1. Trang chủ
  2. » Tài Chính - Ngân Hàng

Khủng hoảng tài chính 2008

41 857 3
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nguyên Nhân, Diễn Biến Khủng Hoảng Tài Chính Và Suy Thoái Kinh Tế 2008
Tác giả Đỗ Vũ Bá, Trần Xuân Bách, Huỳnh Minh Long, Võ Thị Bích Ngọc, Huỳnh Thị Trường
Người hướng dẫn TS. Lê Tuấn Lộc
Trường học Thành phố Hồ Chí Minh
Thể loại Bài tiểu luận
Năm xuất bản 2009
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 41
Dung lượng 1,16 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ khi chủ nghĩa tư bản ra đời, lịch sử loài nguời dần buớc sang một trang sử mới. Mọi mặt trong đời sống xã hội đã có một sự thay đổi rõ rệt. Năng suất lao động ngày càng đuợc nâng cao, ké

Trang 1

Bài tiểu luận

Nguyên nhân, diễn biến khủng hoảng tài chính và suy thoái

Trang 2

MỤC LỤC

Phần mở đầu 2

I/ Cơ sở lý luận 3

1 Khủng hoảng tài chính 3

2 Suy thoái kinh tế 4

II/ Khủng hoảng tài chính toàn cầu và suy thoái kinh tế 2008 4

1 Diễn biến khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008 4

2 Nguyên nhân của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008 13

A/ Nguyên nhân trực tiếp của cuộc khủng hoảng 14

2.1 Nợ dưới chuẩn 14

2.2 Chứng khoán hóa 15

2.3 Các công ty định mức tín nhiệm 16

2.4 Công cụ đầu tư kết cấu 17

2.5 CDS – Hợp đồng hoán đổi tổn thất tín dụng 17

2.6 Mua bán khống 18

2.7 Khủng hoảng niềm tin 18

B/ Nguyên nhân sâu xa của khủng hoảng: 18

3/ Hậu quả của khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008 21

3.1 Hệ thống tài chính sụp đổ 21

3.2 Thị truờng chứng khoán chao đảo, suy giảm mạnh mẽ 22

3.3 Giá bất động sản giảm mạnh 24

3.4 Giá cả của hầu hết các mặt hàng trên thế giới đều sụt giảm mạnh 24

3.5 Lãi suất biến động mạnh 25

3.6 Đồng USD lên giá so với các đồng tiền khác 26

3.7 Suy thoái kinh tế diện rộng 28

4 Hành động giải cứu ngân hàng trung uơng và chính phủ các nước 33

III/ Dự báo tăng trưởng kinh tế thế giới 2009-2010 36

Trang 3

MỞ ĐẦU

Từ khi chủ nghĩa tư bản ra đời, lịch sử loài nguời dần buớc sang một trang sử mới Mọi mặt trong đời sống xã hội đã có một sự thay đổi rõ rệt Năng suất lao động ngày càng đuợc nâng cao, kéo theo sự phát triển chung của cả cộng đồng Từ nền kinh tế nhỏ tự cung tự cấp, nhưng giờ đây đã hình thành nền kinh tế thị truờng với sự hợp tác rất sâu rộng của tất cả các chủ thể kinh tế trong và ngoài nuớc Dần dần hình thành xu huớng toàn cầu hóa và hợp tác hóa Vì vậy, các hoạt động kinh tế, tài chính ngân hàng, chứng khoán… giờ đây là sân chơi chung cho toàn cầu Nhờ có sự cách mạng trong thông tin liên lạc mà khoảng cách địa lý dần dần đuợc xóa bỏ Các trung tâm tài chính lớn rãi đều khắp năm châu, tạo thành một thị truờng mang tính thống nhất toàn cầu Trong đó, thị truờng tài chính Mỹ đuợc xem là một thị truờng nhộp nhịp bậc nhất, thu hút đuợc rất nhiều nhà đầu tư không những của nuớc Mỹ và còn của cả thế giới Hình ảnh phố Wall là một biểu tuợng về sức mạnh tài chính của Mỹ, là một tuợng đài cho sự phồn vinh Vậy mà cũng có một ngày, cũng chính nơi đây, hàng loạt các ngân hàng lớn, các công ty đầu tư, bảo hiểm đã tuyên bố phá sản hay trong tình trạng cực kỳ khó khăn, hàng loạt các nhà đầu tư bị thua lỗ nặng, hàng loạt nguời không còn tài sản gì chỉ tích tắc trong thời gian ngắn Và hiệu ứng đômino sau đó đã đánh một đòn nặng nề vào thị truờng tài chính của các quốc gia khác, gây ra hậu quả rất đáng tiếc Cuộc khủng hoảng tài chính đã gây ra những tác hại vô cùng nặng nề cho kinh tế thế giới, kể từ sau cuộc đại khủng hoảng 1929-1933 Vậy đâu là nguyên nhân của tình trạng trên, diễn biến và tác động của nó như thế nào? Chúng ta có thể tiên liệu truớc đuợc không

và cái gì đuợc rút ra từ sau cuộc khủng hoảng này Đó chính là nguyên do để thôi thúc nhóm chúng tôi thực hiện đề tài này

Trang 4

I/ CƠ SỞ LÝ LUẬN

1 Khủng hoảng tài chính

Khủng hoảng tài chính là sự thất bại của một hay một số nhân tố của nền kinh tế trong việc đáp ứng đầy đủ nghĩa vụ, bổn phận tài chính của mình Dấu hiệu của Khủng hoảng tài chính là:

- Các NHTM không hoàn trả được các khoản tiền gửi của người gửi tiền

- Các khách hàng vay vốn, gồm cả khách hàng được xếp loại A (tức là loại khách hàng

mà ngân hàng xem xét là có khả năng hoàn trả lại số tiều đã muợn một cách tốt nhất) cũng không thể hoàn trả đầy đủ các khoản vay cho ngân hàng

- Chính phủ từ bỏ chế độ tỷ giá hối đoái cố định

Một số nguyên nhân của việc không thực hiện được các nghĩa vụ thanh toán là do gặp phải vấn đề thanh khoản, khả năng thanh toán hoặc do cố tình chiếm dụng vốn vì điều này có thể có lợi ở khía cạnh nào đó Tình trạng mất khả năng thanh toán bắt nguồn từ các vụ phá sản, kinh doanh thua lỗ và các vấn đề về chi tiêu của Chính phủ Bản thân Chính phủ cũng gặp khó khăn trong việc tìm tài trợ khi gặp khó khăn về thanh toán do những kỳ vọng không sáng sủa mặc dù trong điều kiện bình thường nền kinh tế hoàn toàn có khả năng chi trả Sự mất khả năng thanh toán thường có tính dây chuyền Vì vậy, khủng hoảng tài chính là điều không mong muốn

Các nhà nghiên cứu cho rằng, có một sự tương quan giữa nỗ lực nhằm tự do hoá các thị trường tài chính và số lượng các cuộc khủng hoảng tài chính Khủng hoảng tài chính thường đi kèm với những nỗ lực nhằm tự do hoá thị trường tài chính Vậy tự do hoá tài chính có nhất thiết dẫn đến khủng hoảng tài chính và việc xảy ra các cuộc khủng hoảng tài chính có thể là một lý do phản đối việc bãi bỏ các quy định và tự do hoá tài khoản vốn

Thành phần chính của các cuộc khủng hoảng tài chính là các thông tin không đối xứng Thông tin không đối xứng có vai trò chính yếu trong các giao dịch tài chính Nó đưa người vay tới những hành vi cơ hội nguy hiểm và là mầm mống cho những kỳ vọng xấu của người cho vay

về người đi vay Thông tin không cân xứng khiến cho người đi vay và người gửi tiền- do họ khó khăn trong việc phân biệt giữa vấn đề thanh khoản và tình trạng mất khả năng thanh toán, qua

đó dẫn đến việc người sở hữu bán đi những tài sản bằng ngoại tệ của nước- gặp khó khăn Vì vậy, để hạn chế những thông tin không đối xứng thì hai bên đi vay và cho vay cần có càng nhiều thông tin về nhau càng tốt thông qua những câu hỏi mà người cho vay hỏi người đi vay để tránh

sự lựa chọn bất lợi cho nhà đầu tư

2 Suy thoái kinh tế

Trang 5

Suy thoái kinh tế được định nghĩa trong kinh tế học vĩ mô là sự suy giảm của tổng sản phẩm quốc nội thực trong thời gian hai hoặc hơn hai quý liên tiếp trong năm (nói cách khác, tốc

độ tăng trưởng kinh tế âm liên tục trong hai quý) Tuy nhiên, định nghĩa này không được chấp nhận rộng rãi Cơ quan nghiên cứu kinh tế quốc gia (NBER) của Mĩ đưa ra định nghĩa về suy

thoái kinh tế còn mập mờ hơn “là sự tụt giảm hoạt động kinh tế trên cả nước, kéo dài nhiều

tháng” Suy thoái kinh tế có thể liên quan sự suy giảm đồng thời của các chỉ số kinh tế của toàn

bộ hoạt động kinh tế như việc làm, đầu tư và lợi nhuận doanh nghiệp Các thời kỳ suy thoái có thể đi liền với hạ giá cả (giảm phát), hoặc ngược lại tăng nhanh giá cả (lạm phát) Một sự suy thoái trầm trọng và lâu dài được gọi là khủng hoảng kinh tế Sự tan vỡ tàn phá nền kinh tế là suy sụp/đổ vỡ kinh tế

Những nguyên nhân đích thực của suy thoái kinh tế là đối tượng tranh luận sôi nổi giữa các nhà lý thuyết và những người làm chính sách mặc dù đa số thống nhất rằng các kỳ suy thoái kinh tế gây ra bởi sự kết hợp của các yếu tố bên trong (nội sinh) theo chu kỳ và các cú sốc từ bên ngoài (ngoại sinh) Ví dụ, những nhà kinh tế học chủ nghĩa Keynes và những lý thuyết gia theo lý thuyết chu kỳ kinh tế thực sẽ bất đồng về nguyên nhân của chu kỳ kinh tế, nhưng sẽ thống nhất cao rằng các yếu tố ngoại sinh như giá dầu, thời tiết, hay chiến tranh có thể tự chúng gây ra suy thoái kinh tế nhất thời, hoặc ngược lại, tăng trưởng kinh tế ngắn hạn Trường phái kinh tế học Áo giữ quan điểm rằng lạm phát bởi cung tiền tệ gây ra suy thoái kinh tế ngày nay

và các thời kỳ suy thoái đó là động lực tích cực theo nghĩa chúng là cơ chế tự nhiên của thị trường điều chỉnh lại những nguồn lực bị sử dụng không hiệu quả trong giai đoạn “tăng trưởng” hoặc lạm phát Phần lớn học giả theo thuyết tiền tệ tin rằng những thay đổi triệt để về cơ cấu kinh tế không phải là nguyên nhân chủ yếu; nguyên nhân của các thời kỳ suy thoái ở Mỹ là bởi quản lý tiền tệ yếu kém

II/ KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH TOÀN CẦU VÀ SUY THOÁI KINH TẾ 2008

1 Diễn biến khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008:

Khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008, theo Alan Greenspan (cựu Thống đốc Quỹ Dự trữ Liên bang Mĩ FED), là khủng hoảng kinh tế lớn nhất, là cuộc đại suy thoái của thế kỉ XXI kể từ cuộc đại khủng hoảng kinh tế thế giới 1929- 1933, thế kỉ XX Cuộc khủng hoảng này xuất phát

từ khủng hoảng tài chính Mĩ và lan sang hàng loạt các trung tâm kinh tế lớn của thế giới như

EU, Nhật, Trung Quốc, Nga,… gây nên tổn thất vô cùng nặng nề, khiến cho nền kinh tế thế giới

đi xuống Các nước đang phát triển và các nước nghèo dù ít hay nhiều, cũng không tránh khỏi tác động của cuộc khủng hoảng này Trong khi đó, cuộc khủng hoảng tài chính Mĩ lại bắt nguồn

từ tình trạng bong bóng bất động sản tại Mĩ (khoảng năm 2005- 2006) với những khoản cho vay dưới chuẩn có rủi ro cao và những khoản thế chấp có lãi suất điều chỉnh Điều này cho thấy,

Trang 6

cuộc khủng hoảng tài chính tại Mĩ lần này thực chất là những biểu hiện rõ nét của một quá trình khủng hoảng rất lâu trước đó Dưới đây là chuỗi những sự kiện chính, nổi bật gây nên tình trạng khủng hoảng như hiện nay, qua đó có thể thấy khủng hoảng đã được hình thành như thế nào.

Năm 2000: bong bóng Dot-com vỡ, Cục dự trữ liên bang Mĩ đã hạ lãi suất cho vay qua

đêm liên ngân hàng để cứu nền kinh tế khỏi suy thoái, nhất là từ sau thảm họa khủng bố 11/09/2001

Từ tháng 05/2001 đến 12/2002: lãi suất liên ngân hàng giảm 11 đợt từ 6,5% xuống còn

1,75%, tín dụng thứ cấp cũng giảm lãi suất theo  đi vay ồ ạt kể cả nhằm mục đích đầu

cơ  hình thành nên bong bóng nhà ở

Năm 2002- 2004: giá cả nhà đất tại các bang Arizona,California, Florida, Hawaii, và

Nevada tăng trên 25% một năm Sự bùng nổ nhà đất ở Mỹ bắt đầu

Năm 2005: Bong bóng nhà đất ở Mỹ bắt đầu rạn vỡ vào tháng 08/2005 Thị trường bất

động sản tạm gián đoạn tại một vài bang ở Mỹ vào cuối hè năm 2005 khi tỷ lệ lãi suất tăng từ 1% lên đến 5.35%

Năm 2006: Thị trường bất động sản tiếp tục suy giảm  một lượng nhà dư thừa đáng

kể Chỉ số Xây dựng Nhà ở tại Mỹ giữa tháng 08 giảm hơn 40% so với tháng 08/2006

Năm 2007: Kinh doanh bất động sản tiếp tục thất bại Số lượng nhà tồn ước tính cao

nhất từ năm 1989 Ngành kinh doanh bất động sản suy giảm với hơn 25 tổ chức cho vay dưới chuẩn tuyên bố phá sản Gần 1,3 triệu bất động sản nhà ở bị tịch thu để thế chấp nợ, tăng 79% từ năm 2006 Thư ký bộ tài chính Mỹ gọi bong bóng bất động sản lần này là

“mối nguy hiểm ảnh hưởng trực tiếp đến nền kinh tế”

- Ngày 05/02: Công ty Mortage Lenders Network USA đứng thứ 15 trong số các nhà cho

vay dưới chuẩn nhiều nhất ở Mỹ, với tổng dư nợ 3.3 tỷ đô la vào quý 3 năm 2006, tuyên bố phá sản

- Ngày 27/02: The Federal Home Loan Mortgage Corporation (Freddie Mac) tuyên bố

không còn khả năng và ngừng cho vay các khoản vay bằng tài sản thế chấp với độ rủi ro cao

- Ngày 02/04: New Century Financial, nhà cho vay dưới chuẩn lớn nhất Mỹ, nộp đơn phá

sản theo chương 11 Luật phá sản Mĩ

- Ngày 07/06: Hồi chuông cảnh báo của phố Wall vang lên khi hai quỹ bảo đảm tại ngân

hàng đầu tư Bear Stearns của New York đang trên bờ vực phá sản vì lượng tiền đầu tư vào chứng khoán có thế chấp là quá lớn

- Tính tới thời điểm tháng 7/2007: Số lượng tài sản thế chấp bị tịch thu tại Mỹ đã lên tới

Trang 7

- Ngày 19/07: Chỉ số Dow Jones lần đầu tiên trong lịch sử đóng cửa với mức 14.000

điểm

- Ngày 31/07: Hai quỹ bảo đảm của Bear Stearns phá sản.

- Ngày 06/08: American Home Mortgage Investment Corporation nộp đơn phá sản.

- Ngày 16/08: Tập đoàn tài chính Countrywide, đơn vị cho vay thế chấp lớn nhất nước

Mỹ, đã phải tránh phá sản bằng cách vay khẩn cấp 11 tỷ đô la từ một nhóm các ngân hàng khác

- Ngày 17/08: Cục dữ trữ liên bang đã phải hạ mức hệ số chiếu khấu 50 điểm cơ bản từ

mức 6.25% xuống 5.75%

- Ngày 18/09: Cục dự trữ Liên bang tiếp tục hạ mức hệ số chiết khấu 50 điểm cơ bản

xuống còn 5.25%

- Ngày 15–17/10: Citigroup – Tập đoàn ngân hàng hàng đầu nước Mỹ - công bố lợi

nhuận quý 3 bất ngờ giảm 57% do các khoản thua lỗ và trích lập dự phòng lên tới 6,5 tỷ USD Giám đốc điều hành Citigroup, Charles Prince từ chức vào ngày 4.11; Liên minh các ngân hàng

Mỹ được hỗ trợ bởi chính phủ thông báo lập một siêu quỹ trị giá 100 tỷ đô la để mua lại các chứng khoán được đảm bảo bằng tài sản thế chấp mà giá trị thị trường đã bị sụt giảm do khủng hoảng vay dưới chuẩn Chủ tịch Cục dự trữ Liên bang Ben Bernake và Bộ trưởng Bộ tài chính

Mỹ đều đưa ra những cảnh báo về mối nguy hiểm của việc vỡ bong bóng bất động sản

- Ngày 31/10: Cục dự trữ liên bang hạ lãi suất quỹ liên bang 25 điểm xuống 4.5%.

- Tháng 11: Cục dự trữ liên bang bơm thêm 41 tỷ đô la cho các ngân hàng vay với lãi

suất thấp Đây là lần xuất tiền lớn nhất của cục dự trữ liên bang kể từ 19/ 9/ 2001 (50.35 tỷ đô la)

- Tháng 12/2007: Tổng thống Bush tuyên bố kế hoạch giúp đỡ cho thêm 1,2 triệu chủ sở

hữu bất động sản trong việc thanh toán các khoản nợ tại ngân hàng

- Ngày 11/12: Fed hạ lãi suất quỹ liên bang xuống còn 4.25%

Năm 2008:

- Ngày 11/01: Bank of American đã bỏ ra 4 tỷ USD để mua lại Countrywide Financial

sau khi ngân hàng cho vay thế chấp địa ốc này thông báo phá sản do các khoản vay khó đòi quá lớn

Cục Dự Trữ Liên bang tiếp tục hạ lãi suất 50 điểm xuống 3.5%

Trang 8

- Tháng 02/2008: Fannie Mae, nguồn tiền lớn nhất rót vào các khoản vay bất động sản

Mỹ thông báo chỉ trong quý 4 của năm 2007, hãng đã thua lỗ 3,35 tỉ USD, khoản thua lỗ cao gấp

3 so với dự đoán, cho thị trường này

- Ngày 16/03: Bear Stearns bán lại cho JP Morgan Chase với giá 2 đôla một cổ phiếu để

tránh phá sản Cục dự trữ liên bang phải cung cấp 30 tỷ đô la để trợ giúp các khoản lỗ của Bear Stearn Carlyle Capital trở thành nạn nhân của cuộc khủng hoảng tín dụng Mỹ với khoản nợ lên tới 16,6 tỉ USD Nước Mỹ cũng phải rót 200 tỉ USD nhằm cứu vãn Fannie Mae và Freddie Mac thoát khỏi khó khăn

- Tháng 04/2008: IMF thông báo đã chịu thua lỗ 945 tỉ USD cho cuộc khủng hoảng tài

chính Bộ trưởng các nước G7 tán thành đề xuất đưa ra các điều chỉnh tài chính mới để chống lại cuộc khủng hoảng đang ngày càng lan rộng

- Tháng 06/2008: Một điều đáng nói là trong khi thị trường bất động sản Mỹ ngày càng

khủng hoảng nghiêm trọng hơn thì số lượng người được nhận lại các ngôi nhà đã thế chấp lại tăng gấp đôi Bear Stearns đã góp sức vào hiện tượng lạ này khi liên hiệp thành công trong 400

vụ bị buộc tội lừa đảo bằng các văn tự thế chấp

- Ngày 11/07: Chính quyền liên bang Mỹ đoạt quyền kiểm soát Ngân hàng IndyMac

Bancorp Đây là một trong những vụ đóng cửa ngân hàng lớn nhất từ trước tới nay sau khi những người gửi tiền đã rút ra hơn 1,3 tỷ USD trong vòng 11 ngày

- Ngày 17/07: Các ngân hàng lớn và các tổ chức tài chính trên thế giới đã báo cáo thua lỗ

lên đến 435 tỷ đôla

- Ngày 07/09: Chính phủ Mỹ nắm quyền kiểm soát Fannie và Freddie sau khi chi 200 tỉ

USD để cứu 2 ngân hàng thoát khỏi tình trạng phá sản

- Ngày 11/09: Lehman Brothers tuyên bố đang nỗ lực tìm kiếm đối tác để bán lại chính

mình Cổ phiếu của ngân hàng đầu tư này tụt giảm 45%

- Ngày 14/09: Bank of America cho biết sẽ mua Merrill Lynch với giá 29USD/cổ phiếu

sau khi từ chối đề nghị mua lại của Lehman Brothers

- Ngày 15/09: Lehman Brothers tuyên bố phá sản Ngay sau đó, 3 loại chỉ số ở Mỹ bao

gồm chỉ số Dow Jones, NASDAQ và S&P 500 sụt giảm mạnh nhất kể từ sau sự kiện 11/9/2001 Đây là ngày tồi tệ nhất tại Phố Wall kể từ khi thị trường này mở cửa trở lại sau vụ khủng bố 2 tòa tháp đôi tại Mỹ tháng 09/ 2001 Lehman Brothers sụp đổ đánh dấu vụ phá sản lớn nhất tại

Mỹ Merrill Lynch bị Bank of America thâu tóm American International Group (AIG) – tập đoàn bảo hiểm lớn nhất thế giới mất khả năng thanh toán do những khoản thua lỗ liên quan tới

Trang 9

- Ngày 16/09: Ngân hàng trung ương các nước trên thế giới đã đổ hàng tỷ USD vào các

thị trường tiền tệ với nỗ lực hạ nhiệt tình trạng căng thẳng và ngăn chặn sự đóng băng của hệ thống tài chính toàn cầu Cổ phiếu AIG giảm gần một nửa Fed công bố kế hoạch bơm 85 tỷ USD vào AIG và nắm giữ 80% cổ phần Ngân hàng Barclays của Anh mua lại một phần tài sản tại Bắc Mỹ của Lehman với trị giá 1,75 tỷ USD

- Ngày 17/09: Cổ phiếu của Goldman Sachs và Morgan Stanley giảm mạnh Tập đoàn

Lloyds TSB của Anh mua lại đối thủ HBOS Ủy ban Chứng khoán Mỹ kiềm chế tình trạng bán khống Và Cục dự trữ liên bang Mỹ cho AIG vay 85 tỷ đô la để giúp công ty này tránh phá sản

- Ngày 19/09: Kế hoạch giải cứu tài chính của bộ trưởng tài chính Paulson trị giá 700 tỷ

đô la được công bố sau một tuần bất ổn trên thị trường tài chính và nợ tín dụng Tuy nhiên, quốc hội Mỹ đã không thông qua bản dự thảo này

- Ngày 20-21/09: Công bố các chi tiết bản kế hoạch giải cứu 700 tỷ USD Hai ngân hàng

Goldman Sachs và Morgan Stanley được chuyển đổi thành tập đoàn ngân hàng đa năng, đánh dấu sự kết thúc mô hình ngân hàng đầu tư tại Phố Wall

- Ngày 22/09: Tập đoàn Nomura Holdings của Nhật trả 525 USD để thâu tóm hoạt động

của Lehman tại châu Á Sau đó, Nomura cũng mua lại Lehman tại châu Âu và Trung Đông Mitsubishi UFJ Financial đồng ý mua 20% cổ phần Morgan Stanley

- Ngày 23/09: Warren Buffett trả 5 tỷ USD mua 9% cổ phần Goldman Sachs Cục điều

tra Liên bang Mỹ (FBI) điều tra Fannie, Freddie, AIG và Lehman vì nghi ngờ có sự gian lận trong cuộc khủng hoảng tài chính Mỹ

- Ngày 25/09: Washington Mutual Inc (WaMu), một trong những ngân hàng lớn nhất

Mỹ đã sụp đổ cũng do đã đánh cược rất lớn vào thị trường cho vay thế chấp Cơ quan Bảo hiểm tiền gửi liên bang Mỹ (FDIC) đã đoạt quyền kiểm soát WaMu và sau đó bán các tài sản của ngân hàng tiết kiệm lớn nhất Mỹ cho JPMorgan Chase & Co với giá 1,9 tỷ USD (ngày 26/09) Với 307 tỷ USD tổng tài sản, WaMu đã trở thành ngân hàng bị phá sản lớn nhất trong lịch sử

Mỹ Trong khi đó tại Washinton D.C, các thành viên chủ chốt trong quốc hội đã đồng ý về những điều khoản chính trong kế hoạch giải cứu 700 tỷ USD

- Ngày 29/09: Quốc hội Mỹ bác bỏ kế hoạch giải cứu thị trường tài chính Mỹ do bộ Tài

chính Mỹ đề xuất Phản ứng ngay lập tức với quyết định trên, chỉ số công nghiệp Dow Jones tụt giảm gần 780 điểm – mức giảm trong một ngày mạnh nhất từ trước tới nay

- Ngày 30/09: Ngân hàng khổng lồ Wachovia của Mỹ, đồng thời là ngân hàng cho vay

dưới chuẩn lớn nhất Mỹ đồng ý bán lại bộ phận ngân hàng bán lẻ cho đối thủ Citigroup

Trang 10

- Ngày 01/10: Thượng viện Mỹ thông qua bản kế hoạch giải cứu 700 tỷ USD (tỷ lệ 74 –

25) với một số điểm đã được thay đổi, bao gồm: gia hạn đạo luật cắt giảm thuế thu nhập cho doanh nghiệp và cá nhân (tính sẽ làm ngân sách thất thu 149 tỷ USD); tăng hạn mức bảo hiểm tiền gửi tại Cơ quan Bảo hiểm tiền gửi Liên bang từ 100.000 USD lên 250.000 USD

- Ngày 03/10: Sau 3 giờ thảo luận và thuyết phục nhau, Hạ viện Mỹ đã bỏ phiếu lần thứ

hai và thông qua dự luật giải cứu với tỷ lệ phiếu 262 – 171 Không đầy 2 giờ sau đó, tổng thống

Mỹ đặt bút ký để chính thức chuyển kế hoạch thành đạo luật

- Ngày 08/10: Trong một nỗ lực phối hợp chưa từng có tiền lệ, Cục Dự trữ Liên bang

Mỹ, Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) và 4 ngân hàng trung ương các nước khác đã đồng loạt cắt giảm lãi suất nhằm giảm ảnh hưởng nghiêm trọng của cuộc khủng hoảng tài chính tồi tệ nhất kể từ cuộc Đại suy thoái năm 1930

- Ngày 14/10: Chính phủ Mỹ công bố dành 250 tỷ USD trong gói giải cứu 700 tỷ USD để

rót vào các ngân hàng lớn, đổi lại sẽ nhận được cổ phiếu ưu đãi của các ngân hàng này Đây là bước thay đổi lớn trong chiến lược giải cứu, vì trong kế hoạch ban đầu, Chính phủ vẫn hướng đến giải pháp mua lại nợ xấu ngân hàng, ko mua cổ phần

- Tháng 11/2008: AMEX chuyển đổi thành ngân hàng cổ phần Fed cũng thông báo

chương trình thay đổi theo hướng tổ chức lại và hợp lí hóa các khoản cho vay thế chấp Fennie Mae và Freddie Mac tạm thời ngưng tịch thu tài sản thế chấp

- Tháng 12/2008: Bộ Tài chính Mĩ dành 13.4 tỉ USD và 4 tỉ USD trong gói giải cứu cho

General Motors và Chrysler; GMAC và CIT cũng chuyển đổi thành ngân hàng cổ phần

Năm 2009: các công ty, ngân hàng cố gắng vực dậy sau khủng hoảng Và Chính phủ Mĩ

cũng đã nâng gói giải cứu kinh tế lên 787 tỉ USD Nhưng trong năm này cũng có các vụ phá sản đáng chú ý của các tập đoàn lớn cuốn theo hàng tỉ USD mà Chính phủ đã rót vào

đó Điều này cho thấy nền kinh tế Mĩ vẫn đang phải vật lộn khá vất vả sau cuộc khủng hoảng này

- Ngày 30/04: chịu ảnh hưởng từ khủng hoảng tài chính, hãng chế tạo ô tô lớn thứ ba của

Mỹ Chrysler tuyên bố nộp đơn bảo hộ phá sản Khi Tổng thống Mỹ Barack Obama buộc Chrysler nộp đơn xin phá sản, đối thủ của Chrysler là GM vẫn đang vật lộn với những đòi hỏi của chính phủ Mỹ để được nhận tiền cứu trợ Sau khi tái cơ cấu, nhà sản xuất xe hơi đang thiết lập mối hợp tác với hãng xe Fiat đến từ Italy Hiệp hội Công đoàn ngành ô tô Mỹ (UAW) sẽ nắm quyền kiểm soát lương hưu của hãng, trong khi chính quyền Mỹ có nhiệm vụ bơm 12 tỷ USD cho Chrysler

Trang 11

- Ngày 01/05: Quỹ đầu tư bất động sản và cho vay thế chấp nhà Thornburg Mortgage nộp

đơn bảo hộ phá sản Thornburg chịu tác động nặng nề từ cuộc khủng hoảng nợ dưới chuẩn 2007 tại nước này, khiến giá cổ phiếu của quỹ lao dốc không phanh Để tránh đổ vỡ, công ty đã ngừng nhận đơn xin vay tiền và huy động thêm vốn qua con đường phát hành thêm cổ phiếu Năm 2008, các chủ nợ nhất trí để Thornburg huy động thêm vốn nhưng tới ngày 01/05/2009, quỹ đã tuyên bố sẽ đóng cửa và nộp đơn xin phá sản theo Chương 11 Luật Phá sản Mỹ, đồng thời bán lại toàn bộ số tài sản còn lại

- Ngày 01/06: General Motors chính thức nộp đơn xin bảo hộ phá sản Tính tới thời điểm

nộp đơn xin bảo hộ phá sản, tổng tài sản của GM là 91 tỷ USD, trong khi số nợ lên tới 172,81

tỷ Chính phủ Mỹ sẽ tiếp tục bơm tiền cho GM và chuyển 50 tỷ USD tiền nợ thành 60% cổ phần tại hãng xe mới hình thành sau phá sản Sau khi tái cấu trúc, GM sẽ có quy mô nhỏ hơn nhiều nhưng những nhãn hiệu nổi tiếng như Chevy, Cadillac, Buick và GMC vẫn được giữ lại GM đang lên kế hoạch bán chi nhánh Opel tại Đức cho một nhà sản xuất phụ tùng ôtô từ Canada Những chi nhánh hoạt động kém hiệu quả khác sẽ bị bán đi hoặc xóa sổ Theo như thỏa thuận, chính phủ Mỹ nắm gần 72,5% và Hiệp hội Công đoàn ngành ôtô Mỹ nắm 17,5% cổ phần của công ty mới

- Ngày 01/11: Tập đoàn tài chính CIT- một trong những ngân hàng hàng đầu nước Mỹ

chuyên cho vay đối với những doanh nghiệp vừa và nhỏ, đã công bố phá sản CIT đã không thể gượng dậy với những khoản nợ khổng lồ từ sau cuộc khủng hoảng tài chính Vụ phá sản này còn làm thiệt hại lớn cho chính phủ Mỹ khi đã bỏ 2,33 tỷ USD vào CIT

Trên đây là những diễn biến của cuộc khủng hoảng tài chính Mĩ Không chỉ dừng lại ở đây, cuộc khủng hoảng này còn lan sang các khu vực khác trên thế giới với hậu quả tương tự

Tại châu Âu:

- Tháng 07-08/2007: Các ngân hàng tại Đức với những khoản đầu tư không sinh lời tại

thị trường bất động sản Mỹ cũng bị cuốn vào cuộc khủng hoảng này, bao gồm: Ngân hàng công nghiệp Đức IKB, Ngân hàng bang Saxony (Sachsen LB) và ngân hàng bang Bavaria (Bayern

LB) Ngân hàng IKB của Đức trở thành ngân hàng đầu tiên tại châu Âu chịu ảnh hưởng bởi

những khoản đầu tư xấu trên thị trường cho vay dưới chuẩn ở Mỹ Trong khi đó, ngân hàng SachsenLB của Đức phải nhận sự cứu trợ từ chính phủ

- Ngày 09/08/2007: BNP Paribas, Ngân hàng lớn nhất của Pháp, ngưng việc mua lại 3

quỹ đầu tư

- Ngày 14/09/2007: Ngân hàng Northern Rock (Anh) đã gặp vấn đề nghiêm trọng về khả

năng thanh khoản liên quan đến khủng hoảng cho vay dưới chuẩn Lần đầu tiên trong hơn 1 thế

Trang 12

kỷ, khách hàng ùn ùn kéo đến bủa vây để đòi rút tiền ở một ngân hàng lớn tại Anh – Ngân hàng cho vay thế chấp Northern Rock – ngân hàng lớn thứ 5 tại Anh Chính phủ cũng như Ngân hàng Anh buộc phải đứng ra bảo lãnh cho các khoản tiền gửi của khách hàng bằng cách quốc hữu hóa Northern Rock.

- Tháng 01/2008: Ngân hàng khổng lồ của Thụy Sỹ UBS thông báo cắt giảm 18 tỉ USD

vào thị trường bất động sản Mỹ

- Ngày 30/01/2008: Ngân hàng UBS công bố trích lập dự phòng 4 tỷ USD, nâng tổng số

tiền trích lập dự phòng lên 18,4 tỷ USD do những thất thoát liên quan đến cuộc khủng hoảng cho vay cầm cố

- Ngày 17/02/2008: Anh quốc hữu hóa ngân hàng Northern Rock.

- Ngày 28/02/2008: Ngân hàng DZ Bank của Đức được đưa vào danh sách các nạn nhân

của cuộc khủng hoảng cho vay dưới chuẩn với tổng giá trị tài sản mất giá là 1,36 tỷ euro

- Ngày 16/03/2008: Ngân hàng Đức thông báo thua lỗ 141 triệu euro trong quý 1 năm

2008, trong 5 năm liên tiếp đây là lần đầu tiên ngân hàng này làm ăn thua lỗ

- Ngày 29/04/2008: Deutsche Bank lần đầu tiên trong 5 năm công bố một khoản thua lỗ

trước thuế sau khi buộc phải trích lập dự phòng 4,2 tỷ USD cho các khoản nợ xấu và các chứng khoán được đảm bảo bởi các khoản thế chấp bất động sản

- Ngày 17/07/2008: Martina-Fadesa, hãng đầu tư tài sản lớn nhất của Tây Ban Nha tuyên

bố phá sản

- Ngày 31/07/2008: Deutsche Bank công bố khoản trích lập dự phòng tiếp theo là 3,6 tỷ

USD, nâng tổng số tiền ngân hàng này mất lên 11 tỷ USD Deutsche Bank trở thanh 1 trong 10 nạn nhân lớn nhất của cuộc khủng hoảng tín dụng toàn cầu

- Ngày 29/09/2008: Chính phủ Anh quyết định can thiệp để giữ lại nhà cho vay thế chấp

quan trọng Bradford & Bingley Chính phủ Hà Lan, Bỉ và Luxembourg quyết định tiếp quản phần lớn ngân hàng Belgian- Dutsch và công ty bảo hiểm Fortis Bộ Tài chính Đức thông báo Chính phủ và các ngân hàng hàng đầu đã bơm hàng tỉ euro vào nhà cho vay thế chấp Hypo Real Estate để cứu vãn khó khăn Chính phủ Iceland cùng ngân hàng Glinir chính thức tuyên bố chính phủ sẽ nắm quyền kiểm soát 75 % cổ phiếu của ngân hàng này

- Ngày 04/10/2008: Tổng thống Pháp Nicolas Sarkozy đã triệu tập cuộc họp thượng đỉnh

khẩn cấp với lãnh đạo 4 nước lớn nhất trong Liên minh châu Âu là Anh, Pháp, Đức và Ý Phiên họp kết thúc với tuyên bố hợp tác xử lý khủng hoảng nhưng không thống nhất được một gói giải pháp tổng thể theo mô hình của Mỹ

Trang 13

- Ngày 05/10/2008: Mặc dù Thủ tướng Đức Angela Merkel đã chỉ trích quyết định của

Ireland về bảo hiểm toàn bộ các tài khoản ngân hàng tại Ireland, ngày 5.10 Bộ trưởng Tài chính Đức đã thông báo tất cả các tài khoản tiền tại ngân hàng tại Đức sẽ được bảo hiểm không có giới hạn

- Ngày 06/10/2008: Trong đêm chủ nhật ngày 5.10, ngân hàng BNP Paribas SA của Pháp

gửi email thông báo đã thỏa thuận chi 14,5 tỷ Euro (tương đương 18,9 tỷ USD) để mua lại ngân hàng Fortis, trong đó có 9 tỷ Euro bằng cổ phiếu và 5,5 tỷ Euro bằng tiền mặt BNP sẽ sở hữu 75% Fortis tại Bỉ, 67% Fortis tại Luxembourg, và toàn bộ mảng bảo hiểm của Fortis tại Bỉ

Tại các châu lục khác:

- Ngày 17/12/2007: Cuộc khủng hoảng tín dụng đã lan sang châu Úc với nạn nhân là tập

đoàn Centro Properties, một chủ sở hữu các phố buôn bán lớn ở Mỹ tại Úc sau khi tập đoàn này đưa ra cảnh báo lợi nhuận giảm Cổ phiếu Centro Properties đã tụt giá 70% tại các giao dịch ở Sydney

- Ngày 10/10/2008: Tập đoàn bảo hiểm có lịch sử hoạt động 98 năm tại Nhật là Yamoto

Life Insurance Co chính thức đệ đơn xin được bảo hộ phá sản do các khoản nợ đã vượt tài sản 11,5 tỷ yen (tương đương 116 triệu USD) Đây được coi là mốc đánh dấu cuộc khủng hoảng đã lan sang châu Á

2 Nguyên nhân của khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008:

Trên đây là toàn bộ những diễn biến chính của cuộc khủng hoảng tài chính Mĩ- nay đã lan ra thành cuộc khủng hoảng toàn cầu Thất thần, lo âu, sợ hãi, không biết những gì sẽ xảy ra với mình và với những người xung quanh mình…đó là tâm trạng chung của tất cả mọi người khi chứng kiến cơn bão tài chính này, nhưng đau đớn hơn hết là những nạn nhân trực tiếp của nó- giới tài chính Ai cũng phải hỏi rằng, tại sao mọi thứ lại diễn ra quá tồi tệ như vậy, có phải vì lòng tham của con người, nhưng lòng tham đó có là gì đâu khi không có những điều kiện thuận lợi- một “mảnh đất màu mỡ” cho nó phát triển?

Trang 14

Quay trở lại những năm trước khủng hoảng, bong bóng nhà ở đã dần được hình thành khi

mà Fed cho cắt giảm lãi suất để kích thích nền kinh tế sau khủng hoảng Dot.com và sự kiện khủng bố 11/09/2001 Mức lãi suất quỹ liên bang giảm từ 6,5% xuống còn 1% (07/2003) và lãi suất này được duy trì trong một thời gian tương đối dài Lãi suất thấp khuyến khích một dòng vốn lớn đổ vào thị trường bất động sản Vì lãi suất thấp nên dễ vay mượn, dẫn đến tình trạng người dân đổ xô đi mua nhà, đẩy giá nhà lên cao Thị trường bất động sản bùng nổ, dẫn đến hiện tượng đầu cơ với suy nghĩ giá nhà sẽ tiếp tục tăng cao và tăng hơn nữa trong tương lai, và giá trị gia tăng của nhà cửa có thể cao hơn cả lãi suất vay tiền Thị trường cho vay thế chấp mua nhà nhanh chóng trở thành “miền đất hứa” với những nguồn lợi nhuận kếch sù cho các ngân hàng và nhà đầu tư Nắm bắt được xu thế đó, những công ty tài chính như Fannie Mae và Freddie Mac- dưới sự bảo trợ của Chính phủ- đã đứng ra bảo lãnh các khoản cho vay cầm cố dành cho những người có thu nhập trung bình và thấp, những người nhập cư, da màu,…- những người mà trước đó không có khả năng mua nhà (cho vay dưới chuẩn) Đồng thời những công ty này cũng sẵn sàng bỏ tiền để mua lại các món cho vay cầm cố ở các ngân hàng thương mại Bằng cách này, các ngân hàng như được tiếp thêm sức mạnh để tiếp tục mở rộng cho vay cầm cố

Đặc biệt, trong những năm gần đây, hệ thống tài chính thế giới chủ yếu là Mĩ) đã phát minh ra một loại dịch vụ tài chính mới, gọi là chứng khoán hóa các món cho vay có nguồn gốc cầm cố Các công ty tài chính và các ngân hàng gom các khoản cho vay cầm cố lại thành những món lớn Sau đó phát hành chứng khoán dựa trên cơ sở giá trị của món vay đó (CDO) Các công

ty tài chính và các ngân hàng thu được tiền mặt và tiếp tục mở rộng các khoản cho vay cầm cố dưới sự bảo lãnh của Fannie Mae và Freddie Mac Như vậy, một dòng tiền lớn được huy động không phải chỉ từ nước Mĩ mà trên khắp thế giới đổ vào thị trường bất động sản Mĩ vì các chứng khoán hóa các khoản cho vay cầm cố này được bán ra trên khắp thế giới Tình trạng này đẩy đầu cơ lên đỉnh điểm trên thị trường nhà đất Mĩ

Thêm vào đó, do lo lắng về diễn biến lạm phát, Fed bắt đầu tăng dần lãi suất, dẫn đến việc thị trường bất động sản bắt đầu chững lại vào đầu năm 2006 Trong khi vào giữa năm 2003 lãi suất căn bản của Fed chỉ có 1% thì vào giữa năm 2006 nó đó tăng lên đến 5,25%, bắt buộc các ngân hàng thương mại phải đẩy lãi suất cho vay tiền mua nhà lên cao hơn nhiều nữa Tình hình lãi suất cao đó khiến cường độ vay để mua nhà giảm lại Giá nhà bắt đầu trượt dốc vỡ cung vượt cầu Giá trị thị trường của căn nhà mà họ mua trước đây dường như đã thấp hơn so với giá trị khoản vay Rồi những người đã vay tiền để mua nhà thì cũng không thể có khả năng chi trả nữa vì khoản vay đó là quá lớn so với giá trị căn nhà, có nghĩa là họ có bán nhà thì cũng không

Trang 15

thể trả hết nợ Điều đó dẫn đến tình trạng bán tháo tất cả, và cả tình trạng bị xiết nợ và phát mại tài sản vì không trả được nợ.

Tình hình trên ngay lập tức làm cho tất cả những chứng khoán có nguồn gốc cầm cố không bán được, dẫn đến sự xuống dốc của thị trường vốn Do không bán được các chứng khoán loại này và giá trị của chứng khoán đó bị sụt giảm mạnh nên các ngân hàng thương mại trở nên khan hiếm tiền mặt để tiếp tục cho vay vào nền kinh tế, dẫn đến tình trạng đóng băng trên thị trường tín dụng Các ngân hàng ngại không cho nhau vay và cũng không muốn cho các công ty và người tiêu dùng vay, trong khi chi tiêu của người Mĩ là một yếu tố quan trọng, chiếm

tỉ trọng 2/3 trong tăng trưởng GDP của Mĩ Tình trạng kiệt quệ tiếp tục lan sang các công ty bảo hiểm đã mạo hiểm tham gia vào việc bảo hiểm những sản phẩm tổng hợp và kết cấu Vấn đề nghiêm trọng đã hiện ra trên thị trường hoán đổi vỡ nợ tín dụng (CDS) Các công ty bảo hiểm như AIG cũng đứng trên bờ vực phá sản do đã nhúng tay vào quá trình bảo hiểm các chứng khoán có liên quan đến các khoản vay dưới chuẩn Mặc cho các ngân hàng trung ương và chính phủ đã có những biện pháp cứu trợ tạm thời nhưng vẫn không thể ngăn chặn hết được những gì sắp xảy ra, và tất cả đều vỡ tan…

Đó là cách mà cuộc khủng hoảng đã hình thành Góp vào đó là những nhân tố mà chúng

đã trở thành nguyên nhân trực tiếp của cuộc khủng hoảng này

A/ Nguyên nhân trực tiếp của khủng hoảng

vì vậy, nợ dưới chuẩn có mức độ rủi ro tín dụng rất cao song bù lại có mức lãi suất cũng rất hấp dẫn Tại Mỹ, nợ dưới chuẩn được thực hiện đối với các sản phẩm cho vay thế chấp mua nhà, thế chấp mua trả góp ô tô, thẻ tín dụng Các đối tượng tín dụng dưới chuẩn phần nhiều là dân nhập

cư vào Mỹ Nó cũng được gọi là tính dụng thứ cấp, hay tín dụng “hạng B”, để phân biệt với tín dụng “hạng A” (hay tín dụng ưu tiên, tín dụng hạng nhất) dành cho những người vay có độ tín nhiệm cao

Sự bùng nổ của cho vay nợ dưới chuẩn bắt nguồn sâu xa từ sự bất cân đối về nguồn vốn tín dụng toàn cầu trong những năm gần đây Trong khi nguồn vốn tín dụng gia tăng từ các chính sách tiền tệ mở thì nhu cầu huy động vốn của các doanh nghiệp sau các bê bối tài chính tại Mỹ như Enron, Worldcom và khủng hoảng các công ty công nghệ thông tin Dotcom từ năm 2001 lại

Trang 16

suy giảm Các chính phủ cũng ngày càng kiểm soát thâm hụt ngân sách để tránh việc vay nguồn vốn bên ngoài Sự bất cân đối cung cầu về vốn dẫn đến việc thừa các nguồn vốn mà thị trường không sử dụng hiệu quả Cho vay nợ dưới chuẩn là một giải pháp để giải quyết bài toán thừa vốn nhằm tối đa hóa lợi nhuận Việc cho vay nợ dưới chuẩn một cách thái quá trong một thời gian ngắn dẫn đến việc mất kiểm soát chất lượng tín dụng, chính là nguyên nhân tạo nên cuộc khủng hoảng tín dụng 2007.

2.2 Chứng khoán hóa

Chứng khoán hóa là một quá trình tài chính cơ cấu, tại đó các tài sản thế chấp khác nhau của những người đi vay được tập hợp và đóng gói rồi được dùng làm đảm bảo để phát hành các trái phiếu (gọi chung là trái phiếu đảm bảo bằng tài sản) Tiền từ người mua các chứng khoán này sẽ được chuyển đến các tổ chức tài chính cho vay thế chấp để các tổ chức này cho người đem thế chấp tài sản vay tiền Chứng khoán hóa chính là quá trình đưa các tài sản thế chấp sang thị trường thứ cấp nơi mà chúng có thể trao đi đổi lại Nó đã biến các tài sản kém thanh khoản thành những chứng khoán thanh khoản cao

Có 4 loại chủ thể kinh tế chủ yếu liên quan đến quá trình chứng khoán hóa, đó là: 1) người thế chấp và đi vay, 2) tổ chức tập hợp và đóng gói tài sản thế chấp rồi phát hành chứng khoán, 3) nhà đầu tư mua bán chứng khoán, và 4) tổ chức tín dụng cho vay Với 4 loại chủ thể kinh tế thay vì 2 loại là người thế chấp - đi vay và tổ chức tín dụng cho vay, rủi ro được chuyển

từ tổ chức tài chính sang nhà đầu tư trái phiếu đảm bảo bằng tài sản Việc gộp nhiều loại tài sản thế chấp khác nhau vào một tập hợp cũng là một hình thức phân tán rủi ro Vì thế, đã có cách gọi các trung gian tài chính tham gia vào chứng khoán hóa là những người tạo ra và phân tán rủi

ro Hai loại chủ thể kinh tế trung gian giữa người đi vay và tổ chức tín dụng cho vay đóng vai trò trung gian - môi giới, nên giúp cho người vay và tổ chức tín dụng dễ “gặp nhau” hơn Ngoài

ra, chứng khoán hóa còn giúp giảm chi phí huy động tài chính Dù người đi vay có mức xếp hạng tín nhiệm không cao nhưng với tài sản đem thế chấp tốt thì chứng khoán đảm bảo bằng tài sản này vẫn có thể được xếp hạng tín nhiệm cao và dễ bán Chính vì thế, chứng khoán hóa tạo thuận lợi cho việc vay và cho vay có thế chấp

Chứng khoán hóa xuất hiện đầu tiên ở MĨ vào năm 1970 Fannie Mae và Freddie Mac - hai công ty được chính phủ Mỹ bảo trợ - là những công ty đầu tiên và cho đến nay vẫn luôn là những công ty tích cực nhất trong hoạt động chứng khoán hóa Hai công ty này đã phát minh ra chứng khoán đảm bảo bằng tài sản thế chấp (hay MBS) Sau đó, các loại chứng khoán đảm bảo bằng tài sản khác ra đời, như giấy nợ đảm bảo bằng tài sản (hay CDO) và các thứ tương tự CDO Nếu như MBS đóng gói các tài sản thế chấp thực thụ khác nhau lại, thì CDO, xuất hiện từ

Trang 17

và một số tài sản khác Nghiên cứu của Mason and Rosner (2007) cho biết vào năm 2005, có

đến 81% tài sản đảm bảo cho CDO là từ MBS, tức là vào khoảng 200 tỉ USD Mĩ Do đó có quan điểm cho rằng CDO là sản phẩm tái chứng khoán hóa các loại chứng khoán khác Và thứ giấy

nợ đảm bảo bằng tài sản này có thể có nhiều loại là sản phẩm chứng khoán hóa của việc đóng gói các loại tài sản có mức độ rủi ro khác nhau, và hướng tới các đối tượng nhà đầu tư khác nhau

Khi nền kinh tế đi xuống, người vay tiền mua nhà không trả được các khoản vay mua nhà thì rủi ro tín dụng được chuyển sang các gói trái phiếu có các danh mục tín dụng bất động sản làm tài sản đảm bảo Khủng hoảng càng gia tăng thì việc phát mại tài sản càng tăng, làm giá bất động sản càng giảm Điều này có nghĩa giá trị tài sản đảm bảo của trái phiếu càng giảm và rủi ro tín dụng càng tăng Vòng xoáy khủng hoảng cứ tiếp tục như vậy, làm cho giá chứng khoán sụt giảm mạnh Các ngân hàng đầu tư mặc dù không nắm giữ toàn bộ rủi ro nhưng cũng trực tiếp hoặc gián tiếp duy trì một số danh mục chứng khoán liên quan đến bất động sản Hậu quả là hàng loạt ngân hàng đầu tư lần lượt báo cáo các khoản lỗ kinh doanh

2.3 Các công ty định mức tín nhiệm

Nếu không có sự ra đời của các công ty định mức tín nhiệm thì có lẽ các gói CDOs kia sẽ không hấp dẫn được người mua Loại CDO từ tài sản có mức độ rủi ro thấp nhất có thể được các tổ chức đánh giá tín nhiệm xếp hạng cao nhất Mức phí định mức tín nhiệm mà các tổ chức này nhận được để xếp hạng các khoản cho vay có thế chấp - một khâu bắt buộc trong quy trình chứng khoán hóa, lại do chính các ngân hàng chi trả chứ không phải là nhà đầu tư Cơ chế này đặt ra vấn đề về rủi ro đạo đức Liệu cơ chế trả phí đó có phải là động cơ khiến các tổ chức định mức tín nhiệm đã xếp hạng các khoản vay có thế chấp đó quá cao, khiến nhà đầu tư không có được đánh giá chính xác về độ an toàn và rủi ro của những trái phiếu mà họ đầu tư hay không? Mặc dù các tổ chức định mức tín nhiệm luôn khẳng định rằng họ tuân thủ một cách chặt chẽ những quy tắc đạo đức nghề nghiệp, thực tế đã trả lời là hàng loạt những khoản vay được định giá AAA để thực hiện chứng khoán hóa là những khoản vay thứ cấp, người đi vay không trả được nợ, dẫn đến hiệu ứng domino trong toàn hệ thống tài chính

Như vây, đúng như Alan Greenspan đã nhận xét: chính quy trình chứng khoán hóa những khoản vay mua nhà có chất lượng tín dụng thấp - chứ không phải bản thân các khoản vay - đã gây ra cuộc khủng hoảng tín dụng toàn cầu gần đây

2.4 Công cụ đầu tư kết cấu

Nhiều tổ chức tín dụng của Hoa Kỳ đã lập ra các công ty con, gọi là các bộ phận mục đích đặc biệt (hay SPV) để mua bán MBS và CDO Điều này cho phép họ đặt MBS và CDO ngoài bảng cân đối tài sản, và vì thế giảm nguy cơ bị các cơ quan giám sát tài chính nhắc nhở

Trang 18

Citigroup là tổ chức đã phát minh ra cái gọi là công cụ đầu tư kết cấu (hay SIV) vào năm 1988

và các tổ chức khác đã theo gương cho ra đời hàng loạt SIV Công cụ đầu tư kết cấu hoạt động theo hình thức huy động vốn ngắn hạn bằng việc phát hành thương phiếu (commercial paper) với lãi suất thấp, đầu tư vào các loại chứng khoán được đảm bảo bằng tài sản (asset-backed securities) với lãi suất cao.Trên thực tế, hoạt động của SIV không khác gì so với hoạt động ngân hàng thương mại Nhưng các SIV này được xem là hệ thống ngân hàng trong bóng tối Họ đi vay bằng cách phát hành chứng khoán ngắn hạn lãi suất thấp rồi cho vay lại bằng cách mua các chứng khoán dài hạn, nhất là mua MBS và CDO, qua đó ăn chênh lệch Tuy nhiên, khi lãi suất của chứng khoán dài hạn lại thấp hơn lãi suất chứng khoán ngắn hạn thì các SIV này bị lỗ Theo

Moody (2008), tại thời điểm tháng 7 năm 2008, giá trị tài sản của các SIV ước lên đến 400 tỷ

dollar Khi hoạt động, các SIV này phải đối mặt với 2 rủi ro, đó là rủi ro vỡ nợ khi giá của các tài sản dài hạn xuống thấp hơn giá trị của các khoản nợ ngắn hạn và rủi ro thanh khoản do việc

đi vay ngắn hạn nhưng lại cho vay dài hạn

Khi khủng hoảng nợ dưới chuẩn xảy ra, rồi lan tới các CDOs, người đi vay không còn khả năng thanh toán thì các SIV này phải lâm vào tình trạng nguy cấp, dẫn tới phá sản hàng loạt Đến ngày 2-10-2008, Sigma Finance, SIV cuối cùng đã sụp đổ

2.5 CDS – Hợp đồng hoán đổi tổn thất tín dụng

Cùng với sự ra đời và phát triển của CDO là sự xuất hiện của những tổ chức cung cấp dịch vụ bảo hiểm cho nhà đầu tư CDO và của những tổ chức liên kết cung cấp hợp đồng hoán đổi tốn thất tín dụng (CDS) CDS là một thỏa thuận giữa hai bên, trong đó một bên trả phí dịch

vụ định kỳ cho bên kia và được cam kết nhận đủ số tiền cho vay tín dụng nếu bên thứ ba không trả được nợ Bên nhận được “bảo hiểm tín dụng” được gọi là bên mua Bên cung cấp dịch vụ

“bảo hiểm tín dụng” được gọi là bên bán Bên có thể bị phá sản hay không thanh toán được nợ được gọi là bên liên quan Dịch vụ CDS trở nên phổ biến khi các rủi ro tín dụng xuất hiện ngày càng nhiều trong 7 năm qua ở Mỹ Các ngân hàng cho rằng, với CDS, các ngân hàng này có thể dàn trải rủi ro trên khắp toàn cầu CDS giống như một hợp đồng bảo hiểm, vì chúng có thể được các chủ nợ mua để đề phòng nguy cơ bên vay không thanh toán được nợ Tuy nhiên, trên thực

tế, do không có yêu cầu cầm cố bất cứ tài sản nào nên CDS cũng có thể được sử dụng cho các mục đích đầu cơ Do ngày càng có nhiều các công ty của Mỹ không thanh toán được số chứng khoán phát hành khi suy thoái kinh tế ngày một lún sâu nên sự đổ vỡ của các CDS là điều không thể tránh khỏi, và phản ứng dây chuyền sự đổ vỡ của các CDS hoàn toàn có thể dẫn đến khủng hoảng tài chính

2.6 Mua bán khống

Trang 19

Khi giới đầu cơ đoán chắc rằng cổ phiếu của những tập đoàn dính líu đến cho vay dưới chuẩn sẽ sụt giảm, họ ồ ạt vay những cổ phiếu này rồi ồ ạt bán ra, tạo nên một áp lực giảm giá lớn không gì cứu vãn nổi Sau khi giá giảm đến một mức nào đó, họ sẽ mua và trả lại nơi cho vay cộng thêm một ít phí, còn bao nhiêu tiền chênh lệch họ sẽ hưởng trọn Thậm chí, họ còn áp dụng cách thức mua bán khống đến hai lần (naked short sale), tức là không thèm vay chứng khoán nữa mà cứ ra lệnh bán theo kiểu “đánh xuống” vì lợi dụng khe hở, mua bán ba ngày sau mới giao cổ phiếu Bộ trưởng Tư pháp bang New York, Andrew Cuomo than: “Họ giống như kẻ hôi của sau một cơn bão”.

2.7 Khủng hoảng niềm tin

Theo GS Joseph Stiglitz, cuộc khủng hoảng bắt đầu từ sự sụp đổ thảm khốc của niềm tin Các ngân hàng đánh đố lẫn nhau về mức độ cho vay cũng như tài sản Những giao dịch phức tạp được tạo ra để loại bỏ rủi ro và che giấu những trượt giá giá trị tài sản thực của ngân hàng Đây là một trò chơi mà con người ta khi bắt đầu cảm nhận thấy mùi của sự thua lỗ và nhìn vào

hệ thống tài chính, khi đó thua lỗ xuất hiện, cả thị trường xuống dốc và tất cả mọi người đều bị thua lỗ Thị trường tài chính xoay quanh trục nguyên tắc độ tin cậy, và độ tin cậy đó đã bị xói mòn, xuống cấp Sự sụp đổ của Lehman là biểu tượng đánh dấu mức độ tin cậy đã xuống một mức thấp mới và dư âm của nó sẽ còn tiếp tục

B/ Nguyên nhân sâu xa của khủng hoảng

Trên đây là những nguyên nhân trực tiếp dẫn đến khủng hoảng tài chính toàn cầu, nhưng sâu xa hơn, cuộc khủng hoảng tài chính có nguyên nhân từ cơ cấu và cơ chế vận hành nền kinh

tế Mỹ Sau cuộc đại khủng hoảng kinh tế Thế giới 1929-1933, các học thuyết kinh tế đề cao vai trò tự điều tiết của thị trường, điều tiết của “bàn tay vô hình” bị phê phán, những học thuyết kinh tế mới của Keynes đề cao vai trò điều tiết của nhà nước trong nền kinh tế thị trường đã ra đời Cơ chế phối hợp giữa điều tiết của thị trường và điều tiết của nhà nước đã giúp nền kinh tế thị trường thế giới phát triển tương đối ổn định và bền vững trong suốt hơn 60 năm qua (khắc phục, giảm bớt được quy mô, tính tàn phá của các cuộc khủng hoảng kinh tế chu kỳ) Nhưng vào những năm 80 của thế kỷ trước, các trường phái kinh tế Tân tự do (Tân cổ điển) lại được đề cao

Trong bối cảnh chung của các nước trên thế giới thực hiện các chính sách tự do hoá kinh

tế, Chính phủ Mỹ còn thực hiện chính sách nới lỏng tiền tệ trong một thời gian dài Để phục hồi nền kinh tế Mỹ sau cuộc suy thoái kinh tế năm 2001 và ảnh hưởng từ cuộc khủng bố 11/9, Cục

Dự trữ liên bang Mỹ đã liên tiếp giảm lãi suất liên ngân hàng (từ 6,5% xuống còn 1,75%), theo

đó, lãi suất cho vay của tín dụng thứ cấp cũng giảm xuống thấp Chính sách nới lỏng tiền tệ

Trang 20

(chính sách đồng USD rẻ) đã kích thích người dân vay tiền mua nhà và các tổ chức tín dụng thì sẵn sàng cho vay, đầu tư mạo hiểm.

Thêm vào đó là sự buông lỏng trong cơ chế quản lí nhà nước Mỹ cho phép ngân hàng thương mại hoạt động đa năng và rộng khắp cả nước, thay vì hạn chế mỗi ngân hàng ở một bang, ngân hàng được phép hoạt động trên khắp liên bang Trước đó ngân hàng thương mại chỉ hoạt động thu nhận tiền ký gửi rồi cho vay Sau thay đổi, ngân hàng thương mại cũng được hoạt động như một công ty đầu tư tài chính, loại công ty này chỉ được làm dịch vụ tạo vốn đầu tư, tức là phát hành và buôn bán cổ phiếu công ty, trái phiếu… Loại hoạt động nhận tiền ký gửi và cho vay chịu sự kiểm soát chặt chẽ của nhà nước như Fed, còn loại hoạt động sau liên quan đến chứng khoán không bị một rào cản nào, trừ việc tuân thủ các định chế buôn bán chứng khoán trên thị trường và nội dung các hợp đồng đã ký kết Mỹ còn cho mở cửa tự do cho mọi loại công

cụ tài chính mới xuất hiện mà không có sự kiểm soát nào, kể cả việc thu thập chính thức các

thông tin thống kê về chúng để theo dõi Mục đích chính là tạo cơ hội cho các hoạt động đầu tư rủi ro Mỹ cho phép công ty bảo hiểm cả những gì gần như không thể bảo hiểm được như bảo hiểm giá trị chứng khoán (nợ hay cổ phiếu), nhất là chứng khoán không có bảo chứng, hoàn toàn chỉ dựa vào niềm tin là thị trường không bao giờ xuống dốc (nhìn một cách tổng thể) Khi thị trường xuống dốc toàn diện, các công ty này phá sản vì không có khả năng thanh toán Ngoài ra,

Mỹ cũng cho phép các hành động đầu tư hoàn toàn mang tính đầu cơ, cho phép bán khống trần trụi Đây là hành động mà giới tài chính có thể sử dụng để đẩy giá một loại chứng khoán nào đó xuống Họ bán chứng khoán ra (mặc dù không có chứng khoán trong tay) với giá cao và làm thế giá chứng khoán bị đẩy xuống, họ mua lại với giá thấp Trước tình hình nguy ngập hiện nay, Ủy ban chứng khoán (SEC) đã phải ra lệnh cấm bán khống bình thường (tức là phải vay chứng khoán của ai đó thì mới được bán) đối với một loạt cổ phiếu của các công ty Mỹ

Tóm lại, sự buông lỏng cơ chế quản lý nhà nước và những sai lầm trong chính sách kinh

tế của chính phủ Mỹ là nguyên nhân sâu xa hơn của cuộc khủng hoảng tài chính ở Mỹ vừa qua Nhìn vào nền kinh tế Mỹ, ta thấy rằng thị trường chủ yếu dựa trên sở hữu tư nhân, lợi nhuận là động cơ mạnh mẽ thúc đẩy các doanh nghiệp năng động, nhưng cũng là nguyên nhân thúc đẩy các doanh nghiệp đầu cơ, thậm chí sẵn sàng vi phạm pháp luật, vi phạm các chuẩn mực đạo đức

xã hội, phá vỡ những cân đối duy trì sự phát triển ổn định của nền kinh tế, dẫn tới khủng hoảng

Từ sau chiến tranh thế giới thứ 2, Mỹ là cường quốc kinh tế, khoa học công nghệ số 1 của thế giới Với ưu thế vượt trội, kinh tế Mĩ không ngừng thúc đẩy sự phát triển của kinh tế thế giới Cho nên một khi nền kinh tế Mỹ bị suy giảm, ắt hẳn dẫn đến sự suy giảm của quan hệ tài chính, thương mại, đầu tư quốc tế của các nước khác Cũng chính do sức mạnh to lớn, tiềm tàng

Ngày đăng: 23/10/2012, 11:40

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng Diễn biến TTCK toàn cầu (từ ngày 12/9/08 đến 12/01/2009) - Khủng hoảng tài chính 2008
ng Diễn biến TTCK toàn cầu (từ ngày 12/9/08 đến 12/01/2009) (Trang 23)
Bảng Biến động giá bất động sản năm 2007 và 2008 - Khủng hoảng tài chính 2008
ng Biến động giá bất động sản năm 2007 và 2008 (Trang 24)
Bảng tăng trưởng kinh tế của khu vực đồng Euro và EU 2006- 2009 - Khủng hoảng tài chính 2008
Bảng t ăng trưởng kinh tế của khu vực đồng Euro và EU 2006- 2009 (Trang 30)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w