Tac Việt Nam & Thế giới dong tiéu cic cua cudc khiing hoang tai chinh 2010: Hầu hết các nước, và khu vực trên thế giới đều đã và đang phải gánh chịu những hậu quả với mức độ khá
Trang 1Tac
Việt Nam & Thế giới dong tiéu cic cua cudc
khiing hoang tai chinh
2010:
Hầu hết các nước, và khu vực trên
thế giới đều đã và đang phải gánh
chịu những hậu quả với mức độ khác
nhau tử cuộc khủng hoảng tài chính
từ Mỹ
Nguyễn Hồng Thu
Bài này sẽ tập trung đề cập tới sự lan
rộng của cuộc khủng hoảng tài chính~
ngân hàng từ Mỹ và những tác động lan
tộ của nĩ tới một số nước và khu vực trên
thế giới qua tỷ lệ thất nghiệp và tang
trưởng GDP
Khủng hoảng tín dụng
nhà ở thứ cấp ở Mỹ
Với chính sách tín dụng dé dai, nhing
tổ chức tài chính Mỹ đã cĩ xu hướng cho
vay mạo hiểm, kể cả cho những người
nhập cư bất hợp pháp vay Việc vay và cho
ĐỮN VỊ PHỐI HỤP THỰC HIỆN Vietingank
vay ổ ạt nhằm mục đích đầu cơ tăng nhanh
một cách kỷ lục Doanh số cho vay dưới chuẩn từ 200 tỷ USD năm 2002 đã bùng nổ
thành 1.300 tỷ USD vào năm 20071 Khi
nền kinh tế Mỹ đi xuống, những người vay
tiền mua nhà khơng trả được nợ, bị các
ngân hàng xiết nợ và phát mại tài sản hàng loạt Cleveland (Ohio) là thành phố đầu tiên châm ngịi cho cuộc khủng hoảng tín dụng lan rộng ra tồn nước Mỹ và thế giới (khoảng 1/10 số nha tai Cleveland bi thu hồi để phát mại) Giá nhà tại Mỹ giảm thảm hại trong quy II nam 2007, mức tdi
tệ nhất kể từ cuộc khủng hoảng tài chính năm 1930 Giá nhà ở giảm nhanh khiến cho các loại giấy nợ đảm bảo bằng tài sản (CDO - collateralized debt obligations) va chứng khốn đảm bảo bằng tài sẵn thế chấp (MBS — mortgage backed security)
do các tổ chức tài chính phat hanh bi giam giá nghiêm trọng Kết quả là bảng cân đối
TienPhong Bank
Lien Viet:
thương mại thế giới sẽ tăng trưởng 2.5%
tài sản của các tổ chức này xấu đi và xếp
hạng tín dụng của họ bị các tổ chức đánh
giá tụt xuống Cuộc khủng hoảng tín dụng nhà ở thứ cấp nổ ra
Tháng 8/2007, một số tổ chức tín dụng
cia My nhu New Century Financial Corporation phải làm thủ tục xin phá sản Một số khác thì rơi vào tình trạng cơ phiếu của mình mất giá mạnh như Countrywide
Einancial Corporation Nhiều người gửi tiền ở các tổ chức tín dụng này đã lo sợ và
đến rút tiền, gây ra hiện tượng đột biến rút tiền gửi khiến cho các tổ chức đĩ càng thêm khĩ khăn Nguy cơ khan hiếm tín dụng hình thành Cuộc khủng hoảng tài chính thực thụ chính thức nổ ra Từ Mỹ, rối loạn này lan sang các nước khác vì nhiều
tổ chức tài chính của các nước phát triển,
nhất là các nước ở châu Âu, cũng tham | gia vào thị trường tín dụng nhà ở thứ cấp 6
Mỹ Chính vì vậy, bĩng bĩng nhà ở của
95
Trang 2
Mỹ bị vỡ cũng làm các tổ chức tài chính
này gặp nguy hiểm tương tự như các tổ
chức tài chính của Mỹ Những nước châu
Âu bị rối loạn tài chính nặng nhất là Anh,
Iceland, Ireland, Bỉ và Tây Ban Nha
Tháng 12/2007, cuộc khủng hoảng
ngày càng trầm trọng hơn khi những báo
cáo kinh tế cuối năm cho thấy sự điều
chỉnh của thị trường bất động sản diễn ra
lâu hơn dự tính và quy mô của khủng
hoảng cũng rộng hơn dự tính Tình trạng
đói tín dụng trở nên rõ rang Hệ thống dự
trữ liên bang cố gắng giảm mạnh lãi suất
liên ngân hàng vào tháng 12/2007 và tháng
2/2008 nhưng không có hiệu quả như
mong đợi Kinh tế Mỹ rơi vào suy thoái
Từ khủng hoảng tài chính
sang khủng hoảng kinh tế
Kinh tế Mỹ suy thoái đã đẩy các ngân
hàng tài chính hàng đầu nước Mỹ lần lượt
bị lâm nguy Mở đầu là Bear Stearn
chuyên cho vay mua nhà Tháng 3/2008,
FED buộc phải cứu Bear Stearns bằng gói
bảo đảm nợ trị giá 30 tỉ USD Tình hình
càng trở nên ảm đạm hơn vào tháng
8/2008, khi giá cổ phiếu của Fannie Mac
và Freddie Mac, 2 định chế tài chính do
chính phủ Mỹ bảo trợ hoạt động trên thị
trường nhà ở, sụt giảm mạnh Sau nhiều nỗ
lực thuyết phục chính phủ, ngày 7/9/2008,
Mỹ ch¡ 200 tỷ USD tiếp quản Fannie Mae
và Freddie Mac
Sau các nỗ lực cứu nguy thị trường tài
chính của Mỹ và Anh, tình hình không
sáng sủa trở lại mà diễn biến càng xấu hon
Ngày 12/9/2008, các quan chức tài chính
cấp cao của Mỹ đã phải nhóm họp để tìm
cách ngăn nguy cơ phá sản của ngân hàng
có lich str 160 nim 14 Lehman Brothers
Két qua, thuong luong bat thanh va chinh
phủ từ chối cứu Lehman Brothers như từng
làm với Bear Stearns Cudc khủng hoảng
được đẩy lên đỉnh điểm vào ngày
15/9/2008, khi đại gia ngân hàng Lehman
Brother nộp đơn xin bảo hộ phá sản với
mốn nợ lên tới 613 tỷ USD Đây là vụ phá
sản được đánh giá là lớn nhất trong lịch sử
nước Mỹ, thậm chí, vụ việc này còn được
coi là một yếu tố biến cuộc suy thoái thành
một cuộc đại khủng hoảng mới Sự sụp đổ
của Lehman Brothers đã gây “sốc” cho cả
hệ thống ngân hàng toàn cầu Nó đồn các
thị trường tài chính — vốn đã lúng túng từ
khi xảy ra khủng hoảng tín dụng thứ cấp
một năm trước đó - rơi vào hoảng loạn
thực sự Nó khiến dòng, chảy tài chính
đóng băng hoàn toàn và đẩy hệ thống ngân
hàng vào tình trạng nguy hiểm, gây ra sự
sụp đổ theo hiệu ú ứng đôminô trong toàn bộ
hệ thống tài chính thế gidi Khong ai nghi
ring những “gã khổng 16” trong nganh tai
chính lại gặp nguy hiểm ĐỂ tránh số phận
tương tự Lehman Brothers, tập đoàn đầu tư
tai chinh Merrill Lynch đã “tự bán mình”
cho Ngân hàng Mỹ (Bank of America)
96 KINH TE 2009-2010
Dén ngay 16/9/2008, FED lai phai đồng ý ý
chi 85 tỉ USD để cứu Tập đoàn bảo hiểm
hàng đầu thế giới (AIG) ciing dang ngấp
nghề bờ vực sụp đổ vì các khoản bảo hiểm độc hại
Tình trạng thị trường tài chính đóng
băng ngày càng tồi tệ đã khiến Ngân hàng
Trung ương Mỹ, Anh, Nhật, EU và nhiều quốc gia khác phải cắt giảm lãi suất hàng loạt để khơi thông dòng vốn Mỹ kể từ đầu
năm đến nay đã 8 lần cắt giảm lãi suất, từ
đó lãi suất cơ bản từ 5% đã xuống chỉ còn
0,25%
Không đừng lại ở các điều chỉnh tài
khóa, các quốc 81a trên cũng tích cực bơm
tiền nhằm hỗ trợ thanh khoản cho các tập đoàn tài chính, cũng như kích thích hoạt
động tiêu dùng và cho vay Trong đó, FED
quyết định dùng 700 ty Déla dé mua lai nợ xấu của các ngân hàng Trước khi được thông qua vào ngày 1/10, kế hoạch hỗ trợ
lớn chưa từng có trong lịch sử đã vấp phải không ít phản đối tại Quốc hội Mỹ Đặc biệt tại vòng bỏ phiếu vào ngày 29/9, Hạ viện bất ngờ không thông qua kế hoạch
trên tạo ra một cú sốc thực sự với phố Wall, khiến chỉ số Dow lones trải qua ngày giảm điểm tôi tệ nhất trong lịch sử
Chỉ sau một tháng kể từ ngày Lehman
Brother sup đổ, chỉ số Dow Jones Sụt tới
25% Kể từ sau giai đoạn này, biến động tại phố Wall trở nên khó lường hơn với
nhiều kỷ lục cả tăng và giảm tồn tại trong hàng chục năm đã bị phá vỡ Cho đến cuối
năm 2008, gần 1.200 ngân hàng Mỹ đã
nộp đơn xin trợ cấp từ Chương trình hỗ trợ của chính phủ để tránh lâm vào khủng hoảng Không lâu sau khi kế hoạch trên được thông qua, vào ngày I3-14/10, các
quốc gia châu Âu đã công bố gói giải pháp
hỗ trợ kinh tế khổng lồ có trị giá lên tới 2.300 ty Déla
Bước vào quý TIV/2008, cuộc khủng
hoảng kinh tế được day lên một nấc thang
mot khi nền tài chính và kinh tế của nhiều quốc gia bị đe dọa nghiêm trọng Để tự cứu mình, các ngân hàng củng cố nguồn tài chính bằng cách ngùng cho vay, dẫn tới tình _trang rối loạn tín dụng Khong có nguồn tín dụng rẻ và dễ dang để “bôi trơn”
cho cả nền kinh tế, Mỹ và Anh bắt đâu rơi
vào suy thoái, kéo theo nền kinh tế toàn
cầu sụt giảm mạnh Khủng hoảng tài chính
nhanh chóng chuyển sang khủng hoảng
kinh tế, mở rộng từ Mỹ tới châu Âu tồi lan sang các thị trường mới nổi và đang phát triển
Tác động tiêu cực của cuộc khủng hoảng tài chính
Tác động của nó đến nền kinh tế thế giới được thể hiện rõ nét thông qua tỷ lệ
thất nghiệp và tang trưởng GDP Ty lệ thất nghiệp liên tiếp tăng cao ở Mỹ và cơn bão
sa thải lao động trên toàn cầu Cuộc khủng hoảng tín dụng nhà ở thứ
BON VI PHỐI HP THỰC HIỆN
KINH TE 2009 - 2010 Viet Nam & Thé giới là
VietinBank
cấp là nguyên nhân chính làm cho kinh tế
Mỹ rơi vào suy thoái từ tháng 12 năm
2007 Kéo theo nó là hàng loạt tổ chức tài
chính trong đó có những tổ chức tài chính
khổng lồ và lâu đời bị phá sản đã đẩy kinh
tế Mỹ vào tình trạng đói tín dụng Tình trạng đói tín dụng lại ảnh hưởng đến khu
vực sản xuất khiến doanh nghiệp phải thu
hẹp sản xuất, sa thải lao động, cắt giảm các hợp đồng nhập đầu vào Thất nghiệp gia
tăng ảnh hướng tiêu cực đến thu nhập và
qua đó tới chỉ tiêu và chỉ số lòng tin của
người tiêu dùng lại làm cho các doanh nghiệp khó bán được hàng hóa
“Cơn lốc” sa thải lao động đã lây lan
với tốc độ nhanh chóng Tỷ lệ thất nghiệp
tại Mỹ tăng liên tiếp trong suốt năm 2008 khiến cho số người bị mất việc trong năm
2008 nhiều hơn bất kỳ năm nào kể từ
Chiến tranh Thế giới II với con số 2,6 triệu
người Việc các công ty, tập đoàn đua nhau cắt giảm nhân công trong bốn tháng cuối
năm 2008 đã khiến số người mất việc trong thời gian này chiếm 73% con số của cả
năm, tương ứng 1,9 triệu lao động Trong
tháng 12/2008, số giờ làm việc trong tuần
trung bình của người lao động Mỹ giảm
0,2 giờ xuống còn 33,3 giờ, mức thấp nhất
kể từ khi chỉ số này ra đời năm 1964; và tỷ
lệ thất nghiệp tăng lên 7,2%, mức cao nhât trong lố năm qua2 Để ngăn chặn tình
trạng sa thải lao động, chính quyền mới của Tổng thống đắc cử B Obama đã đề
xuất gói kích thích kinh tế trị giá gần 800 USD nhằm tạo thêm khoảng ba triệu việc làm trong hai năm 2009 và 2010
Tình hình châu Âu cũng bất ổn không
kém Mội loạt các hãng, tập đoàn lớn của Anh đã tuyên bố cắt giảm nhân viên khiến
tỷ lệ thất nghiệp của nước này đã tăng lên mức cao nhất trong 11 nim qua Tại Pháp,
chỉ trong tháng 8/2008 số người thất
nghiệp tăng thêm 40.000 người Tỷ lệ thất nghiệp của Eurozone lên tới 7,6% trong năm 2008
Suy thoái kinh tế đồng loạt trên toàn cầu
Khủng hoang tín dụng ở Mỹ càng day nên kinh tế giảm sút nhanh chóng vào
những tháng cuối năm 2007 và đến 12/2007 chính thức rơi vào suy thoái với
GDP quý IV/2007 giảm đáng kể chỉ tăng
0,6% so với mức tăng 4,9% trong quý IH/2007 Trong khi đó, đồng Đôla mất giá
làm các đồng ngoại tệ khác tháo chạy khỏi
Mỹ càng làm cho thanh khoản thiếu hụt,
và đồng Đôla mất giá thêm Đồng Đôla mất giá đã ảnh hưởng đến khả năng xuất khẩu vào Mỹ của các nền kinh tế hàng đầu
ở châu Âu và Nhật Bản, khiến cho tốc độ tăng trưởng GDP ở các nước này đều bị sụt
giảm
Nước Mỹ chiếm tới 25% GDP của toàn cầu và một tỷ lệ lớn hơn trong các giao
dịch tài chính quốc tế, nên tác động của
Leen Viet Bank TienPhong Bank
Trang 3KINH TE 2009 - 2010 Viet Nam & Thế giới
cuộc khủng hoảng ở Mỹ không chỉ ở trong
nước Mỹ mà còn vượt ca ra ngoài biên giới
Mỹ, tác động tới nhiều nền kinh tế khác
trên thế giới Sau Mỹ, đến Singapore, Nhật
Bản, rồi đến các nước dùng đồng Euro
cùng tuyên bố suy thoái, các nước mới nổi
và đang phát triển cũng chịu ảnh hưởng
nặng nề Một loạt các nước phải tung ra
những gói hỗ trợ kinh tế nhiều tỷ USD mà
đỉnh điểm là hồi tháng 10/2008, FED, ECB
và 4 ngân hàng trung ương các nước khác
đã đồng loạt cắt giảm lãi suất, nhằm giảm
ảnh hưởng nghiêm trọng của cuộc khủng
hoảng tài chính tồi tệ nhất kể từ cuộc Đại
suy thoái năm 1929—1933
Sự suy thoái kinh tế đồng loạt diễn ra
khắp các châu lục đã đẩy kinh tế thế giới
Tơi vào suy thoái Tăng trưởng kinh tế thế
giới năm 2008 chỉ đạt 3,0% giảm 2,2% so
với năm trước Tăng trưởng của các nền
kinh tế phát triển đạt 0,6% so với 2,7% của
năm trước, trong đó tăng trưởng của Nhật
Bản giảm 0, 1% đã gây ra khá nhiều bất
ngỜ Các nền kinh tế mới nổi và đang phát
triển là 6,0% so với 8,3% của năm trước,
Trung Quốc sau nhiều năm tăng trưởng ở
hai con số đã sụt giảm xuống 9,0% Tăng
trưởng thương mại thế giới cũng sụt giảm
mạnh từ 7,3% năm 2007 xuống còn 3%
Một số nền kinh tế sụp đổ do không chống
chọi nổi cơn bão tài chính
Cuối năm 2008, kinh tế thế giới bị che
phủ bởi những mảng tối do khủng hoảng
và suy thoái kinh tế toàn cầu với những dự
báo cho rằng các nền kinh tế lớn như Mỹ,
Đức, Nhật Bản sẽ tiếp tục suy thoái Tuy
nhiên người ta vẫn có chút hy vọng kinh tế
thế giới có thể hồi phục vào cuối năm 2009
nhờ điểm sáng hiếm hoi — đó là sự kiện
ông Barack Obama trở thành tổng thống da
mầu đầu tiên của nước Mỹ với hàng loạt kế
hoạch kích cầu — cứu trợ của Mỹ và nhiều
nước khác Tuy nhiên, khi bước vào năm
mới được 1 tháng, sự lạc quan ít ỏi đó đã
tan biến
Thế giới bước vào năm 2009 với những
van dé kinh tế tệ hại nhất trong suốt 70
năm qua, kinh tế Mỹ bước vào thời kỳ suy
thoái đài và sâu chưa từng có trong lịch sử
Thua lỗ tín dụng của các tổ chức tài chính
trên toàn cầu lên tới hơn 3.000 tỷ USD
khiến hệ thống tài chính — ngân hàng Mỹ
mất khả năng thanh toán Thâm hụt ngân
sách của Mỹ sẽ tiếp tục tăng lên con số
hàng nghìn tỷ USD Tệ hại hơn, tất cả
những nền kinh tế phát triể n trên thế giới
đều rơi vào suy thoái Kể cả các nền kinh
tế được kỳ vọng có thể trụ vững như Trung
Quốc Ấn Độ cũng tăng trưởng khó khăn
Hàng loạt nền kinh tế mạnh như Nhật Bản,
Đức, Mỹ đều tang truong am, trong do
kim ngach xuat khẩu của Trung Quốc
giảm liên tục ở mức kỷ lục
Xuất khẩu hàng hóa của thế giới đã
giảm liên tục từ đầu năm 2009 và chạm
đầy vào tháng 3/2009 (Theo thống kê của
BON VI PHO! HOP THỰC HIỆN VietinBank“
IMF, xuất khẩu hàng hóa của thế giới vào
cuối quý 1/2009 đã giảm tới 60% so với
một quý trước đó) Hoạt động xuất khẩu giảm sút là nguyên nhân chính khiến tăng trưởng GDP của hàng loạt nước châu á, tử
Trung Quốc đến Nhật Bản, các nước NICs
giảm so với mức tăng trưởng của cùng kỳ năm trước
Tình hình bết bát tới mức người ta đã
gọi những gì đang xảy ra là “Đại suy thoái phiên bản 2.0” nhằm liên hệ tới cuộc Đại
suy thoái thời thập niên 30 của thế kỷ trước, khi nền kinh tế Mỹ suy thoái trung
bình 14% năm và tỷ lệ thất nghiệp lên tới 25%4 Khắp các châu lục, nhiều nước đang
sống trong tình trạng ngành tài chính cực
kỳ căng thẳng khi những biện pháp, chính sách của các nhà hoạch định kinh tế chưa
phát huy hiệu quả Các thị trường chứng khoán tiếp tục mất điểm khi phải nhận
thêm hàng loạt tin tức xấu về ngành tài chính
Dự báo
và triền vọng Tới thời điểm cuối năm 2009, chính phủ các nước tiếp tục giữ thái độ lạc quan thận
trọng về triển vọng phục hồi kinh tế Đó là
lý do vì sao những nền kinh tế hàng đầu thế giới như Mỹ, Eurozone, Nhật Bản và
Anh vẫn đang duy trì lãi suất cơ bản ở những mức thấp kỷ lục hoặc gần kỷ lục
Quốc gia hiện đi đầu trong việc tăng lãi suất trở lại là Australia, với 3 lần tăng lãi
suất trong 3 tháng qua
Bức tranh kinh tế thế giới đã bắt đầu
xuất hiện những mảng sáng, và dự kiến sẽ
còn sáng hơn trong năm 2010 Theo IMF,
kinh tế thế giới năm 2010 sẽ tăng trưởng
3,1%, cao hơn so với mức 1,1% của năm
2009, song vẫn thấp hơn nhiều so với các năm trước và tốc độ phục hồi không đồng
đều Triển vọng có về sáng lạn hơn ở các
nền kinh tế mới nổi và các nước đang phát
triển với tốc độ tăng trưởng dự báo năm
2010 có thể đạt 5, 1% so với 1,7% nam
2009 Trong đó, các nền kinh tế mới nổi ở khu vực châu A - Thái Bình Dương tiếp
tục đà tăng trưởng và dẫn đầu quá trình phục hồi kinh tế toàn cầu Dự đoán Trung
Quốc sẽ tăng trưởng cao nhất (9%); tiếp theo là Ấn Độ (7%); Việt Nam, Lào (5%)
Việc các nước châu Á tích cực chuyển hướng, chú trọng hơn thị trường nội địa
nhằm giảm phụ thuộc xuất khẩu là hướng
đi hiệu quả, giúp lấy lại ổn định và lang trưởng sau khủng hoảng Braxin, nền kinh
tế lớn ở Mỹ la-tunh có thể tăng đạt mức tăng trưởng hơn Š% nhờ nhu cầu trong nước mạnh Tăng trưởng của Nga có thể dat 3.5%—4,5% Nam Phi, nền kinh tế lớn
nhất châu Phi, có thể tăng 1,5% Khu vực tăng trưởng chậm nhất sề là các nền kinh tế
đang nôi lên ở châu Âu chỉ tăng 1,7%
Trong khi theo Hãng dự báo và phân
tich tai chinh — kinh t€ IHS Global Insight
“ ay
Len Viet Bank TienPhongBank
dự báo, tăng trưởng kinh tế của Mỹ sẽ ở
mức 2%-2,5% Động lực cơ bản cho nền
kinh tế Mỹ trong ngắn hạn vẫn sẽ là chi
tiêu dùng, chiếm gần 70% GDP, tuy nhiên động lực này tiếp tục yếu trong năm 2010
Tiêu dùng giảm mạnh vào đầu năm 2010, kéo theo việc giảm tốc độ tăng GDP và sẽ tăng lại vào giữa năm 2010 Châu Âu và Nhật Bản trải qua suy thoái sâu hơn Mỹ và
có thể sẽ phục hồi yếu hơn Eurozone và
Anh dự kiến tăng trưởng tương ứng là
0,9% và 0,8% Một số nền kinh tế Tây Âu, như Iceland, Ireland và Tây Ban Nha, tiếp
tục giảm do ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính Trong khi đó, kinh tế Nhật Bản
sẽ vận hành tốt hơn, với mức tăng nhẹ
1,4%
Mặc dù nhận định lạc quan vé trién vọng phục hồi của các nền kinh tế thế giới, Song kinh tế thế giới vẫn còn nhiều nguy
cơ tiểm ẩn, bởi đà phục hồi hiện nay chủ yếu nhờ các gói kích thích kinh tế của
Chính phủ Một nguy cơ nữa ám ảnh sự phục hồi kinh tế đó là tình trạng nợ công
và nạn thất nghiệp cao Tính đến ngày 10/12/2009, nợ công toàn cầu lên đến 36.000 tỉ USD Những nước nợ công nhiều nhất chính là Nhóm bảy nước phát triển nhất thế : giới (GD Theo IMF, xu thé nay 6 G7 sẽ vẫn tiếp tục tăng đến năm 2014 Tại
các nưỚc, thuộc Tổ chức Hợp tác Kinh tế và
Phát triển (OECD), nợ ngân sách trung
bình chiếm 73,1% GDP năm 2007, sẽ tăng lên 100% vào năm 2011 Tổng nợ ngân
sách các quốc gia thuộc khu vực đồng tiền
chung Euro ước tính khoảng 1.000 tỷ Euro năm 2010, so với 650 tỷ Euro năm 2008 Nhật Bản nợ công tăng từ 167% lên 204'%; Pháp tăng từ 70% lên 99%; Hy Lạp từ
103% lên 130% Ngay cả Đức, một hình
mẫu về điều tiết ngân sách, cũng phải chấp nhận thực tế tăng từ 65% lên 85,5% GDP
OECD đánh giá, hiện các chính phủ TƠI vào tình cảnh hết sức khó khăn: nguồn thu ngân sách từ thuế, phụ thuộc các hoạt động
kinh tế bị giảm mạnh đo suy thoái, trong khi các khoản chi tiêu công tăng vọt, do
nạn thất nghiệp tăng, kéo theo các khoản
trợ cấp xã hội tăng cùng chi phí bổ sung cho các giải pháp an sinh xã hội Đó là chưa kể ngân sách dành cho các kế hoạch
phục hồi kinh tế cũng khiến nợ ngân sách
tăng đột biến
Sự phục hồi của tăng trưởng kinh tế sẽ
giúp thương mại thế giới hoại động sôi
động hơn hơn IME dự báo thương mại thế giới sẽ tăng 2,5% so với năm 2009 (trong khi năm 2009 giảm 11,9% so với năm 2008) Song do ở châu Âu và Mỹ, tỷ lệ thất
nghiệp van ở mức cao nên nhu cầu tiêu
dùng vẫn còn yếu Chủ nghĩa bảo hộ
thương mại trở thành biện pháp mà chính phủ các nước dùng để chuyển dịch ap luc Đây chính là cần trở lớn nhất cho quá trình phục hồi và phát triển trở lại của kinh tế
toàn cầu trong năm 2010
KINH TE 2009-2010 697