Hoạt động ngoại giao của Chủ tịch Hồ Chí Minh với một số nước trong giai đoạn 1946 - 1954 đã phát huy tác dụng vô cùng to lớn đối với tình hình cách mạng Việt Nam lúc bấy giờ.. Xuất phát
Trang 1ĐOÀN THANH NIÊN CỘNG SẢN HỒ CHÍ MINH
BAN CHẤP HÀNH TP HỒ CHÍ MINH
-
CÔNG TRÌNH DỰ THI GIẢI THƯỞNG SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC EURÉKA
LẦN THỨ 22 NĂM 2020
TÊN CÔNG TRÌNH: HOẠT ĐỘNG NGOẠI GIAO CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH
VỚI MỘT SỐ NƯỚC TRONG NHỮNG NĂM 1946 - 1954
LĨNH VỰC NGHIÊN CỨU: XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
CHUYÊN NGÀNH: LỊCH SỬ
Mã số công trình: ………
Trang 2TÓM TẮT CÔNG TRÌNH
Giai đoạn 1946 - 1954 là một chặng đường đấu tranh đầy cam go, phức tạp của ngoại giao Việt Nam mà ở đó sự tài ba của Chủ tịch Hồ Chí Minh được thể hiện rõ nét hơn bao giờ hết bởi những chính sách kịp thời, đúng đắn phù hợp với tình hình Việt Nam lúc bấy giờ Qua việc nghiên cứu những hoạt động ngoại giao của Chủ tịch Hồ Chí Minh với một số nước giai đoạn 1946 - 1954, cho chúng ta thấy được bản lĩnh của một nhà ngoại giao lỗi lạc Hồ Chí Minh
Trong mối quan hệ Việt - Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tận dụng mọi khả năng hoà hoãn với Pháp dựa vào cơ sở pháp lý bằng việc ký Hiệp định Sơ bộ 6/3 và Tạm ước 14/9, từ đó chính quyền cách mạng có thời gian để củng cố lực lượng, chuẩn
bị tốt nhất cho cuộc chiến đấu không thể tránh khỏi sắp tới Đối với Mỹ, Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trương phân hóa Mỹ với Pháp, tìm cách kết nối quan hệ và tranh thủ trung lập Mỹ, tạo thuận lợi để hoà hoãn và kiềm chế lực lượng của Tưởng và Pháp ở Việt Nam Trong mối quan hệ với Liên Xô, Trung Quốc, Người luôn giữ được tình đoàn kết, hữu nghị và quan hệ đồng minh chiến lược với hai nước này Viện trợ của Liên Xô, Trung Quốc là nhân tố vô cùng quan trọng góp phần đưa đến thắng lợi cho cuộc kháng chiến của dân tộc
Hoạt động ngoại giao của Chủ tịch Hồ Chí Minh với một số nước trong giai đoạn 1946 - 1954 đã phát huy tác dụng vô cùng to lớn đối với tình hình cách mạng Việt Nam lúc bấy giờ Thứ nhất, bảo vệ và củng cố chính quyền cách mạng, tránh một lúc phải đối phó với nhiều kẻ thù Thứ hai, phá vòng vây cô lập của kẻ thù và thiết lập quan hệ với các nước xã hội chủ nghĩa Thứ ba, đẩy nhanh tổ chức hội nghị quốc tế ở Đông Dương về chấm dứt chiến tranh
Thông qua các hoạt động ngoại giao của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong giai đoạn
1946 - 1954, có thể thấy Người luôn đề cao đường lối ngoại giao độc lập, tự chủ, luôn đặt quyền lợi quốc gia, dân tộc lên trên hết Nghệ thuật ngoại giao của Chủ tịch Hồ Chí Minh thể hiện rất rõ qua việc thực thi chính sách ngoại giao linh hoạt, mềm dẻo trong quan hệ với các nước lớn, ngoại giao “Dĩ bất biến, ứng vạn biến”, ngoại giao
“Phải có thực lực”
Trong bối cảnh phức tạp của quan hệ quốc tế hiện nay, ngoại giao cần phải biết vận dụng sáng tạo tư tưởng, nghệ thuật ngoại giao“ngũ tri” của Chủ tịch Hồ Chí Minh: biết mình, biết người, biết thời thế, biết dừng và biết biến để phục vụ sự nghiệp xây dựng, phát triển và bảo vệ đất nước Đồng thời, còn phải biết vận dụng, phát triển tư tưởng, nghệ thuật ngoại giao Hồ Chí Minh trong xây dựng chiến lược ngoại giao bởi việc xây dựng chiến lược lược ngoại giao là cực kỳ quan trong trọng việc định hướng giải quyết các vấn đề quốc tế
Trang 3MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
MỤC TIÊU - PHƯƠNG PHÁP 12
CHƯƠNG 1 TÌNH HÌNH VIỆT NAM TRONG NHỮNG NĂM 1946 ĐẾN NĂM 1954 14
1.1 Bối cảnh quốc tế trong những năm đầu sau chiến tranh thế giới thứ hai 14
1.2 Việt Nam sau ngày giành chính quyền đến trước năm 1950 16
1.2.1 Những khó khăn về kinh tế, chính trị, xã hội 16
1.2.2 Một số thành tựu đạt được 19
1.3 Tình hình Việt Nam những năm 1950 – 1954 25
1.3.1 Đất nước thoát khỏi bao vây cô lập 25
1.3.2 Cuộc kháng chiến chống Pháp bước vào giai đoạn kết thúc 29
Tiểu kết chương 1 33
CHƯƠNG 2 HOẠT ĐỘNG NGOẠI GIAO TIÊU BIỂU CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH VỚI MỘT SỐ NƯỚC TRONG NHỮNG NĂM 1946 – 1954 36
2.1 Một số khái niệm 36
2.2 Chủ tịch Hồ Chí Minh - Nhân tố đóng vai trò quan trọng trong việc hoạch định đường lối ngoại giao giai đoạn 1946 - 1954 40
2.3 Mục đích của hoạt động ngoại giao với một số nước giai đoạn 1946 - 1954 46
2.4 Hoạt động ngoại giao của Chủ tịch Hồ Chí Minh với một số nước 57
2.4.1 Quan hệ ngoại giao Việt - Pháp 57
2.4.2 Tìm kiếm và kết nối ngoại giao với Mỹ 71
2.4.3 Thiết lập và đẩy mạnh quan hệ ngoại giao với Trung Quốc 75
2.4.4 Thiết lập và đẩy mạnh quan hệ ngoại giao với Liên Xô 79
2.5 Kết quả trong hoạt động ngoại giao 85
Tiểu kết chương 2 91
Trang 4CHƯƠNG 3 MỘT SỐ NHẬN XÉT VỀ HOẠT ĐỘNG NGOẠI GIAO CỦA CHỦ
TỊCH HỒ CHÍ MINH GIAI ĐOẠN 1946 - 1954 94
3.1 Nhận xét về vai trò của Chủ tịch Hồ Chí Minh 94
3.1.1 Đóng góp hoạt động ngoại giao của Chủ tịch Hồ Chí Minh với đất nước giai đoạn 1946 – 1954 94
a Đóng góp hoạt động ngoại giao của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với cuộc kháng chiến chống Pháp 95
b Đóng góp của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong phong trào giải phóng dân tộc 97
c Đóng góp của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong việc đặt nền móng cho quan hệ giữa Việt Nam với các cường quốc 101
3.1.2 Nghệ thuật ngoại giao của Chủ tịch Hồ Chí Minh 104
a Đề cao đường lối ngoại giao độc lập, tự chủ, luôn đặt quyền lợi quốc gia, dân tộc lên trên hết 105
b Thực thi chính sách ngoại giao linh hoạt, mềm dẻo trong quan hệ với các nước 108
c Thực hiện ngoại giao “Dĩ bất biến, ứng vạn biến” 112
d Thực hiện ngoại giao “Phải có thực lực” 115
3.2 Vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay 118
3.2.1 Vận dụng sáng tạo nghệ thuật ngoại giao “ngũ tri” 119
3.2.2 Vận dụng, phát triển tư tưởng, nghệ thuật ngoại giao của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong xây dựng chiến lược ngoại giao 124
Tiểu kết chương 3 127
KẾT LUẬN - ĐỀ NGHỊ 131
TÀI LIỆU THAM KHẢO 139
PHỤ LỤC 146
Trang 5ĐẶT VẤN ĐỀ
Cách mạng tháng Tám thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa non trẻ vừa ra đời đã phải đối diện với nhiều gian nan, khó khăn, rơi vào tình thế “ngàn cân treo sợi tóc” Hoạt động ngoại giao của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong giai đoạn này đã góp phần quan trọng trong cuộc đấu tranh bảo vệ và xây dựng chế độ dân chủ nhân dân, từng bước vượt qua giai đoạn đầy khó khăn, thử thách
Khi cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ, nước Việt Nam lại bắt đầu những khó khăn mới khi bị bao vây, cô lập tứ phía Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kiên trì củng cố khối đoàn kết với nhân dân Lào và nhân dân Campuchia đang kề vai sát cánh trên chiến trường Đông Dương chung một mục tiêu, chung một kẻ thù Người cũng đồng thời cố gắng mở cửa ra thế giới bên ngoài, để tranh thủ sự ủng hộ của các nước Thái Lan, Myanmar, Ấn Độ, Indonesia và các lực lượng tiến bộ trên thế giới Người cũng ra sức thiết lập quan hệ ngoại giao với các nước xã hội chủ nghĩa, đặc biệt là hai nước đứng đầu hệ thống xã hội chủ nghĩa là Trung Quốc và Liên Xô để tranh thủ sự ủng hộ
và viện trợ của hai nước này, giúp Việt Nam thoát khỏi thế bị bao vây, cô lập và tiến thêm một bước mới trong cuộc kháng chiến chống Pháp
Giai đoạn 1946 - 1954 là một chặng đường phát triển của đấu tranh ngoại giao Việt Nam, được mở đầu bằng việc kí Hiệp định Sơ bộ và kết thúc bằng việc kí Hiệp định Giơ-ne-vơ Đó là chặng đường đấu tranh đầy gay go, phức tạp, đánh dấu thắng lợi từng bước của mặt trận ngoại giao Mà ở đó sự tài ba của chủ tịch Hồ Chí Minh rõ nét hơn bao giờ hết bởi những chính sách kịp thời, đúng đắn phù hợp với tình hình Việt Nam lúc bấy giờ
Những hoạt động ngoại giao tích cực của chủ tịch Hồ Chí Minh trong giai đoạn
1946 – 1954 đã góp phần vào cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam Kết quả là Chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954 đã buộc Pháp phải ngồi vào bàn đàm phán với Việt Nam Chiến thắng lẫy lừng Điên Biên Phủ và Hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1954 đã công nhận độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của nước ta, giải phóng miền Bắc, đưa miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội và làm chỗ dựa cho cuộc đấu tranh
để giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước
Nghiên cứu hoạt động ngoại giao của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong giai đoạn
1946 – 1954 để làm rõ đường lối lãnh đạo đúng đắn, sáng tạo của Đảng, Chính phủ mà
Trang 6người chỉ đạo là Chủ tịch Hồ Chí Minh trong kháng chiến chống Pháp là điều cần thiết Thông qua việc nghiên cứu hoạt động ngoại giao của Chủ tịch Hồ Chí Minh, chúng ta có thể rút ra những bài học kinh nghiệm cho đấu tranh ngoại giao trong sự nghiệp cách mạng hiện nay
Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài “HOẠT ĐỘNG NGOẠI GIAO CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH VỚI MỘT SỐ NƯỚC TRONG NHỮNG NĂM 1946 – 1954” làm đề tài nghiên cứu khoa học của mình với mong muốn làm rõ những hoạt động ngoại giao khéo léo và tinh tế của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong giai đoạn này để từng bước đưa Việt Nam thoát khỏi thế bị động, bao vây, cô lập và từng bước giành thắng lợi trên chiến trường quân sự trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đầy khốc liệt, cam go
Trang 7TỔNG QUAN TÀI LIỆU Nguồn tài liệu nghiên cứu
Với mong muốn đề tài nghiên cứu có ý nghĩa khoa học và giá trị thực tiễn cao, nguồn tài liệu được tác giả chủ yếu sử dụng trong đề tài gồm những nguồn tài liệu đáng tin cậy sau đây:
- Tài liệu, các văn kiện viết về chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước Việt Nam về ngoại giao trong giai đoạn 1946 – 1954
- Tài liệu chuyên khảo gồm: Các tác phẩm, công trình nghiên cứu, bài viết của các tác giả về ngoại giao Việt Nam nói chung và Chủ tịch Hồ Chí Minh nói riêng
- Tài liệu tạp chí, các trang mạng Internet viết về ngoại giao Việt Nam và hoạt động ngoại giao của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong giai đoạn 1946 - 1954
- Những tài liệu, công trình nghiên cứu về nghệ thuật ngoại giao của của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Có thể kể một số tác phẩm tiêu biểu sau:
1 Tác phẩm viết về bối cảnh thế giới và Việt Nam, những khó khăn của Việt Nam sau Cách mạng tháng Tám 1945
a Lê Mậu Hãn (Chủ biên) (2005) Đại cương lịch sử Việt Nam, tập III Hà
Nội: Nxb giáo dục Việt Nam
Sách đã khắc họa lịch sử Việt Nam trong suốt hơn 5 thập niên từ 1945 đến 2006 bao gồm các mặt về kinh tế, quân sự, chính trị, văn hóa, xã hội Sách bao gồm 3 nội dung chính Nội dung phần một thảo luận về Việt Nam trong thời kì kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược và xây dựng nền dân chủ cộng hòa (1945-1954) bao gồm: Xây dựng và bảo vệ chế độ dân chủ cộng hòa (1945-1946); Sự bùng nổ và tiến triển của cuộc kháng chiến trong toàn quốc (1946-1950); Cuộc kháng chiến phát triển mạnh mẽ đến kết thúc thắng lợi (1951-1954)
Nội dung phần hai thảo luận về Việt Nam trong thời kì xây dựng miền Bắc và đấu tranh để thống nhất đất nước (1954 - 1975) bao gồm: Xây dựng miền Bắc và đấu tranh cách mạng chống Mỹ - Diệm ở miền Nam (1954-1960); Xây dựng miền Bắc theo con đường xã hội chủ nghĩa và chiến đấu chống “chiến tranh đặc biệt” của Mỹ ở
Trang 8miền Nam (1961 - 1965); Chiến đấu chống “chiến tranh cục bộ” và chiến tranh phá hoại lần thứ nhất của Mĩ, tiếp tục xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc (1965 - 1968); Chiến đấu chống chiến lược “Việt Nam hoá” chiến tranh và chiến tranh phá hoại lần thứ hai của Mỹ, khôi phục và phát triển kinh tế ở miền Bắc (1969 - 1973); Khôi phục và phát triển kinh tế miền Bắc, cả nước dồn sức giải phóng hoàn toàn miền Nam thống nhất đất nước (1973 - 1975)
Nội dung phần ba thảo luận về Việt Nam xây dựng đất nước theo định hướng
xã hội chủ nghĩa (1975 - 2006) bao gồm: Việt Nam xây dựng lại đất nước (1975 - 1986) và đất nước trên con đường đổi mới (1986 - 2006)
Thông qua những nội dung trên, người đọc hiểu thêm về lịch sử Việt Nam từ
1945 đến nay là lịch sử của 30 năm chiến tranh cách mạng chống lại sự xâm lược của thực dân Pháp (1945-1954) và đế quốc Mĩ (1954-1975) nhằm hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất Tổ quốc và và tiến hành xây dựng đất nước theo con đường chế độ xã hội chủ nghĩa và bảo vệ tổ quốc từ năm 1975 đến nay
b Nguyễn Anh Thái (Chủ biên) (2006) Lịch sử thế giới hiện đại Hà Nội:
Nxb Giáo dục Việt Nam
Cách mạng xã hội chủ nghĩa tháng Mười Nga năm 1917 mở ra một thời kì mới trong lịch sử thế giới - thời kì hiện đại Từ Cách mạng tháng Mười Nga đến nay, lịch
sử thế giới dã diễn ra rất nhiều sự hiện trọng đại, chồng chéo và phức tạp Trong khuôn khổ quyển sách, các tác giả tập trung vào những nội dung cơ bản sau đây: Thắng lợi của cách mạng tháng Mười Nga dẫn đến sự ra đời của Nhà nước xã hội chủ nghĩa đầu tiên trên thế giới - Liên Xô; Sự phát triển và thắng lợi của cách mạng giải phóng dân tộc trong thời kỳ hiện đại; Sự phát triển của chủ nghĩa tư bản ở thời kỳ hiện đại; Những nét lớn về phong trào cộng sản và công nhân quốc tế thời kỳ hiện đại; Quan hệ quốc tế thời kỳ hiện đại; Cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật sau chiến tranh thế giới thứ hai Cuốn sách được biên soạn dưới hình thức thông sử, các chương trong sách có mối quan hệ chặt chẽ theo trình tự thời gian qua quá trình phát triển của các giai đoạn Lịch sử thế giới hiện đại, đặc biệt là giai đoạn từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai đến nay, hết sức phúc tạp; có nhiều sự hiện vẫn còn đang tiếp diễn và những hệ quả, ý nghĩa của nó vẫn chưa thể đoán định rõ ràng, chính xác, chưa kể cách nhận định, đánh giá lịch sử cũng rất khác nhau, thậm chí trái ngược nhau Tuy nhiên, dù có những bước
Trang 9thăng trầm khác nhau, song xu hướng phát triển của lịch sử thế giới hiện đại là không ngừng tiến lên theo quy luật tiến hoá của nhân loại - quy luật tiến lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới
c Nguyễn Quang Ngọc (Chủ biên) (2007) Tiến trình lịch sử Việt Nam Hà
Nội: Nxb giáo dục Việt Nam
Sách cung cấp những kiến thức cơ bản, hệ thống về quá trình phát triển liên tục của lịch sử Việt Nam từ khi có con người xuất hiện trên đất nước ta cho đến ngày nay Đồng thời phản ánh những thành tựu mới của khoa học lịch sử trong nước và trên thế giới cũng như những nghiên cứu chuyên sâu của mỗi tác giả và được trình bày theo quan điểm chính thống, trên tinh thần kết hợp chặt chẽ, hài hòa truyền thống và hiện đại Tuy nhiên, trong khuôn khổ của một cuốn giáo trình giản yếu, các tác giả chỉ cung cấp một bức tranh tổng quan về diễn tiến lịch sử với những đặc điểm chủ yếu, những quy luật phát triển cơ bản của lịch sử đất nước mà chưa thể đi sát, trình bày, lý giải một cách đầy đủ, cặn kẽ các vấn đề, các sự kiện Sách được chia làm hai phần: Lịch sử Việt Nam cổ - trung đại và Lịch sử Việt Nam cận - hiện đại Phần thứ nhất được giới thiệu trong 6 chương bám sát tiến trình phát triển của các hình thái kinh tế xã hội từ công xã nguyên thủy qua phương thức sản xuất châu Á, chế độ phong kiến đến trước khi nước ta bị thực dân Pháp xâm lược Phần thứ hai trình bày về thời kì từ khi thực dân Pháp xâm lược Việt Nam (năm 1858) cho đến nay, gồm 7 chương, trong đó 4 chương về giai đoạn cận đại (1858-1945) và 3 chương về giai đoạn hiện đại (1945 đến nay)
2 Tác phẩm viết về hoạt động ngoại giao của Chủ tịch Hồ Chí Minh
a E Cô-bê-lép (1985) Đồng chí Hồ Chí Minh Nguyễn Minh Châu và Mai
Lý Quảng dịch Hà Nội: Nxb Thanh niên
Tác phẩm nói về đồng chí Hồ Chí Minh - người con ưu tú của dân tộc Việt Nam, người sáng lập ra Đảng Cộng sản Việt Nam (Đảng Cộng sản Đông Dương trước đây) Người đã hiến dâng cả cuộc đời tuyệt đẹp, toàn bộ tài năng cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và xã hội của các dân tộc Đông Dương, cho sự toàn thắng của chủ nghĩa xã hội và hoà bình trên toàn thế giới Dưới sự lãnh đạo của Người đã hoàn thành thắng lợi cuộc Cách mạng tháng Tám và lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa - nhà nước xã hội chủ nghĩa đầu tiên ở Đông Nam Á Được sự cổ vũ của đồng chí
Trang 10Hổ Chí Minh, nhân dân Việt Nam chống trả quyết liệt sự xâm lược của đế quốc Mỹ chống Việt Nam, đã tiến hành cuộc đấu tranh mạnh mẽ giải phóng miền Nam Cuộc đấu tranh ấy đã kết thúc thắng lợi vào tháng Tư năm 1975 Đồng chí Hồ Chí Minh vẫn sống mãi trong tâm trí của những người cộng sản, toàn thể những người tiến bộ trên thế giới với tư cách là một nhà hoạt động lỗi lạc trong phong trào cộng sản quốc tế và phong trào giải phóng dân tộc, người chiến sĩ đấu tranh không mệt mỏi cho sự nghiệp của chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản, vị lãnh tụ vĩ đại của nhân dân Việt Nam Tên tuổi và hình ảnh của đồng chí Hồ Chí Minh giờ đây vẫn sống trong sự nghiệp và thành tựu của các dân tộc Việt Nam, Lào và Campuchia anh em đang vững bước tiến lên con đường xây dựng những cơ sở của chủ nghĩa xã hội
b Lê Kim Hải (2005) Hồ Chí Minh với quan hệ ngoại giao Việt - Pháp thời
kỳ 1945-1946 Hà Nội: Nxb Đại học quốc gia Hà Nội
Tác phẩm giống như bức tranh tái hiện chân thực một thời kỳ sóng gió của cách mạng Việt Nam, đặc biệt là trong cuộc đấu tranh trên mặt trận ngoại giao giữa nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa với thực dân Pháp Tuy chỉ giới hạn trong phạm vi quan hệ ngoại giao với Pháp trong một giai đoạn ngắn, nhưng tác giả cũng đã lột tả xuất sắc sự tài giỏi, uyên bát cũng như tầm nhìn sáng suốt, thấu hiểu bối cảnh thời đại của chủ tịch Hồ Chí Minh với vai trò tiên phong, chủ trương hoạch định đối sách ngoại giao, cũng như sách lược đấu tranh chống quân xâm lược Bên cạnh đó, tác giả còn khéo léo lồng ghép vào trong những sự kiện lịch sử tiêu biểu có tính xác thực cao, từ
đó nêu bật được tính đúng đắn và hiệu quả của nghệ thuật ngoại giao Hồ Chí Minh: khi thì ngoại giao mềm dẻo, lợi dụng mâu thuẫn trong nội bộ kẻ địch để tạo cơ hội cho
ta, khi thì đề cao “dĩ bất biến, ứng vạn biến” Đồng thời tác giả còn chỉ ra cho chúng ta mối quan hệ giữa các lĩnh vực chính trị, quân sự, kinh tế, ngoại giao,… thể hiện rõ trong các cuộc chiến tranh Với giá trị hiện thực sâu sắc và có tính khái quát cao, tác phẩm là một nguồn tài liệu tham khảo có giá trị, phục vụ cho việc nghiên cứu về quan
hệ ngoại giao Việt - Pháp trong thời chiến
c Lưu Văn Lợi (1996) 50 năm ngoại giao Việt Nam từ năm 1945 đến năm
1975, tập 1 Hà Nội: Nxb Công an nhân dân
Cuốn sách là niềm ấp ủ từ lâu của tác giả ngay từ khi ông còn là Trợ lý Bộ trưởng Bộ ngoại giao Đây không phải là những trang lịch sử đơn thuần vì tác giả, do
Trang 11đã từng là nhân chứng lịch sử, đã từng giữ những trọng trách trong Bộ ngoại giao nên
đã chọn lọc đúng những thời điểm quan trọng nhất trong 30 năm đấu tranh ngoại giao của dân tộc Qua cuốn sách, tác giả đã phân tích một cách toàn diện và có chiều sâu ngoại giao truyền thống Việt Nam từ thời điểm nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời năm 1945 cho đến khi giải phóng miền nam - thống nhất đất nước năm 1975 Rồi đúc kết lại bằng sự nhìn nhận thấu đáo lịch sử dân tộc qua 30 năm đấu tranh ngoại giao Cuốn sách chỉ lướt qua phần ngoại giao của cha ông ta nhưng cũng đã rút ra được những bài học quý báu của thời kỳ lịch sử ấy như “kiên quyết giữ gìn độc lập”,
“giữ nguyên tắc nhưng có sách lược thích hợp” và “vừa đánh vừa đàm” Bên cạnh đó tác giả cũng đã quy tụ hai nhiệm vụ cơ bản trong suốt 30 năm từ 1945 đến năm 1975
là kháng chiến và kiến quốc, trong đó vấn đề độc lập là yêu cầu đầu tiên và quan trọng nhất
d Vũ Khoan (2010) Chủ tịch Hồ Chí Minh với công tác ngoại giao Hà
Nội: Nxb Chính trị quốc gia
Trong tác phẩm này tác giả đã ghi chép lại những hoạt động ngoại giao của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong giai đoạn 1945 - 1969 Đây là một công trình nghiên cứu đã tổng kết về lý luận và thực tiễn những bài học kinh nghiệm quý báu của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong lĩnh vực ngoại giao Qua hoạt động ngoại giao của Chủ tịch Hồ Chí Minh, chúng ta không chỉ khâm phục và ngưỡng mộ sự tài ba, xuất chúng của nhà ngoại giao kiệt xuất đã có những chỉ đạo đúng đắn, kịp thời trong những giờ phút hiểm nghèo nhất của đất nước, mà Đảng cũng đã rút ra được những kinh nghiệm, bài học cần thiết để vận dụng trong giai đoạn mới nhằm phục vụ đắc lực cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
e Nguyễn Dy Niên (2002) Tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh Hà Nội: Nxb Chính trị quốc gia
Đây là một công trình nghiên cứu công phu, quan trọng về tư tưởng ngoại giao
Hồ Chí Minh được viết bởi Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Nguyễn Dy Niên nhằm góp phần
hệ thống hóa những nội dung chủ yếu của tư tưởng, phương pháp, phong cách và nghệ thuật ngoại giao của Hồ Chí Minh Tác giả đã phân tích một cách toàn diện các khía cạnh nguồn gốc và quá trình hình thành nên tư tưởng Hồ Chí Minh, phương pháp, phong cách và nghệ thuật ngoại giao của Người Từ những khía cạnh khái quát đó, tác
Trang 12giả đã nêu lên một số suy nghĩ và quan điểm, ý kiến của bản thân về việc vận dụng tư tưởng, phương pháp, phong cách và nghệ thuật ngoại giao của Hồ Chủ tịch nhằm phục
vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và chủ động hội nhập quốc tế của nước ta trong giai đoạn mới và sự cần thiết phải tiến tới xây dựng một hệ thống lý luận ngoại giao và trường phái ngoại giao Việt Nam đáp ứng yêu cầu và nhiệm vụ đối ngoại ngày càng cao của đất nước
f Nguyễn Đình Bin (Chủ biên) (2005) Ngoại giao Việt Nam 1945 - 2000
Hà Nội: Nxb Chính trị quốc gia
Tác phẩm là một công trình nghiên cứu khoa học công phu của tập thể tác giả các nhà ngoại giao, các chuyên gia hàng đầu về quan hệ quốc tế ở nước ta Với nguồn tài liệu phong phú và đáng tin cậy, với các luận chứng chặt chẽ và súc tích, cuốn sách phác hoạ những nét chính của hoạt động ngoại giao Việt Nam trong năm mươi lăm năm, từ 1945 đến 2000, một thời kỳ đầy những biến động và biết bao đổi thay ở Việt Nam cũng như trên thế giới Trên nền của đời sống chính trị, kinh tế thế giới và quan
hệ quốc tế trong thời kỳ này, đồng thời gắn liền với quá trình vận động của cách mạng nước ta, cuốn sách trình bày một cách hệ thống và tổng hợp các sự kiện ngoại giao của Việt Nam Phần quan trọng của cuốn sách tập trung đề cập các đặc điểm, tính chất của nền ngoại giao Việt Nam hiện đại, những thành tựu chủ yếu trong hoạt động đối ngoại của Đảng, Nhà nước và ngoại giao nhân dân, đồng thời rút ra những bài học kinh nghiệm trong hoạt động ngoại giao, những thành công và có cả một số mặt tồn tại, vừa mang tính lý luận lại vừa có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc Cuốn sách được ra đời thể hiện những cố gắng của các tác giả mong muốn trình bày các sự kiện một cách chính xác , dựa vào tư liệu lịch sử gốc của nước ta và tham khảo tài liệu nước ngoài, giúp bạn đọc nghiên cứu, tìm hiểu nền ngoại giao Việt Nam hiện đại, đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, sáng tạo của Đảng và Nhà nước trong từng giai đoạn lịch sử cách mạng Việt Nam
3 Tác phẩm viết về vai trò của Chủ tịch Hồ Chí Minh và bài học kinh nghiệm trong xây dựng đất nước hiện nay
a Phan Ngọc Liên (2014) Hồ Chí Minh từ nhận thức lịch sử đến hành
động cách mạng Hà Nội: Nxb Chính trị quốc gia
Tác phẩm nghiên cứu vấn đề chung, cơ bản về “Hồ Chí Minh với tư cách một nhà yêu nước, một chiến sĩ cách mạng”, đến đi sâu vào việc phân tích, đánh giá để làm
Trang 13rõ những đóng góp cụ thể và đích thực của Hồ Chí Minh cho nền sử học mácxít - lêninnít ở Việt Nam, cả về hai mặt nội dung lịch sử và phương pháp nghiên cứu Nhiều vấn đề quan trọng đã được giới thiệu qua các chương sách Đó là Hồ Chí Minh trong tiến trình lịch sử, một mặt, nêu rõ sự xuất hiện của Người là kết quả tất yếu của sự phát triển lịch sử dân tộc và thời đại; mặt khác, cũng chứng minh nhận thức đúng đắn của Người về lịch sử, để trên cơ sở đó có sự đóng góp toàn diện và hiệu quả cho sự phát triển lịch sử dân tộc và thể giới Tiếp theo đó, Hồ Chí Minh với sự nhận thức lịch sử làm rõ nhận thức lịch sử thông qua hoạt động thực tiễn cách mạng và đã được đúc kết trong di sản sử học Hồ Chí Minh Cuối cùng, đây cũng là phần quan trọng nhất, phần chủ yếu của công trình, là trực tiếp đi vào Tư tưởng Hồ Chí Minh về lịch sử, từ sự hình thành phương pháp luận Hồ Chí Minh đến một số nguyên tắc phương pháp luận Hồ Chí Minh về nhận thức lịch sử
b Trần Minh Trưởng (2017) Vận dụng sáng tạo và phát triển tư tưởng,
nghệ thuật ngoại giao Hồ Chí Minh trong tình hình mới Hà Nội: Nxb Chính trị
Quốc gia Sự thật
Cùng với chính trị và quân sự, ngoại giao cũng chính là một mặt trận quan trọng, không chỉ có ý nghĩa to lớn trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng nhân dân, mà còn là nền tảng của quá trình hoạch định chủ trương, chiến lược xây dựng, phát triển đất nước trong thời đại mới Cuốn sách này là một nguồn tư liệu quý giá tổng hợp một cách có hệ thống những cơ sở hình thành tư tưởng, nghệ thuật ngoại giao Hồ Chí Minh; những nội dung cơ bản và sự ứng dụng, vận hành cũng như phát triển sáng tạo những tư tưởng của Người của Đảng Cộng sản Việt Nam; từ đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động ngoại giao trong thời đại mới theo tư tưởng, nghệ thuật ngoại giao của Hồ Chủ tịch Tác giả Trần Minh Trưởng đã đi sâu phân tích và nghiên cứu một cách triệt để từng góc cạnh của vấn đề, chỉ rõ những yếu tố khách quan và chủ quan trong việc hình thành và phát triển nghệ thuật ngoại giao Hồ Chí Minh trong thời chiến và vận dụng tới hiện tại Bằng hệ thống những quan điểm lý luận, dẫn chứng cụ thể, lập luận rõ ràng, có chiều sâu, thông qua việc tham khảo và phân tích nhiều nguồn sử liệu, cuốn sách này là một tư liệu lịch sử đáng tin cậy có giá trị dẫn đường cho quá trình nghiên cứu công cuộc xây dựng đất nước, hoạch định sách lược của nước ta trong thời đại hội nhập quốc tế
Trang 14Những vấn đề đã đƣợc đề cập
Các tác phẩm, những công trình nghiên cứu mà tác giả đã phân tích nêu trên và những nguồn tài liệu tham khảo mà tác giả sử dụng trong công trình nghiên cứu đều viết về những vấn đề nhất định trong hoạt động đối ngoại của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong thời gian Người lãnh đạo cách mạng, đề cập nhiều khía cạnh khác nhau liên quan trực tiếp tới những nội dung mà tác giả dự định nghiên cứu như:
- Hoạt động ngoại giao của Chủ tịch Hồ Chí Minh
- Quá trình hoạt động cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh
- Những đóng góp của Chủ tịch Hồ Chí Minh cho phong trào giải phóng dân tộc
- Nghệ thuật ngoại giao của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Những vấn đề mà công trình sẽ tiếp tục nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu các công trình đi trước và tìm hiểu những khoảng trống của các tác phẩm khi nghiên cứu về Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhóm nghiên cứu tiếp tục
bổ sung những vấn đề mà các tác giả khác chưa đề cập tới Chúng tôi sẽ làm rõ những vấn đề sau đây:
- Nghiên cứu về hoạt động ngoại giao tiêu biểu của Chủ tịch Hồ Chí Minh với các nước lớn: Liên Xô, Trung Quốc, Mỹ, Pháp
- Nghiên cứu quá trình vận động ngoại giao của Chủ tịch Hồ Chí Minh giai đoạn 1946 - 1954
- Nghiên cứu phương pháp và nghệ thuật ngoại giao của Chủ tịch Hồ Chí Minh
- Nghiên cứu về vận dụng ngoại giao của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay
Những đóng góp của công trình nghiên cứu
Công trình nghiên cứu khoa học “Hoạt động ngoại giao của Chủ tịch Hồ Chí Minh với một số nước trong những năm 1946 – 1954” mang lại những đóng góp quan trọng như sau:
Trang 15- Phục dựng lại quá trình hoạt động ngoại giao của Chủ tịch Hồ Chí Minh từ năm 1946 – 1954 nhằm nhấn mạnh vai trò của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong hoạt động đối ngoại
- Góp phần hệ thống được phương pháp, phong cách và nghệ thuật ngoại giao
Hồ Chí Minh
- Là nguồn tài liệu phục vụ cho nghiên cứu, học tập chuyên ngành Lịch sử Việt Nam, cũng như ngành Quốc tế học, Quan hệ quốc tế,…
Trang 16MỤC TIÊU - PHƯƠNG PHÁP Đối tượng nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu những hoạt động ngoại tiêu biểu của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong giai đoạn 1946 – 1954, nhằm giúp người đọc có cái nhìn toàn diện về ngoại giao Việt Nam dưới sự chỉ đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong giai đoạn này Đánh giá được vai trò, nghệ thuật ngoại giao của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong kháng chiến chống thực dân Pháp
Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nội dung:
- Nghiên cứu về những hoạt động ngoại giao của Chủ tịch Hồ Chí Minh với một số nước từ năm 1946 – 1954
- Nghiên cứu về phương pháp, nghệ thuật ngoại giao của Chủ tịch Hồ Chí Minh
- Nghiên cứu về vận dụng, phát triển tư tưởng về ngoại giao của Người trong công cuộc đổi mới hiện nay của đất nước
Phạm vi thời gian: Đề tài tập trung nghiên cứu hoạt động ngoại giao của Chủ tịch
Hồ Chí Minh sau ngày nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời cho đến khi kí Hiệp định Giơ-ne-vơ Cụ thể từ năm 1946 đến năm 1954
Mục tiêu của công trình
- Làm rõ tình hình Việt Nam và bối cảnh quốc tế những năm 1946 – 1954
- Làm rõ hoạt động ngoại giao tiêu biểu của Chủ tịch Hồ Chí Minh từ năm 1946 – 1954:
+ Hoạt động ngoại giao để góp phần bảo vệ và củng cố chính quyền cách mạng; + Hoạt động ngoại giao với một số nước nhằm tìm kiếm giải pháp hoà bình cho Việt Nam;
+ Hoạt động ngoại giao để phá vòng vây cô lập của kẻ thù, thiết lập quan hệ ngoại giao với các nước xã hội chủ nghĩa;
+ Hoạt động ngoại giao dẫn đến hội nghị quốc tế về Đông Dương
Trang 17- Qua đó làm rõ phương pháp, nghệ thuật ngoại giao của Chủ tịch Hồ Chí Minh những năm 1946 – 1954
- Góp phần làm rõ quá trình vận dụng tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh trong tình hình hiện nay
Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu chủ yếu được sử dụng trong đề tài này là phương pháp lịch sử để dựng lại các sự kiện lịch sử và phương pháp logic để rút ra những đánh giá nhận định Đồng thời kết hợp với các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh…
Kết cấu của đề tài
Ngoài phần đặt vấn đề, tổng quan tài liệu, mục tiêu - phương pháp, kết luận - đề nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung chính của công trình nghiên cứu được chia làm 3 chương:
Chương 1: Tình hình Việt Nam trong những năm 1946 đến năm 1954
Chương 2: Hoạt động ngoại giao tiêu biểu của Chủ tịch Hồ Chí Minh với một số nước những năm 1946 - 1954
Chương 3: Một số nhận xét về hoạt động ngoại giao của Chủ tịch Hồ Chí Minh giai đoạn 1946 - 1954
Trang 18CHƯƠNG 1 TÌNH HÌNH VIỆT NAM TRONG NHỮNG NĂM 1946 ĐẾN NĂM 1954 1.1 Bối cảnh quốc tế trong những năm đầu sau chiến tranh thế giới thứ hai
Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc đã để lại những hậu quả nặng nề cho toàn thế giới: gần 60 triệu người chết và 90 triệu người bị thương và tàn phế, tiêu tốn và gây thiệt hại hơn 4.000 tỷ USD; nhiều đô thị lớn bị phá hủy, nhất là ở Liên Xô, Đức, Nhật Bản, châu Âu Hầu hết các quốc gia tham chiến đều bị chiến tranh tàn phá Mỹ
là nước duy nhất trục lợi từ chiến tranh và trở thành siêu cường có sức mạnh áp đảo về mọi mặt Các nước châu Âu phải dựa vào Mỹ về mặt kinh tế
Tại Hội nghị Yalta (2/1945) và Hội nghị Potsdam (7/1945), nguyên thủ ba nước Liên Xô, Mỹ và Anh nhất trí thành lập Liên hợp quốc (trong đó 5 cường quốc Liên
Xô, Mỹ, Anh, Pháp, Trung Quốc là 5 ủy viên thường trực Hội đồng bảo an, có quyền phủ quyết); nước Đức bại trận bị chia cắt thành nhiều khu vực dưới sự quản lý của Liên Xô, Mỹ, Anh, Pháp; Đông Âu thuộc phạm vi ảnh hưởng của Liên Xô, Tây Âu thuộc phạm vi ảnh hưởng của Mỹ Hình thành khuôn khổ của một trật tự thế giới mới - trật tự thế giới hai cực
Sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai, hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới đã hình thành với sự ra đời của một loạt nhà nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu Tháng 10/1949, nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa ra đời và tuyên bố đứng về phía Liên
Xô và các nước xã hội chủ nghĩa, làm đảo lộn cục diện thế giới và hệ thống quan hệ quốc tế
Phát biểu của cựu Thủ tướng Anh Winston Churchill ngày 5/3/1946 về “Bức màn sắt” đánh dấu sự khởi đầu cuộc Chiến tranh lạnh Ra đời hai khối liên minh quân
sự do Mỹ và Liên Xô đứng đầu mỗi khối: Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO) năm 1949 và Tổ chức Hiệp ước Vacsava năm 1955
Phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc phát triển mạnh mẽ châu Á, châu Phi và lan rộng sang Mỹ Latinh, trở thành một dòng thác cách mạng đánh đổ chủ nghĩa thực dân Hầu hết các nước châu Á - Thái Bình Dương và Đông Dương vốn là thuộc địa của Anh, Pháp, Bồ Đào Nha Sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai, các quốc gia châu
Âu này suy yếu, vai trò và ảnh hưởng tại khu vực bị suy giảm Mỹ tăng cường can
Trang 19thiệp, tiến hành ký kết hiệp ước an ninh, thành lập các khối quần sự trong khu vực: khối quân sự Nam Thái Bình Dương (ANZUS), gồm Mỹ, Australia và New Zeland thành lập tháng 9/1951; khối quân sự Đông Nam Á (SEATO) gồm Mỹ, Anh, Pháp, Australia, New Zealand, Philippines, Thái Lan, Pakistan, thành lập tháng 9/1945, giải thể tháng 6/1977
Liên Xô có vai trò quan trọng trong việc giải quyết các vấn đề quốc tế Tuy nhiên, về đối ngoại, những năm đầu sau chiến tranh, Liên Xô đã tập trung ưu tiên củng
cố vành đai an ninh tại những vùng giáp biên cương của mình, duy trì hoà hoãn với các nước lớn để giải quyết các vấn đề do chiến tranh để lại, ưu tiên củng cố khu vực ảnh hưởng ở phía tây, giúp đỡ cách mạng Đông Âu Nước Pháp dưới chính quyền De Gaulle là đối tượng tranh thủ của Liên Xô tại châu Âu
Hoa Kỳ ra khỏi chiến tranh là cường quốc thế giới hàng đầu, độc quyền vũ khí nguyên tử, chủ nợ của các nước Tây Âu Ưu tiên chiến lược đối ngoại của Hoa Kỳ là xác lập vai trò lãnh đạo của Mỹ trong hệ thống tư bản chủ nghĩa và thiết lập trật tự thế giới do Mỹ chi phối Hoa Kỳ có nhu cầu lôi kéo Pháp, do đó nhân nhượng Pháp về vấn
đề thuộc địa, trong đó có Đông Dương
Anh và Pháp đều có yêu cầu cấp bách khôi phục kinh tế đất nước, bảo vệ vị trí nước lớn và duy trì hệ thống thuộc địa trên thế giới
Sau khi chiến tranh kết thúc ở châu Âu, chính quyền De Gaulle đã phát hiện ra cuộc đấu tranh về mặt quốc gia và ý thức hệ giữa hai cường quốc nổi lên từ cuộc chiến tranh là Mỹ và Liên Xô, sự chuyển hướng các ưu tiên chiến lược của hai nước lớn này, cũng như vị trí mới của nước Pháp trong tập hợp lực lượng ở châu Âu và trật tự thế giới mới đang hình thành Pháp không thể ngăn ngừa được những quyết định bất lợi cho Pháp mà ba nước lớn đưa ra tại Potsdam, nhưng đã tìm cách khai thác các nhân tố quốc tế có lợi cho Pháp sau chiến tranh, để đẩy mạnh hoạt động của Pháp khôi phục lại quyền kiểm soát ở Đông Dương
Ở Trung Quốc, chính quyền Tưởng Giới Thạch bị thất bại nặng nề trong cuộc tấn công vào vùng giải phóng của Đảng Cộng sản Trung Quốc tại 11 tỉnh sau Hiệp định ngày 10/10/1945, buộc phải ký với Đảng Cộng sản Trung Quốc hiệp định mới ngày 10/1/1946 và mở Hội nghị chính trị hiệp thương Quốc - Cộng Tình hình không ổn định trong nước và vị trí ngày càng suy yếu không cho phép chính quyền Tưởng Giới
Trang 20Thạch triển khai những kế hoạch được trù tính trong chiến tranh nhằm thực hiện vai trò “lãnh đạo châu Á” Cục diện thế giới sau chiến tranh tác động sâu sắc và rộng lớn tới nhiều mối quan hệ quốc tế Thắng lợi của các lực lượng dân chủ chống phát xít trong chiến tranh đã tạo đà cho sự phát triển các xu hướng độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội trên phạm vi thế giới Tuy nhiên, sự phân hoá sau chiến tranh và tập hợp lực lượng mới trên thế giới và ở Viễn Đông tác động phức tạp tới tình hình Việt Nam, nơi nhiều nước lớn dính líu ở những mức độ khác nhau và quân đội các nước Đồng minh vào giải giáp quân đội Nhật
Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, phần thắng thuộc về phe Đồng minh nhưng tàn dư của phát xít Nhật vẫn còn Đây là cơ hội để các nước Đồng minh truy quét quân đội phát xít tới cùng và là cái cớ để các nước Đồng minh đưa quân vào các nước thuộc địa, phụ thuộc nhằm phân chia lại tình hình thế giới Trong đó, Việt Nam không hề nằm ngoài những toan tính đó Điều này đòi hỏi nhà nước còn non trẻ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà cần phải có chính sách và bước đi khôn khéo để bảo vệ nền độc lập
1.2 Việt Nam sau ngày giành chính quyền đến trước năm 1950
1.2.1 Những khó khăn về kinh tế, chính trị, xã hội
Cách mạng tháng Tám năm 1945 thắng lợi, mở ra bước ngoặt lớn trong lịch sử dân tộc, phá tan xiềng xích nô lệ của thực dân Pháp, ách thống trị của phát xít Nhật và lật đổ chế độ phong kiến bảo thủ, để rồi mở ra kỷ nguyên độc lập, tự do cho dân tộc Tuy nhiên, đất nước ta cũng phải đối diện với muôn vàn khó khăn, thử thách Sản xuất nông nghiệp bị đình trệ, mùa màng liên tục bị lũ lụt, hạn hán tàn phá Ở Bắc Bộ, lũ lụt
đã làm cho 50% ruộng đất bị bỏ hoang, liền sau đó lại là hạn hán làm thiệt hại mất 1/3 sản phẩm thu hoạch Nạn đói mà thực dân Pháp và quân phiệt Nhật gây ra làm chết hơn 2 triệu người dân nước ta năm 1945 chưa chấm dứt đến nay lại có phần gay gắt Sản xuất công nghiệp cũng chẳng khá hơn Các xí nghiệp hoặc do bị tàn phá trong chiến tranh, hoặc do thiếu nguyên liệu đều ngừng sản xuất Việc buôn bán với nước ngoài hầu như bị đình trệ hoàn toàn Hàng hoá tiêu dùng khan hiếm, giá cả tăng vọt Hàng vạn công nhân bị thất nghiệp, đời sống vô cùng khổ cực
Nền tài chính rơi vào tình trạng nguy ngập Ngân khố quốc gia gần như bị khánh kiệt Khi Chính phủ lâm thời thành lập, ngân sách Đông Dương hụt tới 185 triệu đồng
và nợ tới 564 triệu Ngân khố trung ương chỉ còn 1.200.000 đồng Trong đó có
Trang 21586.000 đồng là hào nát không dùng được Ngân hàng Đông Dương vẫn do người Pháp quản lý và không chịu ứng tiền cho Chính phủ Việt Nam Hơn nữa, sau khi vào Việt Nam, quân Tưởng không chỉ đòi Chính phủ ta phải cung ứng cho chúng những khoản lớn về tiền và của mà còn tung đồng tiền mất giá của chúng vào lưu hành làm cho nền tài chính của ta đã khó khăn lại càng khó khăn hơn
Sau hơn 80 năm “khai hóa” nước ta, thực dân Pháp đã để lại cho xã hội Việt Nam một di sản văn hóa lạc hậu với hơn 90% dân số không biết chữ, các tệ nạn xã hội như mê tín dị đoan, rượu chè, cờ bạc, tràn lan Quân đội còn đang trong quá trình xây dựng, chưa được huấn luyện qua các trường lớp chính quy, vũ khí và phương tiện chiến tranh thiếu thốn, thô sơ Tuy đã được tôi luyện trong 15 năm, kinh nghiệm có được chủ yếu là trong việc lãnh đạo nhân dân đấu tranh cách mạng, nhưng kinh nghiệm quản lí nhà nước của Đảng ta chưa nhiều, nên chính quyền cách mạng từ trung ương đến địa phương vẫn còn rất non trẻ Ở một số nơi, chính quyền còn do địch kiểm soát Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vẫn chưa được các quốc gia công nhận về ngoại giao
Chính quyền cách mạng vừa mới ra đời đã phải chịu sức ép từ mọi phía Ngay sau Cách mạng Tháng Tám, các lực lượng đế quốc, phản động núp dưới danh nghĩa quân Đồng minh giải giáp quân đội Nhật lũ lượt kéo vào nước ta Từ cuối tháng 8/1945, 20 vạn quân Tưởng cùng với bọn phản động người Việt lưu vong kéo vào miền Bắc với mục đích rất rõ ràng là thủ tiêu chính quyền cách mạng, đưa bọn tay sai
ra lập chính quyền bù nhìn và thực hiện chính sách cướp bóc nhân dân Việt Nam Ngày 12/9/1945, các đơn vị đầu tiên của quân đội Anh cùng một bộ phận quân Pháp
đã tới Sài Gòn Mục tiêu của quân Anh cũng không ngoài ý đồ tiêu diệt chính quyền cách mạng, giúp thực dân Pháp quay lại xâm lược nước ta một lần nữa
Lợi dụng ảnh hưởng của quân đội nước ngoài, các lực lượng phản động ngóc đầu dậy ở cả hai miền Ở miền Bắc, bọn tay sai của Tưởng công khai hoạt động chống chính quyền cách mạng Chúng tập hợp bọn địa chủ, tư sản phản động lập ra cái gọi là
“Mặt trận quốc gia chống Pháp” Chúng ra hàng loạt tờ báo tuyên truyền xuyên tạc đường lối chính sách của Đảng và Việt Minh, chia rẽ khối đoàn kết toàn dân do Đảng
ta lãnh đạo Chúng tổ chức mít tinh, biểu tình chống Chính phủ, kích động bãi công, bãi thị, bãi khoá, vu cáo Chính phủ ta là “Việt gian thân Pháp”, đòi Chính phủ phải từ
Trang 22chức và yêu cầu Vĩnh Thụy ra thành lập chính phủ mới Với sự giúp đỡ tích cực của quân Tưởng, bọn Việt Quốc (Việt Nam Quốc dân Đảng) do Nguyễn Tường Tam, Vũ Hồng Khanh cầm đầu, Việt Cách (Việt Nam Cách mệnh Đồng minh Hội) do Nguyễn Hải Thần cầm đầu, tiến hành đánh chiếm các thị xã Móng Cái, Lào Cai, Yên Bái, Phú Thọ, Vĩnh Yên, Bắc Ninh, Hồng Gai, Quảng Yên Chúng lập chính quyền phản động ở thị xã Vĩnh Yên, Yên Bái và Móng Cái Quân Tưởng và tay sai của chúng vào nước ta với mưu đồ tiêu diệt Đảng Cộng sản Đông Dương, lật đổ chính phủ Hồ Chí Minh, lập nên chính quyền tay sai của chúng
Ở miền Nam, hơn 1 vạn quân Anh theo sự thỏa thuận của lực lượng Đồng Minh cũng đã tiến vào nước ta dưới danh nghĩa giải giáp quân đội Nhật Ngay khi tiến vào nước ta, quân Anh đã tái vũ trang cho quân đội Pháp, dọn đường cho thực dân Pháp quay trở lại xâm lược Việt Nam Ngoài quân Anh, Tưởng và Pháp ra, trên khắp nước
ta còn có 6 vạn quân Nhật Lợi dụng việc quân Anh, Pháp tiến vào Sài Gòn, các phe phái phản động lại trỗi dậy hoạt động Nổi lên trong số này là bọn tờrốtkít Được sự che chở của quân Anh, Pháp chúng mở những đợt tuyên truyền, tung ra những khẩu hiệu quá khích, cực đoan gây chia rẽ như “tiêu diệt người da trắng”, “chính quyền về tay công nông”, “thực hiện cách mạng ruộng đất”, vu khống, đả kích Uỷ ban hành chính Nam Bộ, Một số tên phản động trong giáo phái Cao Đài, Hoà Hảo và những nhóm vũ trang thân Nhật cũ câu kết với bọn tờrốtkít âm mưu đảo chính thành lập chính phủ tay sai cho Pháp Các phần tử phản động thân Pháp như Nguyễn Văn Thinh, Nguyễn Văn Tâm, đã ra sức tìm cách chống phá cách mạng, một số đảng phái chính trị phản động mới được thành lập như Đảng Nam Kì do Nguyễn Tấn Cường - một tên mật thám Pháp cũ đứng đầu, Đảng Đông Dương tự trị do Nguyễn Văn Tỵ đứng đầu, chống phá cách mạng Chưa bao giờ, cùng một lúc cách mạng Việt Nam phải đối phó với nhiều loại kẻ thù như thời điểm này Hầu hết bọn chúng đều trực tiếp có mặt trên đất Việt Nam Chúng có thể mâu thuẫn với nhau về lợi ích, nhưng đều thống nhất với nhau trong âm mưu chống cộng sản, thủ tiêu chính quyền cách mạng, xoá bỏ thành quả mà cuộc Cách mạng Tháng Tám vừa giành được
Những khó khăn trên là một thách thức quá lớn đối với Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đang còn non trẻ lúc bấy giờ Việt Nam lúc này đang đứng trước tình thế “ngàn cân treo sợi tóc” Như vậy, đứng trước muôn vàn khó khăn, người đứng đầu
Trang 23Nhà nước cần phải có chính sách kết hợp toàn dân đồng lòng vượt qua gian khó cũng như chính sách đối ngoại nhằm thoát khỏi sự bao vây, cô lập của kẻ thù
1.2.2 Một số thành tựu đạt đƣợc
Trước những khó khăn đang bủa vây lấy đất nước, Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề ra những nhiệm vụ cấp bách Chúng ta vừa phải xây dựng và củng cố chính quyền cách mạng ở các cấp, vừa phải khôi phục kinh tế, giải quyết nạn đói, nạn thất học, vừa phải đấu tranh với các thế lực thù địch để bảo vệ chính quyền cách mạng
và khẳng định vị thế của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận rõ, nếu ở giai đoạn trước khi giành chính quyền, yêu cầu của dân tộc ta là phải lật
đổ nền thống trị của thực dân Pháp thì sau khi đã giành lại được độc lập, điều quan trọng nhất là cần phải có mối quan hệ hoà bình với các quốc gia trên thế giới, hạn chế cùng một lúc phải đối phó với nhiều kẻ thù Do đó, Hồ Chí Minh đã đề nghị ta ký với Pháp Hiệp định Sơ bộ, trong đó Pháp công nhận Việt Nam là một quốc gia tự do, có chính phủ, nghị viện, quân đội và tài chính riêng ở trong Liên bang Đông Dương và Liên hiệp Pháp và có kèm thêm một phụ khoản về việc 15.000 quân Pháp được ra Bắc hợp tác với quân đội Việt Nam Sau khi ký Hiệp định Sơ bộ, đến ngày 18/9/1946, quân Tưởng đã rút hết quân khỏi Việt Nam Như vậy, kẻ thù duy nhất của Việt Nam lúc này chỉ còn là thực dân Pháp Việc ký kết giữa một chính phủ mới thành lập Việt Nam, và Pháp, nước hôm qua còn cai trị Việt Nam được xem như là một sự kiện chưa từng có trong bối cảnh hậu chiến Hiệp định Sơ bộ 6/3/1946 có thể coi là bản hiệp ước quốc tế đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ký với nước ngoài dưới sự chứng kiến của đại diện các nước Mỹ, Anh, Trung Quốc Bản hiệp ước chứng tỏ nước ta là một nước tự do, không còn là nước thuộc địa của Pháp mà ngược lại Pháp phải công nhận Việt Nam là một quốc gia tự do, có chính phủ, nghị viện, quân đội riêng
Đây là một thắng lợi lớn mang ý nghĩa quan trọng về mặt chính trị và ngoại giao của ta Hơn nữa việc ký hiệp định Sơ bộ còn đạt được mục tiêu loại bớt kẻ thù, thúc đẩy quân Tưởng cùng bè lũ tay sai của chúng sớm rời Việt Nam, tránh cho cách mạng Việt Nam cùng lúc đối phó với nhiều kẻ thù Nhân dịp này Chính phủ Pháp mời Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm chính thức nước Pháp Đây cũng coi như một bước tiến mới trong chính sách ngoại giao của Hồ Chí Minh Việc chính phủ Pháp chủ động mời Người thăm chính thức Pháp với tư cách là thượng khách được coi như một sự thừa
Trang 24nhận Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, góp phần nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế
Tiếp đó, từ ngày 16/9/1950 đến tháng 11/1950, quân ta tiến hành chiến dịch Biên giới Thu - Đông, tiêu diệt nhiều sinh lực tinh nhuệ của địch, giải phóng một vùng lãnh thổ rộng lớn giáp với Trung Quốc Chiến thắng này đã làm thay đổi cục diện chiến tranh, mở ra bước ngoặc đưa cuộc kháng chiến của nước ta bước vào giai đoạn “phản công và tiến công”, nối liền Việt Nam với hậu phương xã hội chủ nghĩa rộng lớn và thế giới, tạo điều kiện thuận lợi mới cho cuộc kháng chiến
Để bảo vệ thành công thành quả Cách mạng tháng Tám, Hồ Chí Minh nhận thấy trước hết cần phải xây dựng và củng cố hệ thống chính quyền, tăng cường sức mạnh của bộ máy chính quyền từ Trung ương đến địa phương, làm cho chính quyền đó thực
sự là của dân, do dân và vì dân Do đó, ngày 5/1/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra lời kêu gọi toàn dân đi bỏ phiếu để phát huy quyền làm chủ của mình, tự do lựa chọn và bầu ra người đại diện hợp pháp, xứng đáng để gánh vác việc nước Ngày 6/1/1946, cuộc Tổng tuyển cử diễn ra sôi nổi, mặc dù gặp phải nhiều khó khăn vì diễn ra dưới làn bom đạn của kẻ thù nhưng cuối cùng cũng giành được thành công, thắng lợi, đánh dấu mốc phát triển đầu tiên trong tiến trình xây dựng thể chế dân chủ trên đất nước Việt Nam
Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cũng rất chú tâm vào vấn đề xây dựng chính quyền nhân dân các cấp ở địa phương Sau Cách mạng tháng Tám, về mặt hành chính, chính quyền các cấp ở địa phương gồm cấp kì tỉnh, thành phố, huyện và thị xã Chính quyền nhân dân các cấp từ Trung ương đến địa phương được tổ chức và làm việc theo một tinh thần mới, một chế độ dân chủ mới của dân, do dân và vì dân Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu rõ rằng: “Các cơ quan của chính phủ từ toàn quốc cho đến các làng, đều là công bộc của nhân dân, nghĩa là để gánh vác việc chung cho dân, chứ không phải để đè đầu dân như trong thời kỳ dưới quyền thống trị của Pháp, Nhật Việc
gì lợi cho dân, ta phải hết sức làm Việc gì hại đến dân, ta phải hết sức tránh”1
Về pháp luật, chính phủ đã ban hành nhiều sắc lệnh quan trọng để bảo vệ quyền dân chủ của mọi công dân Việt Nam như Sắc lệnh số 40/SL ngày 29/3/1946 về việc bảo vệ quyền tự do cá nhân; Sắc lệnh số 41/SL quy định chế độ tự do báo chí; Sắc lệnh số
1
Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, tập 4, tr 56-57, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội
Trang 2552/SL ngày 22/4/1946, quy định chế độ tự do lập hội, Dự án luật lao động cũng đã được Quốc hội thông qua ngày 8/11/1946 Bên cạnh đó, Hiến pháp nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã được Quốc hội biểu quyết thông qua ngày 9/11/1946 với 240 phiếu tán thành (trên tổng số 242 phiếu) Bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được xây dựng dựa trên những nguyên tắc:
“Đoàn kết toàn dân, không phân biệt giống nòi, gái trai, giai cấp, tôn giáo
Đảm bảo quyền tự do dân chủ
Thực hiện chính quyền mạnh mẽ và sáng suốt của nhân dân.”
Hiến pháp đã quy định chính thể (Chương I), nghĩa vụ và quyền lợi của công dân (Chương II), Nghị viện nhân dân (Chương III), Chính phủ (Chương IV), Hội đồng nhân dân và Ủy ban hành chính (Chương V), Cơ quan tư pháp (Chương VI) và sửa đổi Hiến pháp (Chương VII)
Về chính thể, Hiến pháp đã ghi rõ:
“Nước Việt Nam là một nước dân chủ cộng hòa” (Điều 1)
“Đất nước Việt Nam là một khối thống nhất: Trung, Nam, Bắc không thể phân chia” (Điều 2)
“Cờ của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa nền đỏ, giữa có sao vàng năm cánh Quốc ca là bài Tiến quân ca Thủ đô đặt ở Hà Nội” (Điều 3)
Về nghĩa vụ và quyền lợi công dân:
“Mọi công dân Việt Nam phải: bảo vệ Tổ quốc, tôn trọng Hiến pháp, tuân theo pháp luật” (Điều 4) và “có nghĩa vụ đi lính” (Điều 5)
“Công dân Việt Nam có quyền: tự do ngôn luận, tự do xuất bản, tự do tổ chức và hội họp, tự do tín ngưỡng, tự do cư trú, đi lại trong nước và ra nước ngoài” (Điều 10)
Về nghị viện nhân dân, “Nghị viện nhân dân là cơ quan có quyền cao nhất của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa” (Điều 22) “Nghị viện nhân dân giải quyết mọi vấn
đề chung cho toàn quốc, đặt ra các pháp luật, biểu quyết ngân sách, chuẩn y các hiệp ước mà chính phủ kí với nước ngoài” (Điều 23) Về chính phủ, “Cơ quan hành chính cao nhất của toàn quốc là chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa” (Điều 43)
“Chính phủ gồm có Chủ tịch nước, Phó chủ tịch và nội các Nội các có Thủ tướng, các
Trang 26Bộ Trưởng, Thứ trưởng Có thể có Phó thủ tướng (Điều 44) Chủ tịch nước được bầu trong thời hạn 5 năm và có thể được bầu lại” (Điều 45)
Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được quy định khá chặt chẽ Qua đó đã khẳng định nền độc lập, chủ quyền quốc gia, sự thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ cũng như quyết tâm bảo vệ và xây dựng Tổ quốc, nền dân chủ cộng hòa Đánh giá về Hiến pháp, Hồ Chí Minh nói: “Đây là bản Hiến Pháp đầu tiên trong lịch
sử nước nhà Hiến pháp đó tuyên bố với thế giới nước Việt Nam đã độc lập, dân tộc Việt Nam đã có đủ mọi quyền tự do, phụ nữ Việt Nam đã được đứng ngang hàng với đàn ông Hiến pháp đó đã nêu lên một tinh thần đoàn kết chặt chẽ giữa các dân tộc Việt Nam, một tinh thần đoàn kết chặt chẽ giữa các dân tộc Việt Nam và một tinh thần liêm khiết, công bình của các giai cấp”2
Lực lượng quân đội cũng được Chính phủ chú tâm xây dựng bởi đó là lực lượng tiên phong, nòng cốt, đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp bảo vệ và xây dựng Tổ quốc Sau cách mạng tháng Tám thành công, giải phóng quân Việt Nam được chấn chỉnh,
mở rộng và đổi tên thành Vệ quốc đoàn Nguyên tắc cơ bản của quân đội là đặt dưới
sự lãnh đạo tuyệt đối của Đảng Những ngày đầu toàn quốc kháng chiến, dưới sự lãnh đạo của Đảng, lực lượng quân đội và công an nhân dân đã giương cao tinh thần “quyết
tử cho Tổ quốc quyết sinh” hết mình chiến đấu và giành thắng lợi trước chiến lược
“đánh nhanh thắng nhanh” của thực dân Pháp Trước âm mưu chống phá của địch, ngày 25/9/1948, Ban Thường vụ Trung ương Đảng ra Chỉ thị số 25-CT/TW về việc đề phòng gián điệp chui vào hàng ngũ Đảng và các cơ quan chính quyền; ngày 5/5/1950, Ban Thường vụ Trung ương Đảng ra Chỉ thị về Đảng lãnh đạo Công an; ngày 12/5/1951, Ban Bí thư Trung ương Đảng ra Chỉ thị số 05-CT/TW về nhiệm vụ và tổ chức Công an, đồng thời chỉ thị cho các cấp ủy đảng cử những cán bộ tin cậy, có đủ trình độ, năng lực, phẩm chất đạo đức, quan tâm, chỉ đạo sát sao các mặt công tác công
an từ cơ sở, địa phương
Về chính sách khôi phục kinh tế Không một quốc gia nào có thể tự do phát triển
và độc lập mà thiếu vắng đi kinh tế Kinh tế không chỉ là khởi nguồn cho sự hồi sinh, động lực cho sự phát triển mà nó còn là tiềm lực, sức mạnh, thước đo sự thịnh vượng, tính độc lập của một quốc gia dân tộc Sau cách mạng tháng Tám năm 1945, chính
2
Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, tập 4, tr 440, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội
Trang 27sách tài chính được Chính phủ ban hành đầu tiên chính là xóa bỏ thuế thân Để động viên nhân dân đóng góp vào công quỹ của Nhà nước, Chính phủ đã quyết định tổ chức Tuần lễ Vàng, Quỹ Độc lập và đã được nhân dân nhiệt liệt hưởng ứng
Đứng trước khó khăn nan giải về hậu quả của nạn đói năm Ất Dậu, trong phiên họp ngày 3/9/1945, theo đề nghị của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Chính phủ đã quyết định phải chống “giặc đói” và phải nhanh chóng phát động phong trào gia tăng sản xuất Nhưng trong khi chờ đợi kết quả của sản xuất, để khẩn cấp cứu đói cho dân, trên cơ sở phát huy truyền thống “nhiễu điều phủ lấy giá gương” của dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kêu gọi nhân dân với tinh thần “nhường cơm, sẻ áo”, “lá lành đùm lá rách” tự nguyện thực hành tiết kiệm, xây dựng các “hũ gạo cứu đói” giúp đỡ các gia đình thiếu
ăn trầm trọng Người đã phát động phong trào “10 ngày nhịn 1 bữa ăn, mỗi tháng 3 bữa, mỗi bữa 1 bơ, đem gạo đó để cứu dân nghèo” và Người đã tiên phong thực hiện trước Bên cạnh đó, Chính phủ còn ban hành một số biện pháp hành chính như cấm dùng gạo vào việc nấu rượu, xóa bỏ mọi hạn chế trong việc lưu thông gạo giữa các vùng trong nước, cấm dân tích trữ thóc gạo, thành lập “Ủy ban tối cao tiếp tế và cứu tế” của Chính phủ Chính phủ đã xác định, khẩu hiệu “Tăng gia sản xuất! Tăng gia sản xuất ngay! Tăng gia sản xuất nữa!” và thực hiện khẩu hiệu “Tấc đất, tấc vàng” là biện pháp cơ bản để giải quyết tận gốc nạn đói
Để hỗ trợ nông dân có thêm ruộng để cày cấy, Chính phủ đã tịch thu ruộng đất của Việt gian và đế quốc, đem chia cho nông dân nghèo thiếu ruộng; chia lại ruộng đất công bằng theo nguyên tắc dân chủ; miễn thuế cho dân vùng bị và chịu ảnh hưởng lũ lụt; giúp đỡ nông dân về vốn, nông cụ, kỹ thuật canh tác, Nhờ sự lãnh đạo sáng suốt, kịp thời của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng với sự nỗ lực của toàn dân, ta đã giành được kết quả lớn về nông nghiệp Năm 1945, dù phải hứng chịu trận lụt lớn, nhưng diện tích lúa mùa ở Bắc Bộ vẫn đạt được 890.000 ha, sản lượng đạt 1.155.000 tấn (năm 1943 là 952.730 tấn và năm 1944 là 832.000 tấn) Diện tích trồng ngô năm
1946 là 212.850 ha, sản lượng đạt 217.020 tấn (năm 1939 là 119.000 ha và sản lượng đạt 140.000 tấn); diện tích trồng khoai lang là 90.000 ha, sản lượng đạt 330.000 tấn (năm 1939 mới có 68.000 ha và sản lượng là 156.000 tấn)3
3
Nguyễn Xuân Minh (2006), Lịch sử Việt Nam 1945 - 2000, tr 38, Nxb Giáo dục, Hà Nội
Trang 28Với số lượng lương thực và hoa màu đó, nhân dân ta không những vượt qua được nạn đói, mà còn duy trì được sức lao động để bảo đảm sản xuất vụ chiêm năm 1946
Vụ thu lúa chiêm năm 1946 ở Bắc Bộ đã tăng hơn vụ chiêm năm 1945 khoảng 100.000 tấn Vụ mùa năm 1946 ở Bắc Bộ đã sản xuất trên một diện tích 890.000 ha với sản lượng 1.155.000 tấn lúa4 Nhận xét thành công này, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã phát biểu: “Đây thực là một kì công của chế độ dân chủ” Nhằm xây dựng nền tiền tệ độc lập, ngày 31/1/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kí sắc lệnh số 18B/SL phát hành giấy bạc Việt Nam từ vĩ tuyến 16 trở vào Nam Với thắng lợi này, ngày 5/4/1946 Chính phủ đã ra Sắc lệnh số 46-SL về việc phát hành giấy bạc tài chính của Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa trong phạm vi cả nước Ðây là một thắng lợi hết sức quan trọng của ngành tài chính trên lĩnh vực tài chính tiền tệ, góp phần quan trọng trong việc tạo nguồn tài chính, phục vụ công cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc Bộ trưởng Bộ Tài chính Phạm Văn Đồng đã viết trong bản báo cáo về tình hình và sự hoạt động của Bộ Tài chính trước Quốc hội năm 1946: “Chúng tôi đã tìm hết mọi cách để giải quyết mọi sự khó khăn, nhưng vì tình hình ngoại giao và vấn đề thực tế nên không thể đem ra áp dụng mọi phương sách cần thiết như ý muốn được Vậy chúng tôi chỉ phải dùng những kế hoạch có tính cách lâm thời để duy trì nền tài chính và đợi đến ngày thi hành một chương trình kiến thiết hoàn bị”5 Ngoài trọng tâm là sản xuất nông nghiệp để khắc phục nạn đói trước mắt và giải quyết vấn đề lương thực một cách ổn định, Chính phủ chú trọng khôi phục sản xuất, kinh doanh trong các ngành kinh tế công thương nghiệp, giao thông vận tải Một mặt, Nhà nước tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất để cho các thương gia người Việt phát triển sản xuất kinh doanh Mặt khác, Nhà nước vẫn để cho các nhà tư bản nước ngoài, trước hết là tư bản Pháp tiếp tục hoạt động kinh doanh, tránh gây cho họ những xáo trộn lớn trong công việc làm ăn ở nước
ta Từ ngày 2/10/1945, Chính phủ cho phép tất cả các nhà tư sản Việt Nam được quyền kinh doanh Cùng với quá trình xây dựng bộ máy chính quyền mới, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà bắt tay vào việc xây dựng khu vực kinh tế quốc doanh Trên lĩnh vực thương nghiệp, Chính phủ Việt Nam hết sức quan tâm, nghiêm cấm các hoạt động đầu cơ tích trữ, chợ đen, mở đường cho lưu thông hàng hoá, kêu gọi các
Trang 29nhà buôn đứng ra kinh doanh; thành lập Phòng Thương mại và Nha Thương vụ Việt Nam để giúp Chính phủ bước đầu nắm các hoạt động thương nghiệp trên thị trường nội địa
Về giao thông vận tải, Chính phủ từng bước quản lí và khai thác kinh doanh hệ thống đường bộ, đường thủy, đường hàng không, thông tin liên lạc và bắt tay vào phục hồi các tuyến đường sắt bị tàn phá trong chiến tranh Thực hiện chủ trương xây dựng nền tài chính độc lập Trước nhu cầu của toàn dân, tiền Việt Nam nhanh chóng chiếm lĩnh thị trường Bắc Bộ và Trung Bộ Ngày 23/11/1946, Quốc hội quyết định cho lưu hành tiền Việt Nam trong cả nước Cho đến trước ngày toàn quốc kháng chiến bùng
nổ, tiền Việt Nam đã căn bản thay thế tiền ngân hàng Đông Dương trên thị trường trong nước Tự chủ được tiền tệ đã một phần giúp Đảng và Nhà nước xây dựng nền tài chính độc lập, khẳng định hơn nữa sự vững chắc của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, làm chủ được nền kinh tế quốc gia, dễ dàng củng cố và giải quyết chi tiêu của Chính phủ, phục vụ sản xuất và đời sống cho nhân dân
Như vậy, sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, bên cạnh những thuận lợi cơ bản, Việt Nam vẫn còn phải đối mặt với nhiều khó khăn, khủng hoảng từ tàn dư của chế độ
cũ, thù trong giặc ngoài Tuy nhiên, dưới sự lãnh đạo sáng suốt, quyết đoán, mưu lược với tầm nhìn xa của Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, và Nhà nước, dân tộc Việt Nam đã dần có vị thế ổn định trên trường quốc tế, đã khẳng định được chủ quyền, lãnh thổ quốc gia qua hàng loạt các chính sách và biện pháp hành chính đối với việc xây dựng, hoàn thiện, phát triển bộ máy chính quyền nhân dân đồng thời cũng đã có khả năng tự làm chủ nền kinh tế, tài chính quốc gia
1.3 Tình hình Việt Nam những năm 1950 – 1954
1.3.1 Đất nước thoát khỏi bao vây cô lập
Tuy Việt Nam đã tuyên bố độc lập từ năm 1945, thế nhưng, các thế lực thực dân,
đế quốc quyết không từ bỏ ý đồ xâm lược, thống trị nước ta Thực dân Pháp núp bóng quân Anh quay trở lại miền Nam, rồi sau đó thoả thuận với quân Tưởng để tiến ra Bắc Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân cả nước đã anh dũng đứng lên kháng chiến chống thực dân Pháp Dù vậy, trong suốt 5 năm, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa phải chiến đấu trong vòng vây của kẻ thù, tình thế vô cùng khó khăn Chiến tranh mở rộng khắp nước, Việt Nam ở trong thế phòng ngự và cầm cự là
Trang 30chính, chiến trường bị chia cắt, căn cứ địa Việt Bắc cũng nằm trong vòng vây của quân Pháp Các nhu cầu thiết yếu cho chiến tranh như vũ khí, lương thực, thuốc men,… đều thiếu thốn Về đối ngoại, Việt Nam đã cố gắng thiết lập được một số cơ sở ở bên ngoài như văn phòng thông tin ở Bangkok nhưng hiệu quả rất thấp Trong khi đó, các thư gửi Liên hợp quốc, chính phủ Mỹ, Liên Xô,… của Chủ tịch Hồ Chí Minh đều không nhận được lời phúc đáp Liên Xô - đầu tàu của các nước xã hội chủ nghĩa vẫn chưa hiểu được cuộc kháng chiến của ta Có thể nói, đó là giai đoạn kháng chiến Việt Nam trong tình thế vô cùng khó khăn, không có đồng minh, không có viện trợ nước ngoài
Năm năm chiến đấu trong vòng vây, cũng là năm năm Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh suy tính ngày đêm, có những bước chuẩn bị cần thiết để nắm thời cơ, xoay chuyển tình thế của cuộc kháng chiến Trong suốt thời gian đầu kháng chiến chống Pháp, Người luôn theo dõi sát sao sự phát triển của cách mạng Trung Quốc, chủ trương phối hợp với Quân giải phóng Trung Quốc chống quân Tưởng Giới Thạch, để mở đường thông ra thế giới Ngay từ đầu cuộc kháng chiến chống Pháp, Việt Nam đã có liên hệ với Nam lộ Bát lộ quân Trung Quốc ở Hoa Nam và Bộ Tư lệnh biên khu Điền Quế gần biên giới Việt - Trung Đầu năm 1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh
và Thường vụ trung ương đã tiếp các phái viên của Đảng Cộng sản Trung Quốc sang Việt Bắc nhằm trao đổi tình hình và bàn bạc phối hợp chiến đấu ở vùng biên giới Từ tháng 6 đến tháng 10/1949, theo đề nghị của Trung Quốc, Đảng đã cử một số đơn vị quân đội phối hợp với bạn tiến công quân Tưởng, mở rộng vùng giải phóng của Trung Quốc ở Ung Châu và Thập Vạn Đại Sơn
Sau khi cách mạng Trung Quốc thắng lợi, nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa ra đời ngày 1/10/1949 tạo ra một bước ngoặt trong tình hình châu Á và thế giới, làm thay đổi cán cân lực lượng giữa hai phe tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa, tác động tích cực đến cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam Đến ngày 5/12/1949, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi điện tới Chủ tịch Mao Trạch Đông chúc mừng việc thành lập Chính phủ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và tỏ ý hy vọng mối quan hệ anh em giữa hai dân tộc Việt – Trung sẽ ngày càng mật thiết
Ngày 14/1/1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh công bố tuyên bố của Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cùng Chính phủ các nước trên thế giới “sẵn sàng đặt quan hệ ngoại giao với Chính phủ nước nào tôn trọng quyền bình đẳng, chủ quyền
Trang 31lãnh thổ, chủ quyền quốc gia của nước Việt Nam để cùng nhau bảo vệ hòa bình và xây đắp dân chủ thế giới”6 Tuyên bố này đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc các nước công nhận về mặt ngoại giao với nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
Ngày 15/1/1950, Việt Nam Dân chủ Cộng hoà tuyên bố công nhận Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa Đến ngày 18/1/1950, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa công nhận nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Việc Trung Quốc công nhận nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà là một sự kiện quan trọng đối với ta, mở ra hàng loạt các thắng lợi ngoại giao khác khi các quốc gia khác lần lượt công nhận nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
là đại diện hợp pháp duy nhất của nhân dân Việt Nam
Việc thiết lập quan hệ nhà nước giữa nước ta với các nước xã hội chủ nghĩa mở ra bước ngoặt mới trong quan hệ của Đảng và Nhà nước Việt Nam Điều đó cũng ảnh hưởng rất lớn đến cuộc kháng chiến hiện thời Với sự thừa nhận của các nước bạn, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đã bắt đầu có địa vị trên trường quốc tế “Từ nay chúng ta công nhiên đứng vào hàng ngũ các nước dân chủ thế giới do Liên Xô lãnh đạo chống bọn đế quốc gây chiến do Mỹ cầm đầu Nước ta là một tiền đồn trong phòng tuyến dân chủ chống đế quốc ở Đông Nam châu Á, chúng ta được sự ủng hộ nhiệt liệt của Liên Xô, Trung Hoa, các nước dân chủ khác và của nhân dân toàn thế giới”7
Sau đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn chủ trương tăng cường các hoạt động đoàn kết, giúp đỡ cuộc kháng chiến của nhân dân Lào và Campuchia phát triển Ngày 11/3/1951, Hội nghị nhân dân ba nước Đông Dương được tổ chức Hội nghị quyết định thành lập khối Liên minh chiến đấu Việt - Miên - Lào trên nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng tương trợ và tôn trọng chủ quyền của nhau Việc thành lập khối liên minh nhân dân ba nước Đông Dương là nhân tố mới cực kì quan trọng trong tình hình Đông Dương đang có chuyển biến, gắn bó và tiếp thêm sức mạnh cho cả nhân dân ba nước Cùng với việc thiết lập và mở rộng ngoại giao Nhà nước, hoạt động ngoại giao nhân dân cũng phát triển Trong thời gian này, Chính phủ ta cử đoàn đại biểu tham dự Đại
Trang 32hội hoà bình thế giới lần thứ hai tại Vacsava (11/1950), tham dự Hội nghị hoà bình châu Á - Thái Bình Dương tại Bắc Kinh (10/1952),
Việc mở rộng hoạt động đối ngoại, nhất là sự giúp đỡ của các nước xã hội chủ nghĩa là một nhân tố quan trọng đảm bảo thắng lợi cho cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam, nhưng cuộc kháng chiến của Việt Nam cũng góp phần vào sự nghiệp cách mạng thế giới “Nếu nhân dân Đông Dương có bổn phận giữ cái pháo đài hoà bình ở Đông Nam châu Á này, thì các lực lượng hoà bình dân chủ thế giới cũng có bổn phận tích cực giúp đỡ nhân dân Đông Dương hơn nữa” Nhân dân Việt Nam không bị động,
ỷ lại vào sự giúp đỡ bên ngoài nhưng luôn coi trọng mọi sự giúp đỡ quốc tế Thực tế cuộc kháng chiến giai đoạn 1950 – 1954 cho thấy, sự giúp đỡ quốc tế mà chủ yếu là của Trung Quốc và Liên Xô cũng giúp tăng thêm sức mạnh về vật chất lẫn tinh thần chiến đấu của quân và dân ta Việt Nam cũng đã học tập và vận dụng thành công một
số kinh nghiệm của các nước anh em, trong đó có kinh nghiệm của cách mạng Trung Quốc, nhất là những kinh nghiệm tác chiến và huấn luyện quân đội Trung Quốc đã cử
cố vấn sang giúp Việt Nam và viện trợ cho Việt Nam về vũ khí và lương thực,… Tính
từ tháng 12/1950 đến tháng 6/1954, Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã nhận được viện trợ của quốc tế là 21.517 tấn vật chất – bao gồm vũ khí đạn dược, nguyên liệu quân giới, vận tải xăng dầu, gạo, thực phẩm, quân trang, quân y, thông tin, công binh Tổng số viện trợ trị giá 136 triệu nhân dân tệ Trong số đó, vũ khí trang bị
kĩ thuật gồm có 24 khẩu sơn pháo 75 li, 24 khẩu lựu pháo 105 li, 76 khẩu pháo cao xạ
37 li (của Liên Xô), 12 khẩu pháo hỏa tiễn H6 (của Liên Xô), 715 xe ô tô vận tải
Sự giúp đỡ cả về vật chất lẫn tinh thần đó trong hoàn cảnh kháng chiến đầy khó khăn của Việt Nam là rất đáng quý, giúp cho quân đội ta có thêm vũ khí hiện đại để phục vụ cho một số chiến dịch lớn ở giai đoạn cuối của kháng chiến, cổ vũ mạnh mẽ tinh thần kháng chiến của nhân dân ta Đó là một thành công trong việc thực hiện chính sách đối ngoại của Đảng, là một trong những nguyên nhân thắng lợi của cuộc kháng chiến
Như vậy, từ tình thế bị bao vây, cô lập, giờ đây Việt Nam đã được sự công nhận của các quốc gia trên thế giới Đánh giá thắng lợi này, Chủ tịch Hồ Chí Minh không khỏi vui mừng: “Mấy năm kháng chiến đã đưa lại cho nước ta một cuộc thắng lợi to nhất trong lịch sử Việt Nam, tức là hai nước lớn trên thế giới - Liên Xô và Trung Quốc
Trang 33dân chủ, và các nước dân chủ mới đã thừa nhận nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà là một nước ngang hàng trong đại gia đình dân chủ thế giới”8
1.3.2 Cuộc kháng chiến chống Pháp bước vào giai đoạn kết thúc
Việc các nước xã hội chủ nghĩa công nhận nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là một bước ngoặt to lớn trong lịch sử ngoại giao của nước Việt Nam mà vai trò quan trọng nhất ở đây là chủ tịch Hồ Chí Minh Chiến thắng ngoại giao này mở ra một bước tiến mới trong giai đoạn kháng chiến của nhân dân Việt Nam Từ một nước bị bao vây, cô lập, Việt Nam giờ đây đã có được sự ủng hộ của hơn 800 triệu dân trên toàn thế giới cùng chiến đấu chống đế quốc Chính sách “làm bạn với mọi nước dân chủ và không gây thù oán với một ai” và phương châm “thêm bạn bớt thù” phản ánh một chủ trương đối ngoại rộng mở, góp phần hoá giải được tình thế khó khăn do hoàn cảnh quốc tế đem lại, chuẩn bị đưa cuộc kháng chiến bước sang giai đoạn mới
Trong khi đó ở quốc tế, các cường quốc cũng có sự điều chỉnh chính sách đối ngoại của mình Sau khi Stalin mất vào đầu năm 1953, Liên Xô phấn đấu làm dịu tình hình quốc tế căng thẳng, tạo điều kiện thuận lợi xây dựng đất nước Liên Xô chủ trương đi tới giải pháp hòa bình cho vấn đề Đông Dương, như Triều Tiên đã làm tại Hiệp định Bàn Môn Điếm để chấm dứt cuộc chiến tranh Triều Tiên trước khi đế quốc
Mỹ mở rộng cuộc chiến tranh Trung Quốc cũng chủ trương sớm giải quyết hòa bình ở Đông Dương để ngăn chặn đế quốc Mỹ, đảm bảo hòa bình an ninh cho Trung Quốc và khu vực Viễn Đông Ngày 24/8/1953, Thủ tướng Chu Ân Lai tuyên bố: “Cuộc đình chiến ở Triều Tiên có thể làm mẫu mực cho những cuộc xung đột khác”9 Tờ “Nhân dân Nhật báo” ngày 3/9/1953 đăng bài xã luận tố cáo Mỹ tìm cách mở rộng sự xâm lược đối với các nước láng giềng của Trung Quốc ở Đông Nam Á và khẳng định: “Dư luận ở châu Á và phần còn lại của thế giới đòi hỏi rằng cuộc đình chiến ở Triều Tiên phải đưa đến hoà bình ở toàn châu Á”10 Từ ngày 8 đến ngày 14/9/1953, các đài phát thanh Bắc Kinh, Côn Minh nói về khả năng chấm dứt chiến tranh Đông Dương theo
Trang 34kiểu đình chiến ở Triều Tiên Với đế quốc Anh, một nước bị suy yếu nhiều sau Đại chiến thế giới lần hai và bị mất nhiều thuộc địa ở Nam Á nhưng vẫn còn nhiều quyền lợi ở Đông Nam Á, cũng chủ trương sớm giải quyết hoà bình vấn đề Đông Dương, không muốn để cho cuộc chiến tranh ở đây mở rộng và bị quốc tế hoá
Bên cạnh đó, cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam chống thực dân Pháp và can thiệp Mỹ đã góp phần làm suy yếu chủ nghĩa đế quốc, tăng thêm sức mạnh đấu tranh cho phong trào giải phóng dân tộc và bảo vệ hoà bình ở châu Á và trên thế giới, ngày càng được sự đồng tình và ủng hộ của nhân loại tiến bộ Ngày 10/9/1953, Uỷ ban Thường trực Hội đồng Hoà bình thế giới thông qua nghị quyết kêu gọi nhân dân các nước đẩy mạnh đấu tranh đòi chấm dứt chiến tranh, giải quyết hoà bình vấn đề Đông Dương Sự kiện đáng chú ý là Đại hội Công đoàn thế giới lần thứ 3 thay mặt cho hơn
88 triệu công nhân của 79 nước, họp tại Viên (Áo) vào tháng 10/1953, nhất trí quyết định lấy ngày kỷ niệm toàn quốc kháng chiến của Việt Nam (19/12/1953) làm ngày Lao động thế giới “Đoàn kết tích cực với nhân dân Việt Nam, đòi chấm dứt chiến tranh xâm lược Việt Nam”11
Vào lúc này, chính giới Pháp cũng đã bắt đầu tính đến việc giải quyết hoà bình cuộc chiến tranh ở Đông Dương Cuộc chiến tranh kéo dài đã làm cho nước Pháp bị
suy yếu và lâm vào những khó khăn kinh tế - xã hội trầm trọng Những cuộc khủng
hoảng nội các diễn ra liên miên; phong trào phản đối chiến tranh của nhân dân Pháp ngày càng mạnh, dư luận thế giới lên án cuộc chiến tranh mà Pháp gây ra đối với Việt Nam Trước tình hình đó, giới cầm quyền Pháp lúng túng, nội bộ bị phân hoá, ý chí xâm lược bị lung lay, xu hướng muốn giải quyết cuộc chiến tranh thông qua thương lượng ngày càng phát triển Tuy vậy, trước tình hình quân sự ngày càng bất lợi ở Đông Dương, bọn thực dân Pháp hiếu chiến vẫn cố tranh thủ thêm viện trợ Mỹ, tập trung mọi cố gắng đẩy mạnh chiến tranh hòng tìm ra “một lối thoát danh dự” Ngày 8/5/1953, tướng Hăngri Nava được cử làm Tổng chỉ huy quân đội viễn chinh Pháp thay tướng Xalăng Đồng thời, “Kế hoạch Nava” dưới sự viện trợ 385 triệu đôla từ Mỹ cũng được Chính phủ Pháp thông qua vào tháng 7/1953 để cải thiện tình hình quân sự, làm cơ sở cho một giải pháp chính trị trong danh dự Bên cạnh đó, trong chuyến sang
11
Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam (1994), Lịch sử cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 – 1954), tập 2, tr 446, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội
Trang 35Đông Dương thị sát tại chỗ ngày 23/11/1953, Phó Tổng thống Mỹ Níchxơn tuyên bố với các sĩ quan Pháp và bù nhìn rằng, trong bất cứ trường hợp nào cũng không thể đàm phán với ta Bởi vậy, cùng với việc tăng cường mở rộng chiến tranh đi đôi với việc lợi dụng sự suy yếu của Pháp, Mỹ còn thực hiện mưu đồ từng bước nắm và củng cố nguỵ quân, nguỵ quyền (giành quyền trực tiếp huấn luyện và cung cấp trang bị cho nguỵ quân) và sớm đưa thế lực tay sai về thay thế chính quyền do Pháp lập ra
Trước tình hình đó, Hồ Chí Minh đã nhận định: “Triều Tiên cho ta thấy kinh nghiệm là phải đánh bao giờ cho đế quốc quỵ, nó biết không thể đánh được nữa, nó mới chịu đàm phán Đừng có ảo tưởng mình muốn đàm phán là nó đàm phán” “Ta cũng phải đánh cho Pháp quỵ Lúc ấy, có đàm phán mới đàm phán, chứ không phải đưa đàm phán ra là nó đàm phán ngay đâu Đừng có ảo tưởng Mục đích của nó là xâm lược Nó mất 99% còn hy vọng 1%, nó vẫn đánh Phải đánh cho nó quỵ mới chịu”12 Ngày 26/11/1953, trả lời phỏng vấn báo Expressen của Thụy Điển về vấn đề chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Cuộc chiến tranh ở Việt Nam là do Chính phủ Pháp gây ra Nhân dân Việt Nam phải cầm vũ khí anh dũng chiến đấu bảy, tám năm nay chống kẻ xâm lược để bảo vệ nền độc lập và quyền tự do được sống hòa bình Hiện nay, nếu thực dân Pháp tiếp tục cuộc chiến tranh xâm lược thì nhân dân Việt Nam quyết tâm tiếp tục cuộc chiến tranh ái quốc đến thắng lợi cuối cùng Nhưng nếu Chính phủ Pháp đã rút được bài học trong cuộc chiến tranh mấy năm nay, muốn đi đến đình chiến ở Việt Nam bằng cách thương lượng và giải quyết vấn đề Việt Nam theo lối hòa bình thì nhân dân và Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sẵn sàng tiếp ý muốn đó… Cơ sở của việc đình chiến ở Việt Nam
là chính phủ Pháp thật thà tôn trọng nền độc lập thật sự của nước Việt Nam”13
Tuyên bố của Hồ Chí Minh xuất phát từ nguyện vọng hòa bình của nhân dân ta, nhân dân Pháp và nhân dân thế giới Song hòa bình cũng như độc lập phải đấu tranh gian khổ mới giành được, chính vì thế Việt Nam phải đẩy mạnh kháng chiến, buộc Pháp thất bại thì mới có cơ hội kết thúc chiến tranh Bằng những nỗ lực của Chủ tịch
Hồ Chí Minh và Đảng ta mà vấn đề Việt Nam và vấn đề Đông Dương lúc này đã trở thành điểm nóng của dư luận thế giới quan tâm theo dõi Chính phủ cũng như dư luận
Trang 36nhiều nước khác đều đồng tình đấu tranh mạnh mẽ thúc đẩy xu thế đòi rút quân, chấm dứt chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp Đó là nhân tố thuận lợi cho sự nghiệp đấu tranh cách mạng của nhân dân ta
Tháng 11/1953, Nava cho quân nhảy dù xuống Điện Biên Phủ, xây dựng nơi này thành một tập đoàn cứ điểm hùng mạnh, làm bàn đạp chiếm lại Tây Bắc, bảo vệ Lào, đồng thời giữ chân quân chủ lực của ta ở Việt Bắc để quân Pháp rảnh tay hoạt động ở đồng bằng Bắc Bộ và đánh chiếm Liên khu 5 Với khẩu hiệu “Tất cả cho tiền tuyến, tất
cả để chiến thắng”, quân và dân ta tích cực chuẩn bị cho chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ Trong thư gửi Đại tướng Võ Nguyên Giáp vào tháng 12/1953, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh: “Chiến dịch này là một chiến dịch rất quan trọng không những về quân sự mà cả về chính trị, không những đối với trong nước mà cả đối với quốc tế Vì vậy, toàn dân, toàn quân, toàn Đảng phải tập trung hoàn thành cho kỳ được”14
Sau 55 ngày đêm chiến đấu anh dũng, đến ngày 7/5/1954, quân và dân ta đã tiêu diệt tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ Chiến thắng Điện Biên Phủ là chiến thắng lớn nhất của quân và dân ta trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược và bọn can thiệp Mỹ, là một trong những trận tiêu diệt lớn nhất trong lịch sử đấu tranh vũ trang của các dân tộc nhỏ chống bọn đế quốc và thực dân Chiến thắng này đã đập tan
cố gắng cao nhất và cuối cùng của bọn can thiệp Mỹ hòng giành thế mạnh về quân sự, đập tan ý chí xâm lược của thực dân Pháp Đồng thời, chiến tranh du kích phát triển mạnh ở vùng đồng bằng Bắc Bộ, ở miền Nam và nhiều nơi khác càng làm cho quân đội Pháp và nguỵ quân rệu rã
Đúng một ngày sau, 8/5/1954, Hội nghị Giơ-ne-vơ chính thức khai mạc Ngày 21/7/1954, Hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết buộc Pháp phải chấm dứt chiến tranh xâm lược, rút quân về nước và công nhận độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam Hiệp định đã đặt cơ sở chính trị và pháp lý quan trọng cho cuộc đấu tranh giải phóng hoàn toàn đất nước, buộc các nước đế quốc phải công nhận
và cam kết tôn trọng các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân Việt Nam Đây có thể nói
là một bước tiến xa so với Hiệp định Sơ bộ 6/3/1946 giữa Việt Nam và Pháp, đưa một nửa đất nước hoàn toàn giải phóng trở thành căn cứ địa vững chắc để tiến lên hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ ở miền Nam, thống nhất đất nước Báo cáo
14
Viện Lịch sử Đảng (1984), Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, tr 691, Nxb Sự thật, Hà Nội
Trang 37Chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng tại Đại hội III vào tháng 9/1960 đã nhận định: “Việc lập lại hoà bình ở Đông Dương, hoàn toàn giải phóng miền Bắc Việt Nam, và đặt cơ sở pháp lý cho việc thống nhất nước Việt Nam là một thắng lợi to lớn của nhân dân ta, đồng thời cũng là một thắng lợi của các lực lượng xã hội chủ nghĩa, hoà bình và dân chủ trên thế giới Nó phản ánh tình hình lực lượng so sánh ở Đông Dương và trên thế giới lúc bấy giờ Thắng lợi to lớn đó không những tạo ra khả năng
để thực hiện hoà bình thống nhất nước ta trên cơ sở độc lập và dân chủ, mà còn tạo những điều kiện thuận lợi cho cách mạng ở miền Bắc tiến lên một giai đoạn mới”15
Tiểu kết chương 1
Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, dưới sự lãnh đạo của Đảng, hệ thống chính quyền cách mạng - đại diện cho quyền lợi của nhân dân lao động đã được thiết lập trên cả nước từ trung ương đến cơ sở Mặt trận dân tộc thống nhất, trong điều kiện mới đã có những bước phát triển mạnh mẽ Lực lượng vũ trang nhân dân được hình thành trong cách mạng, tuy còn ít về số lượng, vũ khí trang bị còn thô sơ, nhưng đã trở thành một lực lượng quan trọng bảo vệ chế độ mới Uy tín chính trị của Đảng ngày càng được củng cố và phát triển Bằng đường lối đúng đắn, sáng suốt và bản lĩnh kiên cường, sẵn sàng hy sinh vì quyền lợi của dân tộc, Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn giữ vững vai trò lãnh đạo cách mạng
Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra đời, Đảng và nhân dân Việt Nam có bộ máy chính quyền nhà nước làm công cụ để xây dựng và bảo vệ đất nước Nhân dân Việt Nam có truyền thống yêu nước và truyền thống cách mạng nên có quyết tâm bảo
vệ chế độ mới Đây chính là nguồn sức mạnh vô tận giúp cho chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa non trẻ vượt qua những khó khăn thử thách của giai đoạn lịch
sử này Đảng và Nhà nước ta có uy tín đối với nhân dân, được nhân dân ủng hộ, giờ đây đã vững vàng sau 15 năm thử thách, tôi luyện Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ là người đứng đầu của Đảng mà còn là lãnh tụ có uy tín và sức thuyết phục lớn trong toàn dân Người thật sự là niềm tin, niềm tự hào và là linh hồn của cả dân tộc, là trung tâm đoàn kết toàn dân trong công cuộc đấu tranh để xây dựng và bảo vệ chế độ cộng
15
Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), Văn kiện Đảng Toàn tập, tập 21, tr 502-503, Nxb Chính trị quốc
gia, Hà Nội
Trang 38hoà dân chủ Đây là điều kiện hết sức thuận lợi và là chỗ dựa vững chắc của Đảng và Chính phủ trong quá trình đấu tranh chống thù trong giặc ngoài
Trên thế giới, thắng lợi của Hồng quân Liên Xô cùng với việc ra đời của một loạt nước dân chủ nhân dân và sự phát triển mạnh mẽ của phong trào giải phóng dân tộc là nguồn cổ vũ to lớn đối với cuộc đấu tranh của nhân dân ta nhằm bảo vệ và phát triển những thành quả cách mạng vừa giành được Hệ thống chủ nghĩa xã hội16 đang hình thành, phong trào giải phóng dân tộc dâng cao ở các nước thuộc địa và phụ thuộc, phong trào đấu tranh vì hoà bình, dân chủ phát triển ở nhiều nước tư bản chủ nghĩa Phong trào cách mạng thế giới phát triển mạnh mẽ, đặc biệt là ở các nước Đông Nam
Á và Trung Quốc17 đã cổ vũ nhân dân ta trong quá trình xây dựng và bảo vệ thành quả của cách mạng tháng Tám
Ba Lan, Cộng hòa Nhân dân Rumani ra đời Năm 1945: Cộng hoà Nhân dân Hung-ga-ry , Cộng hòa Nhân dân An-ba-ni, Cộng hòa Nhân dân Bung-ga-ry, Cộng hòa Tiệp Khắc, Cộng hòa Liên bang Nam
Tư, 7/10/1949, Cộng hòa Dân chủ Đức thành lập
Chính quyền dân chủ nhân dân mới được thành lập ở Đông Âu đều là chính quyền liên hiệp của nhiều giai cấp và đảng phái khác nhau Trong đó, giai cấp tư sản vẫn còn rất mạnh và chúng luôn tìm cách để giành lấy chính quyền, đưa các nước Đông Âu trở lại con đường tư bản chủ nghĩa Trước tình hình đó, lực lượng Hồng quân Liên Xô đang đóng quân ở các nước Đông Âu đã hỗ trợ giai cấp vô sản loại bỏ giai cấp tư sản ra khỏi bộ máy chính quyền, thực hiện chuyên chính vô sản và tiến hành những cải cách dân chủ
Đến năm 1949, các nước Đông Âu đã hoàn thành cách mạng dân chủ nhân dân và bắt đầu chuyển sang xây dựng cách mạng xã hội chủ nghĩa Như vậy, chủ nghĩa xã hội từ phạm vi một nước (1917) đã lan rộng khắp Đông Âu, mở rộng đến Trung Quốc (01/10/1949), trở thành một hệ thống thế giới”
Trang 39Nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa ra đời kéo theo hành lang địa lý – chính trị
của phe chủ nghĩa xã hội đã kéo dài tới biên giới Việt – Trung Đến năm 1950, ta đã thu
được một đại thắng lợi chính trị đó là việc các chính phủ Trung Quốc, Liên Xô và các
nước xã hội chủ nghĩa lần lượt công nhận và đặt quan hệ ngoại giao với Chính phủ ta
Trên cơ sở sự giúp đỡ của các nước anh em, chúng ta đã tiến hành đẩy mạnh kháng
chiến toàn dân, toàn diện và bên cạnh đó tiến hành cải tổ, kiện toàn hệ thống chính trị
nhằm đáp ứng nhu cầu thực tiễn đặt ra
Dù phải đối diện với muôn vàn khó khăn, thử thách khi phải cùng lúc đối phó
với ba loại giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm, thế nhưng dưới sự lãnh đạo sáng suốt,
quyết đoán, mưu lược với tầm nhìn xa của Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh
đã thực thi những chính sách đối nội, đối ngoại mềm dẻo, tìm kiếm cơ hội thiết lập
quan hệ với các quốc gia trên thế giới, Nhà nước, dân tộc Việt Nam đã dần có vị thế
ổn định trên trường quốc tế Cùng với sự giúp đỡ của Liên Xô, Trung Quốc và những
thắng lợi trên mặt trận quân sự đã đưa đến chiến thắng Điện Biên Phủ và một hội nghị
quốc tế được tổ chức, theo đó một nửa Việt Nam tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội
Trang 40CHƯƠNG 2 HOẠT ĐỘNG NGOẠI GIAO TIÊU BIỂU CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH
VỚI MỘT SỐ NƯỚC TRONG NHỮNG NĂM 1946 – 1954
2.1 Một số khái niệm
Khái niệm nước lớn
Nước lớn là những quốc gia có diện tích rộng, dân số đông và có nguồn lực phát triển vượt trội so với nhiều nước khác Đây là những nước có tiềm lực, sức mạnh và ảnh hưởng vượt trội về kinh tế, chính trị, văn hoá, quân sự, ngoại giao, đồng thời có khả năng ảnh hưởng, chi phối, định hình chính sách và hành vi của các quốc gia khác trên thế giới Bên cạnh đó, các nước lớn còn chi phối sự vận động của hệ thống quan hệ quốc
tế, các xu thế quốc tế và việc giải quyết các vấn đề toàn cầu
Hiện nay, không có một nhận thức thống nhất hay một định nghĩa chung về nước lớn Việc phân chia nước lớn - nước nhỏ phụ thuộc vào góc nhìn của mỗi quốc gia dựa trên so sánh tương quan sức mạnh, vị thế và ảnh hưởng của quốc gia đó với các quốc gia khác Theo đó, một quốc gia có thể là nước nhỏ trong mối quan hệ này nhưng lại được xem là nước lớn trong mối quan hệ với những nước khác và ngược lại18
Khái niệm nước nhỏ
Nước nhỏ (tiếng Anh: Small power) là một nước có chủ quyền, sở hữu sức mạnh thấp nhất trong cách phân chia sức mạnh của các cường quốc trên thế giới
Vào cuối thế kỷ 16, nhà tư tưởng chính trị Ý Giovanni Botero đã chia thế giới thành ba loại nước (theo tiếng Ý) - grandissime (đế quốc), mezano (trung cường) và piccioli (các cường quốc nhỏ) Tương ứng trong tiếng Anh là great power, middle power, small power Trong đó, small power là khái niệm chỉ một nước có năng lực quốc gia (sức mạnh tổng hợp quốc gia) ở mức độ nhỏ Power được dùng chỉ năng lực quốc gia (sức mạnh tổng hợp quốc gia) theo nghĩa chung, nhưng trong tiếng Việt thường được dịch thành khái niệm “Cường” với một ý nghĩa mang sắc thái rất khác, nó mang tính chất nhấn mạnh mức độ của tình trạng
18
Barry Buzan (1991), People, States, and Fear: An Agenda for International Security Studies in the Post-Cold War Era, Nxb Harvester Wheatsheaf, New York.