Bắt đầu bằng việc sụp đổ của thị trường trái phiếu phái sinh bất động sảnMortgage Backed Securities – MBS, cuộc khủng hoảng tài chính Mỹ đã lan rộng rakhắp thế giới.. + Ngày 01/06: Gener
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
BỘ MÔN TÀI CHÍNH QUỐC TẾ
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨUPHÂN TÍCH VÀ ĐÁNH GIÁ SỰ TÁC ĐỘNG CỦA CUỘC KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH 2008 TỚI NỀN KINH TẾ VIỆT NAM THỜI GIAN QUA
Trang 2MỤC LỤC TRANG
2 Ảnh hưởng của khủng hoảng đến kinh tế của một số
3 Ảnh hưởng của khủng hoảng đến kinh tế Việt Nam 35
3.5 Một số gợi ý về chính sách nhằm giảm thiểu tác động
Trang 31 Cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính 2008
1.1 Diễn biến cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính 2008
Khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008, theo Alan Greenspan (cựu Thống đốcQuỹ Dự trữ Liên bang Mĩ FED), là khủng hoảng kinh tế lớn nhất, là cuộc đại suy thoáicủa thế kỉ XXI kể từ cuộc đại khủng hoảng kinh tế thế giới 1929- 1933, thế kỉ XX
Bắt đầu bằng việc sụp đổ của thị trường trái phiếu phái sinh bất động sản(Mortgage Backed Securities – MBS), cuộc khủng hoảng tài chính Mỹ đã lan rộng rakhắp thế giới Nhiều ngân hàng lớn và công ty bảo hiểm hàng đầu thế giới đã phá sảnhoặc được giải cứu Từ tháng 10/2008 nguồn tài chính thế giới đóng băng, các nền kinh
tế lớn nhỏ đã chao đảo theo chiều suy thoái Ngày 08/03/2009, Ngân hàng Thế giới đãđưa ra cảnh báo: Lần đầu tiên kể từ sau Thế chiến II, GDP toàn cầu năm 2009 sẽ sụtgiảm và điều này sẽ tác động tới cả các nước phát triển và đang phát triển Điều này chothấy, cuộc khủng hoảng tài chính tại Mỹ lần này thực chất là những biểu hiện rõ nét củamột quá trình khủng hoảng rất lâu trước đó Dưới đây là chuỗi những sự kiện chính, nổibật gây nên tình trạng khủng hoảng như hiện nay, qua đó có thể thấy khủng hoảng đãđược hình thành như thế nào
Năm 2000: Bong bóng Dot-com vỡ, Cục dự trữ liên bang Mĩ đã hạ lãi suất cho
vay qua đêm liên ngân hàng để cứu nền kinh tế khỏi suy thoái, nhất là từ sau thảm họakhủng bố 11/09/2001
Từ tháng 05/2001 đến 12/2002: Lãi suất liên ngân hàng giảm 11 đợt từ 6,5%
xuống còn 1,75%, tín dụng thứ cấp cũng giảm lãi suất theo đi vay ồ ạt kể cả nhằmmục đích đầu cơ hình thành nên bong bóng nhà ở
Năm 2002- 2004: Giá cả nhà đất tại các bang Arizona,California, Florida,
Hawaii, và Nevada tăng trên 25% một năm Sự bùng nổ nhà đất ở Mỹ bắt đầu
Năm 2004-2006: Lãi suất ở Mỹ tăng từ 1% lên 5,35%, thị trường địa ốc Mỹ bắt
đầu xuống giá Các khoản vay địa ốc dưới chuẩn không trả được tăng vọt đến mứcbáo động
Năm 2007: Các ngân hàng lớn lần lượt báo cáo lỗ do dính vào các khoản vay loại
này Đây là những dấu hiệu khủng hoảng đầu tiên
Trang 4+ Fannie Mae khoản lỗ 3,6 tỷ USD trong quý 4/2007, là một sự đảo ngược so vớikhoản lãi 826 triệu USD trong quý 1/2007.
+ 1/8/2007, hai quỹ phòng hộ (hedge fund) của Bear Stearns, một trong nhữngtập đoàn môi giới chứng khoán và ngân hàng đầu tư hàng đầu của Phố Wall, tuyên bốphá sản
+ Ngày 17/08: Cục dữ trữ liên bang đã phải hạ mức hệ số chiếu khấu 50 điểm cơbản, từ mức 6.25% xuống 5.75%
+ Ngày 18/09: Cục dự trữ Liên bang tiếp tục hạ mức hệ số chiết khấu 50 điểm cơbản xuống còn 5.25%
+ 15/10/2007: Citigroup - Tập đoàn ngân hàng hàng đầu nước Mỹ - công bố lợinhuận Quý 3 bất ngờ giảm 57% do các khoản thua lỗ và trích lập dự phòng lên tới 6,5 tỷUSD Giám đốc điều hành Citigroup, Charles Prince, từ chức vào ngày 4/11
+ Ngày 31/10: Cục dự trữ liên bang hạ Mỹ lãi suất quỹ liên bang từ mức 25 điểmxuống 4.5%
+ Tháng 11: Cục dự trữ liên bang bơm thêm 41 tỷ đô la cho các ngân hàng vayvới lãi suất thấp Đây là lần xuất tiền lớn nhất của cục dự trữ liên bang kể từ 19/9/2001(50,35 tỷ đô la)
+ Ngày 11/12: FED hạ lãi suất quỹ liên bang xuống còn 4.25%
+ Tháng 12/2007: Tổng thống Bush tuyên bố kế hoạch giúp đỡ cho thêm 1,2 triệuchủ sở hữu bất động sản trong việc thanh toán các khoản nợ tại ngân hàng
+ Tháng 12-2007, ngân hàng đầu tư Bear Stearns công bố mức lỗ quí 4-2007 là
854 triệu đôla, tương đương 6,9 đô la/cổ phiếu; đồng thời thất thoát 1,9 tỉ đô la đầu tưvào cổ phiếu cầm cố
Năm 2008:
Theo Moody's Economy.com, từ tháng 8 năm 2007 tới đầu tháng 8 năm 2008,các định chế tài chính toàn cầu đã thua lỗ tổng số tiền khoảng 925 tỷ USD vì khủnghoảng tín dụng, tương đương 3% tổng tài sản của họ Trong số này, trầm trọng nhất làkhoản thua lỗ có thể lên tới 525 tỷ USD liên quan đến các khoản cho vay địa ốc
Trang 5+ 11/1/2008: Bank of America - Ngân hàng lớn nhất nước Mỹ về tiền gửi và vốnhoá thị trường, đã bỏ ra 4 tỉ USD để mua lại Countrywide Financial sau khi ngân hàngcho vay thế chấp địa ốc này thông báo phá sản do các khoản cho vay khó đòi quá lớn.
+ 17/3/2008: Bear Stearns - ngân hàng lớn thứ năm ở Wall Street, mới năm ngoái
có giá khoảng 18 tỉ đô la, phải bán cho JP Morgan Chase với giá 2 đô la/cổ phiếu so vớigiá 172 đô la/cổ phiếu đầu năm 2007 Fed đứng đằng sau cho vay 29 tỉ đô la để bảo lãnhcác khoản nợ khó đòi Mức giá xấp xỉ 240 triệu USD mà JPMorgan trả cho Bear Stearnsbao gồm cả tòa nhà trụ sở cao chọc trời của tập đoàn này tọa lạc trên Đại lộ Madison
+ Tháng 04/2008: IMF thông báo đã chịu thua lỗ 945 tỉ USD cho cuộc khủnghoảng tài chính Bộ trưởng các nước G7 tán thành đề xuất đưa ra các điều chỉnh tàichính mới để chống lại cuộc khủng hoảng đang ngày càng lan rộng
+ 11/7/2008: Ngân hàng IndyMac Bancorp với tài sản 32 tỉ bị đặt dưới quyềnkiểm soát của Fed, sau đó tuyên bố phá sản Đây là một trong những vụ đóng cửa ngânhàng lớn nhất từ trước tới nay sau khi những người gửi tiền đã rút ra hơn 1,3 tỷ USDtrong vòng 11 ngày
+ 6/9/2008: Fed nắm quyền kiểm soát Fannie Mae và Freddie Mac, hai tập đoànbảo lãnh tín dụng địa ốc lớn nhất Mỹ
+ 11/9/2008: Lehman Brothers tuyên bố đang nỗ lực tìm kiếm đối tác để bán lạichính mình Cổ phiếu của ngân hàng đầu tư này tụt giảm 45%
+ 14/9/2008: Bank of America cho biết mua Merrill Lynch với giá 29 USD/cổphiếu sau khi từ chối đề nghị mua lại của Lehman Brothers Trong khi đó, FED bơmhơn 70 tỷ USD vào hệ thống ngân hàng của Mỹ
+ 15/9/2008: Ngân hàng đầu tư lớn thứ 4 của Mỹ, Lehman Brothers với 158 nămlịch sử hoạt động, có vốn cổ phần khoảng 28 tỷ USD, có 26 ngàn nhân viên, quản lýlượng tài sản 600 tỷ USD, đã tuyên bố phá sản Đánh dấu vụ phá sản lớn nhất tại Mỹ
Merrill Lynch, ngân hàng đầu tư có gần 100 năm lịch sử, 60 ngàn nhân viên,quản lý tổng tài sản 1,6 ngàn tỷ USD, lo sợ số phận tương tự Lehman Brothers Vớikhoản nợ 900 tỷ, sau khi tuyên bố lỗ 40 tỷ đô la, tự cứu bằng cách phải bán cho Bank ofAmerica Corp với giá 50 tỉ đô la
Trang 6American International Group - tập đoàn bảo hiểm lớn nhất thế giới mất khả năngthanh toán do những khoản thua lỗ liên quan tới nợ cầm cố.
FED tiếp tục bơm thêm 70 tỷ USD vào hệ thống ngân hàng của Mỹ Thêm vào
đó, FED cũng cung cấp cho thị trường những khoản vay trực tiếp bằng tiền mặt và tráiphiếu kho bạc
+ 16/9/2008: FED đã quyết định giữ nguyên lãi suất cơ bản USD ở mức 2% trongtương lai gần Đồng thời, Fed đồng ý cho AIG vay 85 tỉ đô la đổi lại quyền nắm giữ80% cổ phần của hãng bảo hiểm này FED đã cứu AIG, công ty bảo hiểm lớn nhất Mỹ
và thế giới, có tài sản 1,1 ngàn tỷ USD, 74 triệu khách hàng ở 130 nước trên thế giới và
116 ngàn nhân viên, khỏi bờ vực phá sản
Năm 2009: các công ty, ngân hàng cố gắng vực dậy sau khủng hoảng Và Chính
phủ Mĩ cũng đã nâng gói giải cứu kinh tế lên 787 tỉ USD
+ Ngày 30/04: Chịu ảnh hưởng từ khủng hoảng tài chính, hãng chế tạo ô tô lớnthứ ba của Mỹ Chrysler tuyên bố nộp đơn bảo hộ phá sản Khi Tổng thống Mỹ BarackObama buộc Chrysler nộp đơn xin phá sản, đối thủ của Chrysler là GM vẫn đang vậtlộn với những đòi hỏi của Chính phủ Mỹ để được nhận tiền cứu trợ
+ Ngày 01/05: Quỹ đầu tư bất động sản và cho vay thế chấp nhà ThornburgMortgage nộp đơn bảo hộ phá sản
+ Ngày 01/06: General Motors chính thức nộp đơn xin bảo hộ phá sản
+ Ngày 01/11: Tập đoàn tài chính CIT - một trong những ngân hàng hàng đầunước Mỹ chuyên cho vay đối với những doanh nghiệp vừa và nhỏ, đã công bố phá sản.CIT đã không thể gượng dậy với những khoản nợ khổng lồ từ sau cuộc khủng hoảng tàichính Vụ phá sản này còn làm thiệt hại lớn cho chính phủ Mỹ khi đã bỏ 2,33 tỷ USDvào CIT
Trên đây là những diễn biến của cuộc khủng hoảng tài chính Mĩ Không chỉ dừnglại ở đây, cuộc khủng hoảng này còn lan sang các khu vực khác trên thế giới với hậuquả tương tự
Trang 71.2 Nguyên nhân của cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008
Cuộc khủng hoảng tín dụng gắn kết 2 nhóm người lại với nhau Đó là nhữngngười sở hữu nhà và các nhà đầu tư Những người sở hữu nhà đại diện cho các khoảnvau thế chấp của họ, những nhà đầu tư đại diện cho tiền của họ Đầu tiên xuất phát từnhu cầu muốn mua nhà của các hộ gia đình bằng phương pháp tiết kiệm để trả góp,những hộ gia đình liên hệ với những người môi giới bất động sản Những người môigiới sẽ giúp họ kết nối với các công ty cho vay mua nhà Trong khi người môi giới nhậnđược tiền hoa hồng thì hộ gia đình mua được nhà và trở thành chủ sở hữu , đôi bên đềuđược hưởng lợi bởi trên thực tế giá bất dộng sản từ trước đến nay vẫn không ngừng tănglên (giai đoạn 2001 đến 2005)
Year QRT S&P/Case- Shiller National Home Price Index
Trang 8tự, các dòng tiền mà các hộ gia đình trả góp được phân đầy vào nhóm an toàn, sau đómới đến nhóm rủi ro cuối cùng Do vậy, nếu như các hộ gia đình không trả được nợ,đồng nghĩa với việc nhóm càng ở sau càng không được các dòng tiền chảy vào Đó lànguyên nhân mà nhóm rủi ro nhận được tỷ suất lợi nhuận cao hơn Tương tự nhóm chấpnhận được có tỷ suất lợi nhuận thấp hơn Nhóm an toàn được các ngân hàng đầu tư bảo
Trang 9hiểm cho nó một khoản tiền nhỏ được gọi là các hợp đồng hoán đổi rủi ro tín dụng(Credit Default Swap)
Trong khi đó, các tổ chức xếp hạng tín dụng sẽ xếp hạng lần lượt các ngăn trêncùng là AAA, mức an toàn nhất Ngăn chấp nhận được được xếp hạng BBB và khôngxếp hạng cho ngăn cuối cùng Các ngân hàng sẽ bán ngăn AAA cho các nhà đầu tưthích an toàn, bán nhóm BBB cho các nhà đầu tư khác, và nhóm rủi ro cho các nhà đầu
tư ưa mạo hiểm Nhờ việc này mà các ngân hàng kiếm được hàng triệu đô la, sau đó họhoàn trả tiền vay của mình
Các nhà đầu tư nhận thấy rằng, so với lãi suất 1% tiền gửi ngân hàng mà nhànước công bố, thì việc đầu tư vào các CDO còn có lãi suất cao hơn nhiều Do vậy, cácnhà đầu tư yêu cầu các ngân hàng đầu tư nhiều CDO hơn Ngân hàng yêu cầu các công
ty cho vay mua nhà nhiều hợp đồng thế chấp hơn nữa Tuy nhiên, người môi giới khôngthể tìm được hơn các hợp đồng mới vì các hộ gia đình có yêu cầu đủ điều kiện đều đãmua nhà hết Cầu cao mà cung ít, công ty cho vay mua nhà nhận thấy, nếu các kháchhàng không trả được nợ thì bên cho vay có quyền phát mại tài sản Trong khi giá nhàđất tăng lên từng ngày thì việc khách hàng có trả được nợ hay không không còn là vấn
đề chính Vì vậy, họ cho them rủi ro vào các điều khoản vay nợ: không đòi hỏi trả định
kì, không chứng minh thu nhập, không giấy tờ phức tạp… Thay vì tạo ra các hợp đồngđúng chuẩn, các công ty cho vay mua nhà đang tạo ra các hợp đồng dưới chuẩn Hệthống này hoạt động hiệu quả đến mức không công ty, ngân hàng, nhà đầu tư nào nhận
ra mức độ rủi ro mà họ đang phải gánh chịu
Không lâu sau đó, các hộ gia đình không trả được nợ, ngân hàng tịch thu tài sản
và dòng tiền trả góp trở thành ngồi nhà, ngân hàng phát mại nó thành công Tuy nhiên,càng nhiều hộ gia đình không trả được nợ, càng nhiều ngôi nhà bị tịch thu, cung lớn hơncầu làm cho giá nhà trượt dốc thảm hại Những hộ gia đình đang tích cực trả góp đềuđặn cũng chấm dứt hợp đồng vì giá trị họ phải trả cao gấp nhiều lần so với giá trị hiệntại Các ngân hàng đầu tư vỡ nợ vì không bán được các CDO để trả nợ cho các ngânhàng cho vay tiền Những nhà môi giới mất việc Các công ty cho vay mua nhà cũngchịu tình cảnh tương tự Cả hệ thống tài chính đều rơi vào tình trạng đóng băng
Trang 10Hôi chứng này đã ăn sâu vào tiềm thức của mỗi người dân Mỹ Mặc dù nhiều nơitrên đất Mỹ, số tiền phải bỏ ra để thuê một căn nhà trong 1 tháng chỉ bằng một nửa tiềntrả góp thế chấp hàng tháng, nhưng người dân Mỹ vẫn sẵn sàng thế chấp để sở hữunhững căn nhà cho riêng mình Tỷ lệ sở hữu nhà toàn liên bang tăng từ 64% năm 1994lên 69,2 % năm 2004 Thậm chí nhiều người còn vay tiền ngân hàng để mua nhà và lấychính ngôi nhà làm vật thế chấp Điều này đồng nghĩa với việc, nếu như khách hàngkhông thanh toán được các khoản nợ thì sẽ bị đuổi ra khỏi chính ngôi nhà của mình.Mặc dù rất mạo hiểm nhưng tỷ lệ người dân sử dụng hình thức này ngày càng tăng cao.
Từ năm 2002 đến năm 2007, nợ cầm cố đã tăng lên 23%
Chính vấn đề này đã làm cho các nhà đầu tư tin rằng, giá nhà đất sẽ không thểgiảm, do đó nhà đất là lĩnh vực đầu tư tốt, đem lại lợi nhuận cao và có hiệu quả lâu dài.Trong khi đó, tiết kiệm của người dân chỉ đạt mức 1-2%, rất thấp so với GDP
1.2.2 Các khoản cho vay thế chấp dưới chuẩn
Nợ dưới chuẩn được hiểu là các khoản cho vay cho các đối tượng có mức tínnhiệm thấp Những đối tượng đi vay này thường là những người nghèo, không có công
ăn việc làm ổn định, vị thế xã hội thấp hoặc có lịch sử thanh toán tín dụng không tốttrong quá khứ Những đối tượng này tiềm ẩn rủi ro không có khả năng thanh toán nợđến hạn và do đó rất khó khăn trong việc tiếp cận nguồn vốn tín dụng truyền thống vốnchỉ dành cho những đối tượng trên chuẩn Chính vì vậy, nợ dưới chuẩn có mức độ rủi rotín dụng rất cao song bù lại có mức lãi suất cũng rất hấp dẫn
Vào đầu năm 2004, theo Micheal Burry, một nhà đầu tư trái phiếu, các tiêu chuẩncho vay không chỉ giảm, mang tính rủi ro cao mà còn chạm đáy tiêu chuẩn Trên thịtrường còn xuất hiện các hợp đồng “ thế chấp dưới chuẩn, lãi suất thả nổi, trả dần, âmchỉ trả lãi” Tức là người mua nhà không phải bỏ ra một xu nào, dồn lãi vay nợ ngânhàng vào số dư vốn gốc Điều này thực sự có nguy cơ vỡ nợ cao gần 100%, vì nhữngkhách hàng tìm đến loại hợp đồng này chủ yếu là từ các hộ gia đình, cá nhân không cóthu nhập, hoặc thu nhập không đều đặn, thật khó để cuối kì hạn trả được gôc và lãi Tuynhiên, các công ty cho vay mua nhà lại cố gắng mở rộng các hợp đồng thế chấp tương
tự Đội ngũ những nhà tài chính dưới chuẩn ban đầu dã bị nhấn chìm bởi một phần nhỏcác khoản vay mà họ thực hiện vẫn được lưu trong sổ sách
Trang 11Thị trường thế chấp dưới chuẩn nhen nhóm từ các khu vực ngoại ô và nhanh
chóng lan rộng khắp toàn nước Mỹ Sự hấp dẫn của các khoản lợi nhuận lớn đã làm chonhững thành phần tham gia vào bộ may sản xuất hợp đồng thế chấp bất động sản khôngxem xét đến các tình huống rủi ro nhất có thể xảy ra Tất cả công ty cho vay dưới chuẩnphát triển rất nhanh, đồng thời sử dụng phương pháp hạch toán kế toán giấu đi sựthực,trong khi doanh thu chỉ là các con số ảo do kế toán viên lập ra Việc cho vay nợmột cách thoái quá trong thời gian ngắn đã dẫn đến mất kiểm soát chất lượng tín dụng
Vào năm 1990, với 30 tỷ đô là, đó là một năm lớn đối với hoạt động cho vay dướichuẩn Năm 2000, có 130 tỷ đô cho vay thế chấp dưới chuẩn,trong đó 55 tỷ đô giá trịcủa các khoản vay này được đóng gói thành các trái phiếu thế chấp Theo biểu đồ trên,năm 2003 là năm chứng kiến sự tăng vọt về quy mô các hợp đồng thế chấp dưới chuẩn.Vào năm 2005, có 625 tỷ đô trong đó 507 tỷ đô trong số này dưới dạng trái phiếu thếchấp 500 tỷ đô dưới dạng trái phiếu đảm bảo bằng thế chấp dưới chuẩn trong 1 nămduy nhất So với năm 2002, doanh số cho các hợp đồng dưới chuẩn là xấp xỉ 200 tỷ đô
la thì năm 2006 đã đạt mức khoảng 700 tỷ, tăng lên 3,5 lần
1.2.3 Chứng khoán hóa
Các CDO của các ngân hàng đầu tư là 1 sản phẩm của quá trình chứng khoánhóa Chứng khoán hóa là một quá trình tài chính cơ cấu, tại đó các tài sản thế chấp khác
Trang 12khoán hóa chính là quá trình đưa các tài sản thế chấp sang thị trường thứ cấp nơi màchúng có thể trao đi đổi lại Nó đã biến các tài sản kém thanh khoản thành những chứngkhoán thanh khoản cao Việc gộp nhiều loại tài sản thế chấp khác nhau vào một tập hợpcũng là một hình thức phân tán rủi ro Vì thế, đã có cách gọi các trung gian tài chínhtham gia vào chứng khoán hóa là những người tạo ra và phân tán rủi ro Hai loại chủ thểkinh tế trung gian giữa người đi vay và tổ chức tín dụng cho vay đóng vai trò trunggian-môi giới, nên giúp cho người vay và tổ chức tín dụng dễ “gặp nhau” hơn Ngoài ra,chứng khoán hóa còn giúp giảm chi phí huy động tài chính Dù người đi vay có mứcxếp hạng tín nhiệm không cao nhưng với tài sản đem thế chấp tốt thì chứng khoán đảmbảo bằng tài sản này vẫn có thể được xếp hạng tín nhiệm cao và dễ bán Chính vì thế,chứng khoán hóa tạo thuận lợi cho việc vay và cho vay có thế chấp.
Điển hình như các hợp đồng cho vay thế chấp dưới chuẩn Nếu như tách riêngcác hợp đồng để đánh giá thì các hợp đồng dưới chuẩn sẽ bị đánh giá thấp, mang tínhrủi ro cao Tuy nhiên các ngân hàng đầu tư đã xếp chúng vào 1 giỏ, là CDO, từ đó phânloại CDO thành 3 thành phần chính Mặc nhiên các hợp đồng không an toàn lại có thểđược xếp vào các nhóm an toàn để bán cho các nhà đầu tư Không chỉ có nguyên nhân
từ ngân hàng, mà 1 phần nguyên nhân do sự thao túng của các tập đoàn xếp hạng tíndụng nổi tiếng,uy tín hàng đầu thế giới như Moody và S&P cũng xếp hạng cao AAAcho các nhóm trong khi chúng chỉ xứng đáng được BBB hoặc thấp hơn Sự thao túngnày xuất phát từ việc chính các ngân hàng đầu tư chi trả tiền cho các công ty xếp hạngtín dụng, không phải là các nhà đầu tư, nên đã xảy ra vấn đề rủi ro đạo đức Mặc dù, các
tổ chức định mức tín nhiệm luôn khẳng định rằng họ tuân thủ một cách chặt chẽ nhữngquy tắc đạo đức nghề nghiệp, nhưng sự thật không phải như vậy Tất cả thị trường tàichính bị che mờ bởi các kết quả đánh giá tín dụng của ngân hàng, các nhà đầu tư lạicàng mua nhiều hơn Nguồn cầu tăng khiến cung tăng đột biến Những trái khoán nhưCDO được mua đi bán lại trong thị trường sơ cấp, giá của các CDO ngày càng tăng lên,tạo nên bong bóng CDO trong thị trường Như Alan Greenspan đã nhận xét: “Chính quytrình chứng khoán hóa những khoản vay mua nhà có chất lượng tín dụng thấp-chứkhông phải bản thân các khoản vay đã gây ra cuộc khủng hoảng tín dụng toàn cầu gầnđây.”
Trang 13Trong biểu đồ trên, giá trị của các trái phiếu thế chấp tăng hàng năm trong giaiđoạn 1997-2007, tăng từ 4000 tỷ đô la năm 2001 lên gần 7000 tỷ đô la năm 2007, tăng1,75 lần Trong năm 2007, quý 2, tổng giá trị thị trường trái phiếu thế chấp là 6,8 nghìn
tỷ đô la, trong đó 19,11% là các trái phiếu thế chấp dưới chuẩn, tương đương với 1,3nghìn tỷ đô la
1.2.4 Tỷ lệ lãi suất liên bang thay đổi liên tục
Nguyên nhân tác động trực tiếp đến cuộc khủng hoảng 2008 ở Mỹ, đó là việc Cục
dự trữ liên bang Mỹ Fed liên tục thay đổi lãi suất liên bang
Biểu đồ sự thay đổi lãi suất của FED từ năm 2000-2008 (Nguồn: vneconomy.vn)
Sau đợt khủng hoảng Dot-com, để cứu nền kinh tế Mỹ đang trên đà suy thoái,FED đã 11 lần cắt giảm lãi suất từ 6,5% xuống còn 1,75% Chỉ số trên thị trường chứngkhoán NASDAQ giảm 70% đã dẫn tới việc nhiều người rút tiền ra khỏi thị trường cổ
Trang 1425/03/2003, lãi suất tại Fed tụt xuống mức 1%, con số thấp nhất kể từ tháng 07 năm
1958 (0,68%) Bắt đầu từ giữa tháng 06/2004, Cục dự trữ liên bang bắt đầu nâng lãi suấtđịnh hướng 17 lần liên tục lên 5,25% ngày 08/08/2006 Và mức lãi suất này vẫn giữnguyên cho đến năm 2008, lãi suất lại một lần nữa giảm sâu xuống xấp xỉ 1% vào cuốinăm Tuy nhiên, khi lãi suất đã có dấu hiệu tăng lên thì cho vay dưới chuẩn lại bùng nổphát triển mạnh mẽ
Quay lại năm 1996, 65% khoản vay dưới chuẩn có lãi suất cố định Có nghĩa lànhững người đi vay dưới chuẩn điển hình có thế đang bị vắt kiệt, nhưng họ vẫn biếtđược mỗi tháng họ nợ bao nhiêu tiền Đến năm 2005, 75% các khoản vay dưới chuẩn cólãi suất thả nổi và thường chỉ cố định trong 2 năm đầu tiên Càng ngày các khoản chovay thế chấp với lãi suất thả nổi càng tăng lên Cảm thấy sức nóng của thị trường tàichính trong nước, trong năm 2006, 2007, lãi suất Fed không ngừng tăng làm cho lãi suấtcác hợp đồng thế chấp này tăng theo, người dân không thể trả được nợ khiến cho tìnhtrạng vỡ nợ xảy tra, dấn đến khủng hoảng tài chính
1.2.5 Công cụ đầu tư kết cấu
Nhiều tổ chức tín dụng của Mỹ đã lập ra các công ty con, gọi là các bộ phận mụcđích đặc biệt (hay SPV) để mua bán CDO Điều này cho phép họ đặt CDO ngoài bảngcân đối tài sản, và vì thế giảm nguy cơ bị các cơ quan giám sát tài chính nhắc nhở.Citigroup là tổ chức đã phát minh ra cái gọi là công cụ đầu tư kết cấu (hay SIV) vàonăm 1988 và các tổ chức khác đã theo gương cho ra đời hàng loạt SIV Công cụ đầu tưkết cấu hoạt động theo hình thức huy động vốn ngắn hạn bằng việc phát hành thươngphiếu (commercial paper) với lãi suất thấp, đầu tư vào các loại chứng khoán được đảmbảo bằng tài sản (asset-backed securities) với lãi suất cao Trên thực tế, hoạt động củaSIV không khác gì so với hoạt động ngân hàng thương mại Nhưng các SIV này đượcxem là hệ thống ngân hàng trong bóng tối Họ đi vay bằng cách phát hành chứng khoánngắn hạn lãi suất thấp rồi cho vay lại bằng cách mua các chứng khoán dài hạn, nhất làmua CDO, qua đó ăn chênh lệch Tuy nhiên, khi lãi suất của chứng khoán dài hạn lạithấp hơn lãi suất chứng khoán ngắn hạn thì các SIV này bị lỗ Theo Moody (2008), tạithời điểm tháng 7 năm 2008, giá trị tài sản của các SIV ước lên đến 400 tỷ dollar Khihoạt động, các SIV này phải đối mặt với 2 rủi ro, đó là rủi ro vỡ nợ khi giá của các tài
Trang 15sản dài hạn xuống thấp hơn giá trị của các khoản nợ ngắn hạn và rủi ro thanh khoản doviệc đi vay ngắn hạn nhưng lại cho vay dài hạn.
Khi khủng hoảng nợ dưới chuẩn xảy ra, rồi lan tới các CDOs, người đi vay khôngcòn khả năng thanh toán thì các SIV này phải lâm vào tình trạng nguy cấp, dẫn tới phásản hàng loạt Đến ngày 2-10-2008, Sigma Finance, SIV cuối cùng đã sụp đổ
1.2.6 CDS- Hợp đồng hoán đổi tốn thất tín dụng (Credit Default Swaps)
Như đã nói ở trên, CDSs được các ngân hàng đầu tư mua để bảo hiểm cho cácnhóm hợp đồng tín dụng dưới chuẩn thuộc nhóm an toàn, được xếp hạng AAA CDSsđược mua để đề phòng cho trường hợp người đi vay không thanh toán được nợ Do đó
có thể phân trải rủi ro trên khắp toàn cầu Tuy nhiên, trên thị trường tài chính xuất hiệnnhiều loại CDSs hơn, do CDSs không có yêu cầu cầm cố bất cứ tài sản nào, cũng có thể
sử dụng cho các mục đích đầu cơ
Do ngày càng có nhiều các công ty của Mỹ không thanh toán được số chứngkhoán phát hành khi suy thoái kinh tế ngày một lún sâu nên sự đổ vỡ của các CDS làđiều không thể tránh khỏi Dẫn đến việc các công ty bảo hiểm phát hành các CDSskhông có đủ khả năng thanh toán các khoản tiền đền bù bảo hiểm cho các hợp đồng tíndụng dưới chuẩn Sự sụp đổ của các công ty bảo hiểm góp phần vào phản ứng dâychuyền sự đổ vỡ của các định chế tài chính, hoàn toàn có thể dẫn đến khủng hoảng tàichính
1.2.7 Các nhà đầu tư mua bán khống
Trên thị trường chứng khoán, hoạt động bán khống diễn ra như sau: Các nhà đầu
tư bán khống cho rằng một cổ phiếu được định giá quá cao nào đó sẽ mất giá mạnhtrong thời gian tới Do đó, họ mượn cổ phiếu này từ một công ty môi giới và bán ra luônkhi mức giá còn cao Nếu giá sụt giảm, họ sẽ mua lại cổ phiếu này và trả lại cho công tymôi giới và thu lời Còn trong trường hợp giá cổ phiếu đó tăng, họ vẫn phải mua lại cổphiếu để trả cho công ty môi giới, nhưng phải chịu lỗ Hoạt động bán khống được nhậnthấy rõ nét nhất ở thời điểm khi mà bất kỳ một thời kỳ bong bóng đầu cơ nào đó bắt đầu
đi vào hồi kết thúc, khi mà giá hàng hóa hoặc cổ phiếu đã ở đỉnh
Giới quan sát cho rằng, các nhà đầu tư bán khống là các nhà đầu tư đoán được
Trang 16đoàn dính líu đến cho vay dưới chuẩn sẽ giảm Một khi giới đầu tư bán khống đặc biệt
“yêu thích” một loại cổ phiếu nhất định nào đó, lệnh đặt bán của họ sẽ ngập thị trường,
họ ồ ạt vay những cổ phiếu này rồi ồ ạt bán ra và giá cổ phiếu đó “mất phanh”
1.2.8 Khủng hoảng niềm tin
Theo GS Joseph Stiglitz, cuộc khủng hoảng bắt đầu từ sự sụp đổ thảm khốc củaniềm tin Các ngân hàng đánh đố lẫn nhau về mức độ cho vay cũng như tài sản Nhữnggiao dịch phức tạp được tạo ra để loại bỏ rủi ro và che giấu những trượt giá giá trị tàisản thực của ngân hàng Đây là một trò chơi mà con người ta khi bắt đầu cảm nhận thấymùi của sự thua lỗ và nhìn vào hệ thống tài chính, khi đó thua lỗ xuất hiện, cả thị trườngxuống dốc và tất cả mọi người đều bị thua lỗ Thị trường tài chính xoay quanh trụcnguyên tắc độ tin cậy, và độ tin cậy đó đã bị xói mòn, xuống cấp Sự sụp đổ củaLehman Brother là biểu tượng đánh dấu mức độ tin cậy đã xuống một mức thấp mới và
dư âm của nó sẽ còn tiếp tục
1.2.9 Các nguyên nhân khác
Xét về chính sách kinh tế của Mỹ, trong bối cảnh chung của các nước trên thếgiới đang thực hiện chính sách tự do hóa kinh tế, Chính phủ Mỹ còn thực hiện chínhsách nới lỏng tiền tệ trong thời gian dài Để phục hồi nền kinh tế Mỹ sau cuộc suy thoáikinh tế năm 2001 và ảnh hưởng từ cuộc khủng bố 11/9, Cục Dự trữ liên bang Mỹ đãliên tiếp giảm lãi suất liên ngân hàng (từ 6,5% xuống còn 1,75%), theo đó, lãi suất chovay của tín dụng thứ cấp cũng giảm xuống thấp Chính sách nới lỏng tiền tệ (chính sáchđồng USD rẻ) đã kích thích người dân vay tiền mua nhà và các tổ chức tín dụng thì sẵnsàng cho vay, đầu tư mạo hiểm
Thêm vào đó, sự buông lỏng trong cơ chế quản lý nhà nước, Mỹ cho phép ngânhàng thương mại hoạt động đa năng và rộng khắp cả nước, thay vì hạn chế mỗi ngânhàng ở một bang, ngân hàng được phép hoạt động trên khắp liên bang Các ngân hàngđược phép hoạt động như một công ty đầu tư tài chính Các công cụ tài chính mới xuấthiện không chịu sự kiểm soát của bất kì ràng buộc nào, kể cả việc thu thập chính thứccác thông tin thông kê về chúng để theo dõi Mục đích chính là để cho các hoạt độngđầu cơ rủi ro xảy ra, cho phép bán khống Đây là nguyên nhân mà các loại chứng khoán
Trang 17trên thị trường dẽ dàng bị giảm giá, gián tiếp làm cho cuộc khủng hoảng diễn ra nhanhhơn và nghiêm trọng hơn.
Sau chiến tranh thế giới thứ 2, nền kinh tế Mỹ đứng đầu thế giới Đồng đô làchiếm tỷ trọng lớn trong rổ dự trữ ngoại hối của các nước trên thế giới Khi cuộc khủnghoảng tài chính diễn ra tại Mỹ sẽ làm cho đồng đô la bị mất giá Từ đó, kéo theo sự phásản của các ngân hàng và hệ thống tài chính của các nước trên thế giới, càng làm ảnhhưởng nghiêm trọng đến nền kinh tế thế giới
1.3 Hậu quả của cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008
1.3.1 Hệ thống tài chính sụp đổ
Số các ngân hàng bị phá sản, sát nhập, giải thể hoặc bị quốc hữu hóa tăng lênnhanh chóng Trong năm 2008, tại Mỹ đã có 25 ngân hàng bị phá sản, riêng từ ngày15/09/2008 đến cuối năm 2008 là 15 ngân hàng Từ đầu năm 2009 đến 24/07/2009 thì
số ngân hàng bị phá sản càng tăng mạnh hơn, lên đến 64 ngân hàng Từ 22/02/2008 đến29/03/2009 thì tổng số ngân hàng của Mĩ và các nước EU bị mua lại là 33
Có thể nói, sự sụp đổ của Lehman Brother trước ngày 15/09 là bước ngoặt tạonên tình trạng hỗn loạn trong hệ thống tài chính Thị trường tài chính trở nên hỗn loạn,người ta trở nên nghi ngờ và đánh mất niềm tin vào các ngân hàng, các tổ chức tàichính Chính những người cho vay cũng từ chối những người đi vay vì sợ họ sẽ vỡ nợ
và không có khả năng chi trả Tất cả đều muốn tháo chạy Một loạt các ngân hàng, các
tổ chức tài chính không chỉ tại Mĩ mà cả tại Anh, Pháp, Đức, Bỉ, Hà Lan, sụp đổ, phásản hoặc bị sát nhập, bị quốc hữu hóa Cổ phiếu của các ngân hàng này cũng tức thì suygiảm Sự khan hiếm tín dụng trở nên tồi tệ hơn Các nền kinh tế đang nổi cũng khôngkhỏi bị tác động vì các nước này sử dụng nhiều nguồn vốn từ bên ngoài, đặc biệt là từ
Mĩ và các nước EU
Trang 18Biểu đồ nợ dự tính của các ngân hàng trong năm 2007
Theo biểu đồ trên, nợ trong năm 2007 dự tính của Citibank đạt gần 90 tỷ đô la,ngay sau đó là JP Morgan Chase đạt gần 80 tỷ đô la Ngành ngân hàng đang đối mặt vớikhoản lỗ khổng lồ như là kết quả của cuộc khủng hoảng dưới chuẩn Trong khi đó, cácngân hàng đã công bố 60 tỷ đô la giá trị thiệt hại là của các trái phiếu thế chấp dướichuẩn đã bị sụt giảm về giá trị Các ngân hàng như là đại diện của hệ thống tài chínhđang đóng bang, cần có sự can thiệp hỗ trợ tài chính từ nhiều nguồn khác nhau để lấylại tính thanh khoản cho ngân hàng
1.3.2 Thị trường chứng khoán chao đảo, suy giảm mạnh mẽ
Biểu đồ thay đổi giá trị hiện thời của các trái phiếu thế chấp được phân loại bởi S&P năm 2007
(Chỉ giá trị thế chấp bằng BĐS được phát hành vào tháng 1 năm 2007)
Tại Mỹ, những trái phiếu đã giảm mạnh về giá trị trong năm 2007 theo biểu đồtrên Ngay cả các trái phiếu thế chấp dưới chuẩn mà được S&P đánh giá là AA và Acũng bị rớt giá thảm hại, xuống còn chưa đến 50% so với giá trị đầu năm Đối với cácloại trái phiếu được xếp hạng BBB và BBB- chỉ con 20% giá trị Người ta ước tính tổnthất của các tổ chức tài chính do cuộc khủng hoảng gây ra vào khoảng 220 đến 440 tỷUSD, trong khủng hoảng 1000 tỷ trái phiếu dưới chuẩn được đánh giá lại
Quốc gia Chỉ số 12/09/08 12/1/09 Mức tăng giảm so với 12/9 ± Điểm ± % Việt Nam VN-Index HASTC-Index 160.62476.00 312.18105.71 (163.82)(54.91) -34.42%-34.19%Mỹ
Trang 19Diễn biến TTCK toàn cầu (từ ngày 12/9/08 đến 12/01/2009)
Trong năm 2008, do tác động của cuộc khủng hoảng nên thị trường chứng khoántoàn cầu đã mất khoảng 17 nghìn tỷ USD do sự sụt giảm giá trị của các chứng khoán.Trong 9 tháng đầu năm 2008, thị trường chứng khoán của Nga chứng kiến sự sụt giảmchỉ số chứng khoán mạnh nhất là -46,06% Tại một số thị trường lớn kể từ khi bắt đầucuộc khủng hoảng (12/09/08) đến 12/01/2008 thì hầu hết chỉ số chứng khoán của cácquốc gia đều giảm như Mỹ: chỉ số Dow Jones giảm 25,81%, chỉ số Nasdas giảm32,03%; chỉ số S&P 500 giảm 30,47%; chỉ số FTSE 100 của Anh giảm 18,29%; chỉ sốNikkei 225 của Nhật giảm 31,12%
Nguyên nhân chính là khủng hoảng tài chính làm các nhà đầu tư không còn cáchnào khác phải bán tháo đi các chứng khoán mà họ đang nắm giữ nhằm tránh tạo ra thêmtổn thất cho chính họ vì tất cả các đáu hiệu đều cho thấy chỉ số tài chính không nhữngkhông có dấu hiệu khả quan mà còn có dấu hiệu tụt dốc không phanh
1.3.3 Giá bất động sản giảm mạnh
Trong khi só lượng nhà bị tịch thu tăng lên, thì giá nhà đất lại sụt giảm mạnh docùng nhiều hơn cầu thực tế
Trang 20Quý 3 năm 2006 là mốc bắt đầu sự sụt giảm không phanh của giá bất động sản.tại quý 3 năm 2006, giá nhà đất có tốc độ tăng là 13% thi đến năm 2007, con số đó đãdừng ở múc -10% Tính riêng tại Mỹ, trong tháng 11 giá bất động sản giảm từ 21% đến50%, cụ thể ở một số khu vực như: 50% ở Contra Costa; 38% ở Solano, 37% ởAlameda, 34% ở Santa Clara, 34% ở Solano, 28% ở Marin, 28% ở Napa, 26% ở SanMateo và 21% ở San Francisco Bang California năm 2008 giá BĐS chỉ còn -33% sovới năm 2007.
Biến động giá bất động sản năm 2007 và 2008
1.3.4 Giá cả của hầu hết các mặt hàng trên thế giới đều giảm mạnh
Mỹ là thị trường nhập khẩu hàng hóa quan trọng của các nước trên thế giới.Ngoài ra, Mỹ cũng là nơi sản xuất nhiều mặt hàng chủ chốt cho thế giới Do vậy khi Mỹrơi vào trạng thái khủng hoảng, kéo theo đó là nền kinh tế thế giới tăng trưởng chậm lại.Kinh tế các khu vực trên thế giới tăng chậm lại khiến lượng cầu về dầu mỏ cho sản xuất
và tiêu dùng giảm cũng như giá dầu mỏ giảm Điều này lại làm cho các nước xuất khẩudầu mỏ bị thiệt hại Đồng thời, do lo ngại về bất ổn định xảy ra đã làm cho nạn đầu cơlương thực nổ ra, góp phần dẫn tới giá lương thực tăng cao trong thời gian cuối năm
2007 đầu năm 2008, tạo thành một cuộckhủng hoảng giá lương thực toàn cầu
Trang 21Giá dầu (USD/thùng) từ năm 1998 đến cuối năm 2008
Giá dầu liên tục tăng không ngừng từ những năm 1998, giá dầu lên tới đỉnh điểmđạt 140 USD/thùng trong giữa năm 2008 Tuy nhiên, ngay sau đó, giá dầu tụt dốc xuốngchỉ còn mức chưa đến 50 USD/ thùng vào cuối năm 2008, giảm gần 3 lần Nguyên nhân
là do lượng cầu giảm mạnh trong khi lượng cung không thay đổi, thậm chí còn nhiềuhơn khi nền kinh tế thế giới xấu đi
Chỉ tiêu 12/09/08 12/01/09 Tăng giảm so với 12/9
Diễn biến giá cả hàng hoá thế giới (Từ 12/09/2008 đến 12/01/2009)
(Nguồn: Thomson Reuters, tính toán của Phòng NCKT )
Trang 22Từ bảng trên có thể thấy, lãi suất Libor biến động mạnh Lãi suất Libor kỳ hạnqua đêm tăng kỷ lục 6,87%/năm ngày 30/9/2008, giảm xuống mức thấp kỷ lục là0,11%/năm vào ngày 19/12/2008, xuống 0,1%/năm vào ngày 12/1/2009.
Trong khi đó, đồng USD lên giá so với các đồng tiền khác Những diễn biếnngoài dự đoán của thị trường tài chính làm bùng nổ khủng hoảng tài chính toàn cầu đãkhiến nhu cầu thanh khoản USD của các ngân hàng trên toàn thế giới tăng đột biến, đẩyđồng USD tăng giá mạnh so với các đồng tiền khác Diễn biến đồng USD từ lúc bắt đầukhủng hoảng đến 12/01 lên giá 6,99% so với EUR; lên giá 18,06% so với GBP; nhưnggiảm giá 17,3% so với JPY và ổn định so với CNY So với các đồng tiền khác của cácnền kinh tế đang nổi như Hàn Quốc, Mexico thì đồng USD cũng lên giá mạnh sau thờiđiểm tháng 09/2008 Vì các quốc gia này sử dụng nhiều nguồn vốn từ bên ngoài chotăng trưởng của mình, nên khi các nước lớn lâm nguy như Mĩ và EU, các nhà đầu tưphải rút vốn của mình về, tập trung cho trụ sở chính tại các nước phát triển Kết quả làcác nước này bị thiếu hụt lớn về nguồn vốn Đồng thời, các nhà đầu tư khi rút về trụ sởchính của mình thì lại bán ra các đồng tiền nội tệ ở các nền kinh tế đang nổi và muaUSD vào, làm cho cầu USD tăng lên nhanh chóng Thêm vào đó, để chống chọi vớikhủng hoảng và nguy cơ suy thoái kinh tế, ngân hàng trung ương các nước này phải cắtgiảm lãi suất để kích thích kinh tế Điều này càng làm cho các đồng tiền này mất giá sovới đồng USD
Trang 231.3.5 Suy thoái kinh tế trên diện rộng
Vụ tai nạn bất động sản cũng đang ảnh hưởng đến nền kinh tế rộng lớn hơn, vớicác ngành công nghiệp xây dựng dự kiến sẽ cắt giảm sản lượng của nó bằng một nửa,với việc mất từ một đến hai triệu việc làm Các ngành công nghiệp xây dựng chiếm15% nền kinh tế Mỹ, nhưng đà suy giảm của thị trường bất động sản cũng chạm nhiềungành công nghiệp khác, cho các nhà sản xuất hiện của hàng hóa lâu bền, chẳng hạnnhư máy giặt, và các cửa hàng DIY, như Home Depot GDP của Mỹ giữa năm 2008 bị
âm, đến năm 2009, GDP đạt hơn -6%.Riêng tỷ lệ thất nghiệp thì năm 2008 bắt đầu xuhướng gia tăng thất nghiệp toàn nước Mỹ Năm 2008 tỷ lệ này là xấp xỉ 5,5% Tháng10/2008 cũng chứng kiến mức cắt giảm việc làm lớn nhất ở Mĩ kể từ tháng 1/2004,
157000 việc làm bị mất, vượt xa mức dự đoán của các nhà kinh tế là 100000 việc làm bịmất Năm 2009, con số này vượt ngưỡng 9%
Nguồn : OECD
Inflation
Trang 24Bên cạnh đó, tiêu dùng của người Mĩ cũng giảm sút nghiêm trọng Tháng 9 mứcgiảm bán lẻ là 1,2%, tháng 10 tiếp tục giảm 0,7%, cao hơn nhiều so với dự đoán 0,3%.Lạm phát năm 2008 đang ở mức cao, khoảng 5 % thì sang năm 2009, lạm phát ở mức
âm Chứng tỏ trong thời gian này mức giá chung của nền kinh tế đang giả xuống liêntục Điều này chỉ xảy ra khi nền kinh tế đang rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng Saunăm 2009, lạm phát tăng trở lại và giữ ở mức ổn định xấp xỉ 1%
1.4 Các chính sách đối phó cuộc khủng hoảng ở Mỹ
1.4.1 Hành động của Cục dự trữ liên bang Mỹ Fed
Giá trị MBS của Fed từ năm 2000-2007 ( nguồn: Wikipedia.org)
Sự thay đổi trong bảng cân đối tài sản của FED phản ánh sự hoạt động của cơ quan này nhằm đối phó với cuộc khủng hoảng.
Trang 25Khi khủng hoảng tín dụng nổ ra, Fed bắt đầu can thiệp bằng cách hạ lãi suất vàtăng mua MBS (Mortgage Backed Securities) Từ năm 2000, khối lượng dự trữ MBScủa Fed luôn đạt mức xấp xỉ dưới 10 tỷ USD Đến tháng 7 năm 2007, tổng giá trị củaMBS mà Fed nắm giữ đạt gần 38 tỷ USD Đến khi tình hình phát triển thành khủnghoảng tài chính từ tháng 8 năm 2007, Cục Dự trữ Liên bang Hoa Kỳ đã tiếp tục tiếnhành các biện pháp nới lỏng tiền tệ để tăng thanh khoản cho các tổ chức tài chính Cụthể là lãi suất cho vay qua đêm liên ngân hàng đã được giảm từ 5,25% qua 6 đợt xuốngcòn 2% chỉ trong vòng chưa đầy 8 tháng (18/9/2007-30/4/2008) Lãi suất này sau đócòn tiếp tục giảm và đến ngày 16/12/2008 chỉ còn 0,25%, mức lãi suất gần 0 hiếm thấy.
Diễn biến thay đổi lãi suất chính sách của Mỹ ( đường màu xanh)
(nguồn: Wikipedia.org)
Fed còn thực hiện nghiệp vụ thị trường mở (mua lại các trái phiếu chính phủ Hoa
Kỳ mà các tổ chức tài chính nước này có) và hạ lãi suất tái chiết khấu Giữa tháng 12năm 2008, Fed tuyên bố có kế hoạch thực hiện chính sách nới lỏng tiền tệ mặt lượng Tháng 12 năm 2007, Chính phủ Hoa Kỳ đã lập ra và giao cho Fed chủ trì chươngtrình Term Auction Facility để cấp các khoản vay ngắn hạn có kỳ hạn từ 28 đến 84 ngàytheo lãi suất cao nhất mà các tổ chức tài chính trả qua đấu giá Tính đến tháng 11 năm
2008, đã có 300 tỷ dollar được FED đem cho vay theo chương trình này FED còn tiếnhành cho vay thế chấp đối với các tổ chức tài chính với số tiền tổng cộng tới 1,6 nghìn
Trang 26Fed ra tay đỡ đầu cả những định chế tài chính phi ngân hàng, một hành động vượt
ra ngoài khuôn khổ của chính mình Vì sự ra đời của chứng khoán hóa các khoản chovay cầm cố đã khiến cho các tổ chức ngân hàng thương mại và phi thương mại có quyềnlợi gắn chặt với nhau Một khi các định chế tài chính phi ngân hàng sụp đổ thì hệ thốngngân hàng thương mại chắc chắn cũng sẽ bị tổn thương Do đó, Fed không thể không ratay Minh chứng cho hành động này đó là Fed đã cho JP Morgan vay 30 tỉ USD để mualại công ty tài chính Bear Stearn và Fed cũng đã chi ngay một khoản 85 tỉ USD cho tậpđoàn AIG khi tập đoàn này lâm nguy
Fed đã chi 247 tỉ USD cho chương trình hoán đổi tiền tệ quốc tế nhằm làm giảmbớt sự khan hiếm USD trên các thị trường thế giới Trước tình hình này, Fed đã lập mộtquỹ trị giá 540 tỉ USD cho chương trình mua thương phiếu nhằm hỗ trợ doanh nghiệpkhi tín dụng khan hiếm, chống nguy cơ suy thoái kinh tế
1.4.2 Hành động của chính phủ Mỹ
Ngày 13/02/2008, Tổng thống George W Bush đã ký Economic Stimulus Act of
2008 Theo đó, Chính phủ sẽ áp dụng một chương trình kích cầu tổng hợp trị giá 168 tỷdollar chủ yếu dưới hình thức hoàn thuế thu nhập cá nhân
Trước tình hình khủng hoảng tài chính nghiêm trọng, chính quyền Bush đã trìnhquốc hội thông qua gói tài chính 700 tỷ dollar Ban đầu Hạ viện Hoa Kỳ do Đảng Dânchủ Hoa Kỳ chiếm đa số bác bỏ vì cho rằng không thể phí tiền để cứu không được quánhiều tổ chức tài chính gặp khó khăn Song sau khi kế hoạch sử dụng 700 tỷ dollar đượcđiều chỉnh sang hướng chi cho cả các chương trình phục vụ đông đảo người dân nhằmkích thích tiêu dùng (như trợ giúp cho người thất nghiệp, hỗ trợ dinh dưỡng cho ngườinghèo và người thu nhập thấp, phát triển cơ sở hạ tầng), qua đó vực dậy nền kinh tế, nó
đã được Thượng viện thông qua Trong đó 250 tỉ USD sử dụng mua cổ phiếu của cácngân hàng lớn, 450 tỉ USD tiếp theo được sử dụng trong những trường hợp cụ thể, tăngmức bảo hiểm tối đa một tài khoản tiền gửi 100.000 USD lên 250.000 USD, áp dụnggiảm thuế cho dân chúng Ngày 3/10/2008, Tổng thống Bush đã ký EmergencyEconomic Stabilization Act of 2008, cho phép thực hiện gói kích thích 700 tỷ dollarnày
Trang 27Chính phủ Mỹ cũng đã đề xuất các gói hỗ trợ cho các tập đoàn công nghiệp ô tôvốn bị ảnh hưởng nặng từ cuộc khủng hoảng tài chính làm cho hạn chế khả năng tiếpcận vốn vay ngân hàng và sự suy thoái kinh tế làm giảm nhu cầu mua ô tô, hai hãng sảnxuất ô tô hàng đầu của Mỹ là General Motors và Chrysler vừa được Chính phủ nướcnày quyết định cấp một khoản vay trị giá 13,4 tỉ USD (lấy từ gói hỗ trợ 700 tỉ USD) đểduy trì hoạt động cho tới hết tháng 03/2009 Hiện nay gói giải cứu này đã lên tới 787USD.
2 Ảnh hưởng của khủng hoảng đến kinh tế của một số nước ở Châu Âu và Châu Á 2.1 Tác động của khủng hoảng đến các nước châu Âu
2.1.1 Tác động tới thị trường chứng khoán
Hầu hết các phiên giao dịch trong năm 2008, các chỉ số của các cổ phiếu đềugiảm khá mạnh Các thị trường chứng khoán lớn của thế giới ở New York, London,Paris, Frankfurt, Tokyo đều có thời điểm sụt giá lớn lịch sử Theo nguồn CNBC –Thomson Reuters – Bloomberd, chỉ số FTSE của Anh giảm 31,5%, chỉ số CAC 40 giảm42%, còn DAX của Đức mất 39,5%
Bước sang năm 2009, thị trường chứng khoán Châu Âu tiếp tục biến động, song
đã có những dấu hiệu khả quan hơn Theo nguồn CNBC – Thomson Reuters –Bloomberg: Trong nửa đầu năm 2009, các chỉ số của thị trường chứng khoán Châu Âuđều đi lên đáng kể Chỉ số cổ phiếu hàng đầu Châu Âu FTEU3 tăng 2,19% trong nửađầu năm 2009 so với sức giảm 20,26% nửa đầu năm 2008 Các chỉ số khác cũng có xuhướng tương tự
Trang 282.1.2 Tác động tới hệ thống ngân hàng
Nguyên nhân sâu xa của cơn địa chấn tài chính bắt nguồn từ khủng hoảng tíndụng và nhà đất tại Mỹ Cho vay dưới chuẩn tăng mạnh là khởi điểm cho quả bongbóng thị trường nhà đất Các ngân hàng cho vay cầm cố bất động sản mà không quantâm tới khả năng chi trả của khách hàng Nhiều nhà chuyên gia còn cho rằng, cuộckhủng hoảng kinh tế 2008 này còn tạo ra thêm một cuộc khủng hoảng khác là cuộckhủng hoảng ngân hàng Châu Âu do có rất nhiều ngân hàng Châu Âu đã tham gia vàoviệc tài trợ bất động sản dưới chuẩn
Tại Anh, tháng 2/2008, Ngân hàng Northern Rock đã bị thiếu tiền mặt trầm trọng,gần bị phá sản, chính phủ Đảng Lao động đã quyết định quốc hữu hóa ngân hàng này đểngăn chặn khủng hoảng lây lan sang các đơn vị khác Tháng 9/2008, một ngân hàng lớnkhác của Anh là Halifax Bank of Scotland cũng bị phát hiện lỗ nặng với các khoản vay
Trang 29bất động sản và được chính phủ Anh cho phép sáp nhập vào ngân hàng Lloyds TSBmặc dù Lloyds có tài sản nhỏ hơn Halifax Bank rất nhiều Cùng thời gian đó, sau sư phásản của tập đoàn tài chính Lehman Brother, Châu Âu cũng chịu sự phản ứng dâychuyền và bước vào khủng hoảng Ngân hàng chuyên cho vay thế chấp của Anh,Bradford & Bingley đã sụp đổ Tập đoàn cho vay bất động sản lớn nhất của Đức làHypo Reall Estate Holdings đã phải chịu sự kiểm soát của chính phủ nhằm tránh sự đổ
vỡ
Trong “Báo cáo ổn định tài chính” của NHTW Châu Âu (ECB) tháng 12/2009 đãnâng dự tính về khoản lỗ và sự giảm giá chứng khoán của các ngân hàng thuộc 16 nướckhu vực đồng tiền chung Eurozone phải chịu do khủng hoảng từ 65 tỷ Euro lên 386 tỷEuro Eurozone có khả năng bơm tiền từ Chính phủ một lần nữa là hoàn toàn có thể,nhưng điều này sẽ dẫn đến 1 hệ lụy khác là vấn đề nợ quá nhiều của các quốc gia
2.1.3 Tác động tới các khoản nợ quốc gia
Vấn đề nợ chính phủ ở EU cũng đang trở thành một vấn đề đáng báo động chonền kinh tế các nước thành viên Vuối năm 2009, tỷ lệ nợ chính phủ so với GDP bé nhấtthuộc về Estonia với 7,2%, tiếp đến là Luxembourg với 14,5%, Bulgaria là 14,8%,Rumani là 23,7%, Litva với 29,3% và Cộng hòa Séc với 35,4%
Trong số đó, mười hai nước thành viên có tỷ lệ nợ chính phủ trên GDP cao hơn60% trong năm 2009, đó là Italy (115,8%), Hy Lạp (115,1%), Bỉ (96,7%),Hungary(68,1%), Áo (66,5%), Ireland (64%) và Hà Lan (60,9%)
Trang 302.1.4 Tác động đến vấn đề việc làm và thất nghiệp
Bắt đầu từ nửa cuối năm 2008, thị trường lao động của EU bắt đầu suy yếu, vàtình hình ngày càng xấu đi trong năm 2009 Số lao động trong hầu hết các nước EU đềugiảm khá mạnh, tiêu biểu là Estonia trong quý I/2009, số lao động đã giảm hơn 6%
Trang 31Bên cạnh đó, tỷ lệ thất nghiệp liên tục tăng Chỉ trong vòng 1 năm (từ tháng5/2008 đến 5/2009) tỷ lệ thất nghiệp ở EU đã tăng từ 6,8% đến 8,9%, tương ứng đã cóthêm 5,1 triệu người không có việc làm Đến tháng 9/2009, tỷ lệ này tăng tới 9,1% vớitổng số 21,9 triệu người thất nghiệp.
Tiêu biểu nhất là Tây Ban Nha – nước bị tác động nặng nề bởi suy thoái và cũng
là nước có tỷ lệ thất nghiệp rất cao Tỷ lệ thất nghiệp trong tháng 5/2009 là 17,4% sovới tháng 5/2008 là 10,5% Đến tháng 7/2009, tỷ lệ này đã lên tới mức tồi tệ với con số18,9%, và con số này đã lên tới 19% vào tháng 2/2010 Đặc biệt, có tới 38% thanh niêndưới 25 tuổi bị thất nghiệp do cuộc khủng hoảng kinh tế này Trong Quý II/2009, sốngười thất nghiệp ở Tây Ban Nha đã tăng lên xấp xỉ 4,14 triệu người, mức cao nhấttrong vòng 11 năm qua
Ngoài những tác động trên, khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008 còn tácđộng tới thương mại quốc tế, đầu tư quốc tế, tăng trưởng kinh tế và cơ cấu ngành củacác nước Châu Âu
2.2 Tác động của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu đến các nước Châu Á
2.2.1 Hệ thống tài chính sụp đổ
Số các ngân hàng bị phá sản, sát nhập, giải thể hoặc bị quốc hữu hóa tăng lênnhanh chóng
Trang 32Trái phiếu công ty ít được các NHTM Nhật Bản mua Do đó, họ phải đi vay ngânhàng, gây ra khan hiếm tín dụng Một số nước Châu Á khác cũng không khỏi bị tácđộng vì các nước này sử dụng nhiều nguồn vốn từ bên ngoài.
2.2.2 Thị trường chứng khoán suy giảm
Thị trường chứng khoán các nước mới nổi giảm 54,72%, các nước phát triểngiảm 42,72% Ấn Độ, Trung Quốc giảm hơn 70% Chỉ số Nikkei 225 của Nhật giảm31,12% do các nhà đầu tư bán tháo cổ phiếu
Trang 33Diễn biến TTCK một số nước Châu Á (Từ ngày 12/9/08 đến 12/01/2009)
(điểm)
12/1/08 (điểm)
2.2.3 Giá cả hầu hết các mặt hàng sụt giảm mạnh
Giá dầu giảm mạnh đến mức thấp nhất 30,28 USD/thùng (23/12/2008), làm giáhàng loạt mặt hàng khác cũng giảm theo Riêng giá vàng diễn biến tăng do tâm lý lựachọn chuyển đổi sang kênh đầu tư khác an toàn hơn
2.2.4 Lãi suất biến động mạnh
NHTW các nước thực hiện nới lỏng bằng cách liên tục cắt giảm lãi suất và bơmthanh khoản vào hệ thống ngân hàng Lãi suất SIBOR kỳ hạn qua đêm ngày 17/09 tănglên kỷ lục 6,75%/năm, ngày 05/01/2009 giảm xuống mức thấp kỷ lục 0,105%/năm