Sự kiện khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008 đã gây ra những tác động mạnh mẽ lên tình hình kinh tế - tài chính toàn cầu, mỗi quốc gia khác nhau chịu ảnh hưởng khác nhau đối với cuộc khủng hoảng nhưng sẽ không quá để kết luận rằng hầu hết các nền kinh tế trên thế giới dù ít, dù nhiều cũng phải chịu tác động của cuộc khủng hoảng này
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA KNH TẾ - LUẬT
Bộ môn Kinh Tế Đối Ngoại
*************************************************************
Môn: Tài chính quốc tế
BÀI TIỂU LUẬN NHÓM
Đề tài:
TÁC ĐỘNG CỦA KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH 2008 ĐẾN
CÁN CÂN THANH TOÁN VIỆT NAM
Giáo viên hướng dẫn: TS Lê Tuấn Lộc
5 Phân Thị Kim Ngân K074020209
Hồ Chí Minh ngày 10 tháng 12 năm 2009
Trang 2Lời mở đầu
Sự kiện khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008 đã gây ra những tác động mạnh
mẽ lên tình hình kinh tế - tài chính toàn cầu, mỗi quốc gia khác nhau chịu ảnhhưởng khác nhau đối với cuộc khủng hoảng nhưng sẽ không quá để kết luận rằnghầu hết các nền kinh tế trên thế giới dù ít, dù nhiều cũng phải chịu tác động củacuộc khủng hoảng này Việt Nam kể từ khi chính thức trở thành thành viên tổ chứcthương mại thế giới WTO, hoạt động thương mại, tài chính trong nước cũng dầndần hội nhập với hoạt động của thế giới Vì thế, cuộc khủng hoảng xảy ra Việt Namcũng không thể nào nằm ngoài vùng tác động, hoạt động kinh tế thương mại củaViệt Nam trong thời kì này gặp nhiều khó khăn do tình hình thị trường nước ngoàiđang dần thu hẹp do tác động của khủng hoảng Đặc biệt kể đến các nước lớn, nơi
mà cuộc khủng hoảng tác động trực tiếp như Mỹ, Nhật, các nước trong khối EU…Trong khuôn khổ của đề tài chúng tôi không đi sâu vào phân tích hay nghiên cứu vềcuộc khủng hoảng hay tác động chung của cuộc khủng hoảng đến tình hình của nền
kinh tế Việt Nam trong giai đoạn này Với đề tài “Tác động khủng hoảng tài
chính 2008 đến cán cân thanh toán của Việt Nam” nhóm chúng tôi chỉ tập trung
phân tích tác đông cụ thể của các biến cấu thành nên cán cân thanh toán như: cáncân vãng lai, cán cân vốn… qua đó chỉ ra các biện pháp khắc phục mà Nhà nước đã
áp dụng trong thời kì này để cải thiện cán cân thanh toán
Như đã đề cập từ đầu, bản chất cuộc khủng hoảng xuất hiện trong lĩnh vực tài chính– ngân hàng, tác động của cuộc khủng hoảng đến Việt Nam cũng chỉ là tác độnggián tiếp do tình hình thị trường tài chính trong nước vẫn chưa thật sự mở cửa, liênkết với bên ngoài hoàn toàn Vì thế trong quá trình nghiên cứu để thực hiện đề tàinhóm đã cố gắng để khái quát và tổng hợp một cách cụ thể nhất để phản ảnh bảnchất của vấn đề Tuy nhiên do hạn chế về kiến thức và tài liệu nên đề tài vẫn cónhững hạn chế nhất định, nhóm rất mong nhận được sự đóng góp của độc giả
TP.Hồ Chí Minh ngày 10/12/2009
Nhóm Sakura
Trang 3MỤC LỤC
I Vài đặc điểm nổi bật tác động đến cán cân thanh toán Việt Nam cuối năm 2007 đến trước khủng hoảng tài chính 2008.
I.1 Xuất khẩu khởi sắc song nhập siêu vẫn là một bài toán khó.
I.2 Nguồn vốn nước ngoài đổ vào Việt Nam tăng đột biến.
II Khủng hoảng tài chính năm 2008 tác động đến cán cân vãng lai.
II.1 Tác động lên cán cân thương mại.
II.2 Tác động lên cán cân dịch vụ.
II.3 Tác động lên cán cân thu nhập.
II.4 Tác động lên cán cân vãng lai một chiều.
III Khủng hoảng tài chính tác động đến cán cân vốn.
IV Những chính sách chính phủ đã thực hiện để cải thiện cán cân thanh toán trong giai đoạn này.
IV.1 Các chính sách tác động lên Cán cân vãng lai.
IV.2 Các chính sách tác động lên Cán cân vốn.
*) Nhóm giải pháp bổ sung.
Tài liệu tham khảo
Trang 4I Vài đặc điểm nổi bậc tác động đến cán cân thanh toán Việt Nam cuối năm 2007 đến trước khủng hoảng tài chính 2008.
Một trong những nét nổi bật trong năm 2007 là cán cân thanh toán được cải thiện,
dự trữ quốc tế tăng Lượng dự trữ quốc tế mua vào đã vượt qua ngưỡng 20 tỉ USD,nhập siêu đã lên đến hai chữ số (tính theo tỉ giá USD), thương mại dịch vụ tăngtrưởng ấn tượng
I.1 Xuất khẩu khởi sắc song nhập siêu vẫn là một bài toán khó
Kim ngạch xuất khẩu năm 2007 đạt quy mô lớn nhất từ trước đến nay Kim ngạchxuất khẩu năm 2007 đã cao gấp 20,1 lần năm 1990, gấp 8,9 lần năm 1995, gấp 3,3lần năm 2000 Kim ngạch xuất khẩu bình quân 1 tháng của năm 2007 đã đạt lên 4 tỷUSD, còn cao hơn mức xuất khẩu đạt được trong cả năm từ 1993 trở về trước, sấp
sỉ với mức xuất khẩu trong cả năm 1994
Quy mô xuất khẩu hàng hóa Việt Nam hiện đứng thứ 5/11 nước trong khu vựcĐông Nam Á, đứng thứ 14/55 nước và vùng lãnh thổ ở châu Á, đứng thứ 38/165nước và vùng lãnh thổ trên thế giới có số liệu so sánh, cao hơn thứ bậc của các nămtrước và cao hơn thứ bậc tương ứng về GDP
Kim ngạch xuất khẩu bình quân đầu người liên tục tăng lên qua các năm: kim ngạchxuất khẩu năm 2007 cao hơn gấp 15,6 lần so với năm 1990, gấp 1,5 lần so với năm
2005 Kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam năm 2007 đứng thứ bậc cao hơn về thứbậc GDP (thứ 5 khu vực, thứ 24 ở châu Á và thứ 90 của thế giới) Tốc độ tăng kimngạch xuất nhập khẩu năm 2007 đạt 21,7%, tuy thấp hơn tốc độ tăng trưởng của cácnăm trước, nhưng về lượng tăng tuyệt đối lại thuộc loại cao
Năm 2000 2004 2005 2006 2007
Tốc độ tăng kim ngạch
XK (%) 25,5 31,4 22,5 22,7 21,9Lượng kim ngạch XK
tăng tuyệt đối (Tr
USD)
2941,3 6335,7 5962,0 7379,2 8733,8
Hệ số giữa tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu so với tốc độ tăng GDP đạt gần 2,6 lần.Các chỉ số trên đã cho thấy xuất khẩu là định hướng, đồng thời xuất khẩu đã trởthành động lực của tăng trưởng kinh tế Trong đó tốc độ khu vực kinh tế trong nướctăng 22,3% cao hơn tốc độ tăng chung là một điểm hiếm thấy trong nhiều năm nay,khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 20.9% Đây cũng là một lợi thế để mời gọicác nhà đầu tư đến với Việt Nam
Nguyên nhân tăng trưởng của kim ngạch xuất khẩu có thể giải thích là do tăng cảlượng và giá Theo thống kê tăng lượng cung một số mặt hàng xuất khẩu chủ chốtlà: than đá tăng 11%, cà phê tăng 21,8%, cao su tăng 1,6%, hạt điều tăng 20,4%, chè
Trang 5tăng 7,8% Giá tăng có dầu thô 11,6%, cà phê 25%, gạo 17.5%, hạt tiêu 101,4%,cao su 7,1%, hạt điều 7,1%
Nhìn chung xuất khẩu năm 2007 đã vượt qua kế hoạch tăng trưởng 21,7% so với17,4% cả về kim ngạch tuyệt đối 48.4 tỷ USD so với 46,4 tỷ USD
Nhập siêu năm 2007 đã lên đến 12.443 triệu USD, cao nhất từ trước tới nay: tỉ lệnhập siêu so với xuất khẩu lên đến 25,7%, dự báo trong năm 2008 tỉ lệ nhập siêucòn tiếp tục tăng Nhập siêu 2007 có bốn đặc điểm đáng lưu ý:
Một, mức nhập siêu đã lên đến 2 chữ số, cao gấp gần 2,5 lần năm trước và cao nhất
từ trước tới nay
Hai, tỉ lệ nhập siêu so với kim ngạch xuất khẩu cũng tăng gấp đôi năm trước
(25,6% so với 12,7%) là tỉ lệ cao nhất tính từ năm 1998 đến nay và vượt xa tỉ lệbình quân 1998 đến 2006 (14,9%)
Ba, nhập siêu đã vượt xa so với mức kế hoạch (12,45 tỉ USD so với 5,1 tỉ USD).
Vượt xa so với kế hoạch 5 năm 2006-2010
Bốn, trong khi xuất siêu so với các nước ở xa, nước có công nghệ nguồn như: Nhật,
Mỹ, Anh, Italia, Đức… thì Việt Nam lại ở vị thế nhập siêu so với các nước gần như:Trung Quốc, Hàn Quốc, Thái Lan, Ấn Độ…
Nguyên nhân nhập siêu cao có nhiều nhưng nguyên nhân khách quan do giá cảnguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu thị trường thế giới tăng cao, nhất là xăng dầu, sắtthép, phôi thép, nhựa, vải sợi, phân bón, thức ăn gia súc Nguyên nhân chủ quan dolúng túng trong điều hành xuất nhập khẩu của Nhà nước và các doanh nghiệp Tốc
độ tăng kim ngạch nhập khẩu cao hơn nhiều so với tốc độ tăng kim ngạch xuấtkhẩu; công tác dự báo thị trường chưa tốt, chất lượng hàng hóa xuất khẩu chưa cao,sức cạnh tranh còn hạn chế
I.2 Nguồn vốn nước ngoài đổ vào Việt Nam tăng đột biến
Trong năm 2007 cả nước đã thu hút 350 lượt dự án tăng vốn với số vốn trên 3,2 tỉUSD vốn đầu tư tăng thêm của các dự án cũ Nét mới trong thu hút vốn FDI năm
2007 là cơ cấu đầu tư đã chuyển dịch từ công nghiệp sang lĩnh vực dịch vụ kháchsạn, căn hộ cho thuê, nhà hàng, du lịch, tài chính, ngân hàng Địa bàn đầu tư cũngchuyển mạnh đến các vùng ít dự án như miền Trung, miền Bắc Năm 2007, cả nước
có 52 địa phương thu hút vốn FDI Các tỉnh miền Trung năm 2007 đã thu hút 3,3 tỉUSD vốn đầu tư đăng ký mới, tăng 264,5% so với năm 2006 và gần bằng số vốnFDI của 18 năm trước đó cộng lại (3,5 tỉ USD) Nhà máy lọc dầu Vũng Rô do Anh
và Nga hợp tác đầu tư, vốn FDI của tỉnh Phú Yên đạt 1,7 tỉ USD là đứng đầu cáctỉnh miền Trung, vượt qua Đà Nẵng, Quảng Nam và Thừa Thiên - Huế
Tổng số vốn đầu tư nước ngoài (FDI) năm 2007 của nước ta đạt 20,3 tỉ USD là mứccao nhất từ trước đến nay
Vốn đầu tư thực hiện năm 2007 ước đạt 5,1 tỉ USD, tăng 1,2 tỉ USD (30,7%) so vớinăm 2006 (39,56 tỉ USD)
Cùng với tăng vốn FDI, lượng kiều hối đổ về Việt Nam tiếp tục tăng cao Dự kiến
cả năm 2007, lượng kiều hối của người Việt Nam ở nước ngoài gửi về qua kênh
Trang 6chính thức đạt 5,5 tỉ USD so với mức 4,7 tỉ USD năm 2006 và gấp 157 lần năm
2001 Tốc độ tăng bình quân 37%/năm đưa lượng kiều hối gửi qua kênh chính thứcđược thực hiện từ năm 1991 đến 2007 lên con số 29,4 tỉ USD, chiếm 70% vốn FDI,tính từ năm 1998 và cao gấp rưỡi vốn ODA được giải ngân kể từ 1993 Nguồn vốnkiều hối năm 2007 chủ yếu là giúp người thân trong nước đầu tư chứng khoán, kinhdoanh địa ốc, một phần mua sắm tài sản, hàng hóa, lễ hội vào dịp cuối năm
Lượng kiều hối vào Việt Nam qua các năm
Vốn đầu tư gián tiếp từ thị trường chứng khoán cả năm ước đạt từ 4,5 đến 5 tỉ USDnăm 2007
Những bất cập liên quan đến dòng vốn tại Việt Nam có thể kể đến như:
Một, sự bất cân xứng về cơ cấu nguồn vốn nhà nước và nguồn vốn nước ngoài ngày
càng lớn Trong khi nguồn vốn nước ngoài ngày một tăng thì ngồn vốn trong nướclại giảm
NVTN 59,8% 57,3% 52,9% 48,1% 47,1% 46,4% 43,3%
NVNN 22,6% 25,3% 31,1% 37,7% 38,0% 37,7% 40,7%
Hai, tuy nguồn vốn đầu tư nước ngoài lớn nhưng ở từng nguồn vẫn còn hạn chế,
quá trình giải ngân dự án đạt tỉ lệ chưa cao, nhiều dự án đăng kí hàng chục tỉ đồngnhưng lại chia ra thành nhiều giai đoạn giải ngân nên rủi ro rất lớn Khủng hoảng tàichính cuối năm 2008 tác động mạnh mẽ lên hoạt động kinh doanh của doanh nghiệpbuộc họ phải thắt chặt ngân sách, khi đó nguồn vốn thực sự được giải ngân cho các
dự án giảm xuống đáng kể
II Khủng hoảng tài chính năm 2008 tác động đến cán cân vãng lai
Cán cân vãng lai của một quốc gia bao gồm:
- Cán cân thương mại: Xuất khẩu hàng hóa và Nhập khẩu hàng hóa
- Cán cân dịch vụ: Xuất khẩu dịch vụ và Nhập khẩu dịch vụ
- Cán cân thu nhập
- Chuyển giao vãng lai 1 chiều
Trong các hạng mục của Tài khoản vãng lai thì Cán cân Thương mại là quan trọngnhất Thông thường nếu có thâm hụt tài khoản vãng lai, thì nguyên nhân chủ yếu là
do thâm hụt cán cân thương mại
Khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008 là sự phát triển và lan tỏa của cuộckhủng hoảng tài chính Hoa Kỳ năm 2007 và còn tiếp tục diễn ra trong năm 2009.Cuộc khủng hoảng tài chính đã ảnh hưởng tiêu cực đến nền kinh tế các nước, gây ra
Trang 7suy thoái kinh tế ở nhiều nơi và tăng trưởng kinh tế chậm lại Mặc dù Việt Nam đãchuyển hướng chính sách để đối phó với khủng hoảng, tuy độ mở của nền kinh tếViệt Nam khá cao nhưng còn chịu tác động bất lợi trên cả 3 bình diện: thương mại,đầu tư và tài chính nên sẽ đứng trước nhiều thách thức Năm 2008, vốn đầu tư nướcngoài (FDI) đổ vào Việt Nam chiếm 30% tổng đầu tư, đầu tư gián tiếp qua các kênhtrái phiếu chính phủ, thị trường chứng khoán chiếm tỉ trọng khá cao (39% trái phiếu
và 25% tổng mức vốn hoá của thị trường), nhưng đã có dấu hiệu suy giảm do khủnghoảng
II.1 Tác động lên cán cân thương mại
Mặc dù thâm hụt thương mại là tình trạng đã kéo dài nhiều năm ở Việt Nam, tuynhiên, điều đáng báo động là năm 2008 thâm hụt cán cân thương mại của Việt Nam
đã ở mức đỉnh điểm với mức thâm hụt 17,5 tỉ USD Điều này có thể được lí giảiphần nào bởi cuộc khủng hoảng tài chính 2008
Cuộc khủng hoảng kinh tế 2008 tại Mỹ đã khiến nền kinh tế này nói riêng và kinh tếtoàn cầu nói chung rơi vào tình trạng suy thoái, tốc độ tăng trưởng giảm sút Theo
đó, đồng USD mất giá trên thị trường quốc tế, đồng nghĩa với tỷ giá VND/USDgiảm, ảnh hưởng trực tiếp đến xuất khẩu của Việt Nam Trong khi đó, Mỹ là thịtrường xuất khẩu lớn của Việt Nam, chiếm khoảng 20-21% kim ngạch xuất khẩu.Khủng hoảng tài chính đã tác động đến tốc độ tăng trưởng xuất khẩu vào thị trường
Mỹ do cầu tiêu dùng tại thị trường Mỹ đang trên đà giảm mạnh Việc suy giảm tốc
độ tăng trưởng xuất khẩu vào thị trường Mỹ sẽ ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởngxuất khẩu chung của Việt Nam trong năm 2008 và cả năm 2009 (nếu nền kinh tế
Mỹ chưa có dấu hiệu phục hồi)
Mặt khác, cung đối với các mặt hàng nhập khẩu sẽ tăng do các nhà sản xuất bị giảmthị trường ở các nước phát triển sẽ tìm cách mở rộng các thị trường khác Trong cácthị trường nhập khẩu của Việt Nam năm 2008, kim ngạch hàng hoá nhập khẩu từ khuvực ASEAN, ước tính 19,5 tỷ USD, tăng 22,5% so với năm 2007; Trung Quốc 15,4 tỷUSD, tăng 23,2%; thị trường EU 5,2 tỷ USD, tăng 1,7%; Đài Loan 8,4 tỷ USD, tăng21,8 %; Nhật Bản 8,3 tỷ USD, tăng 37,7% Nhập siêu năm 2008 ước tính 17,5 tỷUSD, tăng 24,1 % so với năm 2007, bằng 27,8% tổng kim ngạch xuất khẩu Tuynhập siêu đã giảm nhiều so với dự báo những tháng trước đây nhưng mức nhập siêunăm 2008 vẫn khá cao
Kim ngạch xuất nhập nhẩu hàng hóa Việt Nam thời kì 2005 - 2008
Trang 8Dầu thô 7387 22,8 8311 20,9 8487 17,5 10330 16,5
NHẬP
Trong nước 23121 62,9 28402 63,3 41247 65,7 52815 65,4Nước ngoài 13640 37,1 16489 36,7 21517 34,3 27899 34,6
Nguồn Tổng cục thống kê
Khủng hoảng tài chính Mỹ còn tác động tiêu cực tới nhiều nền kinh tế khác trên thếgiới, đặc biệt là EU và Nhật Bản – đây cũng là hai thị trường xuất khẩu quan trọngcủa Việt Nam Do tác động của khủng hoảng, người dân tại các thị trường này cũngphải cắt giảm chi tiêu, các nhà nhập khẩu không có khả năng thanh toán do khókhăn về tài chính, theo đó nhập khẩu đối với hàng hoá xuất khẩu của Việt Nam có
II.2 Tác động lên cán cân dịch vụ
Xuất nhập khẩu dịch vụ năm 2008
Thực hiện (Triệu
USD) Năm 2008 so với
năm 2007 (%)
Cơ cấunăm 2008 %
2007 2008
Dịch vụ vận tải hàng không 1069 1322 123,7 18,6Dịch vụ vận tải biển 810 1034 127,7 14,6Dịch vụ buu chính viễn
Dịch vụ du lịch 3750 4020 107,2 56,7Dịch vụ tài chính 332 230 69,3 3,2
Dịch vụ bảo hiểm 65 60 92,3 0,8
Dịch vụ Chính phủ 45 50 111,1 0,7
Dịch vụ khác 279 300 107,5 4,2
Trang 9Ước tính tháng
12 năm 2008
Cộng dồn
cả năm 2008
Năm 2008 sovới năm 2007 (%)
Trang 10Vận tải hàng hoá tháng 12 và năm 2008
Thực hiện 11 tháng năm 2008 Ước tính tháng 12 năm 2008 Cộng dồn cả năm 2008 Năm 2008 so với năm 2007 (%)
Trang 11
A SẢN LƯỢNG (Nghìn thuê bao)
Số thuê bao điện thoại phát triển 24638,0 2913,0 27551,0 118,0
Trong đó: Tập đoàn BCVT 16821,3 2839,2 19660,5 199,0
Trang 12Cộng dồn
cả năm2008
Tháng 12 năm
2008 so với tháng
11 năm 2008 (%)
Năm 2008 so với năm 2007 (%)
Trang 13vụ năm 2008 ước tính đạt 7,9 tỷ USD, tăng 10,3% so với năm 2007, trong đó dịch
vụ du lịch 1,3 tỷ USD, tăng 6,6%; dịch vụ vận tải hàng không 800 triệu USD, giảm2,4%; dịch vụ hàng hải 300 triệu USD, tăng 20%
II.3 Tác động lên cán cân thu nhập
Theo thông lệ hàng năm, bắt đầu từ tháng 10 của năm 2008 đến tháng 1 của năm
2009 mới chính là "mùa kiều hối" Tuy nhiên, nếu theo dõi số liệu của từng thángthì có thể thấy, bắt đầu từ tháng 10 năm 2008, lượng kiều hối chuyển về Việt Namthông qua các kênh chính thức của ngân hàng đã bắt đầu giảm dần
Lí do chính cho vấn đề trên là do tác động của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu,một số quốc gia nhận nhiều lao động xuất khẩu của Việt Nam cũng gặp những khókhăn, lương trả cho công nhân suy giảm, đồng thời việc tiếp nhận lao động mớicũng không còn được như trước, cho nên thu nhập của bà con Việt Nam tại một sốnước, đặc biệt là ở Mỹ cũng đã bị suy giảm, lượng tiền gửi về để hỗ trợ người thâncũng ít đi Theo thống kê, lượng kiều hối chuyển về Việt Nam trong năm 2008 là7,2 tỷ USD
Với doanh số 8-10 tỷ USD/năm, kiều hối là một nguồn thu rất quan trọng của ViệtNam Do một phần lớn nguồn kiều hối từ Mỹ nên chắc chắn nguồn này cũng giảmsút nhất định trước cuộc khủng hoảng kinh tế 2008 gây ảnh hưởng không nhỏ đếncán cân thương mại nói chung
II.4 Tác động lên cán cân vãng lai một chiều (cụ thể là lượng vốn ODA)
Theo đánh giá của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, công tác vận động thu hút vốn ODA củaViệt Nam đang có nhiều thuận lợi do Việt Nam được đánh giá là một trong nhữngnước sử dụng vốn ODA hiệu quả nhất
ODA năm 2008 tuy có sự tiến bộ về giải ngân nhưng do nguồn ODA năm 2008thấp hơn nhiều so với năm 2007 nên tổng vốn giải ngân năm 2008 thấp hơn năm
2007 Kế hoạch giải ngân vốn ODA năm 2008 được giao là 1.900 triệu USD, trong
đó vốn vay là 1.690 triệu USD và viện trợ không hoàn lại là 210 triệu USD Về cơ