I.1. Giai đoạn trước năm 2008 2004-2006: Lãi suất ở Mỹ tăng từ 1% lên 5,35%, thị trường địa ốc Mỹ bắt đầu xuống giá. Các khoản vay địa ốc dưới chuẩn không trả được tăng vọt đến mứ
Trang 1CHƯƠNG I TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH MỸ TRONG NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY
I.1 Giai đoạn trước năm 2008
2004-2006: Lãi suất ở Mỹ tăng từ 1% lên 5,35%, thị trường địa ốc Mỹ bắt
đầu xuống giá Các khoản vay địa ốc dưới chuẩn không trả được tăng vọt đến mức báo động
2007: Các ngân hàng lớn lần lượt báo cáo lỗ do dính vào các khoản vay
loại này Đây là những dấu hiệu khủng hoảng đầu tiên
+Năm 2007, ngân hàng IndyMac lỗ 614 triệu USD
+Fannie Mae khoản lỗ 3,6 tỷ USD trong quý 4/2007, là một sự đảo ngược
so với khoản lãi 826 triệu USD trong quý 1/2007
+Tháng 12-2007, Bear Stearns công bố mức lỗ quí 4-2007 là 854 triệu đô
la, tương đương 6,9 đô la/cổ phiếu; đồng thời thất thoát 1,9 tỉ đô la đầu tư vào cổ phiếu cầm cố
+1/8/2007, hai quỹ phòng hộ (hedge fund) của Bear Stearns, một trong những tập đoàn môi giới chứng khoán và ngân hàng đầu tư hàng đầu của Phố Wall, tuyên bố phá sản
+15/10/2007: Citigroup - Tập đoàn ngân hàng hàng đầu nước Mỹ - công bố
lợi nhuận Quý 3 bất ngờ giảm 57% do các khoản thua lỗ và trích lập dự phòng lên tới 6,5 tỷ USD Giám đốc điều hành Citigroup Charles Prince từ chức vào ngày 4/11
Trang 2Theo báo chí, Mỹ có khoảng 6.000 tỷ cho vay địa ốc, trong đó 2.000 tỷ là dưới chuẩn Khoảng 700 tỷ dưới chuẩn hiện là do hệ thống ngân hàng Mỹ nắm giữ trong tổng tích sản là 11 ngàn tỷ, phần còn lại là các quỹ đầu tư, các công ty bảo hiểm, quỹ hưu trí và nước ngoài nắm giữ Riêng Ngân hàng Mỹ nếu các khoản cho vay dưới chuẩn mất hết thì vốn tự có cũng sẽ gần bằng không
Bảng 1: Bảng cân đối tài sản ngân hàng Mỹ vào cuối tháng 12 năm 2007
Tích sản (asssets) Tiêu sản (liabilities)
Trang 3Theo Moody‟s Economy.com, từ tháng 8 năm ngoái tới đầu tháng 8 năm nay, các định chế tài chính toàn cầu đã thua lỗ tổng số tiền khoảng 925 tỷ USD vì khủng hoảng tín dụng, tương đương 3% tổng tài sản của họ Trong số này, trầm trọng nhất là khoản thua lỗ có thể lên tới 525 tỷ USD liên quan đến các khoản cho vay địa ốc
11/1/2008: Bank of America - ngân hàng lớn nhất nước Mỹ về tiền gửi và
vốn hoá thị trường - đã bỏ ra 4 tỉ USD để mua lại Countrywide Financial sau khi ngân hàng cho vay thế chấp địa ốc này thông báo phá sản do các khoản cho vay
khó đòi quá lớn
17/3/2008: Bear Stearns, ngân hàng lớn thứ năm ở Wall Street, mới năm
ngoái có giá khoảng 18 tỉ đô la phải bán cho JP Morgan Chase với giá 2 đô la/cổ phiếu so với giá 172 đô la/cổ phiếu đầu năm 2007 Fed đứng đằng sau cho vay 29
tỉ đô la để bảo lãnh các khoản nợ khó đòi Mức giá xấp xỉ 240 triệu USD mà JPMorgan trả cho Bear Stearns bao gồm cả tòa nhà trụ sở cao chọc trời của tập
đoàn này tọa lạc trên Đại lộ Madison
11/7/2008: Ngân hàng IndyMac Bancorp với tài sản 32 tỉ bị đặt dưới quyền
kiểm soát của Fed, sau đó tuyên bố phá sản Đây là một trong những vụ đóng cửa ngân hàng lớn nhất từ trước tới nay sau khi những người gửi tiền đã rút ra hơn 1,3
tỷ USD trong vòng 11 ngày
6/9/2008: Fed nắm quyền kiểm soát Fannie Mae và Freddie Mac, hai tập đoàn bảo lãnh tín dụng địa ốc lớn nhất Mỹ
11/9/2008: Lehman Brothers tuyên bố đang nỗ lực tìm kiếm đối tác để bán lại chính mình Cổ phiếu của ngân hàng đầu tư này tụt giảm 45%
14/9/2008:
Trang 4+Bank of America cho biết sẽ mua Merrill Lynch với giá 29 USD/cp sau khi từ chối đề nghị mua lại của Lehman Brothers
+FED bơm 70 tỷ USD vào hệ thống ngân hàng của Mỹ
15/9/2008:
+Ngân hàng đầu tư lớn thứ 4 của Mỹ, Lehman Brothers 158 lịch sử, có vốn
cổ phần khoảng 28 tỷ USD, có 26 ngàn nhân viên, quản lý lượng tài sản 600 tỷ USD, đã tuyên bố phá sản Đánh dấu vụ phá sản lớn nhất tại Mỹ
+Merrill Lynch, ngân hàng đầu tư có gần 100 năm lịch sử, 60 ngàn nhân viên, quản lý tổng tài sản 1,6 ngàn tỷ USD, lo sợ số phận tương tự Lehman Brothers Với khoản nợ 900 tỷ, sau khi tuyên bố lỗ 40 tỷ đô la, tự cứu bằng cách phải bán cho Bank of America Corp với giá 50 tỉ đô la
+American International Group - tập đoàn bảo hiểm lớn nhất thế giới mất khả năng thanh toán do những khoản thua lỗ liên quan tới nợ cầm cố
+FED tiếp tục bơm thêm 70 tỷ USD vào hệ thống ngân hàng của Mỹ Thêm vào đó, FED cũng cung cấp cho thị trường những khoản vay trực tiếp bằng tiền mặt và trái phiếu kho bạc
116 ngàn nhân viên, khỏi bờ vực phá sản
Trang 5+Ngân hàng Barclays của Anh mua lại một phần tài sản tại Bắc Mỹ của Lehman với trị giá 1,75 tỷ USD
Theo số liệu của Bloomberg, tới thời điểm 16/9/2008, khủng hoảng tín dụng đã khiến ngành tài chính thế giới thiệt hại khoảng 515 tỷ USD Và để “chữa bệnh”, ngành này đã phải huy động số tiền 362 tỷ USD
17/09/2008:
+Cổ phiếu của Goldman Sachs và Morgan Stanley giảm mạnh;
+SEC công bố luật mới để ngăn chặn hành vi bán khống vô căn cứ “naked
short-selling”
18/9/2008: Fed cùng 5 ngân hàng trung ương của các nước phát triển (ECB
của Châu Âu, Thụy Sỹ, Nhật, Anh, Canada) bơm 180 tỉ đô la để tháo băng tín
dụng ngân hàng
19/9/2008: SEC đã tạm thời cấm nghiệp vụ bán khống với 799 loại chứng khoán
20/09/2008: Chính phủ Mỹ tuyên bố một kế hoạch tổng thể để cứu hệ
thống tài chính, gồm một chương trình mua lại các khoản vay thế chấp xấu với chi
phí ước tính lên đến 700 tỉ đô la
21/09/2008:
+Hai ngân hàng đầu tư độc lập còn lại là Morgan Stanley và Goldman Sachs chuyển đổi mô hình hoạt động sang tập đoàn ngân hàng tổng hợp (bank holding company) đã kết thúc một giai đoạn lịch sử hoàng kim của Phố Wall với
mô hình ngân hàng đầu tư độc lập (financial holding company) Phố Wall giờ đây
Trang 6đã thuộc về tay FED Cuộc tranh giành quyền lực ảnh hưởng của FED và SEC đối với Phố Wall vốn dai dẳng lâu nay, đã đến hồi kết thúc
+Văn phòng Giám sát tiết kiệm (OTS) của Mỹ đóng cửa ngân hàng Ameribank (theo FDIC, có tổng tài sản 115 triệu USD và lượng tiền gửi của khách hàng là 102 triệu USD), đánh dấu vụ ngân hàng thương mại phá sản thứ 12 trong năm 2008 ở nước này
25/09/2008:
+Với tài sản 307 tỷ USD, Washington Mutual Inc (WaMu)- Ngân hàng thương mại lớn nhất trong lịch sử nước Mỹ có lịch sử 119 năm và 2.300 chi nhánh tại 15 bang đã bị phá sản Cơ quan Bảo hiểm tiền gửi liên bang Mỹ (FDIC) đã đoạt quyền kiểm soát WaMu và sau đó bán các tài sản cho JPMorgan Chase với giá 1,9
tỷ USD Có thêm WaMu, JPMorgan Chase sẽ có tổng cộng 5.400 văn phòng với
900 tỷ USD tiền gửi trở thành ngân hàng thương mại lớn nhất nước Mỹ xét về số
lượng tiền gửi của khách
+Trong khi đó tại Washington D.C., các thành viên chủ chốt trong quốc hội
đã đồng ý về những điều khoản chính trong kế hoạch giải cứu 700 tỷ USD
29/9/2008: Hạ viện bất ngờ không thông qua kế hoạch giải cứu thị trường
tài chính Mỹ Phản ứng ngay lập tức với quyết định trên, chỉ số công nghiệp Dow Jones tụt giảm gần 780 điểm - mức giảm trong một ngày mạnh nhất từ trước tới nay
1/10/2008: Thượng viện Mỹ thông qua bản kế hoạch giải cứu 700 tỷ USD
(tỷ lệ 74-25) với một số điểm đã được thay đổi, bao gồm: gia hạn đạo luật cắt
Trang 7giảm thuế thu nhập cho doanh nghiệp và cá nhân (tính sẽ làm ngân sách thất thu
149 tỷ USD); tăng hạn mức bảo hiểm tiền gửi tại Cơ quan Bảo hiểm tiền gửi Liên
bang từ 100.000 USD lên 250.000 USD…
Kết luận: Tính tới thời điểm này, cuộc khủng hoảng đã khiến:
+Ngân hàng đầu tư Lehman Brothers phá sản
+Ngân hàng đầu tư Bear Stearns và Merrill Lynch bị bán lại
+Ngân hàng đầu tư Goldman Sachs và Morgan Stanley buộc phải chuyển đổi
mô hình kinh doanh sang tập đoàn ngân hàng đa chức năng
+Fannie Mae, Freddie Mac và AIG bị Chính phủ Mỹ tiếp quản
+Thêm vào đó, cùng với vụ phá sản của WaMu, số ngân hàng thương mại của
Mỹ lâm vào cảnh phá sản đã lên tới 13
+Trong cuộc khủng hoảng đang diễn ra, trước vụ phá sản của WaMu, phải
kể đến vụ phá sản của IndyMac với tài sản 32 tỷ USD FDIC cũng đã tiếp quản ngân hàng này hồi tháng 7 vừa qua
Cuộc khủng hoảng này không chỉ khiến ba ngân hàng đầu tư ở Phố Wall là Bear Stearns, Lehman Brothers và Merrill Lynch tan rã, mà còn tác động rất mạnh tới các đối tượng khác trong ngành tài chính Mỹ Từ đầu năm tới nay, đã
có 13 ngân hàng thương mại ở Mỹ phá sản, đồng thời, khủng hoảng cũng không “tha” các công ty bảo hiểm, nhất là AIG
Trang 8CHƯƠNG II NGUYÊN NHÂN CUỘC KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH MỸ
II.1 Cho vay dưới chuẩn:
Trang 9Cuộc khủng hoảng này bắt nguồn hoạt động cho vay có phần dễ dãi và ồ ạt
được gọi là “cho vay dưới chuẩn” - của các ngân hàng đối với người vay tiền
mua nhà trả góp với hy vọng sau đó bán đi để kiếm lời
Cho vay dưới tiêu chuẩn (subprime lending) là hình thức cho vay rất phổ biến, đặc biệt tại Mỹ Thuật ngữ “dưới tiêu chuẩn - subprime” ở đây liên quan đến
vị thế tín dụng của người vay Theo cẩm nang hướng dẫn của Bộ Tài chính Mỹ năm 2001: “Những người đi vay dưới tiêu chuẩn thường có quá khứ tín dụng yếu kém như thường có những khoản thanh toán quá hạn, và có thể có những vấn đề nghiêm trọng như phải ra toà, phá sản Họ cũng có thể có khả năng thanh toán thấp xét trên những chỉ số như điểm tín dụng, tỷ lệ nợ trên thu nhập, hoặc một số tiêu chí khác…” Không có một tài liệu chính thức nào quy định cụ thể về người đi vay dưới tiêu chuẩn nhưng ở Mỹ hầu hết những người vay này có điểm tín dụng thấp hơn 620, chiếm gần 25% dân số Mỹ Do uy tín của người vay thấp và tình hình tài chính không mấy sáng sủa nên nhìn chung các khoản vay dưới tiêu chuẩn có lãi suất cao hơn lãi suất thị trường và điều này lại càng làm tăng thêm khó khăn tài chính cho người vay, đặc biệt khi lãi suất thị trường gia tăng
Trang 10(1) Ngân hàng cho vay mua nhà (1) Ngân hàng bán trái phiếu
(2) Người mua nhà trả nợ ngân hàng (2) Ngân hàng cho vay mua nhà
dòng tiền (3) Người mua nhà trả nợ cho ngân hàng
(4) NH thanh toán cho người sở hữu
Trước đây, người dân Mỹ muốn vay nợ ngân hàng để mua nhà trả góp phải đặt cọc ít nhất 10-20% giá trị ngôi nhà, đồng thời chứng minh khả năng thanh toán của mình Phần 80-90% giá trị còn lại của ngôi nhà sẽ được ngân hàng cho vay và người mua có nghĩa vụ trả góp hàng tháng trong vòng 15-30 năm tùy theo khả năng tài chính của họ song không vượt quá mức an toàn là 1/3 mức thu nhập
Trang 11trước thuế Các ngân hàng Mỹ thường cho vay nếu số tiền trả góp hàng tháng (kể
cả thuế và tiền bảo hiểm ngôi nhà) không vượt quá 28% và nếu cộng thêm các khoản nợ khác thì không vượt quá 36% thu nhập hàng tháng Ngoài ra các ngân hàng còn căn cứ vào điểm tín dụng của người đi vay với ngưỡng tín dụng trung bình là 620 Thông thường, cho vay cầm cố mua nhà đất do các ngân hàng và các công ty chuyên trách thực hiện, nhưng do nhu cầu tăng rất cao nên rất nhiều định chế tài chính khác cũng tích cực tham gia hoạt động môi giới cho vay mua nhà để lấy tiền hoa hồng- thường là 6% giá bán nhà do người bán nhà phải trả và thu các khoản phí liên quan tới hợp đồng, theo đó, các điều kiện cho vay càng được nới lỏng Chẳng hạn, một sản phẩm cho vay trả góp mới phổ biến có tên là khoản vay thế chấp với lãi suất có điều chỉnh ARM (Adjustable Rate Mortgage) có lãi suất trong 5 năm đầu rất thấp, chỉ khoảng 2% trên lãi suất chính thức, sau đó sẽ được điều chỉnh lại với lãi suất cao hơn Bên cạnh đó, do giá nhà đất tăng nên các công
ty môi giới thường chỉ yêu cầu đặt tiền cọc thấp hơn nhiều so với tiêu chuẩn 20/80, thậm chí chỉ khoảng 0-5% để khuyến khích người mua vì cho rằng nếu người mua không trả được tiền góp hàng thàng thì có thể lấy nhà đem ra phát mại vẫn lãi
Trong giai đoạn 2004-2006, cho vay thế chấp dưới tiêu chuẩn chiếm khoảng 21% tổng các khoản vay thế chấp, tăng so với mức 9% giai đoạn 1996-
2004, trong đó chỉ tính riêng năm 2006 tổng trị giá các khoản vay thế chấp dưới
tiêu chuẩn lên đến 600 tỷ USD, bằng 1/5 thị trường cho vay mua nhà của Mỹ Sự phát triển mạnh của hình thức cho vay thế chấp dưới tiêu chuẩn đi kèm với sự bùng nổ thị trường nhà đất của Mỹ là hệ quả của việc lãi suất giảm xuống mức thấp kỷ lục, các tiêu chuẩn cho vay nới lỏng và hội chứng “thích mua nhà” của dân
Mỹ (xem biểu đồ 1)
Trang 12Biểu đồ 1: Tăng trưởng cho vay dưới tiêu chuẩn ở Mỹ (1994-2006)
Nguồn: Fed
Năm 2001 đánh dấu sự hình thành của bong bóng nhà đất trên thị trường
Mỹ sau khi Cục Dự trữ liên bang Mỹ 11 lần giảm lãi suất từ mức 6,5% xuống mức 1,75% nhằm vực dậy nền kinh tế đang suy thoái Bong bóng nhà đất kéo dài suốt giai đoạn 2001-2005, lãi suất thấp đã khuyến khích người dân mua nhà từ nguồn vay cầm cố, đẩy giá nhà liên tục leo thang, tăng 10% năm 2002 và tăng bình quân trên 25%/năm giai đoạn 2003-2005 Lãi suất lúc ấy lại rất thấp nên mua xong, cứ cho thuê để lấy tiền trả góp ngân hàng, được giá là bán lại, lấy lời Sự bùng nổ giá
Tăng trưởng cho vay dưới tiêu chuẩn ở Mỹ (1994-2006)
96 97 98 99 00 01 02 03 04 05 06
94 95
Trang 13nhà giai đoạn này là một yếu tố quan trọng đóng góp vào sự phục kinh tế của Mỹ
do lãi suất giảm làm giảm giá trị các khoản thanh toán cầm cố hàng tháng của người dân trong khi giá nhà tăng giúp họ có được những khoản vay mới lớn hơn
để chi tiêu tiêu dùng, thực hiện khẩu hiệu “đi mua sắm theo yêu cầu của Tổng thống và vì lòng yêu nước”, từ đó kích thích tăng trưởng
Thị trường lúc nào cũng chịu tác động của quy luật cung cầu Khi việc mua nhà không phải vì nhu cầu chỗ ở mà sử dụng nó như một công cụ đầu tư thì chắc
chắn sau một thời gian xây thêm nhà để bán, thị trường sẽ thừa nhà (xem biểu đồ 2) Biểu đồ 2 dưới đây cho thấy lượng cung nhà ở Mỹ tăng vọt bắt đầu từ nửa cuối
năm 2005 như là kết quả của quá trình cho vay mua nhà quá “phóng khoáng” của các ngân hàng Mỹ
Biểu đồ 2: Lượng cung nhà ở Mỹ giai đoạn 2000-2007
(Nguồn: http://www.cuna.org)
Trang 14Bên cạnh đó, sự phục hồi kinh tế của Mỹ cùng với nguy cơ lạm phát gia tăng bởi cả những yếu tố từ cung, cầu đã thúc đẩy Cục Dự trữ liên bang Mỹ tăng lãi suất trở lại, đến tháng 8/2005 lãi suất liên ngân hàng định hướng của Mỹ (Fed Fund Rate) đạt mức 3,75%/năm và dự kiến còn tiếp tục tăng nên không còn là mức lãi suất hấp dẫn đối với người mua nhà Bong bóng nhà đất bắt đầu xì hơi
Năm 2006 thị trường sụt giảm mạnh, tháng 8/2006, chỉ số xây dựng nhà của Mỹ giảm hơn 40% so với cùng kỳ năm trước, nhen nhóm lên nguy cơ khủng hoảng tín dụng trên thị trường cho vay cầm cố dưới tiêu chuẩn Các chủ nhà đất lâm vào khó khăn tài chính do cùng với việc lãi suất tăng làm tăng giá trị hóa đơn thanh toán cho khoản vay cầm cố hàng tháng thì giá nhà giảm làm giá trị tài sản cầm cố giảm xuống thấp hơn mức tiền vay gốc để mua căn nhà Tỷ lệ vỡ nợ của người vay tăng lên, đặc biệt là những người vay dưới tiêu chuẩn vốn thường xuyên
ở trong tình trạng khó khăn tài chính, cùng với nó là sự gia tăng nhanh chóng của hoạt động xiết nợ từ các công ty cho vay Năm 2007, giá nhà tiếp tục giảm, doanh
số bán nhà chưa bao giờ “trượt dốc” như vậy kể từ năm 1989 Thị trường địa ốc
Mỹ lại rơi vào thời kỳ đóng băng, người vay tiền để mua nhà bán kiếm lời lại
không thể bán được nhà (xem biểu đồ 3), trong khi nhu cầu nhà ở lại giảm mạnh (xem biểu đồ 4), cứ như thế món nợ vay mua nhà bỗng tăng vọt Đến lúc này các
ngân hàng bắt đầu nhận thấy nợ xấu, nợ khó đòi tăng vọt Số lượng nợ xấu và khách hàng vỡ nợ cứ thế tăng, đẩy các tổ chức cho vay vào cảnh thua lỗ đáng sợ, thậm chí đệ đơn xin phá sản, trong đó có cả New Century- công ty cho vay cầm cố dưới tiêu chuẩn lớn thứ 2 của Mỹ
Trang 15Biểu đồ 3: Doanh số bán nhà ở Mỹ giai đoạn 1995-2007
Trang 16Nhiều chuyên gia tài chính cho rằng phát minh giá trị nhất trên thị trường tài chính đầu thế kỷ XXI là việc chứng khoán hóa các khoản vay mua nhà thế chấp qua đó cho phép các tổ chức tín dụng tiếp cận thị trường tài chính để chia sẻ rủi ro
và tăng tính thanh khoản của những hợp đồng cho vay Tuy nhiên, cũng qua kênh chứng khoán hóa (Securitization) này với hai công cụ là chứng khoán bảo đảm bằng thế chấp MBS (Mortgage Backed Securities) và trái phiếu có thế chấp CDO (Collateralized Debt Obligations) mà nhiều định chế tài chính trên thế giới đã bị
“vạ lây” khi bong bóng bất động sản ở Mỹ “xì hơi” Việc chứng khoán hóa này đã hình thành nên thị trường cho vay thế chấp thứ cấp SMM (Secondary Mortgage Market)
* Quy trình chứng khoán hóa các khoản vay thế chấp
Trang 17Thị trường cho vay thế chấp sơ cấp PMM (Primary Mortgage Market) có thể coi là thị trường bán lẻ trên đó người đi vay trực tiếp ký hợp đồng với ngân hàng hay thông qua công ty công ty môi giới để vay tiền mua nhà và sử dụng ngôi nhà như là tài sản thế chấp
Tuy nhiên nếu tách biệt các hợp đồng cho vay khi đưa ra giao dịch trên thị trường thứ cấp thì lợi nhuận thu được sẽ không đủ để trang trải chi phí Do đó, các
tổ chức phát hành trên thị trường thứ cấp SMM đã kết hợp nhiều hợp đồng cho vay riêng lẻ thành một “rổ tài sản” và sử dụng như tài sản đảm bảo để phát hành MBS hay CDO trên thị trường thứ cấp Để đảm bảo giá trị tài sản thế chấp trong
“rổ tài sản”, tổ chức phát hành sẽ chuyển giao toàn bộ tài sản này sang bên thứ ba
là Quỹ ủy thác (Trustee) chịu trách nhiệm quản lý và giám sát các tài sản đó
Trang 18Trên thị trường thứ cấp có hai tổ chức có ảnh hưởng quyết định đến giá
MBS và CDO khi phát hành là Tổ chức định mức tín nhiệm (Rating Agency) và tổ chức cung cấp dịch vụ đảm bảo tín nhiệm (Credit Enhancement Provider) Tổ
chức định mức tín nhiệm sử dụng một số mô hình kinh tế phức tạp để đánh giá phản ứng các loại chứng khoán trong các kịch bản kinh tế đưa ra và qua đó xếp hạng các chứng khoán thành chứng khoán loại 1(AAA), chứng khoán loại 2 (AA-BB) và vốn cổ phần (không xếp hạng) Việc xếp hạng sẽ tác động tới lợi tức thu được của tài sản và qua đó tác động tới giá của chứng khoán Để phát hành MBS
ra công chúng thì bên cạnh việc xếp hạng định mức tín nhiệm, tổ chức phát hành còn phải sử dụng dịch vụ đảm bảo tín nhiệm tương tự như mua bảo hiểm cho MBS
để đảm bảo giá trị của MBS và tránh rủi ro do biến động của các dòng tiền từ những tài sản sử dụng đảm bảo cho MBS Đây là một công cụ hữu hiệu cho việc quản trị rủi ro liên quan tới MBS của các tổ chức phát hành
Ngoài ra trên thị trường thứ cấp còn có hai thành phần bổ sung không kém
phần quan trọng là các tổ chức bảo lãnh phát hành (Underwriter) và đại diện phát hành (Servicer) Bảo lãnh phát hành được coi là người cuối cùng có thể bảo vệ và
giảm thiểu thiệt hại cho ngân hàng vì các tổ chức này phải đảm bảo mọi hợp đồng vay đáp ứng đầy đủ những tiêu chuẩn cho vay của ngân hàng Đại diện phát hành
là tổ chức trung gian liên kết những người đi vay riêng lẻ trên thị trường sơ cấp với tổ chức phát hành trên MBS trên thị trường thứ cấp, chịu trách nhiệm thu các khoản trả góp theo kỳ hạn cho tổ chức phát hành và cung cấp một số dịch vụ khác liên quan đến tài sản thế chấp Trong trường hợp khách hàng không thể trả nợ thì đại diện phát hành cũng là người chịu trách nhiệm thu hồi tài sản thế chấp
Trong giai đoạn 2001- 2007, sự bùng nổ của thị trường nhà đất với giá nhà liên tục tăng cao (124% năm 2006 so với 1997) cùng với sự dễ dãi của hệ thống
Trang 19ngân hàng đã làm cho bong bóng mua nhà thế chấp phình to đạt mức 11,03 nghìn
tỷ đôla vào quý 3/2007, trong đó 57% đã được chứng khoán hóa (Biểu đồ 5) Các
loại chứng khoán này được mang bán rộng rãi cho các nhà đầu tư trên khắp thế giới Tuy nhiên bắt đầu từ năm 2007, số lượng nhà tồn kho của ngành xây dựng
Mỹ đã tăng cao trong khi tỷ lệ tịch thu tài sản thế chấp cũng liên tục tăng, đặc biệt
là đối với vay ARM, đã dẫn đến sự ế ẩm của thị trường nhà đất gây áp lực giảm giá nhà khoảng 8% so với năm 2006 Bong bóng bất động sản đổ vỡ Tỷ lệ vỡ nợ, thu hồi tài sản thế chấp tăng cao theo một vòng xoáy khi cho vay ARM chỉ chiếm 6,8% dư nợ tín dụng nhưng chiếm đến 43% số vụ tịch thu tài sản thế chấp riêng trong quý 3/2007 Cùng với sự rối loạn của nhiều ngân hàng lớn tại Mỹ như Citigroup, Morgan Stanley, Merrill Lynch, Goldman Sachs, Bank of America, nhiều ngân hàng lớn trên thế giới như UBS, Deutsche Bank, HSBC, Societe Generale, BayernLB,…tưởng chừng như vô can với sự hỗn loạn trên thị trường nhà đất Mỹ cũng chịu thiệt hại không nhỏ vì gián tiếp cho vay khi đầu tư vào MBS/CDO Theo ước tính của IMF, đến đầu tháng 4/2008, nhà đất mất giá và các ngân hàng không thu được nợ đã làm thiệt hại 565 tỷ đôla Cộng với sự mất giá của cổ phiếu công ty địa ốc và thiệt hại từ khủng hoảng tín dụng thì tổng thiệt hại của nền kinh tế toàn cầu đã lên tới 945 tỷ đôla
THIỆT HẠI CỦA MỘT SỐ NGÂN HÀNG/TỔ CHỨC TÀI CHÍNH LỚN
TRÊN THẾ GIỚI (tỷ USD)
Trang 21Chứng khoán hóa tài sản cho vay thế chấp giai đoạn
1975 - 2007
1.52 2.62 3.46 5.13 6.44 7.23 8.28 9.34
11.03 10.42
cho vay mua nhà thế chấp (nghìn tỷ USD)
chứng khoáng hóa (%)
Biểu đồ 5: Chứng khoán hóa tài sản cho vay thế chấp giai đoạn 1975 – 2007
(Nguồn: FED)
Tuy nhiên thủ phạm chính cho hàng loạt cuộc sụp đổ các đại công ty tài
chính và các ngân hàng đầu tư trong thời gian qua là giới đầu cơ với công cụ mua bán khống Một khi giới này tin chắc cổ phiếu của những tập đoàn dính líu đến
những khoản cho vay dưới chuẩn sẽ sụt giảm, họ ồ ạt vay những cổ phiếu này rồi
ồ ạt bán ra, tạo nên áp lực giảm giá lớn không gì cứu vãn nổi Sau khi giá giảm đến một mức nào đó, họ sẽ mua và trả lại nơi cho vay cộng thêm một ít phí, còn bao nhiêu tiền chênh lệch họ sẽ hưởng trọn Thời gian qua họ còn áp dụng cách
thức bán khống hai lần (naked short sale), tức là thậm chí không thèm vay chứng
khoán nữa mà cứ ra lệnh bán theo kiểu “đánh xuống” vì lợi dụng khe hở, mua ba ngày sau mới giao cổ phiếu
Trang 22II.3 Vai trò của các cơ quan quản lý
Có thể nói thiếu sót lớn nhất của hệ thống cơ quan quản lý thị trường tài chính Mỹ là đã không thể kiểm soát hoạt động cho vay gian dối của các tổ chức không nằm dưới sự giám sát chính thức của Fed hay các cơ quan giám sát hệ thống ngân hàng truyền thống khác trên thị trường sơ cấp thông qua những hợp đồng cho vay bất lợi và tù mù mà chủ yếu nhằm vào các nhóm đối tượng thiếu kiến thức và có mức thu nhập trung bình thấp Các tổ chức này đưa ra những mức lãi suất hấp dẫn để thu hút khách hàng, lờ đi những khai báo không trung thực của khách hàng về thu nhập và chấp nhận mức đặt cọc thấp, thậm chí không cần đặt cọc với điều kiện là khách hàng có thể phải trả mức phạt nặng nếu không trả góp đúng hạn và phải chấp nhận điều chỉnh mức lãi suất ARM rất cao chỉ sau 1 đến 2 năm Trên thị trường sơ cấp có khoảng 50% dư nợ cho vay thế chấp dưới chuẩn được thực hiện bởi các tổ chức nói trên đã làm cho nhiều người Mỹ mắc bẫy và không thể tiếp tục trả tiền nhà, chấp nhận bị thu hồi nhà thế chấp và gây ra 278 vụ kiện cho vay gian dối trong năm 2007
Việc lỏng lẻo trong giám sát của Fed và các cơ quan có trách nhiệm cấp liên bang còn tạo môi trường và thói quen cho vay không xem xét thấu đáo các nguyên tắc và chuẩn mực đã quy định mà chủ yếu dựa vào giá trị tài sản thế chấp
để cho vay, không đánh giá thận trọng khả năng chi trả thực tế của người đi vay gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính thanh khoản và khả năng thu hồi nợ của các ngân hàng khi bong bóng đổ vỡ Cho vay gian dối làm thiệt hại cho nước Mỹ trung bình 9 tỷ đôla/ năm
Trên thị trường thứ cấp, Ủy ban Chứng khoán (Securities and Exchange Commission- SEC) luôn khẳng định là giám sát chặt chẽ quy trình cũng như
Trang 23phương pháp đánh giá MBS của các tổ chức định mức tín nhiệm nhưng trên thực
tế việc giám sát cũng rất lỏng lẻo và đã gây ra hậu quả nghiêm trọng Trong giai đoạn thị trường bùng nổ, các tổ chức này dễ dãi đánh giá cao nhiều MBS/CDO được đảm bảo bằng tài sản thế chấp dưới chuẩn dẫn tới giá trị các chứng khoán này được thổi phồng lên so với giá trị của chúng Khi thị trường lâm vào khó khăn, các tổ chức định mức tín nhiệm lại định giá thấp đối với nhiều MBS/CDO (tính đến tháng 11/2007) buộc các nhà đầu tư có tổ chức mà phần lớn trong số đó chỉ được phép giữ những tài sản bảo đảm như „AAA‟ phải bán tống bán tháo gây
ra dư thừa cung và sự mất giá của nhiều MBS/CDO
Như vậy, Fed đã thất bại ở cả hai mặt: áp dụng chính sách nới lỏng tiền tệ, duy trì lãi suất thấp trong thời gian dài để khuyến khích tiêu dùng và quản lý lỏng lẻo, là nguồn của cơn khủng hoảng tài chính hiện nay
II.4 Khủng hoảng niềm tin
Kinh doanh thiếu hiệu quả, rủi ro cao là mấu chốt làm suy yếu và đổ vỡ ngân hàng Bên cạnh đó, niềm tin của công chúng, người gửi tiền là một trong số yếu tố quan trọng quyết định thành công và thất bại của ngân hàng Người gửi tiền
thực hiện hành vi rút tiền theo phương thức “thà sớm còn hơn quá muộn”, tạo nên
“đột biến rút tiền gửi” Nếu mức độ “đột biến rút tiền gửi” trầm trọng có thể làm cho đơn lẻ thành hệ thống thì có thể dẫn đến tình trạng phá sản như ngân hàng Bear stearn, IndyMac, WaMu vừa qua
Bear Stearns:
Trang 24Sự sụp đổ bất ngờ của tập đoàn này cho thấy, một tập đoàn Phố Wall có thể đánh mất niềm tin của thị trường nhanh tới mức nào
Theo nhận định của ông Christopher Cox, Chủ tịch Ủy ban Chứng khoán
Mỹ, sự sụp đổ của Bear Stearns không phải do thiếu tiền mà do thiếu lòng tin Ông Cox lưu ý rằng những vấn đề của Bear Stearns trở nên trầm trọng rất nhanh khi tin đồn về khủng hoảng thanh khoản của Bear Stearns lan rộng, xói mòn lòng tin của nhà đầu tư, mặc dù “Bear Stearns vẫn có những khoản thế chấp có chất lượng bảo đảm cho các khoản cho vay của mình”
Mới chỉ một tuần trước khi bị sụp đổ, các quan chức của Bear Stearns còn bàn đến những nỗ lực để có được lợi nhuận trong quý 1 năm nay, sau khi đã lần đầu tiên chịu lỗ trong lịch sử vào quý 4 năm ngoái Nhưng chỉ trong vòng 7 ngày, Bear Stearns từ chỗ là ngân hàng đầu tư lớn thứ 5 của Mỹ đã gần như “bốc hơi” hoàn toàn Điều này khiến giới đầu tư chứng khoán từ Á sang Âu mất niềm tin sâu sắc.Vào tháng 2/2008, cổ phiếu của BSC còn giao dịch ở mức 93 đôla, tụt dần xuống 30 đôla vào ngày 14-3, ngay sau đó các khách hàng của BSC đã rút 17 tỉ đôla trong khi có lời đồn đoán rằng BSC mất khả năng thanh toán và nguy cơ phá sản
IndyMac:
Mặc dù IndyMac trước đó đã ở trong tình trạng căng thẳng về thanh khoản Trong quý 1 năm 2008, IndyMac đã lỗ khoảng 184,2 triệu USD và công bố có thể còn thua lỗ nặng hơn trong quý 2 Năm ngoái, ngân hàng này lỗ 614 triệu USD Nhưng với tài sản 32 tỷ USD và lượng tiền gửi 19 tỷ USD của khách hàng, IndyMac có thể vượt qua khó khăn Tuy nhiên, nguyên nhân chính dẫn tới sự đổ
Trang 25vỡ của ngân hàng này là sự xói mòn lòng tin ở công chúng, dẫn đến hiện tượng ĐBRTG
Vào ngày 26/6/2008, Thượng nghị sỹ Charles Schumer đã có một bức thư gửi tới các nhà điều hành đặt câu hỏi về khả năng tồn tại của IndyMac Ngay lập tức, thông tin này đã khiến các khách hàng của IndyMac đổ xô tới ngân hàng này
để rút tiền Chỉ trong 11 ngày sau khi có tin về khó khăn của IndyMac, người gửi tiền đã rút 1,3 tỷ USD, đẩy ngân hàng lâm vào khủng hoảng thanh khoản Kết cục
là ngân hàng này phải đóng cửa vào 13/7/2008, toàn bộ ngân hàng đã được FDIC
xử lý trong trật tự thông qua hình thức thành lập Ngân hàng bắc cầu IndyMac Federal Bank
Với 32 tỷ USD tài sản có, IndyMac là một trong số ngân hàng lớn bị đóng cửa trong lịch sử nước Mỹ, sau Ngân hàng Continental Illinois ( với tài sản 40 tỷ USD) đã bị đóng cửa năm 1984
Washington Mutual:
Theo OTS, sở dĩ WaMu lâm vào tình trạng bi đát như hiện nay là do tình trạng thua lỗ nặng nề ở danh mục cho vay cầm cố địa ốc, thêm vào đó là sự tháo chạy của các khách hàng gửi tiết kiệm Từ ngày 15/9 tới 25/9, lượng tiền gửi mà khách rút khỏi WaMu đã là 16,7 tỷ USD, sau khi tình hình căng thẳng ở Phố Wall leo thang và có những thông tin về việc WaMu đang tìm đối tác mua lại
Tính tới thời điểm bị đóng cửa, lượng tiền gửi của khách hàng trong WaMu đã giảm xuống còn 135 tỷ USD, so với mức 188 tỷ USD hồi cuối tháng 6
Trang 26CHƯƠNG III HẬU QUẢ VÀ TÁC ĐỘNG CỦA CUỘC KHỦNG HOẢNG
III.1 Những tác động xấu đến thị trường tài chính Mỹ
Với những biến động xấu từ cuộc khủng hoảng đã gây ra rất nhiều hệ quả theo sau nó
Như ta biết, cuộc khủng hoảng tài chính Mỹ bắt nguồn từ nguyên nhân sâu
xa là các ngân hàng Mỹ cho vay dưới chuẩn trên thị trường địa ốc thế nên khi cuộc khủng hoảng xảy ra thì các ngân hàng là người gánh chịu hậu quả rõ rệt nhất Chính lòng tham đã đẩy họ vào cuộc khủng hoảng này
Lehman Brothers chỉ là một trong hàng loạt các công ty hàng đầu nước Mỹ sụp đổ khi khủng hoảng bong bóng bất động sản Mỹ bùng nổ từ mùa hè năm
2007 Countrywide Financial, công ty tài chính từng nắm giữ 20% thị trường cho vay bất động sản Mỹ, chỉ trong vài tháng đã bị đẩy đến sát bờ vực phá sản và buộc phải bán lại cho Bank of America vào tháng 1 năm 2008
Hai tháng sau đó, sự sụt giá không kiểm soát nổi của các khoản đầu tư tài chính – bất động sản đã gần như khiến Bear Stearns, một trong năm ngân hàng đầu
tư lớn nhất của Mỹ, tê liệt và buộc phải chấm dứt hoạt động sau 85 năm tồn tại
Vào tháng 7, chính phủ Mỹ buộc phải tiếp quản ngân hàng bất động sản IndyMac sau khi ngân hàng mất khả năng thanh toán tiền gửi do không đòi được
Trang 27các khoản cho vay nhà đất Với giá trị tài sản 32 tỷ đô la, IndyMac đánh dấu một
sự đổ vỡ ngân hàng lớn thứ nhì trong lịch sử nước Mỹ
Ngày 7 tháng 9, chỉ vài ngày trước khi Lehman Brothers phá sản, chính phủ
Mỹ cũng bị buộc phải tiếp quản Fannie Mae và Freddie Mac, hai công ty sở hữu
và bảo lãnh trên 5000 tỉ đô la bất động sản, tương đương gần 50% giá trị thị trường bất động sản Mỹ, sau những báo động về tình trạng cạn kiệt vốn của hai công ty này
Cuộc khủng hoảng bất động sản nhanh chóng làm suy yếu hệ thống tài chính - ngân hàng Mỹ và lan rộng ra toàn thế giới Sự sụt giá trên thị trường bất động sản và các khoản đầu tư tài chính – bất động sản nhanh chóng làm hao hụt nguồn vốn và hạ thấp chỉ số tín dụng của các tập đoàn tài chính – ngân hàng
Chỉ tính đến tháng 7 năm 2008, các tập đoàn này đã báo mất trên 435 tỉ đô
la Hơn thế nữa, không còn một ai dám chắc về giá trị đích thực của các khoản đầu
tư tài chính – bất động sản được ước tính là hàng ngàn tỉ đô la vẫn nằm trên sổ sách của các tập đoàn tài chính – ngân hàng
Một loạt những nỗ lực của chính phủ Mỹ bao gồm việc cho phép các ngân hàng đầu tư được trực tiếp vay tiền từ Cục Dự trữ Liên bang hay việc nới lỏng những hạn chế cho vay giữa công ty mẹ - con cũng không đủ giúp sức cho hệ thống tài chính đã hoàn toàn hụt hơi sau một năm chống chọi với cuộc khủng hoảng nhà đất
Trong bối cảnh đó, sự kiện ngân hàng đầu tư Lehman Brothers mất hàng chục tỉ đô la giá trị cổ phiếu chỉ trong vài ngày không chỉ chấn động và làm đảo lộn thị trường tài chính Wall Street, mà nhanh chóng tạo nên cơn địa chấn toàn cầu, đẩy cuộc khủng hoảng lên tới đỉnh điểm mới
Trang 28Nhiều công ty lớn, vốn từng là đối tác hoặc nhà đầu tư của Lehman Brothers, là những đối tượng đầu tiên chịu ảnh hưởng trực tiếp Ngay sau khi Lehman Brothers tuyên bố phá sản, ba quỹ đầu tư vào thị trường tiền tệ, một loại hình quỹ đầu tư vốn được coi là an toàn gần như gửi tiết kiệm, tuyên bố không còn
đủ vốn pháp định
Trong lịch sử 37 năm tồn tại của loại hình quỹ đầu tư này, chỉ duy nhất một quỹ từng rơi vào tình trạng tương tự vào năm 1994 Khả năng phá sản dây chuyền khiến các nhà đầu tư bán tháo cổ phiếu của American International Group (AIG), tập đoàn bảo hiểm lớn nhất thế giới, vì lo ngại AIG sẽ không cáng đáng nổi trách nhiệm của những khoản bảo hiểm phá sản Chỉ trong vòng vài ngày, cổ phiếu của AIG đã mất tới 90% giá trị
Nghiêm trọng hơn, nỗi lo sợ về khả năng vỡ nợ hàng loạt đã khiến các ngân hàng và công ty tài chính xiết chặt hầu bao, đẩy lãi suất ngân hàng và lãi suất liên ngân hàng tăng vọt từng giờ Các nguồn cung về tài chính bỗng trở nên cạn kiệt, dẫn đến nguy cơ sụp đổ hoàn toàn của hệ thống tài chính và một cuộc khủng hoảng kinh tế toàn diện
Mối đe dọa về khả năng bùng nổ của một cơn đại suy thoái kinh tế đã buộc chính phủ các nước phải can thiệp khẩn cấp Chỉ trong ba ngày 16, 17 và 18 tháng
9, các ngân hàng trung ương Mỹ, Tây Âu, Anh, Nhật, Canada, Nga và Ấn Độ đã phải bơm hàng trăm tỉ đô là vào thị trường tiền tệ nhằm cứu hệ thống tài chính khỏi nguy cơ tê liệt Ngày 16 tháng 9 năm 2008, trong một động thái trái ngược với quyết định từ chối bảo lãnh Lehman Brothers chỉ hai ngày trước đó, Cục Dữ Trữ Liên Bang và Bộ Ngân Khố Mỹ quyết định đổ 85 tỉ đô la vào cứu tập đoàn AIG Quyết định của chính phủ Mỹ không ngoài mục đích ngăn chặn sự đổ vỡ dây chuyền mà theo nhiều chuyên gia sẽ không thể cứu vãn được nếu để AIG phá sản
Trang 29Ngay sau đó, một loạt các đối sách được coi là quy mô nhất kể từ cuộc Đại Suy Thoái những năm 1930 đã nhanh chóng được đưa ra nhằm cứu hệ thống tài chính khỏi nguy cơ sụp đổ Ngày 19 tháng 9, Bộ Ngân khố Mỹ tuyên bố sẽ bảo lãnh tiền đầu tư vào các quỹ đầu tư tiền tệ nhằm ngăn chặn khả năng rút tiền hàng loạt ra khỏi loại hình quỹ đầu tư với trên 3500 tỉ đô la này
Ngày 20 tháng 9 năm 2008, chính quyền Bush đệ trình lên Quốc hội Mỹ một kế hoạch cứu trợ khổng lồ với chi phí ước tính 700 tỉ đô la Kế hoạch này bao gồm việc chính phủ mua lại các tài sản đầu tư tài chính – bất động sản từ các tổ chức ngân hàng – tài chính nhằm giúp các tổ chức này trút bỏ các tài sản xấu, phục hồi lại tính thanh khoản và chỉ số tín dụng
Trong một sự phối hợp hành động chưa từng có tiền lệ nhằm ngăn chặn đầu
cơ giảm giá cổ phiếu, Ủy ban Chứng khoán Mỹ, Canada, Anh, Ailen, Pháp, Đức,
Hà lan, Úc, Đài loan… đồng loạt cấm hoặc hạn chế hoạt động bán khống chứng khoán Những đối sách quyết liệt này đã đem đến sinh khí mới cho thị trường chứng khoán
Chỉ trong hai ngày 18 và 19 tháng 9, các chỉ số chứng khoán cơ bản của Mỹ nhảy vọt gần 9% Các biện pháp cấp tốc của chính phủ Mỹ dường như đã thành công trong việc tạm thời cân bằng lại tâm lý cho giới đầu tư
Ngày 16/4, Bộ Thương mại Mỹ công bố báo cáo hàng tháng cho biết trong tháng 3 vừa qua, tổng số nhà mới được xây dựng chỉ đạt 947.000 ngôi nhà, giảm
11,9% so với tháng 2 và là mức giảm lớn nhất trong 17 năm qua
Số nhà thuộc diện bị tịch thu gán nợ trong tháng 3 tăng tới 57% so với cùng
kỳ năm trước và tăng 5% so với số nhà bị tịch thu gán nợ trong tháng 2 Đây là tháng thứ 27 liên tiếp số lượng nhà bị tịch thu gán nợ ở Mỹ gia tăng Như vậy, cuộc khủng hoảng nhà đất ở Mỹ vẫn tiếp tục xuất hiện những dấu hiệu tệ hại hơn,
Trang 30chủ yếu liên quan tới các hoạt động xây dựng nhà mới và số lượng những ngôi nhà
bị tịch thu gán nợ do nhiều chủ nhà không còn khả năng thanh toán các khoản nợ chồng chất
Trong khi đó, Cục Dự trữ liên bang Mỹ (FED) dự báo kinh tế Mỹ tiếp tục suy giảm trong tháng 3 do người tiêu dùng hạn chế chi tiêu vì giá cả tăng cao Trong báo cáo khảo sát mới nhất - dựa trên các thông tin do 12 ngân hàng dự trữ cấp bang trực thuộc FED cung cấp - các chỉ số kinh tế trong một số lĩnh vực tiếp tục giảm xuống mức thấp hơn so với báo cáo trước (công bố đầu tháng 3-2008)
Giá một số mặt hàng thiết yếu như thực phẩm, xăng dầu và nhiên liệu cũng như vật liệu thô đều tăng Các doanh nghiệp đang phải vật lộn với chi phí đầu vào tăng gây sức ép lên giá thành sản phẩm bán ra thị trường, tác động đến sức mua của người tiêu dùng
III.2 Và hiệu ứng DOMINO
Cuộc khủng hoảng tài chính đang lan truyền trên thế giới một lần nữa cho thấy sự phụ thuộc lẫn nhau của các nền kinh tế trên thế giới Và, ở góc độ nào đó, cuộc khủng hoảng này sẽ gây ra những ảnh hưởng nhất định cho xuất khẩu của Việt Nam
Quá trình khủng hoảng tài chính tín dụng và suy thoái kinh tế Mỹ ảnh hưởng mạnh đến nền kinh tế toàn cầu Theo Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) dự đoán, kinh tế toàn cầu sẽ tăng trưởng chậm lại từ 5% năm 2007 xuống còn 4,1% trong năm 2008 và chỉ còn 3,9% trong năm 2009 Trong đó, dự báo tăng trưởng kinh tế
Mỹ trong năm 2008 chỉ đạt 1,3% và tiếp tục giảm xuống còn 0,8 trong năm 2009
Dự báo tăng trưởng kinh tế của các nước thuộc khối EU tăng trưởng 1,7 năm 2008
và 1,2% trong năm 2009 Dự báo tăng trưởng của Nhật Bản chỉ đạt 1,5%
Trang 31Theo ông Supachai Panitchpakdi – Tổng Thư ký Hội nghị Liên hiệp Quốc
về Thương mại và Phát triển thì, những tháng đầu cuộc khủng hoảng này dường như không ảnh hưởng đến thị trường tín dụng và tài chính Châu Á như khu vực Châu Âu Nguyên nhân là do các ngân hàng ở Châu Á đầu tư rất ít vào thị trường cho vay thế chấp của Mỹ Một bản báo cáo của Merrill Lynch hồi tháng 4/2008 đã nhận định thị trường tín dụng nội địa ở châu Á không bị toàn cầu hóa, và, vì thế
mà trở nên “miễn dịch” với suy thoái tín dụng Mỹ Tuy nhiên, giờ đây, khi cuộc khủng hoảng đã khiến nhiều tổ chức tín dụng sụp đổ và bên bờ vực phá sản, mà mới đây nhất là chính phủ Mỹ đã phải chi 85 tỷ USD để cứu tập đoàn bảo hiểm lớn nhất thế giới AIG đang dấy lên sự lo ngại về khả năng chịu đựng của các nhà đầu tư Châu Á Sự suy thoái trên thị trường vốn sẽ dẫn tới sự sút giảm về đầu tư
và làm chậm lại các hoạt động kinh tế
Ở Việt Nam, cũng như các nước châu Á khác, hệ thống tín dụng hầu như không chịu ảnh hưởng trực tiếp nhiều từ cuộc khủng hoảng đang khuynh đảo các ngân hàng Mỹ và Châu Âu khiến cho kinh tế của các nước phát triển lâm vào tình trạng suy thoái, tỷ lệ thất nghiệp tăng cao, kéo theo sức tiêu dùng và chỉ số niềm tin tiêu dùng đều giảm xuống
Do đó, dưới góc độ xuất khẩu, Mỹ hiện nay vẫn là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam Trong năm 2006, hoạt động xuất khẩu sang Mỹ chiếm tới 21,2% các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam, sang EU là 19,8% và Nhật Bản là 12,3% Vì thế, nếu Việt Nam không kịp thời định hướng lại quan hệ thương mại với các thị trường khác thì sự ảnh hưởng tiêu cực đến xuất khẩu sẽ rất lớn Nhất là khi đồng dollar tiếp tục giảm giá do triển vọng kinh tế Mỹ không khả quan đã khiến cho nhu cầu nhập khẩu từ Mỹ tiếp tục bị thu hẹp lại Theo quy luật, sự sút