1. Trang chủ
  2. » Tài Chính - Ngân Hàng

KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH 97 - 98

21 1,4K 5
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Diễn biến và nguyên nhân khủng hoảng tài chính 1997 - 1998
Tác giả Ngô Thị Mỹ Linh, Bùi Thị Hải Nhạn, Trần Minh Phú, Đặng Thị Thanh Thi, Đỗ Thị Ngọc Thịnh, Cao Thị Minh Trang
Người hướng dẫn TS. Lê Tuấn Lộc
Trường học Đại Học Quốc Gia TP Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Tài chính quốc tế
Thể loại Đề tài
Năm xuất bản 1997 - 1998
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 312,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đầu những năm 90 của thế kỷ XX, châu Á thu hút gần một nửa tổng số vốn nước ngoài dành cho những nước đang phát triển. Trong đó các nền kinh tế Đông Nam Á có tỷ lệ lợi tức cao đặc biệt có s

Trang 1

KHOA KINH TẾ - LUẬT

BỘ MÔN KINH TẾ ĐỐI NGOẠI

Môn học: Tài chính quốc tế

Trang 2

Mục lục

MỞ ĐẦU ……… 2

I.Diễn biến cuộc khủng hoảng ……… 3

1 Tình hình tại Thái Lan ……… 3

a Những năm 80 của thế kỷ XX ……… 3

b Đầu năm 1997 ……… 3

2 Diễn biến cụ thể tại các nước ……… 7

2.1 HongKong ……… 7

2.2 Hàn Quốc ……… 7

2.3 Malaysia ……… 8

2.4 Indonesia ……… 8

3.Hậu quả từ cuộc khủng hoảng tài chính đến các nền kinh tế ……… 9

II.Nguyên nhân cuộc khủng hoảng ……… 10

1 Nguyên nhân chủ quan ……… 10

1.1 Nền kinh tế vĩ mô yếu kém đưa đến sự bùng nổ tín dụng và tài khoản vãng lai thâm hụt ……… 10

1.2 Chế độ tỷ giá không phù hợp xu thế ……… 11

2 Nguyên nhân khách quan ……… 12

2.1 Sự tăng lên cùa dòng vốn nước ngoài ……… 12

2.2 Thị truờng thuơng mại toàn cầu giảm sút và những thay đổi bất lợi của kinh tế thế giới ……… 14

2.3 Hoạt động tấn công đầu cơ và rút vốn đồng loạt ……… 15

III/ Bài học kinh nghiệm ……… 16

KẾT LUẬN ……… 19

TÀI LIỆU THAM KHẢO ……… 20

Trang 3

XX, và được xem là những “Con hổ Đông Á” lúc bấy giờ Đây là những thành quả hếtsức ấn tượng đã được nhiều viện nghiên cứu kinh tế trên thế giới hoan nghênh bao gồm

cả Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) và Ngân hàng Thế giới (World Bank), nó đuợc biết đến nhưmột phép lạ của kinh tế Đông Nam Á

Tuy nhiên chỉ trong vòng 2 năm từ 1997 đến 1998, cuộc khủng hoảng tài chính Đông

Á (bắt đầu từ tháng 7 năm 1997 ở Thái Lan) đã ảnh hưởng xấu đến các nền kinh tế ởChâu Á bao gồm các thị trường chứng khoán, các trung tâm tiền tệ lớn, và giá cả củanhững tài sản khác Nạn nhân của cuộc khủng hoảng này không ai khác chính là những

“Con hổ Đông Á” Vậy điểu gì đã tạo nên thương tích trên những “Con hổ Đông Á” ấy?

KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH CHÂU Á 1997 – 1998

Trang 4

I/ DIỄN BIẾN CUỘC KHỦNG HOẢNG:

1.Tình hình tại Thái Lan:

a.Những năm 80 của thế kỉ XX:

Giai đoạn này Thái Lan nổi lên như một nền kinh tế năng động nhất Châu Á Từ 1985đến 1995, tốc độ tăng trưởng kinh tế của Thái Lan đạt 8,5% hàng năm, mức độ lạm pháttrung bình hàng năm 5% (so sánh trong cùng thời kì kinh tế Mỹ tăng trưởng 1,3% và lạmphát 3,2%) Tăng trưởng kinh tế rất nóng do sự bùng nổ đầu tư vào kinh doanh nhàxưởng, bất động sản, cơ sở hạ tầng du lịch

Nhu cầu về bất động sản tăng rất nhanh tại Bangkok, văn phòng làm việc và các tòanhà chọc trời mọc lên khắp nơi trên thành phố Các tổ chức tài chính tiếp tục cho cáccông ty kinh doanh bất động sản vay vốn vì giá bất động sản liên tục tăng

Cuối năm 1996, báo cáo Triển vọng Kinh tế Thế giới của IMF đã cảnh báo nền kinh

tế Thái Lan tăng trưởng quá nóng và bong bóng kinh tế có thể không giữ được lâu Cũngtrong thời gian này, thị trường chứng khoán Thái Lan bắt đầu có sự điều chỉnh, cả mứcvốn hóa thị trường vốn lẫn chỉ số thị trường chứng khoán đều giảm đi

b.Đầu năm 1997:

- Sự bùng nổ về xây dựng nhà ở và văn phòng kinh doanh đã lên tới đỉnhđiểm khi lượng cung vượt quá cầu Ước tính 365.000 căn hộ bỏ trống ở Bankok vàocuối năm 1996, cùng với 100.000 căn hộ khác sẽ được đưa vào sử dụng năm 1997

đã làm cho cung vượt xa cầu trên thị trường bất động sản

- Trong thời gian đó, bùng nổ đầu tư của Thái Lan vào cơ sở hạ tầng, khucông nghiệp, khu thương mại làm tăng lượng hàng nhập khẩu với tỷ lệ cao chưatừng thấy Để xây dựng Thái Lan phải nhập các thiết bị đắc tiền,vật liệu từ Mỹ,Châu Âu, Nhật Kết quả tài khoản vãng lai trong cán cân thanh toán thâm hụt mạnhtrong suốt giữa những năm 90 Trong giai đoạn này xuất khẩu tăng nhưng nhậpkhẩu càng tăng nhanh hơn Trong năm 1995 thâm hụt cán cân thanh toán là 8,1% sovới GDP

- Lúc này, chính phủ quyết định thực hiện việc tăng lãi suất Cũng trongthời gian đó các công ty cho vay tài chính cũng lần lượt tuyên bố phá sản vì không

có khả năng trả nợ nước ngoài, nợ xấu trên thị trường bất động sản vì thế ngày càngtăng lên và tăng hơn 30 tỷ trong thời gian này

Trên đây là những chuyển biến từ nên kinh tế Thái Lan, điều tương tự cũng đã xảy

ra với các nền kinh tế khác như Singapore, Malaysia, Indonesia, Hàn Quốc, HongKong

Trang 5

Như vậy vấn đề của nền kinh tế Thái Lan lúc này là:

- Cán cân thanh toán thâm hụt dẫn đến việc các nhà đâu tư dự kiến rằngtình trạng phá giá đồng nội tệ sẽ diễn ra Tức là, tỉ giá cố định sẽ không được giữnữa (đồng Baht sẽ giảm giá mạnh) vì vậy nhiều công ty mua Dollar vào để trả nợkhi đáo hạn còn các nhà đầu cơ thì vay Baht để mua USD nhằm thu lại lợi nhuận.Điều này khiến cho đồng Baht bị tấn công đầu cơ quy mô lớn vào ngày 14/05/1997

- Sự tăng lãi suất của ngân hàng làm nhiều công ty tài chính bị sụp đổTrước những sức ép trên, Chính phủ Thái Lan tuyên bố ko phá giá đồng nội tệ, vàban đầu dùng dự trữ ngoại tệ để bảo vệ tỷ giá nhưng chỉ có thể duy trì trong vòng 1tháng

Sau đó đồng Baht được thả nổi vào ngày 02/07/1997 và ngay lập tức mất giá 10%, rồi

giá trị tiếp tục giảm xuống sau đó (lên tới hơn 50%) Vào đầu năm 1997, tỷ giá giữa đồngBaht và USD là 25 Baht đổi 1 USD, nhưng đến tháng 1 năm 1998, tỷ giá này đã giảmxuống tới mức 56 Baht mới đổi được 1 USD

Chỉ số thị trường chứng khoán Thái Lan đã tụt từ mức 1.280 cuối năm 1995 xuốngcòn 372 cuối năm 1997 Đồng thời, mức vốn hóa thị trường vốn giảm từ 141,5 tỷ USDxuống còn 23,5 tỷ USD

Finance One, công ty tài chính lớn nhất của Thái Lan bị phá sản.

Cuộc khủng hoảng tài chính xảy ra khiến kinh tế Thái lan suy sụp, nguy cơ lan ra cácnước khác cùng khu vực là rất cao IMF tuyên bố sẽ cung cấp một gói cứu trợ trị giá 16

tỷ dollar Mỹ cho Thái Lan vào ngày 11/8 Đến ngày 20/8, IMF thông qua một gói cứu trợnữa trị giá 3,9 tỷ dollar

Tuy nhiên, khủng hoảng vẫn nhanh chóng lan ra Hàn Quốc, Malaysia và Indonesia.Đồng Ringgit (Malaysia) và Rupiah (Indonesia) đều chịu sức ép và sau cùng đều bị phágiá Đồng won Hàn Quốc, do cơ chế tỷ giá linh hoạt, nên đã mất giá từ năm 1996

Tỷ giá hối đoái danh nghĩa chính thức (nội tệ/USD)

Hàn Quốc (Won) Thái Lan (Baht) Indonesia (Rupiah)

Trang 6

Malaysia (Ringgit) Philippines (Peso) Singapore (S-dollar)

Nguồn: NHTG, “World Development Indicators”, 2002

Chỉ số tỷ giá hối đoái với USD

- Dòng vốn ngắn hạn đã chảy vào các nước Đông Á, giờ ồ ạt chảy ra Cảcác nhà đầu tư đều muốn chuyển vốn ra Ngân hàng đòi lại vốn cho vay, từ chối đảo

nợ và ngưng cho vay mới

- Các nhà đầu tư chứng khoán thì bán chứng khoán, đổi ra ngoại tệ vàchuyển ra nước ngoài Riêng trong năm 1997, hơn 20 tỷ USD ròng được đưa ra khỏi

5 nước Đông Á chịu khủng hoảng, trong khi trong năm 1996 vẫn còn nhận được gần

66 tỷ USD

Trang 7

Đvt: Tỷ USD 1996 1997 1998 1999

Vay thương mại và đầu tư khác 37.1 -43.6 -28.2 -41.1

Dòng vốn quốc tế chảy ra khỏi Đông Á

Nguồn: NHTG, “World Economic Outlook”, 5/1998 và 3/2000

- Thị trường bất động sản tại Thái Lan, Malaysia, Indonesia sụp đổ

Hình 8: Chỉ số giá cao ốc văn

phòng tại Thái Lan vàIndonesia

Nguồn: Marcus Miller và

2.Diễn biến cụ thể tại các nước:

2.1 HongKong:

Trang 8

Tháng 10 năm 1997, Dollar Hong Kong bị tấn công đầu cơ Đồng tiền này vốn đượcneo vào Dollar Mỹ với tỷ giá 7,8 HKD/USD Tuy nhiên, tỷ lệ lạm phát ở Hong Kong lạicao hơn ở Mỹ, vì vậy đây là cơ sở để cho giới đầu cơ tấn công

- Nhờ có dự trữ ngoại tệ hùng hậu lên tới 80 tỷ USD vào thời điểm đótương đương 700% lượng cung tiền M1 hay 45% lượng cung tiền M3, nên Cơ quanTiền tệ Hong Kong đã dám chi hơn 1 tỷ USD để bảo vệ đồng tiền của mình Các thịtrường chứng khoán ngày càng trở nên dễ đổ vỡ

- Từ ngày 20 tháng 10 đến 23 tháng 10, Chỉ số Hang Seng đã giảm 23%.Ngày 15 tháng 8 năm 1998, Hong Kong nâng lãi suất cho vay qua đêm từ 8% lênthành 23% và ngay lập tức nâng vọt lên 500%

- Đồng thời, Cơ quan Tiền tệ Hong Kong bắt đầu mua vào các loại cổphiếu thành phần của Chỉ số Hang Seng để giảm áp lực giảm giá cổ phiếu Cơ quannày và ông Donald Tsang, lúc đó là Bộ trưởng Tài chính và sau này làm TrưởngĐặc khu hành chính Hong Kong, đã công khai tuyên chiến với giới đầu cơ

- Chính quyền đã mua vào khoảng 120 tỷ Dollar Hong Kong (tương đương

15 tỷ Dollar Mỹ) các loại chứng khoán Sau này, vào năm 2001, chính quyền đã bán

ra số chứng khoáng này và thu lời khoảng 30 tỷ Dollar Hong Kong (khoảng 4 tỷDollar Mỹ)

- Cuộc khủng hoảng này đã ngừng lại vào tháng 9 năm 1998 chủ yếu docác nhà đầu cơ bị thiệt hại bởi chính sách điều tiết dòng vốn nước ngoài của chínhphủ HongKong và bởi sự sụp đổ của các hoạt động đầu cơ nhằm vào Dollar HongKong và thị trường chứng khoán của nước trường trái phiếu và tiền tệ ở Nga

- Tỷ giá neo giữa Dollar Hong Kong và Dollar Mỹ vẫn được bảo toàn ởmức 7,8 : 1

2.2 Hàn Quốc:

Vào thời điểm khủng hoảng bùng phát ở Thái Lan, Hàn Quốc có một gánh nặng nợnước ngoài khổng lồ Các công ty, tập đoàn lớn nợ ngân hàng trong nước, còn ngân hàngtrong nước lại nợ ngân hàng nước ngoài Một vài vụ vỡ nợ đã xảy ra Khi thị trường châu

Á bị khủng hoảng, tháng 11 các nhà đầu tư bắt đầu bán ra chứng khoán của Hàn Quốc ởquy mô lớn

- Ngày 28 tháng 11 năm 1997, tổ chức đánh giá tín dụng Moody đã hạ thứhạng của Hàn Quốc từ A1 xuống A3, sau đó vào ngày 11 tháng 12 lại hạ tiếp xuốngB2 Điều này góp phần làm cho giá chứng khoán của Hàn Quốc thêm giảm giá

- Riêng trong ngày 7 tháng 11, thị trường chứng khoán Seoul tụt 4% Ngày

24 tháng 11 lại tụt 7,2% do tâm lý lo sợ IMF sẽ đòi Hàn Quốc phải áp dụng cácchính sách thắt chặc tiền tệ

Trang 9

Trong khi đó, đồng Won giảm giá xuống còn khoảng 1700 KRW/USD từ mức 1000KRW/USD.

2.3 Malaysia:

Ngay sau khi Thái Lan thả nổi đồng Baht (ngày 2 tháng 7 năm 1997), đồng Ringgitcủa Malaysia và thị trường chứng khoán Kuala Lumpur lập tức bị sức ép giảm giá mạnh.Ringgit đã giảm từ mức 3,75 Ringgit/Dollar Mỹ xuống còn 4,20 Ringgit/Dollar Phần lớnsức ép giảm giá đối với Ringgit là từ việc buôn bán đồng tiền này trên thị trường tiền ởnước ngoài Những người tham gia thị trường tiền duy trì tài khoản bằng đồng Ringgit ởtrạng thái bán ra nhiều hơn mua vào với dự tính về sự giảm giá của đồng Ringgit trongtương lai

Kết quả là lãi suất trong nước của Malaysia giảm xuống khuyến khích dòng vốn chảy

ra nước ngoài Lượng vốn chảy ra đạt tới mức 24,6 tỷ Ringgit vào quý hai và quý ba năm1997

2.4 Indonesia:

- Tháng 7, khi Thái Lan thả nổi đồng Baht, cơ quan hữu trách tiền tệ củaIndonesia đã nới rộng biên độ dao động của tỷ giá hối đoái giữa Rupiah và Dollar

Mỹ từ 8% lên 12%

- Tháng 8, đồng Rupiah bị giới đầu cơ tấn công và đến ngày 14 thì chế độ

tỷ giá hối đoái thả nổi có quản lý được thay thế bằng chế độ thả nổi hoàn toàn.Đồng Rupiah liên tục mất giá

- IMF đã thu xếp một gói viện trợ tài chính khẩn cấp cho Indonesia lên tới

23 tỷ Dollar, nhưng Rupiah tiếp tục mất giá do đồng Rupiah bị bán ra ồ ạt vàlượng cầu Dollar Mỹ ở Indonesia tăng vọt Tháng 9, cả giá Rupiah lẫn chỉ số thịtrường chứng khoán đều giảm xuống mức thấp lịch sử

Rupiah mất giá làm suy yếu bảng cân đối tài sản của các công ty Indonesia, đặc biệt làlàm cho món nợ ngân hàng nước ngoài của các công ty tăng lên Trước tình hình đó,nhiều công ty đẩy mạnh mua Dollar vào (có nghĩa là bán Rupiah ra) khiến cho nội tệthêm mất giá và tỷ lệ lạm phát tăng vọt

Lạm phát tăng tốc cùng với chính sách tài chính thắt chặt theo yêu cầu của IMF khiếnchính phủ phải bỏ trợ giá lương thực và xăng đã khiến giá hai mặt hàng này tăng lên.Tình trạng bạo động để tranh giành mua hàng đã bùng phát Riêng ở Jakarta đã có tới 500người bị chết do bạo động

Trang 10

Theo thống kê, trước khủng hoảng, tỷ giá hối đoái giữa Rupiah và Dollar vào khoảng

2000 : 1 Nhưng trong thời kỳ khủng hoảng, tỷ giá đã giảm xuống mức 18.000 : 1

Do thay đổi tỷ giá hối đoái và do nhiều nhân tố khác, GDP theo Dollar Mỹ củaIndonesia đã giảm đi

3.Hậu quả từ cuộc khủng hoảng tài chính đến các nền kinh tế:

 Hàng loạt các ngân hàng, công ty tài chính thua lỗ nặng nề và lâm vàotình trạng phá sản, giải thể, sáp nhập trong khoảng thời gian từ 1/4/1997 đến31/3/1998

Tổng số NH

Số NH bị đình chỉ HĐ

Số NH bị

CP giám sát

Số NH

bị sáp nhập

Số NH bán cho cty NN

Tình trạng thua lỗ và phá sản trong hệ thống tài chính

 Kinh tế suy thoái, tốc độ tăng trưởng giảm sút thậm chí bị âm (-) trầm trọng

 Tỷ lệ thất nghiệp tăng vọt, chỉ riêng Thái Lan, sau khủng hoảng đã khiến 2 triệungười mất việc làm, tỷ lệ thất nghiệp Philippines từ 9,5% (năm 96) tăng lên 10,4%(năm 97), tại Hàn Quốc từ 2,5 (năm 97) tăng vọt lên 8,6% (tháng 7/98)

 Thu nhập bình quân đầu người sụt giảm mạnh, cho đến năm 2002 vẫn chưa thể hồiphục bằng mức của năm 1996

SO SÁNH MỨC TNBQ/NGƯỜI NĂM 1996 VÀ NĂM 2002

Trang 11

 Sự rút vốn ồ ạt của các nhà đầu tư, người cho vay trong và ngoài nướckhiến nguồn vốn tín dụng cạn kiệt, thị trường chứng khoán trầm lắng xảy ra ở hầuhết các nước Đông Á.

 Khủng hoảng tiền tệ dẫn đến khủng hoảng xã hội và khủng hoảng

chính trị Điều này dẫn đến việc ông Suharto buộc phải từ chức tổng thống

Indonesia vào giữa năm 1998

III/ NGUYÊN NHÂN CUỘC KHỦNG HOẢNG:

Như vậy nhìn vào diễn biến trên ta có thể thấy được nguyên nhân của cuộc khủnghoảng xuất phát từ các yếu tố chủ quan và khách quan:

1.Nguyên nhân chủ quan:

1.1 Nền kinh tế vĩ mô yếu kém đưa đến sự bùng nổ tín dụng, tài khoản vãng lai thâm hụt:

Chính sách tiền tệ nới lỏng và việc tự do hóa tài chính ở Mỹ, châu Âu và Nhật Bảncuối thập niên 1980 đã khiến cho tính thanh khoản toàn cầu trở nên cao quá mức Cácnhà đầu tư ở các trung tâm tiền tệ nói trên của thế giới tìm cách thay đổi danh mục tài sảncủa mình bằng cách chuyển vốn đầu tư ra nước ngoài Quá trình toàn cầu hóa các thịtrường tài chính đã diễn ra với tốc độ chóng mặt Chỉ riêng giai đoạn từ 1990-1997 , vốn

tư nhân đưa vào các nước đang phát triển đã tăng hơn 5 lần, từ 42 triệu USD năm 1990tới 256 triệu USD năm 1997 Trong khi thương mại thế giới chỉ tăng gần 5%/năm thì

Trang 12

như vay nợ từ các ngân hàng thương mại và đầu tư gián tiếp chính là những yếu tố tạonên tốc độ tăng trưởng cao trên về luồng vốn

Khu vực Đông Á với sự thành công trong những năm 70, 80 của thế kỷ này trở thànhđịa điểm lý tưởng cùng với sự kết hợp các yếu tố như mức tăng trưởng nhanh, tỷ lệ nợthấp và quản lý tốt kinh tế vĩ mô đã thu hút vốn đầu tư nước ngoài tựa như một thanhnam châm Tuy nhiên, tăng trưởng nhanh, đô thị hóa và công nghiệp hóa cùng khối lượngvốn ồ ạc đổ vào đã làm xuất hiện nhiều vấn đề mới và khó khăn đối với sự phát triển củacác nước này Tình trạng tăng trưởng nhanh trong điều kiện thiếu các thị trường tài chính

và thị trường vốn đủ mạnh và có sự tham gia rộng rãi của chính phủ, làm cho các khu vựctài chính và các tập đoàn thường phải đầu tư dài hạn bằng nguồn vốn vay nợ ngắn hạn.Điều này đưa đến sự tích tụ các khoản nợ ngắn hạn đối với nước ngoài phải trả Trướctình hình này chính phủ các nước này đã đưa ra chính sách thắt chặt tiền tệ nhằm loại bỏảnh hưởng của dòng vốn vào và mở rộng tín dụng đã làm tăng lãi suất trong nước cũngnhư tạo ra sự chênh lệch về lãi suất giữa trong nước và ngoài nước và vô tình khuyếnkhích các nhà đầu tư vay vốn từ nước ngoài để đầu tư vào trong nước dẫn đến sự bùng nổtín dụng trong nước góp phần làm thâm hụt tài khoản vãng lai tăng lên

Thêm vào đó chúng ta cần xem xét và thấy rõ rằng các quy chế cần thiết để quản lý sựhòa nhập tài chính toàn cầu đã không bắt kịp với luồng vốn vào Như đã biết khi dòngvốn đi vào thì vai trò của trung gian tài chính quốc tế ngày càng quan trọng Đầu tư vàolĩnh vực có tỷ suất hoàn vốn cao đối với những người vay có độ tín nhiệm cao thì dòngvốn đầu tư này sẽ có tiềm năng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ở Đông Á Thực tế lại đemđến điều ngược lại Các doanh nghiệp tiếp nhận vốn nước ngoài thông qua hệ thống ngânhàng thương mại Các ngân hàng không đưa ra những quy định rõ ràng và nghiêm khắccho các doanh nghiệp vay vốn nước ngoài Hầu hết luồng vốn đầu tư nước ngoài là ngắnhạn nhưng các doanh nghiệp lại dùng vào các dự án dài hạn tỷ suất sinh lời thập rủi rocao Thêm vào đó là tâm lý ỷ lại vào sự bảo trợ ngầm của chính phủ (mặc dù chính phủkhông tuyên bố) nên các ngân hàng vẫn tiếp tục cho vay vốn và tin rằng bảo hiểm rủi ro

là không cần thiết trong thời kỳ này

1.2 Chế độ tỷ giá không phù hợp xu thế:

Nếu yếu kém vĩ mô là những nguyên nhân sâu xa dẫn đến khủng hoảng thì các chínhsách “neo giá” giữa các đồng tiền khu vực với đồng USD, tạo nên một hệ thống tỷ giákhiên cưỡng là nguyên nhân chủ yếu dẫn tới việc phá giá hàng loạt các đồng tiền khuvực Mặc dù khởi phát từ việc thả nổi đồng baht Thái Lan dấn đến hiệu ứng lan tỏa sangcác đồng Peso, Ringgit và Rupiah, nhưng trong thực tế trong chừng mực nào đó,các đồngnội tệ này đã bị giảm giá trước xu hướng ngày càng tăng của đồng USD

Ngày đăng: 23/10/2012, 11:40

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 8:  Chỉ số giá cao ốc văn - KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH 97 - 98
Hình 8 Chỉ số giá cao ốc văn (Trang 7)
Bảng số liệu: Nợ ngắn hạn vào quý II năm 1997 - KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH 97 - 98
Bảng s ố liệu: Nợ ngắn hạn vào quý II năm 1997 (Trang 15)
Bảng số liệu: thâm hụt tài khoản vãng lai (%GDP) - KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH 97 - 98
Bảng s ố liệu: thâm hụt tài khoản vãng lai (%GDP) (Trang 16)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w