặc tạo thành một môn học mới; tuy nhiên, THLM rất dễ thực hiện và đem lại hiệu quả dạy học cao nếu chúng ta có cái hiểu đúng đắn và biết cách xây dựng khéo léo nội dung của các chủ đề
Hai là, những chủ đề liên môn là kết tinh của phân môn Công nghệ lớp 3 và các môn học khác Chúng tôi chia nội dung của các chủ đề nhỏ trong phân môn Công nghệ lớp 3 và tích hợp mỗi chủ đề nhỏ ấy với những chủ đề của những môn học khác để tạo thành chủ
đề liên môn mới Việc lựa chọn phân môn Công nghệ làm “trục chính” mà không phải là môn học nào khác là vì Công nghệ lâu nay vốn bị xem là một môn học phụ, GV và HS ít
có sự quan tâm đến nó Vì thế, chúng tôi lựa chọn môn Công nghệ như một giải pháp để nâng cao vị thế của môn học này Thứ nữa, môn Công nghệ trong chương trình mới đóng vai trò là một trong những thành tố quan trọng của giáo dục STEM, giáo dục tích hợp, giáo dục phát triển năng lực công nghệ,
Ba là, chúng tôi chỉ chọn xây dựng KHDH THLM cho phân môn Công nghệ lớp 3
mà không phải mà lớp 4 hoặc lớp 5 là bởi lớp 3 là lớp đầu tiên xuất hiện phân môn Công nghệ (thuộc môn Tin học và Công nghệ) Đồng thời, nếu HS lớp 3 được tiếp cận sớm với môn học này dưới dạng tích hợp thì có thể các em sẽ hứng thú, yêu thích với môn học Công nghệ này hơn và là nền tảng để học phân môn Công nghệ ở lớp 4 và 5 theo hình thức này
Và cuối cùng, chúng tôi chọn xây dựng KHDH làm sản phẩm chính của đề tài này
là vì KHDH là thứ cụ thể hóa nhất của chương trình, và nó sẽ thể hiện rõ ràng ý tưởng dạy học của chúng tôi GV có thể tham khảo và thực hành ngay nếu có điều kiện và sự quan tâm đặc biệt, vì các KHDH đã được trình bày một cách cụ thể, rõ ràng và khoa học Tuy nhiên, bên cạnh KHDH, chúng tôi còn thiết kế tài liệu tham khảo và cẩm nang kèm theo (đã được mô tả ở mục trên) nhằm hỗ trợ cho GV và HS trong việc dạy học các chủ đề THLM này
Trang 157 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện đề tài, nhằm hỗ trợ cho việc nghiên cứu và đạt mục tiêu của đề tài, nhóm chúng tôi đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau:
Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết
Phương pháp phân tích và tổng hợp lí thuyết:
Mục tiêu: Xây dựng cơ sở lí luận cho đề tài: Dạy học phân môn Công nghệ theo hướng
tích hợp liên môn
Nội dung: Phân tích, tổng hợp các lý thuyết của các nguồn tài liệu
Cách thức thực hiện: Tìm hiểu, tham khảo các nguồn tài liệu học thuật trong và ngoài nước, sách báo, các công trình nghiên cứu học thuật của các học giả,…Chúng tôi tiến hành phân tích các thông tin và kiến thức thu được để có thể lựa chọn các kiến thức phù hợp nhất đối với đề tài của nhóm Đồng thời thông qua việc phân tích các tài liệu giúp chúng
ta phát hiện ra thêm được các xu hướng trong việc dạy học tích hợp nói chúng và THLM nói riêng Sau đó, nhóm tổng hợp, liên kết các thông tin, kiến thức phù hợp với đề tài, nhằm xây dựng hệ thống cơ sở lí luận cho đề tài, góp phần ứng dụng vào thực tiễn
Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Phương pháp điều tra, khảo sát:
Mục tiêu: Điều tra thực trạng dạy học môn Thủ công – Kĩ thuật ở tiểu học và dạy học tích hợp liên môn ở nhà trường tiểu học
Nội dung: Các câu hỏi về thực trạng dạy học môn Thủ công – Kĩ thuật ở tiểu học và dạy học tích hợp liên môn
Cách thức thực hiện: Thiết kế các bảng hỏi dành cho GV tiểu học để thu thập ý kiến của GV về dạy học tích hợp cũng như dạy học THLM đối với phân môn Công nghệ trong chương trình mới Từ các thông tin đã tìm hiểu được, chúng tôi có thể nắm rõ hơn về thực trạng việc dạy học phân môn thủ công- kĩ thuật hiện hành Để sau khi tiến hành thực hiện, nhóm có thể hình thành KHDH THLM phân môn Công nghệ và xây dựng tài liệu tham khảo thích hợp dành cho GV và HS khối lớp 3 trong việc THLM phân môn Công nghệ
Phương pháp thực tiễn:
Mục tiêu: Thực nghiệm tính khả thi của KHDH THLM phân môn Công nghệ
Nội dung: Thực nghiệm KHDH “Làm diều giấy” tại một lớp 3 của trườn tiểu học trên địa bàn TPHCM
Cách thức thực hiện: Tiến hành thực nghiệm dạy học tại một lớp 3 của trường học trđịa
ên bàn TPHCM
Trang 16Phương pháp quan sát:
Mục tiêu: Đánh giá tính khả thi của KHDH thực nghiệm và sự yêu thích của học sinh đối với tiết học
Nội dung: Quan sát tiết dạy học thực nghiệm tại trường tiểu học
Cách thức thực hiện: Sử dụng phương pháp này vào việc quan sát học sinh khi tham gia vào tiết học thực nghiệm để đánh giá sự yêu thích của học sinh đối với tiết học Cùng với các kết quả khảo sát chúng tôi thu được tính khả thi của dạy học các chủ đề Công nghệ theo hướng THM Đồng thời, nhờ vào phương pháp chúng tôi rút ra kinh nghệm cho việc dạy học, tổ chức hoạt động trong tiết học sao cho hợp lí
Phương pháp tổng kết, kinh nghiệm:
Mục tiêu: Rút ra được các kinh nghiệm sáu quá trình thực nghiệm tại trường tiểu học Nội dung: Tổng kết lại nội dung thực nghiệm
Cách thức thực hiện: Áp dụng phương pháp sau khi thực giảng thực nghiệm lớp 3 ở trường tiểu học trong địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh Dựa vào các kết quả thu được, chúng tôi phân tích các nguyên nhân và đưa ra các giải pháp Đồng thời rút kinh nghiệm cho đề tài, chỉnh sửa các KHDH, sản phẩm phù hợp với đối tượng hướng tới
Nhóm phương pháp toán học
Phương pháp thống kê toán học:
Mục tiêu: Thu được thực trạng về việc dạy và học THLM nói chung và THLM phân môn Công nghệ nói riêng
Nội dung: Xử lí các số liệu của bảng khảo sát thực trạng, Bảng đáng giá cuat HS và GV Cách thức thực hiện: Sử dụng các phương pháp toán học (bảng biểu, các công thức tính toán ) để có thể thống kê các ý kiến từ GV và HS khối lớp 3
8 Đóng góp của đề tài
• Ý nghĩa lí luận
Dạy học tích hợp là một đề tài quen thuộc trong giáo dục những năm gần đây Trong
đó mảng đề tài về dạy học tích hợp phân môn Công nghệ vẫn còn khá mới Phân môn Công nghệ ở tiểu học thuộc môn Tin học, Công nghệ, đây là môn học mới trong Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể (ban hành vào tháng 12/2018) được bắt đầu từ khối lớp 3 Dạy
Trang 17học phân môn Công nghệ theo hướng THLM góp phần xây dựng cơ sở lí luận cho việc dạy học Công nghệ cũng như dạy học tích hợp Hướng nghiên cứu của đề tài nhằm làm rõ việc dạy học tích hợp phân môn Công nghệ cũng như dạy học THLM ở tiểu học Đề tài góp phần xây dựng cơ sở lí luận và các thông tin, kiến thức về dạy học phân môn Công nghệ theo hướng tích hợp ở khối lớp 3
• Ý nghĩa thực tiễn
Đề tài hướng đến việc hình thành các KHDH hỗ trợ dạy học trong phân môn Công nghệ (chương trình GDPT tổng thể) ở tiểu học theo hướng THLM Nhóm nghiên cứu đề tài với mong muốn các KHDH cũng như các tài liệu, thông tin trở thành tài liệu tham khảo, hình thành các ý tưởng trong dạy học học Công nghệ nói riêng và dạy học THLM nói chung Nghiên cứu và thực nghiệm để kiểm tra hiệu quả các phương pháp giảng dạy phân môn Công nghệ mà nhóm đã đề xuất Thiết kế các KHDH tham khảo cho phân môn Công nghệ theo hướng tích hợp Thiết kế quyển tài liệu tham khảo dành cho GV, HS được biên soạn theo hướng tích hợp với các môn học khác Và bên cạnh đó là cẩm nang về các thiết
kế các sản phẩm theo các chủ đề thuộc phân môn Công nghệ cho HS khối lớp 3
• Đóng góp mới của đề tài
Phân môn công nghệ lớp 3 là một môn học mới trong chương trình giáo dục tổng thể năm 2018, môn học có những điểm tương đồng với môn Thủ công – Kĩ thuật lớp 4, 5 nhưng vẫn có những điểm mới hơn so với chương trình hiện hành Môn Công nghệ ở mỗi lớp được chia thành các chủ đề mới lạ, phong phú, kích thích tư duy sáng tạo của HS tiểu học Đề tài với hướng khai thác chương trình Công nghệ lớp 3 và xây dựng, thiết kế KHDH, các tài liệu học tập hỗ trợ theo hướng THLM mà trước đó chưa có bất kì công trình, đề tài khoa học nào đề cập đến, nhằm đưa đến cho HS các kiến thức từ nhiều môn học Đề tài xây dựng các KHDH mẫu, cùng các tài liệu dạy học góp phần định hướng cách dạy học cho phân môn Công nghệ lớp 3 theo hướng THLM
− Tài liệu tham khảo
Trong phần Nội dung chính của báo cáo gồm 3 chương:
Chương I Cơ sở lí luận của vấn đề dạy học phân môn Công nghệ ở tiểu học theo
hướng tích hợp
Trang 18Trong chương I, nhóm chúng tôi sẽ nghiên cứu về Tổng quan lịch sử vấn đề dạy học phân môn Công nghệ theo hướng tích hợp, Các khái niệm cơ bản liên quan đến dạy học tích hợp, phát triển năng lực HS ở tiểu học, Dạy học phân môn Công nghệ theo hướng tích hợp và Đặc điểm tâm sinh lí và nhận thức của HS khối lớp 3
Chương II Thực trạng dạy học phân môn Công nghệ theo hướng tích hợp ở một số
trường tiểu học trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh
Chương II sẽ khảo sát, điều tra về thực trạng của việc dạy học phân môn Công nghệ tại các trường tiểu học, đồng thời đưa ra kết quả và đánh giá chung thực trạng
Chương III Xây dựng và thực nghiệm một số KHDH theo hướng dạy học THLM
trong phân môn Công nghệ ở tiểu học
Chương III là trọng tâm của đề tài nhằm xây dựng các tài liệu, KHDH, các thiết kế liên quan đến việc dạy học Công nghệ theo hướng tích hợp dựa trên Yêu cầu cần đạt của mỗi chủ đề trong Chương trình giáo dục tổng thể Bước tiếp theo là thực nghiệm các KHDH tại các trường tiểu học trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh
10 Sản phẩm của đề tài
Đề tài Xây dựng KHDH phân môn Công nghệ ở tiểu học theo hướng tích hợp có 03
sản phẩm, trong đó có 01 sản phẩm chính là KHDH phân môn Công nghệ ở tiểu học theo hướng THLM và 02 sản phẩm phụ bao gồm: 01 Tài liệu tham khảo với các chủ đề, bài học được thiết kế theo hướng THLM giữa phân môn Công nghệ và các môn học khác lớp 3, hỗ trợ cho KHDH THLM (sản phẩm chính); 01 Cẩm nang hỗ trợ HS làm một số sản phẩm thủ công, kĩ thuật (nội dung căn cứ vào yêu cầu cần đạt mạch nội dung Thủ công, Kĩ thuật thuộc phân môn Công nghệ lớp 3), tài liệu này không mang tính tích hợp, chỉ góp phần mở rộng và hướng dẫn cho HS làm một số sản phẩm thủ công, kĩ thuật mà các em có thể yêu thích, thông qua đó giúp hình thành và phát triển cho HS các phẩm chất chủ yếu, năng lực chung và năng lực công nghệ, đặc biệt là năng lực thiết kế kĩ thuật
Trang 19NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ DẠY HỌC PHÂN MÔN CÔNG NGHỆ Ở TIỂU HỌC THEO HƯỚNG TÍCH HỢP
1.1 Tổng quan lịch sử nghiên cứu vấn đề dạy học phân môn Công nghệ theo hướng tích hợp
1.1.1 Nghiên cứu về dạy học phân môn Công nghệ theo hướng tích hợp trên thế giới
Vấn đề dạy học môn Công nghệ ở tiểu học theo hướng tích hợp đã và đang được các nền giáo dục tiến bộ của các nước trên thế giới quan tâm Một số nơi như Hoa Kì, Hàn Quốc, Nhật Bản, đã phát triển nó trở thành các dự án lớn để nghiên cứu nhằm nâng cao hiệu quả dạy học môn Công nghệ, Kĩ thuật hoặc dạy học các môn học khác, đặc biệt là các môn khoa học, mà ở đó môn Kĩ thuật, Công nghệ đóng vai trò như một phương tiện hỗ trợ Vào những năm 2009, nhận thấy được tầm quan trọng của yếu tố kĩ thuật, công nghệ trong xã hội hiện đại, khi mà phần lớn HS và kể cả những người lớn chưa có nhiều hiểu biết về kĩ thuật và công nghệ, dự án EiE đã chủ trương đẩy mạnh việc dạy học công nghệ,
kĩ thuật ở tiểu học thông qua việc dạy học các chủ đề tích hợp (liên môn) giữa Kĩ thuật, Công nghệ với Khoa học, Toán học, Ngôn ngữ, Nghiên cứu xã hội EiE xem các môn đó như một lựa chọn thích hợp để đưa kĩ thuật, công nghệ tiếp cận nhiều hơn với HS tiểu học Bàn về vấn đề này, bài báo Engineering Is Elementary (Christine M Cunningham, 2009) (tạm dịch: Kĩ thuật là cơ bản) của Christine M Cunningham cũng đã chỉ rõ mục đích chính của EiE là tăng số lượng trẻ em biết đọc và biết viết công nghệ, cải thiện khả năng giảng dạy kĩ thuật, công nghệ của GV và tăng số lượng trường học tại Hoa Kì đưa nội dung công nghệ, kĩ thuật vào chương trình để giảng dạy Bài báo cũng đã đưa ra được một số chủ đề
dạy học tích hợp (liên môn) giữa Công nghệ với các môn học khác như: Chủ đề Bắt gió:
Thiết kế cối xay gió (tích hợp giữa công nghệ với khoa học và kĩ năng ngôn ngữ); chủ để Nước, nước ở khắp mọi nơi: Thiết kế bộ lọc nước (tích hợp giữa công nghệ với khoa học
và kĩ năng ngôn ngữ); chủ đề Nghe có vẻ vui: Nghe thấy âm thanh động vật (tích hợp giữa
công nghệ với khoa học và kĩ năng ngôn ngữ)
Bên cạnh đó, SLED, viết tắt của Science Learning through Engineering Design, là một dự án lớn về dạy học khoa học thông qua các thiết kế kĩ thuật Nghĩa là, dự án chủ trương dạy học các nội dung thuộc lĩnh vực của các môn khoa học như Khoa học, Toán học cho HS tiểu học từ lớp 3 đến lớp 6 bằng cách cho HS tự thiết kế các mô hình khoa học, phương tiện dạy học, đồ dùng học tập (yếu tố kĩ thuật) để HS tự khám phá, đúc kết kiến thức từ những sản phẩm kĩ thuật ấy (tích hợp giữa khoa học và kĩ thuật) Dự án là kết quả hợp tác giữa Quỹ Khoa học Quốc gia của Đại học Purdue, các trung tâm nghiên cứu, các doanh nghiệp khu vực và những thành phần tham gia khác ở Indiana Từ năm 2010 đến nay, dự án SLED đã đem lại hiệu quả tích cực trong việc hỗ trợ giảng dạy cho GV và cải
Trang 20thiện, nâng cao kiến thức, kĩ năng khoa học cho HS tiểu học được tiếp cận với phương pháp dạy học này
Cuốn sách The sound of Science (Venkatesh Merwade, 2014) (tạm dịch: Âm thanh
của khoa học), được viết bởi Venkatesh Merwade và các cộng sự, đã nói về việc HS tiểu học sẽ được học cách thiết kế một sản phẩm công nghệ, kĩ thuật để khám phá nội dung âm thanh trong môn Khoa học: thiết kế chiếc điện thoại ống bơ Sản phẩm ấy được tạo thành bằng hai cái lon và một sợi dây để truyền âm, nó cũng là một món đồ chơi quen thuộc và phổ biến của trẻ em Việt Nam ngày xưa và một số vùng quê ngày nay Thông qua việc thiết kế chiếc điện thoại ống bơ này, HS tiểu học sẽ biết được nguyên lí của âm thanh: âm thanh có thể truyền dẫn trong môi trường chất rắn và chất khí Nội dung dạy học này cũng mang tính tích hợp giữa kĩ thuật và khoa học
Cùng với đó, một bài báo khác có tên Integrating Science into Design Technology
Projects: Using a Standard Model in the Design Process (Bernard Zubrowski, 2002) (tạm
dịch: Tích hợp khoa học vào các dự án thiết kế công nghệ: Sử dụng mô hình tiêu chuẩn trong tiến trình thiết kế) của Bernard Zubrowski Bài báo này đã đề xuất các loại mô hình mang tính tích hợp giữa công nghệ, kĩ thuật và khoa học trong dạy học HS tiểu học: thiết
kế các đồ dùng dạy học như mô hình cối xay gió, đồ chơi bay, xe đẩy bóng bay để dạy cho HS tiểu học lớp 4 các kiến thức khoa học cơ bản về lực và chuyển động
Đặc biệt, khi nói đến vấn đề tích hợp môn Công nghệ với các môn học khác, người
ta không thể không nhắc đến một xu hướng dạy học khá nổi bật và đang phát triển như một trào lưu trong nền giáo dục hiện đại: giáo dục STEAM Trong STEAM, công nghệ (T: technology) là một thành tố quan trọng kết hợp với các thành tố khác như khoa học (S: science); kĩ thuật (E: engineering); nghệ thuật (A: Art); toán học (M: mathematic) Và vì
thế, những nghiên cứu về STEAM trên thế giới cũng thật sự rất nhiều Bài báo STEAM
Education in Korea: Current Policies and Future Directions (Oksu Hong, 2016) (tạm dịch:
Giáo dục STEAM tại Hàn Quốc: Chính sách hiện tại và định hướng tương lai) của Oksu Hong đã đưa ra khung chương trình phát triển giáo dục STEAM ở Hàn Quốc, cách thức thực hiện, biện pháp áp dụng mô hình dạy học này vào các trường phổ thông Hàn Quốc Bài báo cũng đưa ra thực trạng thực hiện mô hình STEAM ở các trường học phổ thông hiện nay (tính đến năm 2016); trong đó với 3 362 trường tiểu học tham gia khảo sát (số trường tiểu học trên toàn quốc là 5 978), ước tính có ít nhất 30,8% (1 838) số trường tiểu học ở Hàn Quốc đã thực hiện giáo dục STEAM Số lượng ấy chưa thật sự nhiều và rất cần
có những giải pháp để mở rộng và phát triển hơn
Bài báo The Educational Effect of Steam Activity Programs on Scientific Attitude,
Self Efficacy and Motivations for Scientific Learning (Kong Young Tae, 2014) (tạm dịch:
Hiệu quả giáo dục của các chương trình hoạt động STEAM đối với thái độ khoa học, hiệu quả bản thân và động lực học tập khoa học) của Kong Young Tae – Đại học Giáo dục Quốc gia Chinju, Hàn Quốc đã nhấn mạnh giáo dục STEAM (công nghệ, kĩ thuật THLM với
Trang 21toán học, khoa học và nghệ thuật) có tác động tích cực đối với việc nâng cao hiệu quả giáo dục HS tiểu học Hàn Quốc trên các mặt: thái độ khoa học, hiệu quả bản thân và động lực học tập khoa học Nghiên cứu đã được tiến hành thực nghiệm trên ba lớp thuộc khối 6 tại một trường tiểu học ở thành phố Sachen, Hàn Quốc
Bài báo The Effects of Science Lessons Applying STEAM Education Program on the
Creativity and Interest Levels of Elementary Students (Deok-Ho Kim và Dong Gook Ko
và Myeong-Jae Han và Seung-Ho Hong, 2014) (tạm dịch: Tác động của một số bài học khoa học áp dụng chương trình giáo dục STEAM đối với mức độ sáng tạo và sở thích của
HS tiểu học) của Deok-Ho Kim, Dong Gook Ko, Myeong-Jae Han và Seung-Ho Hong đã hướng tới dạy học khoa học thông qua việc xây dựng các chủ đề giáo dục STEAM để giúp
HS tiểu học lớp 6 (Hàn Quốc) tăng khả năng sáng tạo và yêu thích đối với môn khoa học Bài báo cũng đã đưa ra một số chủ đề dạy học STEAM mà trong đó hàm chứa nội dung của các yếu tố công nghệ, kĩ thuật, khoa học, toán học và nghệ thuật Chẳng hạn như với
chủ đề Ánh sáng: Làm kính râm có thể điều chỉnh lượng ánh sáng bằng cách sử dụng phim
phân cực, trong đó yếu tố kĩ thuật là tìm hiểu về cách thiết kế và chế tạo kính râm và sản phẩm cuộc sống hàng ngày bằng cách sử dụng phim phân cực; yếu tố công nghệ đó là tìm
hiểu nguyên lý phân cực và quá trình ngăn chặn ánh sáng bằng cách sử dụng màng phân
cực; kết hợp với yếu tố khoa học chính là tìm hiểu các màng phân cực và cấu trúc sóng của ánh sáng bằng các mô hình; cùng các yếu tố nghệ thuật và toán học khác Chủ đề Axit và
Bazơ: Tìm hiểu về mưa axit ảnh hưởng đến cuộc sống hàng ngày của chúng ta như thế nào,
trong đó yếu tố công nghệ chính là xác định về các vật liệu mà mưa axit ăn mòn; yếu tố kĩ
thuật là thiết kế và chế tạo mô hình thành phố bằng vật liệu có thể bị ăn mòn bởi mưa axit;
THLM với yếu tố khoa học đó là hiểu về mưa axit ảnh hưởng đến cuộc sống hàng ngày của chúng ta như thế nào; yếu tố toán học là tính toán, ước lượng tỉ lệ, kích thước để vẽ một bản thiết kế mô hình thành phố; và yếu tố nghệ thuật là thiết kế mô hình thành phố sao
cho thật đẹp, thật thẫm mĩ
Những dự án, nghiên cứu, đề tài nêu trên đã cho thấy rằng có khá nhiểu nước trên thế giới đã có sự tiếp cận và phát triển mạnh mẽ mô hình dạy học tích hợp và THLM với môn Công nghệ ở tiểu học Sự phát triển ấy ít nhiều đã có sự tác động đến định hướng hình thành và giáo dục nội dung phân môn Công nghệ ở tiểu học trong chương trình GDPT
2018 của Việt Nam và vấn đề dạy học tích hợp, THLM với phân môn Công nghệ này
1.1.2 Nghiên cứu dạy học phân môn Công nghệ theo hướng tích hợp ở Việt Nam
Dạy học tích hợp môn Thủ công, Kĩ thuật - phạm trù của môn Công nghệ trong chương trình mới ở Việt Nam hiện nay được thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau, mà
dễ thấy nhất vẫn là lồng ghép hoặc liên môn Với hình thức lồng ghép, môn Thủ công, Kĩ thuật đóng vai trò như một mảnh đất màu mỡ để GV có thể lồng ghép các nội dung giáo
Trang 22dục khác nhau Và với hình thức liên môn, GV thường sẽ xây dựng các chủ đề tích hợp giữa Thủ công, Kĩ thuật với các môn học, hoạt động giáo dục khác, hoặc thiết kế thành các chủ đề STEM, STEAM để dạy các môn Kĩ thuật, Khoa học, Toán học,
Bài báo Dạy học môn Kĩ thuật lớp 5 bậc tiểu học theo định hướng giáo dục STEM
(Bùi Văn Hồng và Nguyễn Thị Thanh Xuân, 2020) của Bùi Văn Hồng và Nguyễn Thị Thanh Xuân đã đánh giá hiệu quả của việc dạy học nội dung kĩ thuật lớp 5 theo định hướng giáo dục STEM giúp cho HS tiểu học phát triển năng lực quyết vấn đề, hợp tác và tư duy Nhóm tác giả đã đưa ra quy trình 4 bước dạy học một chủ đề STEM bao gồm: mô tả chủ
đề, xác định mục tiêu, thực hiện hoạt động học tập trải nghiệm, kiểm tra, đánh giá, và vận dụng 4 bước đã đề xuất ấy vào dạy học thực nghiệm chủ đề “Thêu khuy hai lỗ” thuộc môn
Kĩ thuật lớp 5 Trong đó, yếu tố kĩ thuật, công nghệ chính là kĩ thuật thêu khuy, làm quen với các dụng cụ thêu; yếu tố toán học là tính toán khoảng cách các khuy (đo lường), xem xét của hình dáng của khuy (hình học); yếu tố vật lí là chọn lựa màu sắc, chất liệu của vải
và chỉ thêu
Tham luận Một số hình thức tổ chức hoạt động trải nghiệm nội dung làm đồ chơi
dân gian phần Công nghệ lớp 3 theo Chương trình GDPT mới (Trần Thị Thùy Dung và
Nguyễn Thị Vân Anh, 2019) của Trần Thị Thùy Dung và Nguyễn Thị Vân Anh đã đề xuất
và phân tích hiệu quả của một số hình thức hoạt động trải nghiệm trong việc dạy học nội dung Làm đồ chơi dân gian (Công nghệ lớp 3) như: trò chơi; hội thi, cuộc thi; triển lãm; tham quan; hoạt động chiến dịch; giao lưu; hoạt động nhân đạo và câu lạc bộ Ở tham luận này, có thể nhận thấy rằng nhóm tác giả đã sử dụng linh hoạt hình thức THLM giữa môn học (Công nghệ) và hoạt động giáo dục (hoạt động trải nghiệm): dạy học nội dung/chủ đề môn Công nghệ bằng nhiều hình thức trải nghiệm và trải nghiệm lúc này được xem như là một phương tiện để hỗ trợ cho môn học Đây cũng là một số những bài báo, tham luận ít
ỏi bàn về các phương pháp dạy học nói chung và tích hợp nói riêng liên quan đến nội dung phân môn Công nghệ trong Chương trình GDPT 2018
Bài báo Một số ý tưởng tích hợp trong dạy học Toán ở tiểu học (Dương Minh Thành
và Trương Thị Thúy Ngân, 2016) của tác giả Dương Minh Thành cũng có đề xuất việc tích
hợp kiến thức toán học ở tiểu học vào các hoạt động nghệ thuật như: Thủ công, Âm nhạc, Nghệ thuật trình diễn Với môn Thủ công, thông qua việc cắt, dán thủ công, HS sẽ được học về hình học và nhận diện hình học (tam giác, tứ giác ), hoặc học về phân số (thiết kế dải phân số - fraction trip)
Một bài báo khác có tên Tích hợp giáo dục bảo vệ môi trường tự nhiên trong dạy
học môn Kĩ thuật cho HS lớp 4, 5 (Nguyễn Hồng Dương, 2019) của Nguyễn Hồng Dương
đã chủ trương tích hợp, lồng ghép nội dung giáo dục bảo vệ môi trường sống xung quanh trong dạy học môn Kĩ thuật lớp 4, 5 Ở bài báo này, tác giả đã đề xuất 4 bài học lớp 4 và 4 bài học lớp 5 có tiềm năng để tích hợp nội dung giáo dục bảo vệ môi trường Cụ thể là, ở lớp 4, bài 9 (Lợi ích của việc trồng rau, hoa), bài 11 (Điều kiện ngoại cảnh của cây rau),
Trang 23bài 12, 13 (Trồng rau, hoa) sẽ được lồng ghép nội dung giáo dục bảo vệ môi trường đất, nước, không khí và hạn chế sử dụng hóa chất, thuốc trừ sâu khi chăm bón cây làm ảnh hưởng đến đất và nước) Ở lớp 5, bài 6 (Luộc rau), bài 8 (Rửa dụng cụ nấu ăn và ăn uống)
và bài 13, 14 (Nuôi dưỡng, chăm sóc gà) sẽ được lồng ghép nội dung giáo dục bảo vệ môi trường nước, không khí và tiết kiệm, tái sử dụng nước khi tưới cây
Trong bài báo Tiếp cận STEM trong dạy học môn Khoa học cho HS lớp 4 (Trần Thị
Kim Anh, 2019), tác giả Trần Thị Kim Anh đã đề xuất 5 chủ đề tích hợp: Thực đơn ăn trưa
lý tưởng cho toàn trường; Thực đơn giảm cân siêu hiệu quả cho người béo phì; Chế tạo máy lọc; Vòng tuần hoàn nước mini; Điện thoại di động của chúng mình Trong mỗi chủ
đề này, mặc dù các chủ đề hướng tới hình thành cho HS các kiến thức khoa học nhưng yếu
tố kĩ thuật, công nghệ trong các chủ đề STEM này cũng đã được thể hiện khá rõ ràng như: thiết kế, chế tạo máy lọc trong chủ đề Chế tạo máy lọc; thiết kế mô hình vòng tuần hoàn nước trong chủ đề Vòng tuần hoàn nước mini
Đề tài Nghiên cứu tích hợp Toán và Thủ công, Kĩ thuật trong dạy học ở tiểu học
(Nguyễn Trần Hoàng, 2015) của tác giả Nguyễn Trần Hoàng đã hướng tới việc tích hợp, lợi dụng nội dung cắt ghép hình trong môn Thủ công, Kĩ thuật để dạy Toán cho HS tiểu học, giúp HS phát triển tư duy cũng như biết cách thao tác trên hình ảnh cụ thể để tìm ra quy luật, hay cách giải một bài toán liên quan đến hình học
Đề tài (Khóa luận tốt nghiệp) của Trần Thị Lý Giáo dục kĩ năng sống cho HS thông
qua nội dung “kĩ năng tự phục vụ” môn Kĩ thuật lớp 4, 5 và đề tài của Hoàng Thị Thủy Giáo dục kĩ năng sống cho HS tiểu học thông qua tổ chức hoạt động ngoài giờ môn Kĩ thuật đều đã đề cập đến việc lồng ghép nội dung giáo dục đạo đức kĩ năng sống vào một
hoặc một số nội dung của môn Kĩ thuật lớp 4, 5
Bên cạnh các đề tài, bài báo khoa học, các chuyên đề về dạy học tích hợp môn Thủ
công, Kĩ thuật cũng được tổ chức ở một số nơi như chuyên đề Giáo dục sử dụng năng
lượng tiết kiệm và hiệu quả vào môn Thủ công, Kĩ thuật 1 – 5 của Phòng GD&ĐT Bình
Giang (2012); chuyên đề chuyên môn “Ứng dụng công nghệ 4.0 trong dạy môn Kĩ thuật”
bậc Tiểu học của Phòng GD&ĐT Quận Lê Chân (tích hợp giữa tin học và kĩ thuật)
Tóm lại, các đề tài, bài báo nêu trên trên nhìn chung đã đề cập đến các khía cạnh như: tích hợp lồng ghép, liên môn, đa môn môn Kĩ thuật, Thủ Công với các môn học, hoạt động giáo dục trong chương trình và một số nội dung giáo dục cần thiết khác; xây dựng các chủ đề tích hợp STEAM, STEM mà trong đó kĩ thuật và công nghệ đóng vai trò là thành tố quan trọng Tuy nhiên các yếu tố này chỉ mới xuất hiện dưới dạng là phương tiện
và nội dung của chúng chỉ là ngẫu nhiên chứ chưa phải là những nội dung rút ra từ chương trình môn Thủ công, Kĩ thuật Nhìn chung ở Việt Nam, các công trình nghiên cứu về dạy học môn Công nghệ ở tiểu học còn khá ít vì đây là môn học mới trong chương trình GDPT
2018 (THPT và THCS trong chương trình hiện hành đã có môn Công nghệ) Với những
công trình có nghiên cứu về vấn đề này như tham luận Một số hình thức tổ chức hoạt động
Trang 24trải nghiệm nội dung làm đồ chơi dân gian phần Công nghệ lớp 3 theo Chương trình GDPT mới nêu trên chỉ mới đụng chạm đến một nội dung nhỏ trong chương trình Công nghệ lớp
3 (làm đồ chơi dân gian) chứ chưa phải là tác động đến cả một chương trình của một lớp (lớp 3) như đề tài chúng tôi đang hướng đến
1.2 Các khái niệm cơ bản
1.2.1 Khái niệm “Công nghệ”
Công nghệ là khái niệm phức tạp với rất nhiều cách định nghĩa khác nhau Xét về nguồn gốc ngôn ngữ, khái niệm công nghệ xuất hiện đồng thời với sự hình thành xã hội loài người Từ “Công nghệ” xuất phát từ chữ Hy Lạp (τεκηνε – Tekhne) có nghĩa là một công nghệ hay một kỹ năng và chữ (λογοσ – logos) có nghĩa là một khoa học, hay sự nghiên cứu Thuật ngữ technology (Tiếng Anh) hay technologie (Tiếng Pháp) hàm nghĩa là khoa học về kĩ thuật hay sự nghiên cứu có hệ thống về kĩ thuật – thường được gọi là công nghệ học Kĩ thuật là khả năng thực hành công việc một cách hữu hiệu, kĩ thuật nhấn mạnh đến yếu tố thực hành và tạo ra sản phẩm trong khi công nghệ là khoa học kĩ thuật ứng dụng, là
hệ thống tri thức Trong mối quan hệ với kĩ thuật, công nghệ có phần mở rộng và bao hàm hơn
Nếu chiết tự và giải nghĩa theo Hán Việt, công là công việc, lao động; nghệ là nghệ thuật, kỹ năng hoặc kỹ xảo, khi ấy chữ “nghệ” đề cập nhiều đến yếu tố thẩm mĩ, tính phát minh và sáng tạo Tựu trung lại, công nghệ là hoạt động lao động hoặc thành tựu lao động của con người, cả vật chất lẫn tinh thần, là sự phát minh có kĩ thuật trong quá trình phát triển của lịch sử loài người nhằm cải thiện chất lượng cuộc sống ngày càng tốt hơn Cách hiểu này dựa trên cơ sở là những thành tựu nổi bật mà con người đạt được từ thời nguyên thủy đến hiện tại Con người xuất hiện trên Trái đất khoảng từ 2,5 triệu năm về trước, có thể chia ra làm ba giai đoạn chính: thời kỳ đồ đá cũ (từ 2,5 triệu năm đến 10.000 năm TCN); thời kỳ đồ đá mới (từ 10.000 TCN – 300 TCN); thời kỳ Trung cổ đến thời kỳ hiện đại (từ 300 TCN đến nay) Ở thời kỳ đồ đá cũ, hai thành tựu công nghệ nổi bật của con người là tìm ra lửa và phát minh ra quần áo, xây dựng nhà ở Thời kỳ đồ đá mới, con người phát hiện ra kim loại và biết chế tạo kim loại để làm công cụ sản xuất; biết cách khai thác năng lượng, chế tạo phương tiện giao thông vận tải thô sơ và biết cách khai thác nước sạch
để sinh hoạt Ở thời kỳ Trung đại đến nay, những thành tựu công nghệ có phần đáng kể,
đó là sự xuất hiện của nông nghiệp, công nghiệp, chế tạo, khai thác mỏ, luyện kim, giao thông, y học, v.v… Nếu định nghĩa theo cách này, công nghệ sẽ dễ được chấp nhận hơn khi nó là hệ thống bao gồm các lĩnh vực như nông nghiệp, lâm nghiệp, công nghiệp, điện
tử, cơ khí, v.v…Đó cũng là các mảng lĩnh vực phổ biến mà HS phổ thông đang được học tập, nghiên cứu ở môn Công nghệ hiện hành
Tuy nhiên, với xu hướng hiện nay người ta thường lựa chọn cách định nghĩa về công nghệ do Uỷ ban Kinh tế và Xã hội khu vực Châu Á – Thái Bình Dương (Economic and
Trang 25Social Commission for Asia and the Pacific – ESCAP) đưa ra: “Công nghệ là kiến thức có
hệ thống về quy trình và kĩ thuật dùng để chế biến vật liệu và xử lý thông tin Nó bao gồm kiến thức, kĩ năng, thiết bị, phương pháp và các hệ thống dùng trong việc tạo ra hàng hoá
và cung cấp dịch vụ” Cách định nghĩa này khá rộng mở và dung hòa hơn khi không chỉ giới hạn công nghệ là những kiến thức về quy trình và kĩ thuật đối với vật chất như nhóm ngành công nghệ kĩ thuật mà còn bao hàm cả nhóm ngành công nghệ xử lý thông tin như công nghệ máy tính, công nghệ ngân hàng, công nghệ du lịch, công nghệ văn phòng là những ngành công nghệ mới nổi của thời hiện đại
Tóm lại, khái niệm “công nghệ” nhìn chung được tạo nên từ bốn thành tố: Một là, công nghệ phải tạo ra sản phẩm và phù hợp với nhu cầu sử dụng của con người Hai là, công nghệ là sản phẩm do con người tạo ra thông qua quá trình lao động, do đó sản phẩm công nghệ khác với những sản phẩm tự nhiên Ví dụ hoa là sản phẩm của tự nhiên nhưng
kĩ thuật cắt hoa, cắm hoa để trang trí lại là yếu tố của công nghệ Ba là, công nghệ là hệ thống kiến thức, nó bác bỏ quan niệm công nghệ là vật thể Bốn là, công nghệ là kiến thức song vẫn có thể được mua, được bán Đó là do công nghệ hàm chứa trong các vật thể tạo nên nó
1.2.2 Khái niệm “môn Công nghệ”
Môn Công nghệ là một môn học Theo từ điển Wiktionary, “môn học là một bộ phận
của chương trình học bao gồm những tri thức về một khoa học nhất định” Trong một chương trình giáo dục, các môn học là các bộ phận tạo nên cấu trúc của chương trình chung Nhắc đến môn học, người ta thường hình dung đến chương trình của môn học ấy Sở dĩ người ta phân chia chương trình chung thành các chương trình môn học là bởi mỗi môn học sẽ đại diện cho một hay vài lĩnh vực khoa học nhất định trong xã hội và các môn học
ấy hướng tới việc đảm bảo mục tiêu của chương trình giáo dục chung Thông thường, nội dung chương trình các môn học thường mang tính độc lập để đảm nhận vai trò cung cấp tri thức cho HS một cách rõ ràng nhất về một lĩnh vực khoa học nhất định trong cuộc sống, được quy định bởi các các cơ quan nhà nước, cơ quan chuyên ngành có thẩm quyền Một chương trình môn học thường được cấu trúc từ các thành tố như: mục tiêu chương trình, quan điểm xây dựng chương trình, nội dung chương trình, định hướng phương pháp, hình thức dạy học chương trình môn học, cách thức đánh giá môn học, Chương trình môn Công nghệ cũng bao gồm đầy đủ các thành tố ấy Trong chương trình GDPT 2018, chương trình môn Công nghệ bao gồm hai giai đoạn: giáo dục cơ bản và giáo dục định hướng nghề nghiệp Môn Công nghệ trong chương trình giáo dục cơ bản từ lớp 3 đến lớp 9 là môn học bắt buộc (ở tiểu học, phân môn Công nghệ là một bộ phận của môn Tin học và Công nghệ) Trong chương trình giáo dục định hướng nghề nghiệp từ lớp 10 đến lớp 12, môn Công nghệ thuộc nhóm môn học lựa chọn: nhóm môn công nghệ và nghệ thuật (bao gồm môn
Trang 26Công nghệ, Tin học, Âm nhạc, Mĩ thuật) Và nội dung chương trình phân môn Công nghệ
ở tiểu học trong chương trình GDPT 2018 sẽ được phân tích rõ ở chương 2
1.2.3 Hoạt động dạy học
1.2.3.1 Khái niệm hoạt động
Theo tâm lí học Mác-xít, hoạt động là quá trình con người thực hiện các quan hệ giữa con người với thế giới tự nhiên, xã hội Đó là quá trình chuyển hóa năng lực lao động
và các phẩm chất tâm lý khác của bản thân thành sự vật, thành thực tế và quá trình ngược lại là quá trình tách những thuộc tính của sự vật, của thực tế quay trở về với chủ thể, biến thành vốn liếng tinh thần của chủ thể (Nguyễn Xuân Thức (Chủ biên), 2007) Ở đây, chúng
ta có thể thấy hoạt động theo quan niệm của Mác-xíc có hai pha diễn ra đồng thời trong cùng một tiến trình hoạt động của con người: pha thứ nhất là con người chuyển hóa tâm lí
và năng lượng đến vật chất và làm thay đổi nó; đồng thời pha thứ hai là sự thu nhận thuộc những tính sự vật làm vốn liếng, kinh nghiệm của mình
Với quan điểm lý thuyết về hoạt động, A.N.Leontiev cho rằng “Hoạt động là một tổ hợp các quá trình con người tác động vào đối tượng nhằm đạt mục đích thỏa mãn một nhu cầu nhất định và chính kết quả của hoạt động là sự cụ thể hóa nhu cầu của chủ thể” (Lê Văn Hồng (Chủ biên) và Lê Ngọc Lan và Nguyễn Văn Thàng, 1995) Có thể thấy rằng, quan điểm này đề cao chủ thể của hoạt động Chủ thể (con người) là đối tượng chủ động
tổ chức, điều khiển các hoạt động (hành vi, tinh thần, trí tuệ, ) nhằm tác động vào đối tượng (sự vật, tri thức, ) Hoạt động của con người được phân biệt với hoạt động của loài vật ở tính mục đích của hoạt động Nghĩa là chủ thể (con người) thực hiện ý đồ của mình, biến những suy nghĩ trong đầu thành hiện thực Như vậy, nhờ có hoạt động mà con người tạo ra sản phẩm đáp ứng nhu cầu cụ thể trong cuộc sống của mình
Trong giáo trình Tâm lí học đại cương, PGS TS Huỳnh Văn Sơn và một số tác giả khác quan niệm rằng “Hoạt động là mối quan hệ tác động qua lại giữa con người và thế giới (khách thể) để tạo ra sản phẩm cả về phía thế giới, cả về phía con người (chủ thể)” (Huỳnh Văn Sơn và Lê Thị Hân (chủ biên) và Trần Thị Thu Mai và Nguyễn Thị Uyên Thy, 2016) Khi nhìn theo góc độ tâm lí này, chúng ta thấy được rằng có hai quá trình diễn ra đồng thời, bổ sung cho nhau nhưng cũng thống nhất với nhau Quá trình thứ nhất là quá trình khách thể hóa (còn gọi là quá trình xuất tâm) Đó là quá trình con người chuyển hóa những năng lượng của mình thành sản phẩm của hoạt động Quá trình thứ hai là quá trình chủ thể hóa (còn gọi là quá trình nhập tâm) Đây là quá trình con người chuyển nội dung của khách thể vào bản thân mình tạo nên tâm lí của cá nhân (nhận thức, tình cảm,…) Như vậy, hoạt động luôn được thực hiện bởi chủ thể hoạt động - người thực hiện hoạt động - theo một nhu cầu, mục đích nhất định Trong quá trình tổ chức hoạt động, con người biết cách tổ chức, phân loại, hành động theo một hệ thống và có sự linh hoạt các hoạt động cho phù hợp với khách thể (đối tượng, hoàn cảnh, tình huống, ) Hoạt động lúc nào cũng có đối tượng của nó, đối tượng của hoạt động có thể là tri thức, sự vật, con người thông qua
Trang 27các hoạt động mà chiếm lĩnh, sử dụng đối tượng nhằm thỏa mãn nhu cầu của mình Hơn nữa, hoạt động có tính mục đích Đây là nét đặc trưng thể hiện vai trò, trình độ của con người trong việc sử dụng vốn hiểu biết, kinh nghiệm của bản thân trong việc chiếm lĩnh đối tượng, chuyển đối tượng thành năng lực của chính mình Hoạt động của con người vừa tạo ra sản phẩm về phía thế giới, vừa tạo ra tâm lí của bản thân
Như vậy, quan niệm của mỗi trường phái tâm lí về khái niệm hoạt động vừa có những điểm riêng biệt, vừa có sự giao thoa, gặp gỡ Ở đề tài này, khái niệm hoạt động theo quan điểm của chúng tôi như sau: Hoạt động là quá trình con người tác động có mục đích
rõ ràng đến thế giới vật chất (xuất tâm) nhằm thay đổi chúng, đồng thời con người sẽ biến những những thuộc tính, đặc điểm của thế giới vật chất trở thành vốn liếng, kinh nghiệm sống của bản thân (nhập tâm)
1.2.3.2 Khái niệm hoạt động dạy học
Hoạt động dạy học là một hoạt động sư phạm Trong cuốn Giao tiếp sư phạm, hai tác giả Hoàng Anh - Vũ Kim Thanh đã có dẫn ý kiến của các nhà nghiên cứu Liên Xô trước đây như D.Z Dunep, V.I.Đaeviađenxki, A.N.Aisue, coi hoạt động dạy học (hoạt động sư phạm) bao gồm hoạt động dạy và học có quan hệ mật thiết giữa thầy và trò (Hoàng Anh
Theo PGS.TS Trần Thị Hương và các tác giả khác, “hoạt động dạy học là hoạt động phối hợp tương tác và thống nhất giữa hoạt động chủ đạo của GV và hoạt động tự giác, tích cực, chủ động của HS nhằm thực hiện mục tiêu dạy học” (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2018h) Có thể thấy, hoạt động dạy học là một hoạt động “kép” bao gồm hoạt động dạy của GV – đóng vai trò chủ động – và hoạt động học của HS – đóng vai trò chủ đạo Hai hoạt động này tác động qua lại lẫn nhau như Iu K.Babamxki nói “Chỉ trong sự tác động qua lại tích cực giữa thầy và trò mới xuất hiện bản thân quá trình dạy học Sự phá vỡ mối liên hệ tác động qua lại giữa dạy và học sẽ làm mất đi quá trình toàn vẹn đó” Hoạt động dạy và hoạt động học đều hướng tới mục tiêu dạy học: HS lĩnh hội tri thức, phát triển toàn diện
Trang 28Tóm lại, từ những nét đặc trưng trong khái niệm hoạt động dạy học đúc kết từ các quan niệm trên, chúng tôi cho rằng hoạt động dạy học là hoạt động có sự phối hợp, thống nhất giữa GV và HS nhằm đạt được mục tiêu dạy học, mà ở đó GV đóng vai trò chủ đạo trong việc tổ chức, hướng dẫn HS học tập; HS đóng vai trò chủ động trong việc lĩnh hội kiến thức, khám phá và lĩnh hội những kinh nghiệm mới
1.2.4 Dạy học theo định hướng phát triển năng lực
1.2.4.1 Năng lực
Năng lực là một phạm trù được nói đến trong nhiều lĩnh vực của xã hội Ở những lĩnh vực khác nhau sẽ có những định nghĩa khác nhau
Theo từ điển tiếng Việt “Năng lực là khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn
có để thực hiện một hành động nào đó Năng lực là phẩm chất tâm lý và sinh lý tạo cho con người khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó với chất lượng cao” Theo đó, năng lực là khả năng của bản thân góp phần hoàn thành một công việc nào đó với hiệu quả công việc đạt ở mức độ cao
Năng lực gắn bó mật thiết với tính định hướng chung của nhân cách con người Từ điển tâm lý học đưa ra khái niệm năng lực là tập hợp các tính chất hay phẩm chất của tâm
lý cá nhân, đóng vai trò là điều kiện bên trong tạo thuận lợi cho việc thực hiện tốt một dạng hoạt động nhất định, đảm bảo cho hoạt động có kết quả tốt
Theo P.A Rudich, năng lực là tính chất tâm sinh lí của con người chi phối các quá trình tiếp thu các kiến thức, kĩ năng và kĩ xảo cũng như hiệu quả thực hiện một hoạt động nhất định (Rudich P.A., 1986) Như thế, năng lực không chỉ là kết quả của giáo dục, mà
nó còn đến từ các đặc điểm bẩm sinh hay còn gọi là năng khiếu Năng lực do năng khiếu được phát triển, tuy nhiên chúng ta nên hiểu rằng có năng khiếu nếu không rèn luyện, học tập thì sẽ không chắc có thể biến thành năng lực Vậy, muốn có năng lực, cần sự hỗ trợ từ việc học tập và cả môi trường xung quanh
Gerard và Roegiers (1993) đã coi năng lực là một tích hợp những kĩ năng cho phép nhận biết một tình huống và đáp ứng với tình huống đó một cách tích hợp và một cách tự nhiên (2 Xavier Roegiers, 1996) Năng lực giúp chúng ta thuận lợi giải quyết một tình huống theo bản năng tự nhiên của mình khi năng lực đó đã được rèn luyện trở thành kĩ năng, kĩ xảo của bản thân, có thể sử dụng thuần thục để giải quyết tình huống mọi nơi, mọi lúc
Theo Cosmovici thì: “năng lực là tổ hợp đặc điểm của cá nhân, giải thích sự khác biệt giữa người này với người khác ở khả năng đạt được những kiến thức và hành vi nhất định” Còn A.N.Leonchiev cho rằng: “năng lực là đặc điểm cá nhân quy định việc thực hiện thành công một hoạt động nhất định” Ở đây, chúng ta thấy được rằng năng lực là khả năng cá nhân của mỗi người, giúp thể hiện mặt nổi trội của mỗi con người, giúp phân biệt
Trang 29người này với người khác Vì vậy, năng lực không mang tính chung mà bao giờ khi nói về một lĩnh vực nào đó ta có những “năng lực đặc thù” mà chỉ riêng lĩnh vực đó có chẳng hạn như năng lực toán học của hoạt động học tập hay nghiên cứu về toán học, năng lực dạy học của hoạt động giảng dạy,… Và theo chương trình GDPT tổng thể, “năng lực là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí, thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể.” (Trần Thị Hương (chủ biên) và Nguyễn Đức Danh và Hồ Văn Liên và Hồ Đình Qua, 2017)
Tóm lại, năng lực là khả năng con người thực hiện hoạt động, đảm bảo hoạt động đạt được kết quả mong muốn trong một lĩnh vực nhất định nhờ vào sự liên kết, tổng hợp kiến thức, kĩ năng và các điều kiện cá nhân như năng khiếu, ý chí, sở thích, niềm tin,… Năng lực của mỗi cá nhân được rèn dũa thông qua giáo dục và tác động của môi trường sống, được đánh giá qua phương pháp, cách thức và khả năng hoạt động của cá nhân khi giải quyết các vấn đề thực tiễn trong cuộc sống
1.2.4.2 Quan điểm dạy học theo định hướng phát triển năng lực
Dạy học theo định hướng phát triển năng lực đang là một vấn đề cốt lõi trong chương trình GDPT 2018 Đặc điểm quan trọng của việc dạy học theo định hướng phát triển năng lực là đo được “năng lực” của từng HS, HS thể hiện sự tiến bộ của bản thân bằng cách chứng minh năng lực của mình thông qua việc làm chủ, nắm vững kiến thức môn học và
có khả năng vận dụng chúng vào giải quyết vấn đề thực tiễn chứ không dừng lại ở việc học
Trong quá trình dạy học theo định hướng phát triển năng lực, chúng ta cần xác định năng lực và có cách đánh giá phù hợp Nền tảng cơ bản của việc dạy học này là chúng ta xác định được những năng lực nào mà HS cần có được sau khi hoàn thành chương trình
Trang 30học, nghĩa là việc xác định năng lực phải rõ ràng, cụ thể để đảm bảo rằng chúng ta có thể
đo lường một cách chính xác hiệu quả đạt được sau khi giáo dục
1.2.6 Xây dựng KHDH
KHDH là kế hoạch của một tiết học/một bài học/một chủ đề/một năm học thể hiện tinh thần cơ bản của chương trình môn học, mối liên hệ hữu cơ giữ mục tiêu, nội dung, phương pháp và kết quả KHDH là cái cụ thể nhất của chương trình mà ở đó người dạy có thể thể hiện các ý tưởng dạy học của mình GV sẽ là người soạn KHDH và chủ động chuẩn
bị trước khi lên một tiết học, bài học, chủ đề Có thể xem KHDH như một kịch bản mà ở
đó GV sẽ thể hiện tròn vai diễn của mình theo cái kịch bản dạy học ấy KHDH có ý nghĩa
và vai trò quan trọng đối với GV và HS KHDH giúp GV hoạch định mục tiêu, phương pháp, nội dung, cách thức đánh giá cần có trong một tiết học; giúp GV lường trước được những tình huống sư phạm xảy ra trong giờ học và kiểm soát thời gian của tiết học một cách hiệu quả
Khái niệm KHDH là một khái niệm mới trong những năm gần đây Trước đây người
ta thường biết đến nó với tên gọi “giáo án” Tuy nhiên, do sự phát triển của xã hội và của nền giáo dục hiện đại, người ta có nhu cầu đổi mới một số tên gọi cho dễ hiểu, dễ nhớ, trong đó từ “giáo án” đã được thay thế bởi cụm từ ‘KHDH” Có vẻ như cụm từ “KHDH” giúp người nghe, người đọc dễ hình dung hơn bản chất của nó – một bản kế hoạch chuẩn
bị cho việc dạy học, hơn là sử dụng một từ Hán Việt “giáo án” mà ít người có thể cắt nghĩa một cách rõ ràng, chính xác (giáo: dạy; án: bản hồ sơ, bản kế hoạch)
Một bản KHDH bao gồm các thành tố như: tên KHDH, thời lượng, mục tiêu dạy học, nội dung, phương pháp, thiết bị, những hoạt động cụ thể của thầy và trò, khâu kiểm tra đánh giá Xây dựng KHDH là việc tạo ra các một bản KHDH đảm bảo đủ các thành phần cần thiết vừa nêu và được tạo lập theo một tiến trình gồm các bước cụ thể như: Xác định mục tiêu bài học; Xác định phương pháp chủ đạo; Chuẩn bị thiết bị dạy - học; Tiến trình Các hoạt động dạy học; Tổng kết cuối bài: củng cố, giao nhiệm vụ, đánh giá, Căn
cứ để xây dựng một KHDH nhìn chung sẽ là: chương trình chung, chương trình môn học; nội dung bài học, tiết học; điều kiện cơ sở vật chất dạy học; trình độ, đặc điểm nhận thức của đối tượng dạy học (HS)
Các bước để xây dựng một KHDH theo hướng THLM cũng tương tự như các bước xây dựng một KHDH thông thường Chỉ khác ở chỗ, các thành tố của KHDH (mục tiêu, phương pháp, nội dung, đánh giá ) và các bước để lập KHDH THLM đều phải hướng tới hai hay nhiều môn học, hoạt động giáo dục được tích hợp trong chủ đề liên môn đó mà không phải chỉ chú ý đến bất kì một môn học, hoạt động giáo dục riêng rẽ nào cả
Trang 311.3 Dạy học theo hướng tích hợp ở tiểu học
1.3.1 Khái niệm “Dạy học tích hợp”
Dạy học tích hợp là một cụm từ rất quen thuộc trong giáo dục Ngay từ thập niên
20, cụm từ “dạy học tích hợp” đã được nhắc đến
Theo quan điểm của Ban chỉ đạo đổi mới chương trình, sách giáo khoa sau năm
2015: “Dạy học tích hợp được hiểu là GV tổ chức để HS huy động đồng thời kiến thức, kỹ
năng thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau nhằm giải quyết các nhiệm vụ học tập, thông qua đó lại hình thành những kiến thức, kỹ năng mới, từ đó phát triển những năng lực cần thiết”
Theo Nguyễn Thị Kim Dung (Nguyễn Thị Kim Dung, 2015), đinh nghĩa dạy học tích hợp là: “Dạy học tích hợp là một quan niệm dạy học nhằm hình thành ở HS những năng lực giải quyết hiệu quả các tình huống thực tiễn dựa trên sự huy động nội dung, kiến thức, kĩ năng thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau.”
Trong chương trình phổ thông tổng thể cũng đề cập đến khái niệm dạy học tích hợp:
“Dạy học tích hợp là định hướng dạy học giúp HS phát triển khả năng huy động tổng hợp kiến thức, kĩ năng, thuộc nhiều lĩnh vữ khác nhau để giải quyết hiệu quả các vấn đề trong học tập và trong cuộc sống, được thực hiện ngay trong quá trình lĩnh hội tri thức và rèn luyện kĩ năng.” (Bộ Giáo dục và đào tạo, 2018j)
1.3.2 Mục đích và nguyên tắc của dạy học tích hợp
• Mục đích của dạy học tích hợp
Việc dạy học tích hợp nhằm đạt được các mục đích khác nhau, song đích đến cuối cùng vẫn là hình thành và phát triển năng lực của HS Dạy học tích hợp giúp HS dễ dàng vận dụng các kiến thức vào trong đời sống, dạy học tích hợp giúp HS có tư duy hệ thống logic, liên kết những kiến thức đã học thay vì để chúng rời rạc Và mức năng lực HS có thể đạt được là khả năng vận dụng kiến thức để giải quyết vấn đề một cách thuần thục và linh hoạt nhất các kĩ năng, kiến thức và thái độ Từ đó, HS trở thành những người có đầy đủ năng lực giải quyết các vấn đề trong cuộc sống, không chỉ tiếp thu những lý thuyết Dạy học tích hợp với mục đích phát triển năng lực, khơi gợi ở HS sự sáng tạo, tránh gò bó, rập khuôn Dạy học tích hợp có ý nghĩa rất to lớn đối với HS, vì nó giúp cho HS trưởng thành, trách nhiệm hơn thông qua mỗi bài học, trở thành một người công dân có năng lực và trách nhiệm với tương lai bản thân
• Nguyên tắc của dạy học tích hợp:
“Những người biên soạn chương trình GDPT mới đã lựa chọn phương án tích hợp phù hợp với mỗi môn học để phát huy hiệu quả của dạy học tích hợp, đồng thời bảo đảm kiến thức cốt lõi của mỗi ngành khoa học và phù hợp với điều kiện thực tế trong bước đầu thực hiện dạy học tích hợp ở nước ta.” (Nguyễn Minh Thuyết, 2018) Khi dạy học tích hợp,
Trang 32để môn học hay tiết học đó hiệu quả cần tuân theo những nguyên tắc đã đề ra, đáp ứng các nguyên tắc đó thì mới xem là dạy học thành công được Bởi vì dạy học tích hợp không chỉ
là kiến thức ở mỗi một bài học, mà nó xuyên suốt gắn liền với các bài học khác, môn học khác phải làm cho kiến thức kết nối với nhau, không tạo cho HS cảm giác nặng nề khi học kiến thức của nhiều môn Cũng theo Nguyễn Minh Thuyết (Nguyễn Minh Thuyết, 2018), Chương trình Giáo dục phổ thông tổng thể mới được dạy học tích hợp theo ba định hướng sau:
“Thứ nhất, tích hợp giữa các mảng kiến thức khác nhau, giữa yêu cầu trang bị kiến thức với việc rèn luyện kĩ năng trong cùng một môn học, hoặc các môn học khác
Thứ hai, tích hợp kiến thức của các môn học, khoa học có liên quan với nhau; ở mức thấp là liên hệ kiến thức được dạy với những kiến thức có liên quan trong dạy học; ở mức cao là xây dựng các môn học tích hợp
Thứ ba, tích hợp một số chủ đề quan trọng (ví dụ: các chủ đề về chủ quyền quốc gia, phát triển bền vững, bảo vệ môi trường, bình đẳng giới, giáo dục tài chính,…) vào nội dung chương trình nhiều môn học”
Việc dạy học tích hợp phải được liên kết giữa các mảng kiến thức trong cùng một môn hay nhiều môn, đem đến cho HS những thông tin hữu ích, đáp ứng được nhu cầu của
HS cũng như đạt được mục tiêu của bài dạy Những kiến thức trong dạy học tích hợp là sự
bổ sung giữa một môn hay nhiều môn học, đưa đến các vấn đề cần giải quyết trong thực tế đời sống không chỉ giải quyết đơn thuần bằng một kiến thức mà phải vận dụng các kĩ năng
đã được học trước đó Dạy học tích hợp đưa đến cho HS các thông tin, kĩ năng cần thiết để
HS giải quyết các tình huống học tập, cuộc sống HS có thể xâu chuỗi các kiến thức đã học, hiểu rõ hơn, đồng thời đưa ra được cho bản thân các mục tiêu học tập rõ ràng Trong việc dạy học tích hợp không chỉ là truyền đạt kiến thức mà là hình thành ở HS các năng lực để hoàn thiện bản thân Dạy học tích hợp khắc phục được tình trạng “học tủ, học vẹt”, học nhưng không hiểu kiến thức, khiến kiến thức trở nên rời rạc, kiến thức quá nhiều để ghi nhớ Dạy học tích hợp là cách để truyền đạt đủ đến HS kiến thức nhưng không quá nặng
Ở hình thức tích hợp này, các môn học vẫn là các môn độc lập, riêng rẽ GV là người tìm
ra mối liên hệ giữa các bài học và thực hiện lồng ghép, liên hệ ở thời điểm thích hợp cho bài học, bổ sung các kiến thức cho HS
Trang 331.3.3.2 Tích hợp nội môn
Tích hợp nội môn là một hình thức dạy học tích hợp khá quen thuộc đối với GV Là hình thức trong nội bộ của môn học, GV vận dụng các kiến thức, phương pháp trong cùng một môn học, và liên quan đến bài học để tích hợp nhằm đạt được mục tiêu của kế hoạch giảng dạy Việc tích hợp nội môn phải tích hợp có hệ thống, có sự gắn kết giữa các kiến thức để HS có thể hiểu rõ môn học, tránh trường hợp tích hợp các thông tin thừa gây nặng
1.3.3.5 Tích hợp xuyên môn
“Tích hợp xuyên môn là hình thức tích hợp cao và phức tạp, theo đó, nội dung giáo dục của một số môn học chuyên ngành trước đây được tích hợp, hòa quyện với nhau để tạo thành một môn học hoàn toàn mới” Tích hợp xuyên môn nhằm phát triển năng lực của
HS thông qua nhiều mảng nội dung của các môn học Nội dung dạy học tích hợp hướng nhiều về năng lực, kĩ năng sống, vận dụng kiến thức vào thực tiễn Học tập dự án cũng là một trong những hình thức của dạy học tích hợp xuyên môn
1.3.4 Điều kiện và quy trình tổ chức dạy học tích hợp, liên môn
1.3.4.1 Điều kiện tổ chức dạy học tích hợp, liên môn
Dạy học liên môn yêu cầu GV phải tìm hiểu, xác định các nội dung kiến thức có sự
tương đồng giữa các môn học khác nhau Từ đó đưa ra các cách dạy học phù hợp nhất, tránh trường hợp HS phải học lại các kiến thức quá nhiều lần dẫn đến việc nhàm chán, hay việc kiến thức mà HS học được rời rạc, thiếu liên kết Việc dạy học tích hợp nhằm giảm tải một số nội dung tương đồng giữa các môn học Các kiến thức liên môn đã dạy môn học chiếm ưu thế thì có thể không cần dạy lại ở môn học còn lại
Trang 341.3.4.2 Quy trình tổ chức dạy học tích hợp, liên môn
“Quy trình xây dựng một chủ đề THLM gồm 7 bước:
Bước 1: Nghiên cứu cơ sở lí luận của dạy học tích hợp
Bước 2: Phân tích chương trình, sách giáo khoa để tìm ra các nội dung dạy học gần giống nhau có gắn kết chặt chẽ tự nhiên với nhau trong các môn học của chương trình, hiện hành; những nội dung liên quan đến vấn đề thời sự của địa phương, đất nước và có thể là những vấn đề nóng đang được quan tâm của toàn cầu để xây dựng chủ đề/bài học tích hợp Bước 3: Xác định chủ đề tích hợp, bao gồm tên bài học và lĩnh vực thuộc môn học nào, đóng góp của các môn đó vào bài học Dự kiến thời gian cho chủ đề tích hợp
Bước 4: Xác định mục tiêu của bài học tích hợp, bao gồm: phẩm chất chung, năng lực chung và năng lực đặc thù của các môn học/hoạt động giáo dục được tích hợp nhằm day học theo định hướng hình thành và phát triển phẩm chất, năng lực cho HS Đặc biệt,
vì đây là KHDH chủ đề liên môn nên mục tiêu dạy học của nó cần hướng tới cho tất cả các môn trong cùng một chủ đề Phần năng lực đặc thù cần căn cứ vào yêu cầu cần đạt về năng lực đặc thù của các môn học được tích hợp
Bước 5: Xây dựng các nội dung chính trong bài học tích hợp Căn cứ vào thời gian
dự kiến, mục tiêu, thậm chí cả đặc điểm tâm sinh lí và yếu tố vùng miền để xây dựng nội dung cho phù hợp
Bước 6: Xây dựng bộ câu hỏi định hướng và các hướng dẫn về nguồn tài liệu bổ trợ, các phương tiện kĩ thuật cho HS thực hiện nội dung các chủ đề tích hợp
Bước 7: Xây dựng các tiêu chí đánh giá nội dung các chủ đề tích hợp đã xây dựng
và tính hiệu quả của chúng trong việc hình thành và phát triển năng lực cho HS trong dạy học Đề xuất các cải tiến cho phù hợp với thực tế.”
1.3.5 Dạy học theo hướng THLM
Dạy học THLM là dạy học những nội dung kiến thức có liên quan đến nhau ở hai hay nhiều môn học “Tích hợp” là đang nói đến phương pháp và mục tiêu của hoạt động dạy học còn “liên môn” đề cập đến nội dung dạy học Hai vấn đề này liên quan mật thiết với nhau, đã dạy học “tích hợp” thì chắc chắn phải dạy kiến thức “liên môn” và ngược lại,
để đảm bảo hiệu quả của kiến thức liên môn thì phải hướng tới mục tiêu tích hợp Thường thấy, dạy học tích hợp chỉ là lồng ghép những nội dung giáo dục có liên quan đến quá trình dạy học một môn học như: bảo vệ môi trường, an toàn giao thông, giáo dục kĩ năng sống,…
Ở mức độ cao hơn, chúng ta lồng ghép những mảng nội dung kiến thức có liên quan đến nhau ở những môn học khác nhau, đảm bảo cho HS sau khi học có thể vận dụng một cách hợp lí để giải quyết các vấn đề thực tiễn trong học tập, trong cuộc sống Đồng thời, có thể
Trang 35giúp HS tránh phải học lại nhiều lần một mảng nội dung kiến thức ở các môn học khác nhau
Dạy học THLM có tính thực tiễn và sinh động nên gây hứng thú, hấp dẫn đối với
HS tạo ra hứng thú học tập cho HS Học theo định hướng tích hợp kiến thức liên môn HS
sẽ được “làm” nhiều, HS phải vận dụng các kiến thức tổng hợp vào giải quyết các tình huống thực tiễn, giúp dễ dàng ghi nhớ kiến thức mà không phải học một cách máy móc, rập khuôn, nhờ đó mà năng lực và phẩm chất của HS được hình thành và phát triển Hơn nữa, dạy học kiến thức liên môn giúp HS liên kết kiến thức ở nhiều môn khác nhau, không cần phải học đi học lại cùng một nội dung kiến thức gây nhàm chán, vừa không tổng quát
và khó ứng dụng
Dạy học THLM có rất nhiều ưu điểm Đối với HS, các chủ đề liên môn vừa sinh động, vừa hấp dẫn lại có tính thực tiễn nên có ưu thế trong việc tạo ra động cơ, hứng thú học tập cho HS Học THLM đòi hỏi HS phải tăng cường vận dụng các kiến thức tổng hợp
để giải quyết vấn đề, giúp cho HS có thể ghi nhớ kiến thức một cách chủ động, ít phải nhớ kiến thức máy móc Hơn nữa, các chủ đề tích hợp giúp cho HS có được sự hiểu biết tổng quát tránh nhàm chán vì phải học nhiều lần một nội dung kiến thức
Đối với GV, tuy ban đầu có khó khăn trong việc xây dựng kế hoạch giảng dạy do nội dung kiến thức ở nhiều môn khác nhau, cần phải tìm hiểu kĩ, đào sâu nhưng đây chỉ là khó khăn bước đầu và có thể khắc phục vì GV đã có sự am hiểu nhất định về nội dung bởi
GV đã giảng dạy các môn học liên quan và với việc đổi mới phương pháp dạy học hiện nay, vai trò của GV đã thay đổi từ người truyền thụ kiến thức sang người đồng hành, tổ chức các hoạt động giúp HS khám phá kiến thức nên GV có sự chủ động hơn trong các hoạt động được tổ chức phù hợp với nội dung chủ đề Vậy, học theo tích hợp kiến thức liên môn không những giúp cho GV giảm tải được thời gian giảng dạy kiến thức bị trùng lặp
mà còn góp phần nâng cao năng lực sư phạm của GV
1.3.6 Dạy học phân môn Công nghệ ở tiểu học theo hướng THLM
1.3.6.1 Nguyên tắc dạy học phân môn Công nghệ theo hướng THLM
Trong dạy học cần các nguyên tắc để đảm bảo đạt được mục tiêu cần đạt của môn học hay mạch nội dung kiến thức Việc dạy học tích hợp cũng như thế, cần đặt ra các nguyên tắc đề đạt được mục tiêu phát triển năng lực của HS, hình thành cho HS cả về tư duy lẫn kĩ năng để áp dụng vào học tập và trong đời sống
Nguyên tắc thứ nhất, dạy học phân môn Công nghệ theo hướng tích hợp là sự phối hợp giữa kiến thức của phân môn Công nghệ và các môn học khác trong chương trình, trong đó Công nghệ là trục chính, đóng vai trò quan trọng trong các chủ đề dạy học Các môn học tích hợp sẽ bổ sung, cung cấp các kiến thức, kĩ năng cần thiết để làm rõ các chủ
đề trong phân môn Công nghệ
Trang 36Nguyên tắc thứ hai, việc dạy học THLM phân môn Công nghệ cần đảm bảo cũng cấp đủ kiến thức của phân môn Công nghệ cũng như môn học tích hợp Đồng thời các kiến thức được tích hợp phải được chọn lọc, đảm bảo tính khoa học, không chọn lựa quá nhiêu gây quá tải chọ HS Giữa các kiến thức được tích hợp phái có sự phối hợp với nhau một cách nhuần nhuyễn để đem đến hiệu quả tốt nhát
Nguyên tắc thứ ba, dạy học phân môn Công nghệ theo hướng THLM ngoài kiến thức cần nhấn mạnh vào các kĩ năng cần thiết của môn học, vì phân môn Công nghệ không chỉ cung cấp tri thức mà cả các kĩ năng để có thể ứng dụng, giải quyết các vấn đề trong cuộc sống Dạy học tích hợp phát huy tính tích cực, tạo hứng thú cho HS với môn học Công nghệ
Các nguyên tắc trên hình thành nên dàn ý chung cho việc dạy học THLM phân môn Công nghệ, nó phối hợp và bổ sung cho nhau trong quá trình thiết kế KDHD Một KDHD cần có các nguyên tắc trên để áp dụng vào dạy học, đồng thới thiết kế các vấn đề để HS vận dụng kiến thức từ nhiều môn học, tổng hợp để giải quyết các vấn đề
Bên cạnh đó, chúng ta cần xây dựng môi trường học an toàn, hình thành tính độc lập, sáng tạo ở trẻ tiểu học, phát huy khả năng, tính tự giác của HS Vận dụng các thiết bị dạy học một các có hiệu quả, bởi đó là phương tiện truyền đạt thông tin rất tốt ở phân môn Công nghệ Đồng thời, tìm hiểu về các nguồn tài liệu ở các môn học khác để tích hợp sao cho hợp lí, khoa học nhất Khai thác nguồn tư liệu, những đồ dung để phục vụ cho mục đích chung dạy học phân môn Công nghệ theo hướng THLM
1.3.6.2 Phương pháp dạy học phân môn Công nghệ theo hướng THLM
− Phương pháp giải quyết vấn đề
Phương pháp giải quyết vấn đề là phương pháp dạy học đặt ra cho HS các vấn đề nhận thức có chứa đựng mâu thuẫn giữa cái đã biết và cái chưa biết, chuyển HS vào tình huống có vấn đề, kích thích sự tự lực, chủ động và có nhu cầu mong muốn giải quyết vấn
đề
Trong phương pháp giải quyết vấn đề, GV sẽ triển khai theo quy trình sau:
Bước 1: Xác định tình huống có vấn đề
Bước 2: Thu thập thông tin có liên quan đến tình huống
Bước 3: Liệt kê các cách giải quyết khả thi, lập kế hoạch giải quyết vấn đề
Bước 4: Phân tích, đánh giá kết quả mỗi cách giải quyết (tích cực, hạn chế, cảm xúc, giá trị)
Bước 5: Đưa ra cách giải quyết tối ưu nhất
Bước 6: Thực hiện kế hoạch giải quyết vấn đề
Trang 37Bước 7: Rút kinh nghiệm cho việc giải quyết những vấn đề, tình huống khác Khi áp dụng phương pháp vào THLM phân môn công nghệ, cần lưu ý một số điểm sau:
- Các vấn đề cần đảm bảo đúng với chủ đề của đề tài tích hợp Vấn đề đưa ra phải có liên kết giữa phân môn Công nghệ và môn học khác, trong đó Công nghệ là trục chính
- Kiến thức hay kĩ năng khi tích hợp không quá khó so với tư duy của trẻ lớp 3, có độ dài vừa phải (theo chuẩn môn Tiếng Việt)
- Các vấn đề tích hợp cần gắn với đời sống thực tiễn, kĩ năng giải quyết vấn đề của
HS Và các vấn đề nên hướng mở để HS có thể tư duy sáng tạo, đưa ra nhiều cách giải quyết
− Phương pháp đóng vai
Phương pháp đóng vai là phương pháp tổ chức cho HS thực hành một số cách ứng
xử nào đó trong một tình huống giả định Đây là phương pháp nhằm giúp HS suy nghĩ sâu sắc về một vấn đề bằng cách tập trung vào một sự việc cụ thể mà các em vừa thực hiện hoặc quan sát được
Trong phương pháp đóng vai, GV sẽ triển khai theo quy trình:
Bước 1: GV tiến hành chia nhóm và giao tình huống đóng vai cho từng nhóm Trong
đó có quy định rõ thời gian chuẩn bị, thời gian đóng vai của mỗi nhóm
Bước 2: Các nhóm thảo luận tình huống, chuẩn bị đóng vai
Bước 3: Các nhóm lên đóng vai
Bước 4: Lớp thảo luận, nhận xét trả lời các câu hỏi mà GV đưa ra về cách ứng xử
và cảm xúc của các vai diễn; về ý nghĩa của các cách ứng xử
Bước 5: GV kết luận, đưa đến cho HS về cách ứng xử tích cực trong tình huống đã cho
Khi áp dụng phương pháp vào THLM phân môn công nghệ, cần lưu ý một số điểm sau:
- Các tình huống cần đảm bảo đúng với chủ đề của đề tài tích hợp Tình huống đưa
ra có liên kết giữa phân môn Công nghệ và môn học khác, trong đó Công nghệ là trục chính
- Tình huống hay kiến thức không quá khó so với tư duy của trẻ lớp 3, có độ dài vừa phải (chuẩn theo môn Tiếng Việt)
- Các tình huống cần gắn với đời sống thực tiễn, kĩ năng giải quyết vấn đề của HS Tình huống nên là hướng mở để HS có thể tư duy sang tạo, đưa ra nhiều hướng giải quyết
Trang 38- Thời gian phù hợp cho HS thảo luận xây dựng kịch bản và chuẩn bị đóng vai Nên khích lệ cả những HS nhút nhát cùng tham gia Nên có hoá trang và đạo cụ đơn giản
để tăng tính hấp dẫn của tiểu phẩm đóng vai
− Phương pháp trò chơi
Phương pháp trò chơi là phương pháp tổ chức cho HS tìm hiểu kiến thức mới hoặc nội dung nào đó trong chủ đề hay thể hiện những hành động, những thái độ, những việc làm thông qua việc tham gia một trò chơi
Trong phương pháp đóng vai, GV sẽ triển khai theo quy trình:
Bước 1: GV chuẩn bị các vật dụng cần thiết cho trò chơi
Bước 2: GV phổ biến tên trò chơi, nội dung và luật chơi cho HS
Bước 3: HS tiến hành chơi
Bước 4: Tổng kết trò chơi
Bước 5: Thảo luận về nội dung, kiến thức của trò chơi
Khi áp dụng phương pháp vào THLM phân môn công nghệ, cần lưu ý một số điểm sau:
- Các kiến thức trong trò chơi phải liên quan đến Công nghệ và môn học liên quan
- Trò chơi phải dễ tổ chức và thực hiện, phải phù hợp với chủ đề bài học, với đặc điểm và trình độ HS, với quỹ thời gian, với hoàn cảnh, điều kiện thực tế của lớp học, đồng thời phải không gây nguy hiểm cho HS Phải phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của HS, tạo điều kiện cho HS tham gia tổ chức, điều khiển tất cả các khâu: từ chuẩn bị, tiến hành trò chơi và đánh giá sau khi chơi
- HS phải được luân phiên tham gia trò chơi
- Kết thức trò chơi, GV và HS cùng thảo luận về kiến thức liên quan
1.3.6.3 Tiến trình dạy học phân môn Công nghệ theo hướng THLM
Phương pháp dạy học bao giờ cũng gắn liền với tiến trình dạy học, nhằm thể hiện các hoạt động của HS trong tiết học Mỗi môn học sẽ có những đặc thù riêng, và GV phải tìm ra phương pháp dạy học phù hợp nhất với nó
Theo “Tài liệu tập huấn dạy học THLM” (Lĩnh vực: Khoa học xã hội dành cho CBQL và GV Trung học phổ thông) đã trình bày về phương pháp dạy học THLM: “Các phương pháp dạy học tích cực nói chung đều dựa trên quan điểm dạy học giải quyết vấn
đề có tiến trình sư phạm tương tự nhau: xuất phát từ một sự kiện/hiện tượng/tình huống/nhiệm vụ làm xuất hiện vấn đề cần giải quyết - lựa chọn giải pháp/xây dựng kế
Trang 39hoạch giải quyết vấn đề - thực hiện giải pháp/kế hoạch để giải quyết vấn đề - đánh giá kết quả giải quyết vấn đề Vì vậy, nhìn chung tiến trình dạy học một chủ đề THLM như sau:
Bước 1: Đề xuất vấn đề
Bước 2: Giải pháp và kế hoạch giải quyết vấn đề
Bước 3: Thực hiện kế hoạch giải quyết vấn đề
Bước 4: Trình bày, đánh giá kết quả.”
Đó là tiến trình phương pháp dạy học THLM mà chúng tôi đề xuất Việc xây dựng KDHD phân môn Công nghệ theo hướng THLM cũng sẽ dựa trên các phương pháp dạy học này, nhưng sẽ ứng dụng vào phân môn Công nghệ một cách chi tiết hơn:
Bước 1: Đề xuất vấn đề:
Đầu tiên để đề xuất vấn đề về phân môn Công nghệ, GV cần đưa đến cho HS tình huống có vấn đề - tình huống mà HS không thể giải quyết ngay tại thời điểm đó do còn thiếu kĩ năng và kiến thức Những kiến thức và kĩ năng đó sẽ được bổ sung ngay sau tiết học Có rất nhiều cách để người GV đưa đến các tình huống có vấn đề: đặt một câu hỏi liên quan đến chủ đề sẽ học ngày hôm đó, trình chiếu các video có chứa vấn đề mà HS chưa thể giải thích được… Cách đưa đến vấn đề tùy thuộc vào kĩ thuật dạy học của GV Các vấn
đề đưa đến cho HS sẽ có nhiều chủ đề khác nhau: Tại sao máy thu hình có thể phát sóng các kênh truyền hình?, Em đang đọc dở quyển sách hay thì mẹ nhờ em đi mua một món
đồ, em làm sao để giữ lại trang sách mình vừa đọc? (Hướng dẫn làm kẹp sách) GV sẽ là người đồng hành cũng HS tìm ra câu trả lời cho các vấn đề đó Các tình huống ấy yêu cầu
HS phải vận dụng khả năng của bản thân để giải quyết vấn đề, từ đó hình thành nên các năng lực mới của HS
Các vấn đề được đưa ra sẽ yêu cầu HS tìm ra các giải quyết, tạo động lực để các em tìm tòi và sáng tạo Tình huống có vấn đề không chỉ liên quan đến riêng phân môn Công nghệ mà còn yêu cầu vận dụng các kĩ năng khác thuộc môn học khác Từ đó, HS sẽ liên kết các kiến thức ở các môn học để giải quyết vấn đề mà GV đã đưa ra
Bước 2: Giải pháp và kế hoạch giải quyết vấn đề:
Ở giai đoạn đầu, HS đã xác định được vấn đề cần giải quyết đối với chủ đề Tiếp theo đó, HS cần suy nghĩ đến các giải pháp cũng như kế hoạch giải quyết vấn đề Trong suốt quá trình HS tìm hiểu về các giải pháp thì GV cần là người bên cạnh, định hướng và
hỗ trợ HS trong quá trình tìm hiểu vấn đề Đối với phân môn Công nghệ lớp 3, đặc biệt là với các chủ đề liên quan đến các thiết bị điện trong gia đình, sẽ có rất nhiều điều mới lạ đối với các em, do đó luôn cần người theo dõi để hỗ trợ HS Các vấn đề khó thì luôn cần trao đổi thảo luận, từ đó HS tập được khả năng bày tỏ, cũng như hoạt động nhóm, hình thành
Trang 40các kĩ năng cần thiết cho bản thân Sau đó, HS xác định được các đáp án khả thi dành cho vấn đề, đồng thời lập kế hoạch để giải quyết các tình huống có vấn đề mà GV đã đưa ra
Bước 3: Thực hiện kế hoạch giải quyết vấn đề:
Đây là bước rất quan trọng trong phương pháp dạy học phân môn Công nghệ theo hướng THLM, bởi ở giai đoạn này HS thực hiện các kế hoạch, đồng thời tiếp thu thêm các kiến thức của phân môn Công nghệ và các môn học khác Trong quá trình thực hiện kế hoạch giải quyết vấn đề, HS có thể hoạt động độc lập cũng như trao đỏi thảo luận nhóm,
từ đó chỉnh sửa và đi đến kết luận chung Trong trường hợp nếu kiến thức HS vẫn chưa đủ
để giải quyết vấn đề, GV sẽ xây dựng cho HS kiến thức nền để có thể xử lí vấn đề GV có thể hình thành kiến thức nền thông qua việc yêu cầu HS tìm hiểu bài trước ở nhà, có thể đọc trước sách giáo khoa hay đơn giản là tìm thông tin trên báo… Nhờ đó HS thực hiện được kế hoạch giải quyết vấn đề và đi đến kết luận
Trong suốt quá trình thực hiện, HS đã tiếp thêm cho mình các kiến thức của phân môn Công nghệ và mạch kiến thức từ các môn học được tích hợp Ví dụ như trong chủ đề Chiếc máy thu hình, HS không chỉ học về thiết bị ấy mà còn cả kĩ năng nói, viết của môn Tiếng Việt Đó là các kĩ năng mà HS tiếp thu được sau tiết học tích hợp GV luôn là người chỉ dẫn cho HS cách áp dụng các kiến thức và kĩ năng ấy vào đời sống như thế nào Hướng dẫn cho HS cách tìm tòi tài liệu, cách xử lí các tình huống trong thực tiễn
Bước 4: Trình bày, đánh giá kết quả:
Đây là bước cuối cùng sau khi hoàn thành việc thực hiện kế hoạch giải quyết vấn
đề HS sẽ tiếp tục bàn bạc và bảo vệ kết quả mình thu được GV sẽ điều chỉnh và đi đến kết luận, cùng việc đưa lại các kiến thức mà HS đã được học trong suốt quá trình tìm hiểu chủ đề HS tiếp nhận các kiến thức THLM từ môn học Công nghệ và các môn học khác, cũng như việc vận dụng các kĩ năng vào trong thực tiễn
1.3.6.4 Hình thức dạy học phân môn Công nghệ theo hướng THLM
Trong dạy học tích hợp rất đa dạng các hình thức tổ chức dạy học, nhiều hình thức dạy học sẽ tạo nên sự hứng thú cho HS, HS không chỉ thụ động mà được di chuyển để tạo thành các hình thức tổ chức lớp học khác nhau Việc dạy học phân môn Công nghệ theo hướng tích hợp sẽ tạo được nhiều hình thức dạy học, tăng tích cực của HS
Dạy học cá nhân
Dạy học cá nhân là hình thức dạy học mà đối tượng tiếp nhận kiến thức là từng HS trong lớp học GV dạy trực tiếp cho một cá nhân và giao việc cụ thể cho HS HS sẽ hoàn thành các nhiệm vụ được giao