Yêu cầu của khối bột dẻo là có thể chất đồng nhất, độ dẻo dai, sờ không dính tay, không dính dụng cụ,… Mà bột dược liệu có độ dính thấp,nên phải dùng tá dược dính có độ dính cao để liên
Trang 1CÁC SƠ ĐỒ QUY TRÌNH SẢN XUẤT
Nhóm thuốc: giảm đau, hạ sốt
Liều dùng: Với người lớn và trẻ em trên 11 tuổi, liều thường dùng để uống hoặt đặt trựctràng là 325 – 650 mg, cứ 4 – 6 giờ một lần khi cần thiết, nhưng không quá 4g một ngày
Trẻ em: 60 – 150 mg/kg/ngày x 2 – 8 ngày
Người lớn: 4 – 6 g/ngày x nhiều ngày hoặc 3g/ngày x 1 năm
Khi dùng dạng thuốc đạn thì đặt sâu khoảng bao nhiêu?
2 Giai đoạn 1: Phản ứng nitroso hóa
2.1 Vì sao dùng phương pháp nitroso hóa chứ không phải nitro hóa?
Nitro hóa: tạo ra 2 đồng phân –o và –p → phải tốn thêm 1 bước để tách 2 đồng phân để lấyriêng đồng phân -p
Nitroso hóa: chỉ tạp ra 1 sản phẩm là –p → lựa chọn phương pháp này
2.2.Vì sao điều chế HNO 2 ngay trong lúc làm mà không điều chế sẵn?
HNO2 là một acid yếu, dễ bị phân hủy ở điều kiện thường → chỉ điều chế ngay trước lúclàm và phải cho phản ứng ngay với phenol
2.3.Vì sao cho từ từ H 2 SO 4, ở sát đáy cốc?
Để sát đáy cốc: vì ở vị trí này động năng của cánh khuấy là mạnh nhất, khi cho acid vào thì
sẽ dễ phân tán vào dung dịch, do đó tăng hiệu suất tạo ra HNO2 và tăng sự tiếp xúc củaHNO2 với phenol
Cho H2SO4 từ từ:
Trang 2 Để lượng HNO2 tạo ra vừa đủ để phản ứng hết với phenol → Hạn chế lượng HNO2 tạo
ra bị phân hủy Nếu cho nhanh và nhiều thì lượng NO+ tạo ra nhiều → tạo ra nhiều hợpchất thế → tạo tạp và giảm hiệu suất
Acid H2SO4 là một acid mạnh, có tính háo nước và khi phản ứng sẽ tỏa nhiệt Mà yêucầu nhiệt độ của phản ứng là <10oC (tối ưu là 7 – 8oC)→ cho từ từ và sát đáy (dưới bềmặt nước đá) để tránh hiện tượng tỏa nhiệt cục bộ
2.4.Vì sao duy trì ở nhiệt độ <10 o C?
Vì đây là điều kiện để phản ứng nitroso hóa xảy ra
2.5.Vì sao đưa về pH = 4 – 5?
Để loại bỏ hết acid H2SO4 dư vì tác nhân ở giai đoạn 2 là Na2S, nếu acid còn thừa thì sẽphản ứng với Na2S → giảm hiệu suất phản ứng của giai đoạn sau
Sản phẩm p-nitrosophenol bền ở pH = 4 – 5
3 Giai đoạn 2: Phản ứng khử hóa
3.1.Khái niệm: Khử hóa là quá trình nhận thêm điện tử của một nguyên tử hoặc ion.
Tác nhân khử là Na2S, là tác nhân khử mạnh, có tính hút ẩm → không điều chế sẵn
3.4.Vì sao cho NaOH và S vào phải khuấy nhẹ (chứ không được khuấy mạnh)?
Vì nếu khuấy mạnh thì O2 không khí đi vào dung dịch nhiều sẽ oxy hóa hết tác nhân khử
mà phản ứng tạo ra là Na2S
3.5.Vì sao điều chế tác nhân khử phải đun thêm 60 phút?
Mục đích là để thủy phân hết các polysulfid tạo ra khi NaOH tác dụng với S, để sảnphẩm phản ứng chỉ còn lại Na2S
3.6.Giai đoạn trung hòa để kết tủa sản phẩm: Vì sao phải đưa về pH = 7? Vì sao phải làm trong tủ hút? Lưu ý khi cho acid?
Mục đích là để trung hòa hết NaOH dư và Na2S dư ở 2 bước trên Dùng H2SO4 10%
H2SO4 tác dụng với Na2S tạo ra H2S có mùi trứng thối, độc nên phải làm trong tủ hút Khicho H2SO4 phải cho từ từ để tránh H2S tạo ra nhiều sẽ đẩy khối phản ứng trào ra ngoài
Trang 33.7.Vì sao phải miết khô sản phẩm?
Vì tác nhân acyl hóa trong giai đoạn sau là anhydryd acetic Khi sản phẩm ở giai đoạn 2còn nước, thì khi cho anhydryd acetic vào, nó sẽ bị thủy phân tạo thành acid acetic Acidacetic cũng có khả năng acyl hóa những yếu hơn rất nhiều so với anhydryd acetic → giảmhiệu suất phản ứng
4 Giai đoạn 3: Phản ứng acyl hóa
4.1.Khái niệm: Acyl hóa là quá trình thay thể nguyên tử hydro của hợp chất hữu cơ bằng
nhóm acyl (RCO-)
4.2.Gồm những bước nào?
Gồm 2 bước: Phản ứng acyl hóa → Tinh chế
4.3.Vì sao phải làm trên bếp cách thủy trong khi phản ứng acyl hóa là phản ứng tỏa nhiệt?
Để tăng nhiệt động của phản ứng → giúp phản ứng xảy ra nhanh và hoàn toàn
4.4.Vì sao paracetamol tan trong 7 phần nước sôi nhưng khi tẩy màu chỉ hòa tan trong
4.6.Nếu dùng nhiều than hoạt để tẩy màu có được không?
Không nên dùng quá nhiều than hoat, vì than hoạt tẩy màu theo cơ chế hấp phụ, nếunhiều quá thì than hoạt sẽ hấp thụ luôn cả paracetamol → hao hụt
BÀI 2: SẢN XUẤT HOÀN LỤC VỊ BẰNG PHƯƠNG PHÁP BỒI DẦN
1 Tổng quan về dạng thuốc hoàn:
1.1.Khái niệm viên hoàn theo định nghĩa DĐVN IV?
Thuốc hoàn là dạng thuốc rắn, hình cầu, được bào chế từ bột hoặc cao dược liệu với cácloại tá dược thích hợp, thường dùng để uống
Trang 41.2.Phân loại thuốc viên hoàn?
Hoàn cứng: thường kích thước nhỏ, uống
Hoàn mềm: thường kích thước lớn, dùng cách cách nhai
Thủy hoàn Nước, rượu, giấm, dịch
chiết
Lạp hoàn Sáp ong Đun chảy sáp và vê viên ở
nhiệt độ gần nhiệt độ đôngrắn của sáp
0,3 – 0,5g
1.3.Có mấy phương pháp bào chế thuốc hoàn, miêu tả?
Thuốc hoàn được điều chế bằng 2 phương pháp: chia viên và bồi viên
Bột thuốc được trộn với tá dược dính ở nhiệt độ thích hợp thành khối bánh viên đồng nhấtrồi chia viên bằng bàn hay máy chia viên
liệu, hồ loãng, siro hay mật ong pha loãng Tá dược dính lỏng và bột thuốc được bồi dầntừng lớp lên nhân đã gây sẵn để kết hợp với sấy cho đến khi viên đạt kích thước yêu cầu Thuốc hoàn có thể bao bằng các lớp áo khác nhau để bảo quản hay tăng giá trị thẩm mỹ,viên hoàn mềm thường được đóng trong vỏ sáp
1.4.Các phương pháp bào chế thuốc hoàn sử dụng các loại tá dược dính với độ nhớt như thế nào?
dược dính → khối bột dẻo → chia viên Yêu cầu của khối bột dẻo là có thể chất đồng nhất,
độ dẻo dai, sờ không dính tay, không dính dụng cụ,… Mà bột dược liệu có độ dính thấp,nên phải dùng tá dược dính có độ dính cao để liên kết các tiểu phân với nhau để tạo thànhkhối dẻo mới chia viên được
Nếu tá dược dính có độ nhớt thấp → không đảm bảo thể chất viên, viên dễ bị vỡ
Trang 5 Phương pháp bồi viên: Dùng tá dược dính có độ nhớt thấp Đi từ 1 nhân cơ bản, bồi dần
từng lớp lớp bột dược liệu và tá dược dính cho đến khi đạt được kích thước yêu cầu, thườngtiến hành trong nồi bao Nếu dùng tá dược dính có độ nhớt cao → các viên nhân sẽ bị dínhvới nhau và dính vào nồi bao
1.5.Tác dụng của lớp parafin rắn để hàn nắp viên hoàn mềm?
Vì viên hoàn được chế từ bột hoặc cao dược liệu, với các tá dược dính, ví dụ như mật,siro, … đây là môi trường rất thích hợp để nấm mốc và vi sinh vật phát triển làm chất lượngviên không đảm bảo → parafin rắn để tránh viên hút ẩm, chống hư hỏng nấm mốc
1.6.Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình bồi viên: tá dược dính, bột dược liệu, góc nồi bao?
Nếu nhiều quá: các viên dính lại với nhau, dính vào nồi bao
Nếu ít quá:
Bề mặt viên không phun đều tá dược dính → viên không tròn đều
Tá dược dính không được phun đều giữa các viên → các viên lớn lên với kích thướckhông đều
Cho nhiều quá: chỉ một lượng bột nhất định dính được lên bề mặt viên, phần còn thừa sẽrớt ra ngoài → hình thành những nhân mới → làm kích thước của mẻ viên không đều.Khi cho tá dược dính vào thì nhân mới hình thành bị thấm ướt, có thể dính vào các viên,làm bề mặt viên méo mó, không tròn đều, kích thước giữa các viên không đều
Cho ít quá: Có viên dính bột, có viên không dính bột Viên không dính bột khi đươcphun thêm tá dược dính viên sẽ bị ướt quá → các viên dính lại với nhau, dính nồi bao
→ viên không tròn đều, mẻ viên không đồng đều kích thước
Chú ý:
Ray thường xuyên để viên đồng đều kích thước
Nồi bao không đủ lực để đảo đều tất cả các viên hoàn nên trong quá trình bao thìdùng tay hỗ trợ để đảo đều giúp viên dính đều tá dược và bột dược liệu
Phải để 5 phút để tá dược dính và bột dược liệu bám đều viên rồi mới tiếp tục thêm
Trang 6 Góc nồi bao:
Góc lớn quá: chỉ lớp ở phía trên bám tá dược bà bột dược liệu, lớp dưới khó bám; khótrộn đều → Hạt không đều
Góc nhỏ quá: hạt dễ bị rơi ra trong quá trình thao tác
Góc thích hợp để khi phun tá dược dính thì tá dược dính đều bề mặt viên: 20 – 30o
1.7.Quy trình phương pháp bồi viên? Giai đoạn nào là quan trọng nhất?
Quy trình bồi viên: học sơ đồ.
Giai đoạn quan trọng nhất: giai đoạn bồi nhân: vì phương pháp bồi viên là đi từ 1 nhân cơ
bản, lớn dần lên nên nhân quyết định đến hình dạng và chất lượng viên
Nếu nhân làm không chắc, các tiểu phân không liên kết dược với nhau → viên khônglớn lên được, không chắc
Hình dạng nhân không tròn đều thì hình dạng viên cũng không tròn đều
Tá dược dính giai đoạn bồi nhân phải có độ nhớt cao hơn giai đoạn bồi viên vì yêu cầucác tiểu phân liên kết chặt chẽ với nhau để tạo nhân chắc chắn
1.8.Vì sao bao màu trước, bao bóng sau?
Vì bao màu bằng than hoạt thì bề mặt viên sẽ lởm chởm, do đó bao bóng để bề mặt viênđồng đều, bóng đẹp
Giả sử bao bóng bằng parafin lỏng rồi bao màu bằng than hoạt thì có dính không? → Có vìparafin lỏng cũng có độ nhớt
2 Viên hoàn lục vị:
2.1.Phân tích công thức viên hoàn lục vị?
Thục địa: làm tá dược dính và thành phần trong bột kép
Bạch phục linh, đơn bì, hoài sơn, sơn thù, trạch tả, tinh bột: thành phần của bột kép dượcliệu
Đường kính: để gây nhân
Than hoạt tính: tá dược bao màu
Parafin rắn: để hàn nắp trong trường hợp cần thiết
Parafin lỏng và bột talc: tá dược bao bóng
Ethanol 96% và bông: để sát trùng dụng cụ
2.2.Viên hoàn lục vị dùng tá dược dính là gì? Vì sao? Điều chế bằng phương pháp nào? Viên là viên hoàn cứng hay mềm, kích thước ra sao?
Trang 7 Tá dược dính gốc: siro cao thục địa Siro điều chế theo phương pháp chế nóng: hòa tanđường trong cao lỏng thục địa theo tỷ lệ 1 kg đường: 1 kg cao lỏng.
Tá dược dính làm việc: tùy từng giai đoạn mà pha loãng tá dược dính gốc bằng cao lỏngthục địa hoặc nước sôi để thu được tá dược dính làm việc có độ nhớt đạt yêu cầu
Giai đoạn gây nhân: tá dược dính gốc
Giai đoạn bồi viên: tá dược dính gốc : nước với tỷ lệ 1: 2
2.3.Tá dược bao được sử dụng trong viên hoàn lục vị là gì?
Than hoạt pha với tá dược dính gốc
2.4.Tá dược bao bóng được sử dụng trong viên hoàn lục vị là gì? Vì sao?
Khi bồi viên, bao màu bằng than hoạt thì than hoạt không che kín hết bề mặt viên, cònnhiều chỗ khuyết điểm làm bề mặt viên lởm chởm, không láng mịn → nhiệt, ẩm dễ chui vàolàm hỏng viên Bột talc có kích thước nhỏ, có khả năng chui vào những lỗ trên bề mặt viên,lấp đầy những khuyết điểm làm viên tròn đều
BÀI 3: CHIẾT XUẤT STRYCHNIN TỪ HẠT MÃ TIỀN
1 Tổng quan về strychnin và hạt mã tiền:
1.1.Tác dụng dược lý của strychnin? Chỉ định?
Tác dụng ưu tiên trên tủy sống kích thích phản xạ tủy, tăng dẫn truyền thần kinh cơ,tăng dinh dưỡng và hoạt động cơ
Kích thích tiêu hóa, tăng tiết dịch vị, tang nhu động ruột, giúp ăn ngon dễ tiêu
Tăng nhạy cảm của các cơ quan cảm giác: do kích thích vào các trung tâm nghe, nhìn,ngửi
Điều trị nhược cơ, tê liệt, đái dầm, liệt dương
Mệt mỏi, mới ốm dậy, ăn kém ngon
Độc tính: Rất độc, với liều 60 – 90mg có thể gây chết người do liệt hô hấp.
Trang 81.2.Đặc điểm của hạt mã tiền: đặc điểm bên ngoài, tỷ lệ hoạt chất?
không đều, đường kính 1,2 – 2,5 cm, dày 0,4 – 0,6 cm, màu xám nhạt đến vàng nhạt Mặthạt phủ môt lớp lông tơ bóng mượt mọc ngả theo chiều từ tâm hạt tỏa xa xung quanh Rốnhạt là một lỗ chồi nhỏ ở giữa một mặt hạt Sống noãn hơi lồi chạy từ rốn hạt đến lỗ noãn (làmột điểm nhỏ cao hơn trên mép hạt) Hạt có nội nhũ sừng màu vàng nhạt hay hơi xám, rấtcứng Cây mầm nhỏ nằm trong khoảng giữa nội nhũ phía lỗ noãn Hạt không mùi, vị rấtđắng
1.3.Độ tan của strychnin sulfat được áp dụng trong chiết xuất như thế nào?
Stychnin sulfat: là tinh thể hình kim không màu hay bột kết tinh mà trắng, không mùi, vị
đắng, rất độc Dễ tan trong nước sôi, tan được trong nước lạnh (1/35) → ở bước cuối cùng,
khi rửa tinh thể, dùng nước cất để lạnh để rửa nhằm giảm hao hụt
2 Chiết xuất strychnin:
2.1.Các bước của quy trình tinh chế?
Quy trình điều chế: 4 bước:
Chuẩn bị nguyên liệu
Kiềm hóa dược liệu
Chiết xuất
Tinh chế: 5 bước:
Tạo muối sulfat tan trong nước của alkaloid
Tạo tủa alkaloid toàn phần
Tạo muối nitrat của các alkaloid (loại brucin)
Tẩy màu bằng than hoạt
Tạo sản phẩm là strychnin sulfat
2.2.Vì sao phải xay/ cắt mỏng hạt mã tiền? Có nên xay quá mịn hay không, vì sao? Vì sao trong bài lại không xay hạt mã tiền mà lại cắt mỏng?
Trang 9 Phải cắt/ xay: để tăng diện tích tiếp xúc giữa dược liệu và dung môi, giúp dung môi thấm
vào dược liệu nhanh hơn và quá trình chiết diễn ra nhanh hơn, tăng hiệu suất chiết Khi đểnguyên hạt mã tiền thì dung môi chỉ tiếp xúc bề mặt bên ngoài, khó thấm sâu thể lấy đượcalkaloid nên kéo dài thời gian chiết, thời gian chiết càng lâu thì kéo theo tạp càng nhiều
giải phóng nhiều tinh bột, gôm, pectin, chất nhầy gây khó khăn cho quá trình chiết, lẫnnhiều tạp chất, mà các tạp này rất khó khăn để loại đi
Vì khi xay thành bột thì bột hạt mã tiền dễ bay bụi, khi hít phải gây kích ứng đường hôhấp, gây kích ứng khi rơi vào mắt, vào da
Xay thì dính trên cối xay, nếu rửa không sạch sẽ gây độc cho các dược liệu khác khidùng lại cối xay đó
2.3.Vì sao phải kiềm hóa hạt mã tiền? Vì sao phải hong khô hạt sau khi kiềm hóa?
Vì alkaloid trong hạt mã tiền tồn tại ở 2 dạng là dạng muối (phân cực) và dạng base(không phân cực) Mà chiết bằng dầu hỏa là dung môi không phân cực nên phải kiềmhóa để chuyển hết dạng muối sang dạng base để tan vào dầu hỏa → chiết hết đượcalkaloid trong dược liệu
Trong hạt mã tiền, alkaloid không đứng riêng lẻ mà liên kết với tanin Kiềm hóa nhằmcắt đứt liên kết này để alkaloid dễ dàng tan vào dầu hỏa
nếu không hong khô thì môi trường nước này sẽ hạn chế khả năng khuếch tán alkaloid vàodầu hỏa
2.4.Phương pháp được sử dụng để chiết xuất là gì, trình bày nguyên tắc của phương pháp đó? Vì sao phải lắp ống sinh hàn? Vì sao trong quá trình chiết có thể khuấy trộn?
sau một thời gian ngâm nhất định, rút lấy dịch chiết (lọc hoặc gạn) và rửa dược liệu bằngcánh khuấy hoặc rút chiết ở dưới rồi lại đổ lên trên
Trang 10 Lắp ống sinh hàn: Vì dung môi sử dụng là dầu hỏa, dễ bay hơi, đặc biệt dùng phương pháp
ngâm nóng sử dụng nhiệt độ nên dầu hỏa càng dễ bay hơi, gây hao hụt dung môi → lắp ốngsinh hàn để thu hồi dung môi, tránh hư hao
Khuấy trộn: Theo động lượng thì trong quá trình chiết dược liệu bị lắng xuống làm giảm sự
tiếp xúc với dung môi → phải khuấy trộn để tăng sự tiếp xúc giữa dược liệu và dung môinhằm tăng hiệu suất
2.5.Dung môi được sử dụng để chiết là gì? Ưu điểm của phương pháp chiết bằng dung môi đó?
Chọn lọc: giúp tránh được các tạp chất phân cực như gôm, pectin, chất nhầy rất khó đểloại bỏ trong quá trình tinh chế
Dịch chiết sạch
Dễ loại tạp
Hiệu suất cao
2.6.Giai đoạn tạo muối sulfat tan trong nước của alkaloid: Vì sao lắc dịch chiết với
H 2 SO 4 ? Vì sao phải thêm acid để đảm bảo pH = 1 – 2?
Lắc với H2SO4: để tạo muối sulfat, loại tạp không phân cực.
pH = 1 – 2: quá trình lắc với H2SO4 thì alkaloid từ dạng base sẽ chuyển sang dạng muối,làm pH của dịch chiết nước acid tăng lên, do đó kiểm tra lượng H2SO4 còn đủ để chuyểnalkaloid không bằng cách kiểm tra pH
2.7.Lưu ý gì về hiện tượng nhũ hóa khi lắc dịch chiết với H 2 SO 4 ?
Nhũ hóa dễ xảy ra với dịch chiết nóng hơn Để hạn chế hiện tượng này, nên để nguội dịch
chiết rồi mới lắc với acid
Yêu cầu phải lắc nhẹ để tránh nhũ hóa
Khi xảy ra nhũ hóa, ta cần đem đi đung cách thủy, cho tách lớp và gạn lấy dịch trong
2.8.Vì sao lọc dịch chiết nước acid lại lọc nóng?
Vì dịch chiết nóng chứa muối sulfat của alkaloid, trong đó có strychnin sulfat, dễ tantrong nước nóng Do đó phải chiết nóng để loại bỏ cặn mã tiền và vẫn giữ được strychninsulfat
2.9.Giai đoạn tạo tủa alkaloid toàn phần: vì sao cho tác dụng với Na 2 CO 3 ?
Trang 11 Chuyển alkaloid từ dạng muối sang dạng base.
Loại tạp tan trong nước (tạp phân cực)
2.10 Giai đoạn tạo muối nitrat của alkaloid: Mục đích? Nguyên tắc là gì? Lưu ý khi thực hiện?
Mục đích: loại tạp brucin.
muối nitrat của các alkaloid ở pH = 4 – 4,5; tạo dung dịch quá bão hòa sao cảu strychninnitrat, do strychnin nitrat có độ tan thấp hơn brucin nitrat nên khi tạp dung dịch quá bão hòathì cho strychnin nitrat sẽ kết tinh lại chuyển sang dạng rắn, còn brucin nitrat tan vẫn ở dạnglỏng
Hòa tan tủa alkaloid toàn phần với HNO3 3% đưa về pH = 4 – 4,5 Trước khi cho HNO3
vào thì phải thêm nước cất vừa đủ ngập tủa rồi mới cho HNO3 vào Tiến hành trên bếpcách thủy
Khi cho HNO3 vào chỉnh đến pH = 4,4 rồi mà tủa chưa tan hết thì phải thêm một lượngnước cất vừa đủ để tủa tan hết Không thêm quá nhiều nước cất vì cần dung dịch quábão hòa để kết tinh strychnin
2.11 Giai đoạn tẩy màu bằng than hoạt: Nguyên tắc?
Than hoạt tẩy màu theo nguyên tắc hấp phụ Do đó không nên cho nhiều than hoạt quá
2.12 Giai đoạn chuyển từ muối strychnin nitrat sang strychnin sulfat: Tại sao phải qua trung gian là tác dụng với Na 2 CO 3 ?
Vì gốc SO42- và NO3- đều là gốc acid mạnh nên không thể phản ứng với nhau Nên phảichuyển qua dạng base trước khi chuyển sang dạng muối sulfat
2.13 Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình tạo mầm?
Nhiệt độ
Các yếu tố cơ học (ví dụ gãy tạo vết xước nhằm tạo giá để kết tinh)
Mức độ quá bão hòa của dung dịch
Bản chất của chất tan và dung môi: Khi cho chất và môi trường khó tan → dễ kết tinh; vàngược lại
Nồng độ tạp chất: Càng cao thì các phân tử chất tan càng khó gặp nhau để liên kết với nhau
→ khó kết tinh
Trang 12 Khuấy trộn: làm giảm quá trình phản ứng.
2.14 Vì sao kết quả thu được là bột kết tinh chứ không ra được tinh thể hình kim như yêu cầu?
Những yếu tố thuộc về thành phần, cấu tạo của dược liệu:
o Màng tế bào dược liệu
o Chất nguyên sinh
o Một số tạp chất có thể có trong dược liệu
Những yếu tố thuộc về dung môi
o Độ phân cực của dung môi
o Độ nhớt, sức căng bề mặt của dung môi
Những yếu tố thuộc về kỹ thuật
o Nhiệt độ chiết xuất
o Thời gian chiết xuất
o Độ mịn của dược liệu
o Khuấy trộn
o Kỹ thuật đặc biệt
a Những yếu tố thuộc về thành phần, cấu tạo của dược liệu
Màng tế bào
Khi còn sống → xảy ra quá trình trao đổi chất có tính chọn lọc
Khi chết → xảy ra hiện tượng khuếch tán, thẩm thấu, thẩm tích,…
Màng tế bào có cấu tạo không ổn định, có thể bị thay đổi tính chất vật lý và thành phầnhóa học (hóa gỗ, hóa khoáng, phủ sáp,…), có thể xảy ra từng phần hoặc toàn phần và thườngthay đổi nhiều ở thực vật đã già
Trang 13 Đối với thực vật còn non hay mỏng mềm như cỏ cây, hoa lá, thành phần của màng tế bào
chủ yếu là cellulose (không tan trong nước và không tan trong các dung môi khác, bền vững ở
nhiệt độ cao, có tính mềm dẻo đàn hồi) → dung môi dễ thấm vào dược liệu, do đó chỉ cần xay thô dược liệu Nếu xay mịn, dễ kéo theo nhiều tạp vào dịch chiết.
Đối với dược liệu đã già, rắn chắc như hạt, gỗ, rễ, vỏ thân… màng tế bào trở nên dày và
có thể xảy ra những biến đổi sau:
o Hóa bần, hóa cutin, hóa gỗ, hóa khoáng → dung môi khó thấm.
o Phủ thêm lớp chất nhầy (tan trong nước, trương nở → bít ống mao quản) cản trở sự
thấm của dung môi, cản trở quá trình khuếch tán
Nên xay nhỏ dược liệu
Chất nguyên sinh
Chất nguyên sinh có thành phần hóa học rất phức tạp và không ổn định Ở nhiệt độ 50 –
60oC, chúng bị mất hoạt tính sinh học (trừ trường hợp những hạt khô, quả khô) Có thể coi đó làmột hệ keo nhiều pha, tạo thành từ những hợp chất cao phân tử, phân tán trong môi trườngnước (ví dụ: giọt dầu, giọt mỡ, hạt tinh bột, hạt tinh thể…)
Chất nguyên sinh có tính chất bán thấm → để chiết được các chất tan trong tế bào, phải
tìm cách phá hủy chất nguyên sinh bằng cách làm đông vón chúng bằng nhiệt (sấy hoặc phơi
khô) hoặc bằng cồn (hơi hoặc cồn nóng)
Một số tạp chất có thể có trong dược liệu
Đó là sản phẩm của các quá trình trao đổi chất, là chất dự trữ hoặc chất thải của cây
Các chất này thường gây cản trở hoặc cũng có khi có tác dụng thuận lợi cho quá trìnhchiết xuất
→ những chất tan được trong nước, và khi tan trong nước thì bị trương nở, tạo dung dịch
keo, làm tăng độ nhớt, gây cản trở cho quá trình chiết xuất Có thể loại các chất này bằng cách
cho kết tủa trong cồn cao độ.
→ không tan trong nước lạnh, nhưng ở nhiệt độ cao tinh bột bị hồ hóa, làm tăng độ nhớt của
dung dịch, gây cản trở cho quá trình chiết xuất Do đó, đối với những dược liệu này, không nên xay dược liệu quá mịn, tránh giải phóng ra nhiều tinh bột và không nên chiết ở nhiệt độ cao
để tránh bị hồ hóa