Tôi xin cam đoan công trình nghiên cứu “Tình trạng thiếu máu và một số yếu tố liên quan của phụ nữ có thai tại huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang, năm 2016” này là do tôi thực hiện, dưới sự
Trang 1NGUYỄN DIỆU THOAN
TÌNH TRẠNG THIẾU MÁU VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN CỦA PHỤ NỮ CÓ THAI TẠI HUYỆN TỊNH BIÊN,
TỈNH AN GIANG, NĂM 2016
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN Y KHOA
KHÓA 2013 - 2017
HÀ NỘI - 2017
Trang 2NGUYỄN DIỆU THOAN
TÌNH TRẠNG THIẾU MÁU VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN CỦA PHỤ NỮ CÓ THAI TẠI HUYỆN TỊNH BIÊN,
Trang 3môn Dinh dưỡng và Vệ sinh an toàn thực phẩm, Viện Đào tạo Y học dựphòng và Y tế công cộng đã tận tình giảng dạy và giúp đỡ tôi trong thờigian học tập tại trường.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới TS.Bs Trần Thuý Nga, trưởng khoa Vi chất Viện dinh dưỡng Quốc gia đã luôn tận tình chỉ dạy,
động viên khích lệ, dành nhiều thời gian trao đổi và định hướng cho tôi rấtnhiều từ bước lấy số liệu đến khi khóa luận hoàn thành
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới ThS Trần Minh Hải đã luôn
hướng dẫn tận tình cho tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
Để thực hiện khóa luận này, tôi cũng không thể không nhắc đến và biết
ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của cán bộ Viện dinh dưỡng và cán bộ địa phươnghuyện Tịnh Biên đã tận tình giúp đỡ, tạo điều kiện tốt nhất cho tôi trong quátrình nghiên cứu
Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến bố mẹ và những người thântrong gia đình cùng toàn thể bạn bè đã động viên, tạo điều kiện giúp đỡ tôitrong suốt thời gian học tập và hoàn thành khóa luận
Hà Nội, ngày tháng năm 2017
Sinh viên
Nguyễn Diệu Thoan
Trang 4- Viện Đào tạo Y học dự phòng và Y tế công cộng.
- Bộ môn Dinh dưỡng và Vệ sinh an toàn thực phẩm
- Hội đồng chấm khóa luận tốt nghiệp
Tôi xin cam đoan công trình nghiên cứu “Tình trạng thiếu máu và một
số yếu tố liên quan của phụ nữ có thai tại huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang, năm 2016” này là do tôi thực hiện, dưới sự hướng dẫn của TS.Bs Trần Thuý
Nga Các kết quả, số liệu trong khóa luận là hoàn toàn chính xác, trung thực
và chưa được đăng tải trên tài liệu khoa học nào
Hà Nội, ngày tháng năm 2017
Sinh viên
Nguyễn Diệu Thoan
Trang 5BMI Body Mass Index – Chỉ số khối cơ thể
CBCNVC Cán bộ công nhân viên chức
CED Chronic Energy Deficiency - Thiếu năng lượng trường
WHO World Health Organization - Tổ chức Y tế thế giới
Trang 6Danh mục các chữ viết tắt iii
Mục lục iv
Danh mục bảng vi
Danh mục biểu đồ vii
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Tình trạng thiếu máu của phụ nữ có thai 3
1.1.1 Khái niệm 3
1.1.2 Nguyên nhân thiếu máu của phụ nữ có thai 3
1.1.3 Hậu quả của thiếu máu 6
1.1.4 Tình hình thiếu máu của phụ nữ có thai trên Thế giới và Việt Nam.7 1.1.5 Các biện pháp phòng chống thiếu máu 9
1.2 Một số yếu tố liên quan đến thiếu máu ở phụ nữ có thai 11
1.2.1 Tình trạng sinh lý 11
1.2.2 Điều kiện môi trường và xã hội 12
1.2.3 Tình trạng dinh dưỡng của phụ nữ trước khi có thai 12
1.2.4 Thực trạng kiến thức và thực hành phòng chống thiếu máu 13
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 14
2.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 14
2.2 Thiết kế nghiên cứu 14
2.3 Đối tượng nghiên cứu 14
2.4 Cỡ mẫu và chọn mẫu 15
2.5 Các biến số, chỉ số nghiên cứu 15
2.6 Phương pháp thu thập số liệu 16
Trang 72.10 Đạo đức trong nghiên cứu 19
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 20
3.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu 20
3.2 Tình trạng thiếu máu, kiến thức - thực hành của phụ nữ có thai 22
3.2.1 Tình trạng thiếu máu của phụ nữ có thai 22
3.2.2 Kiến thức - thực hành của phụ nữ có thai 23
3.3 Mối liên quan giữa một số yếu tố liên quan và tình trạng thiếu máu của phụ nữ có thai 30
Chương 4: BÀN LUẬN 34
4.1 Đặc điểm chung của nhóm đối tượng nghiên cứu 34
4.2 Tình trạng thiếu máu của phụ nữ có thai 35
4.3 Kiến thức - thực hành phòng chống thiếu máu của phụ nữ có thai 36
4.3.1 Kiến thức 36
4.3.2 Thực hành 37
4.4 Một số yếu tố liên quan đến thiếu máu của phụ nữ có thai 38
KẾT LUẬN 43
KHUYẾN NGHỊ 45 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 8Bảng 1.1 Tỷ lệ thiếu máu của phụ nữ có thai theo khu vực 8
Bảng 1.2 Tỷ lệ thiếu máu của phụ nữ có thai theo vùng sinh thái 9
Bảng 3.1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu 20
Bảng 3.2 Tỷ lệ thiếu máu của phụ nữ có thai 22
Bảng 3.3 Tỷ lệ thiếu máu của phụ nữ có thai theo quý thai 22
Bảng 3.4 Tỷ lệ thiếu máu của phụ nữ có thai theo nhóm tuổi 23
Bảng 3.5 Kiến thức của phụ nữ có thai về bệnh thiếu máu 24
Bảng 3.6 Tiếp cận thông tin về viên sắt phòng chống bệnh thiếu máu ở phụ nữ có thai 26
Bảng 3.7 Thực hành chăm sóc khi mang thai của phụ nữ có thai 27
Bảng 3.8 Thực hành sử dụng viên sắt khi mang thai của phụ nữ có thai 28
Bảng 3.9 Mối liên quan giữa thiếu máu và một số yếu tố liên quan 30
Bảng 3.10 Mối liên quan giữa tình trạng thiếu máu và kiến thức về bệnh thiếu máu của phụ nữ có thai 31
Bảng 3.11 Mối liên quan giữa tình trạng thiếu máu và thực hành uống viên sắt ở phụ nữ có thai 32
Bảng 3.12 Mối liên quan giữa tình trạng thiếu máu và tuần suất tiêu thụ thực phẩm của phụ nữ có thai 33
Trang 9Biểu dồ 3.1 Tình trạng dinh dưỡng của đối tượng trước khi mang thai 21
Biểu đồ 3.2 Tỷ lệ phụ nữ có thai đã từng nghe về bệnh thiếu máu 23
Biểu đồ 3.3 Kiến thức của phụ nữ có thai về thực phẩm giàu sắt 25
Biểu đồ 3.4 Tác dụng phụ khi sử dụng viên sắt 29
Trang 10ĐẶT VẤN ĐỀ
Thai nghén và sinh nở là những sự kiện đáng ghi nhớ trong cuộc đờicủa mỗi người phụ nữ Mặc dù đây là một quá trình sinh lý bình thườngnhưng lại liên quan đến nhiều yếu tố nguy cơ về sức khoẻ, sự sống còn của cả
mẹ và con cũng như hạnh phúc của mỗi gia đình [1] Trong thời kỳ mang thai,
sự hình thành và phát triển của thai phụ thuộc rất nhiều vào sức khoẻ của mẹ.Việc nuôi dưỡng thai chịu sự ảnh hưởng của sự cung cấp máu từ tuần hoànmáu mẹ đầy đủ sẽ cung cấp đủ chất dinh dưỡng cho thai, ngược lại nếu người
mẹ thiếu máu trong giai đoạn mang thai sẽ có những ảnh hưởng xấu đến sựphát triển của thai [2]
Có nhiều nguyên nhân gây ra thiếu máu, trong đó thiếu máu dinhdưỡng là phổ biến nhất và quan trọng hơn đối với sức khỏe cộng đồng Thiếumáu dinh dưỡng tập trung nhiều nhất ở phụ nữ có thai (PNCT), bà mẹ nuôicon bú, trẻ em dưới 5 tuổi và lứa tuổi học sinh [3] Bệnh thiếu máu ảnh hưởngđến nửa tỷ phụ nữ trong độ tuổi sinh sản trên toàn thế giới Trong năm 2011,38% tương đương 32,4 triệu PNCT ở độ tuổi 15-49 bị thiếu máu Mục tiêutoàn cầu của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) là tới năm 2025 giảm 50% tỷ lệthiếu máu này [4] Ở Việt Nam, theo báo cáo của Viện Dinh dưỡng năm 2009-
2010 cho thấy tỷ lệ thiếu máu ở PNCT là 36,5%, cao nhất là vùng núi phíaBắc và Tây Nguyên lên tới gần 60% [5]
Với bà mẹ, thiếu máu dễ gây tai biến trong quá trình mang thai và trongkhi đẻ như sảy thai, thai lưu, đẻ non, băng huyết, tăng các tỷ lệ đẻ khó thậmchí tử vong người mẹ,…Thiếu máu tăng tai biến chảy máu trong và sau đẻ,nhiễm khuẩn hậu sản, sót rau, choáng trong cuộc đẻ, chậm phục hồi sức khỏecủa sản phụ sau đẻ Với thai nhi, thiếu máu của mẹ trong thời kỳ mang thai cóthể làm tăng nguy cơ mắc bệnh và tử vong ở trẻ, thai nhi kém phát triển, cân
Trang 11nặng sơ sinh thấp, làm ảnh hưởng đến sự phát triển thể lực và trí tuệ của thainhi sau này [4], [6].
Một trong những ảnh hưởng thiếu máu ở PNCT là thiếu kiến thức, thựchành về sử dụng các thực phẩm giàu sắt, thức ăn nghèo nàn thiếu đa dạng và
bà mẹ thiếu năng lượng trường diễn [7] Ngoài ra các yếu tố khác như tiếp cậndịch vụ y tế, nghề nghiệp, thu nhập, tuổi, dân tộc, số lần có thai, tập quánkiêng khem,…cũng ảnh hưởng không nhỏ đến tình trạng thiếu máu củaPNCT
Huyện Tịnh Biên là một huyện miền núi, biên giới, nằm phía Tây Bắctỉnh An Giang Tịnh Biên có số người Khơ me, người Hoa tương đối lớn Gầnđây đời sống nhân dân đã có nhiều chuyển biến nhưng vẫn còn nhiều khókhăn trong việc tiếp cận nguồn thông tin, cơ sở y tế trong chăm sóc sức khỏenhân dân nói chung và sức khỏe phụ nữ mang thai nói riêng
Đánh giá đúng và đầy đủ tình hình thiếu máu, thông tin về các yếu tốảnh hưởng đến thiếu máu của PNCT tại huyện Tịnh Biên để thiết lập cácchương trình bảo vệ sức khỏe bà mẹ và trẻ sơ sinh là thực sự cần thiết Vì vậy
chúng tôi tiến hành nghiên cứu “Tình trạng thiếu máu và một số yếu tố liên quan của phụ nữ có thai tại huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang, năm 2016”
Trang 12Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Tình trạng thiếu máu của phụ nữ có thai
1.1.1 Khái niệm
Thiếu máu là tình trạng giảm huyết sắc tố ở trong máu so với ngườicùng tuổi, cùng giới, cùng trạng thái và cùng điều kiện sống dẫn đến sự thiếuoxy để cung cấp cho các tế bào, các mô trong cơ thể [8]
Thiếu máu dinh dưỡng là tình trạng bệnh lý xảy ra khi hàm lượngHemoglobin (Hb) trong máu xuống thấp hơn mức bình thường do thiếu mộthay nhiều chất dinh dưỡng cần thiết cho quá trình tạo máu, bất kể do nguyênnhân gì [9]
Ở PNCT, có thể có thiếu máu sinh lý do tăng không đồng đều giữa thểtích huyết tương và khối lượng hồng cầu làm cho Hb giảm 10-20 g/l Tìnhtrạng này không gây bệnh lý nhưng có thể làm nặng thêm tình trạng thiếumáu sẵn có ở bệnh nhân [10]
Hiện nay, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đưa ra tiêu chuẩn thiếu máu là: Hb <
120 g/l với phụ nữ không có thai và Hb < 110 g/l với phụ nữ có thai Tiêuchuẩn này vẫn được sử dụng rộng rãi ở Việt Nam cũng như trên thế giới [8].Dưới đây là thang phân loại của WHO về mức độ thiếu máu ở PNCT [11]:
Mức dộ thiếu máu nhẹ 100 g/l Hb < 110 g/l
Mức độ thiếu máu trung bình 70 g/l Hb < 100 g/l
Mức độ thiếu máu nặng Hb < 70 g/l
1.1.2 Nguyên nhân thiếu máu của phụ nữ có thai
Thiếu máu có thể gây ra do nhiều nguyên nhân khác nhau Về ý nghĩasức khỏe cộng đồng thì thiếu máu do thiếu dinh dưỡng, đặc biệt là thiếu sắt,thiếu axit folic, thiếu vitamin B12 là phổ biến hơn cả Đặc biệt thiếu máu
Trang 13thiếu sắt được coi là nguyên nhân quan trọng nhất của thiếu máu thai nghén[6] Theo ước tính gần đây nhất của WHO, trong số hơn 1,6 tỷ người trên toàncầu bị thiếu máu thì có tới 50% thiếu máu do thiếu sắt [12].
- Thiếu máu do thiếu sắt
Nguyên nhân là do sự mất cân đối giữa hấp thu sắt và nhu cầu của cơthể Sự mất cân đối đó có thể xảy ra nếu việc tiêu thụ sắt thấp: việc sử dụng
và hấp thu sắt kém, tăng nhu cầu hoặc do tăng mất sắt
• Nhu cầu sắt tăng:
Tổng lượng sắt cần cho thời kỳ có thai là 1000 mg, trong đó 300 – 500 mg
để tổng hợp Hb, 250-300 mg giúp cho thai nhi phát triển, 30-100 mg cần chomáu thai và bánh rau [6] Khi sổ rau bình thường sẽ mất khoảng 700 mg sắt
và cơ thể phải hấp thu 2,5 mg/ngày Nhu cầu sắt tăng theo tuổi thai, 3 thángđầu cần 1 mg/ngày, lên 4 mg/ngày trong 3 tháng giữa và 6-8 mg/ngày trong 3tháng cuối [13]
Với chế độ ăn uống đầy đủ mỗi ngày cũng chỉ cung cấp cho cơ thểkhoảng 1,5 mg sắt, số thiếu hụt phải lấy ở nơi dự trữ tại gan, thận, lách [14]
Vì vậy nếu người mẹ ngay từ đầu chỉ có dự trữ sắt ít hoặc không có dự trữ sẽxảy ra tình trạng thiếu sắt trầm trọng
• Nguồn sắt cung cấp thấp:
Lượng sắt được hấp thu vào cơ thể không chỉ phụ thuộc vào lượng ănvào mà còn vào khả năng hấp thu Trong thức ăn, sắt ở dưới dạng Hem và ởdạng không Hem Sắt Hem có nhiều trong thịt, cá và tiết Tỷ lệ hấp thu sắtloại này là 20-30% Sắt ở dạng không Hem chủ yếu có ở ngũ cốc, rau, củ vàcác loại hạt, có tỷ lệ hấp thu ít hơn và tùy theo sự có mặt của các chất hỗ trợhay ức chế trong khẩu phần Các chất hỗ trợ hấp thu sắt là: vitamin C, cácthức ăn giàu Protid Các chất ức chế hấp thu sắt là các phytat (có nhiều trongngũ cốc), tanin (có nhiều trong trà, cà phê) Ngoài ra tình trạng sắt trong cơ
Trang 14thể cũng ảnh hưởng tới hấp thu sắt, cơ thể thiếu sắt thì khả năng hấp thu sắttăng lên [14].
• Tăng mất sắt:
Nhiễm ký sinh trùng sốt rét, ký sinh trùng đường ruột, đặc biệt là nhiễmgiun móc và nhiễm khuẩn cũng là những nguyên nhân gây thiếu máu Ngoài
ra cũng có thể do nôn nghén, giảm độ toan dạ dày là nguyên nhân mất sắt
Tóm lại, thiếu máu dinh dưỡng do thiếu sắt thường có nhiều yếu tốphối hợp Nguyên nhân cơ bản là không đáp ứng được nhu cầu của cơ thể dothiếu ăn, ăn không đủ các thực phẩm giàu dinh dưỡng Những vấn đề khácnhư chăm sóc y tế cơ sở yếu, vệ sinh môi trường kém, bệnh nhiễm khuẩnnhiều, giáo dục truyền thông sức khoẻ chưa được quan tâm đúng mức cũng lànguyên nhân quan trọng góp phần vào thiếu máu [15]
- Thiếu máu do thiếu acid folic
Acid folic (folat, vitamin B9) là chất cần thiết góp phần tạo hồng cầu và
có ảnh hưởng đến sự tổng hợp DNA và RNA, liên quan mật thiết đến quátrình phân chia nhân và nhân đôi tế bào Thiếu acid folic ở PNCT sẽ gâykhiếm khuyết ống tủy và nguy cơ dị tật đốt sống của thai nhi [16]
Acid folic không được dự trữ trong cơ thể Trong khi có thai, cơ thểphát triển mạnh, phân bào đòi hỏi nhiều acid folic Nếu không được thỏa mãn,thiếu acid folic sẽ là nguyên nhân thiếu máu ở bà mẹ
- Thiếu máu do thiếu vitamin B12
Vitamin B12 là yếu tố quan trọng với cơ thể tuy nhu cầu không lớn,thiếu vitamin B12 gây ra thiếu máu và rối loạn chức năng của hệ thần kinh.Thiếu máu dinh dưỡng do thiếu vitamin B12 đơn thuần hiếm gặp, thườngphối hợp với thiếu máu do thiếu các yếu tố dinh dưỡng khác [6], [17]
Nguyên nhân thiếu vitamin B12: do cung cấp thiếu vì chế độ ăn uốngkiêng khem hoặc mất cân đối, thiếu thức ăn động vật trong khi đó nhu cầu
Trang 15vitamin B12 lại tăng lên Do hấp thu kém ở người có bệnh dạ dầy, ruột Cácbệnh nhiễm trùng mạn tính, bệnh lý ở gan làm rối loạn chuyển hoá và dự trữvitamin B12 [12].
Ngoài ra, thiếu máu còn do thiếu một số vi chất dinh dưỡng khác như:vitamin A, riboflavin, vitamin B6, vitamin C, vitamin E, thiếu kẽm, đồng.Các vitamin A, acid folic, vitamin B12, riboflavin và vitamin B6 cần thiếttrong quá trình chuyển hóa sắt và tạo hồng cầu bình thường Các vitamin C, Ebảo vệ các tế bào hồng cầu trưởng thành khỏi việc bị phá hủy cấu trúc Thiếukẽm gây nên tình trạng thiếu máu do ảnh hưởng tới sự tạo hồng cầu trong tủyxương hoặc gây giảm sức chống đỡ của tế bào máu đối với quá trình oxy hóa.Thiếu đồng cũng ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình chuyển hóa sắt và sựbền vững của màng tế bào hồng cầu với quá trình oxy hóa do vậy có thể gópphần gây lên gánh nặng thiếu máu [12]
1.1.3 Hậu quả của thiếu máu
Thiếu máu không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe của người mẹ mà còn tác động sâu sắc đến thai nhi Những hậu quả nặng nề nhất của thiếu máu là gia tăng nguy cơ tử vong bà mẹ và trẻ em do thiếu máu nặng
- Ảnh hưởng của thiếu máu đối với phụ nữ có thai
Thiếu máu thiếu sắt là nền tảng 115.000 ca tử vong mẹ mỗi năm Ởchâu Á, thiếu máu là nguyên nhân đứng thứ hai gây tử vong mẹ Ngay cảthiếu máu nhẹ và trung bình đều tăng nguy cơ tử vong ở phụ nữ mang thai[18] Thiếu máu làm tăng tỷ lệ các biến chứng trong thai nghén, như sảy thai,băng huyết Đồng thời làm tăng tỷ lệ đẻ khó, mổ lấy thai và tăng các biến cốsau đẻ, như đờ tử cung, băng huyết Thiếu máu khi có thai cũng làm giảm sựtăng cân sinh lý của người mẹ Sức khỏe mẹ giảm sút, sức đề kháng giảm,làm tăng nguy cơ nhiễm khuẩn hậu sản, mắc các bệnh truyền nhiễm, tỷ lệ mắcbệnh tăng và tỷ lệ tử vong của mẹ cũng tăng [19] Vì vậy người ta coi thiếu
Trang 16máu dinh dưỡng trong thời kỳ thai nghén là một đe doạ sản khoa, gây trở ngạilớn trong sự phát triển của con người, các quốc gia trên toàn cầu.
- Ảnh hưởng của thiếu máu tới thai nhi:
Dự trữ sắt của thai nhi thấp nên trẻ sinh ra từ các bà mẹ thiếu máu cónguy cơ cao bị thiếu máu Thiếu máu dẫn đến thiếu dinh dưỡng cho thai, làmthai chậm phát triển trong tử cung do suy giảm tuần hoàn nhau thai và ảnhhưởng đến hệ tim mạch của thai Có nghiên cứu cho thấy khi nồng độ Hb <
110 g/l có liên quan đến tỷ lệ chết chu sinh Tỷ lệ này tăng gấp 2-3 lần khi Hb
< 80 g/l và 8-10 lần khi Hb < 50 g/l [20]
Nghiên cứu của Nguyễn Đức Vy về ảnh hưởng của tình trạng thiếu máutới trọng lượng của trẻ sơ sinh của nhóm bà mẹ thiếu máu nặng có 28,6 % trẻ
sơ sinh có trọng lượng dưới 2500 g, nhóm bà mẹ thiếu máu trung bình có 11,9
% trẻ sơ sinh có trọng lượng dưới 2500g, nhóm bình thường thì tỷ lệ này là10,2 % (sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê) [21]
1.1.4 Tình hình thiếu máu của phụ nữ có thai trên Thế giới và Việt Nam
- Tình hình thiếu máu của phụ nữ có thai trên Thế giới
Thiếu máu là một chỉ số quan trọng của thiếu dinh dưỡng, ở các nước đangphát triển, tỷ lệ thiếu máu của phụ nữ nói chung là 42%, phụ nữ mang thai là52% [22] Theo thống kê của WHO (2008), toàn Thế giới có 41,8% PNCT bịthiếu máu, trong đó tỷ lệ thiếu máu cao nhất ở châu Phi (57,1%), tiếp đếnĐông Nam Á (48,2%) Châu Âu và châu Mỹ có tỷ lệ thiếu máu thấp hơn(25,1% và 24,1%) Tuy nhiên ở Đông Nam Á lại có số lượng người bị thiếumáu nhất, đó là 18,1 triệu người [12]
Tỷ lệ thiếu máu của PNCT đã giảm dần, năm 2011 toàn Thế giới có 38%,tương đương 32,4 triệu PNCT thiếu máu [4]
Bảng 1.1 Tỷ lệ thiếu máu của phụ nữ có thai theo khu vực [4]
Trang 17Khu vực Tỷ lệ thiếu máu (%)
- Tình hình thiếu máu của phụ nữ có thai tại Việt Nam
Cũng như nhiều nước đang phát triển khác, ở Việt Nam, thiếu máucũng được coi là vấn đề sức khỏe cộng đồng Mặc dù tình trạng thiếu máu
đã được cải thiện trong vài thập kỷ qua nhưng mức giảm còn chậm Theokết quả điều tra được Viện Dinh dưỡng tiến hành ở vùng sinh thái ở các tỉnh
và thành phố năm 2006, tỷ lệ thiếu máu ở PNCT là 37,6% Tỷ lệ thiếu máu ởPNCT cao nhất tại Bắc Cạn 68,1%, Huế 41,2%, Hà Nội 36,7%, An Giang28%, Bắc Ninh 16,2% Vùng nội thành có tỷ lệ thiếu máu thấp hơn ngoạithành (29,1% và 35,4%) ở PNCT [23]
Nghiên cứu của Trần Thị Minh Hạnh và cộng sự năm 2007 tại thànhphố Hồ Chí Minh cho thấy tỷ lệ thiếu máu của PNCT là 17,5% [24]
Trang 18Kết quả nghiên cứu của Phạm Văn An, Cao Ngọc Thành năm 2008điều tra 800 PNCT tai huyện Củ Chi, TP Hồ Chí Minh cho thấy tỷ lệ thiếumáu là 18,5% [25].
Theo kết quả nghiên cứu của Lê Minh Chính (2008), tỷ lệ thiếu máu ở PNCTngười dân tộc Sán Dìu tại huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên là 54,5 % [26]
Theo báo cáo của Viện Dinh dưỡng năm 2009-2010 cho thấy tỷ lệ thiếumáu ở PNCT là 36,5% [5]
Bảng 1.2 Tỷ lệ thiếu máu của phụ nữ có thai theo vùng sinh thái [5]
Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung 44,1
1.1.5 Các biện pháp phòng chống thiếu máu
Có nhiều biện pháp phòng chống thiếu máu dinh dưỡng nhưng thường có bốnhướng chính sau [27]
- Bổ sung bằng viên sắt/ acid folic, đa vi chất
Bổ sung viên sắt là biện pháp ngắn hạn tốt nhất đối với PNCT Báo cáocủa Hoàng Thị Kim Thanh (2008) về xây dựng và triển khai hoạt động tiếp thị
xã hội nhằm tăng cường sử dụng viên sắt- acid folic trong phòng chống thiếumáu dinh dưỡng tại tỉnh Đồng Tháp cho thấy tầm quan trọng của cung cấpviên sắt cho phụ nữ tiền thai nhất là PNCT, hiện nay được WHO khuyến nghị
Trang 19như một giải pháp kinh tế và hiệu quả cho các nhóm cộng đồng bị thiếu máucao [28].
PNCT cần uống bổ sung viên sắt/acid folic 1 viên/ngày (60 mg sắtnguyên tố và 400 mcg acid folic) từ khi phát hiện có thai đến sau khi sinh mộttháng [29]
- Cải thiện chế dộ ăn
Đa dạng hóa bữa ăn là giải pháp bền vững nhất để cải thiện tình trạng
vi chất của người dân
Cần cung cấp đủ năng lượng và các thực phẩm giàu sắt cho người mẹ,hướng dẫn lựa chọn các thực phẩm giàu sắt, hạn chế sử dụng các thực phẩmhay đồ uống chứa chất ức chế hấp thu sắt như nước chè đặc, cà phê… Khuyếnkhích cách chế biến hạt nẩy mầm, lên men như làm giá đỗ, dưa chua để tănglượng vitamin C và giảm acid phytic trong thực phẩm Phát triển chăn nuôigia đình, đặc biệt là phát triển hệ sinh thái vườn-ao-chuồng để tạo nguồn thức
ăn thường xuyên trong gia đình [29]
- Giám sát các bệnh nhiễm khuẩn, nhiễm vi- rút, ký sinh trùng
Ở những nước nghèo, hay một số vùng miền núi khó khăn, vệ sinh môitrường kém dẫn đến một số bệnh nhiễm ký sinh trùng giun sán hay sốt rét, đó
là nguyên nhân dẫn đến thiếu máu Vì vậy để dự phòng thiếu máu cần phốihợp tẩy giun với vệ sinh môi trường, sử dụng nguồn nước sạch, thay đổi tậpquán dùng phân tươi trong canh tác nông nghiệp Thực hiện vệ sinh cá nhân,
vệ sinh hộ gia đình
- Tăng cường sắt cho một số thức ăn
Các thực phẩm tăng cường sắt gồm nước mắm, bột mỳ, gạo, muối, bộtngũ cốc, sữa,… Yêu cầu đặt ra là sắt không được gây mùi khó chịu cho thựcphẩm tăng cường [27] Tuy nhiên đây là giải pháp chưa được phổ biến ở ViệtNam do các rào cản về công nghệ, quy mô sản xuất phân tán và người dân
Trang 20vẫn chủ yếu sử dụng các thực phẩm tự cung tự cấp của hộ gia đình và sảnxuất nhỏ lẻ của địa phương (đặc biệt là vùng nghèo).
1.2 Một số yếu tố liên quan đến thiếu máu ở phụ nữ có thai
Tình trạng thiếu máu dinh dưỡng ở PNCT bị chi phối bởi các yếu tố chủyếu đó là điều kiện môi trường và xã hội (hoàn cảnh kinh tế, khẩu phần ăn,trình độ học vấn), tình trạng sinh lý (tuổi, giới, tình trạng thai sản), tình trạngbệnh lý (nhiễm ký sinh trùng, nhiễm giun) [30]
1.2.1 Tình trạng sinh lý
- Tuổi:
Tuổi sinh đẻ của bà mẹ luôn là một vấn đề được các nhà sản khoa quantâm Tuổi mẹ liên quan đến sự hoàn thiện hay suy giảm chức năng các cơquan của cơ thể mẹ, nó ảnh hưởng lớn đến quá trình mang thai và tác độngđến sự phát triển của thai nhi Ở nhóm tuổi dưới 20 tuổi là độ tuổi sinh đẻ, sựphát triển của cơ thể chưa hoàn thiện để đảm bảo cho chức năng sinh sản Ởlứa tuổi này, kiến thức về chăm sóc thai sản chưa tốt, điều kiện kinh tế và dinhdưỡng hạn chế và nhiều trường hợp sinh đẻ ngoài ý muốn đã gây ảnh hưởngkhông tốt đến sức khoẻ người mẹ và trẻ sơ sinh Còn ở nhóm tuổi trên 40 có
tỷ lệ thiếu máu cao thứ hai Người ta cho rằng, ở nhóm tuổi này chức năngcủa các cơ quan trong cơ thể người mẹ đã suy giảm không còn phù hợp choquá trình mang thai và sinh đẻ vì thế hiện tượng thiếu máu phổ biến ở độ tuổinày [26]
- Sự thay đổi sinh lý về huyết động học
Nhu cầu sắt thay đổi tuỳ theo điều kiện sinh lý Chuyển hoá sắt trong
cơ thể gần như khép kín, quá trình này rất tiết kiệm sắt nhưng lượng sắt vẫn bịhao hụt theo các con đường khác nhau
Ở PNCT tuy không mất sắt theo kỳ kinh nguyệt, nhưng cần sắt để bổsung cho rau, thai nhi và tăng khối lượng máu của người mẹ với nhu cầu toàn
Trang 21bộ là 1000 mg Nhu cầu đó tăng từ 0,8 mg/ngày trong 3 tháng đầu, 4,4mg/ngày vào 3 tháng giữa và lên tới 6,3 mg/ngày trong 3 tháng cuối Đó lànhu cầu lớn không thể cung cấp đủ nếu chỉ dựa vào chế độ ăn, trừ khi cơ thể
có một lượng dự trữ sắt khá lớn Nghiên cứu của Đặng Oanh và cộng sự năm
2008 tại Đăk Lăk cũng chỉ ra tỷ lệ thiếu máu dinh dưỡng tăng theo tuổi thai
và đến 3 tháng cuối thì có đến 62% phụ nữ bị thiếu máu [31]
1.2.2 Điều kiện môi trường và xã hội
Các yếu tố kinh tế xã hội đầu tiên phải kể đến những bà mẹ có thainhiều lần do chưa đủ thời gian để bồi hoàn lượng sắt mất quá lớn trong thời
kỳ có thai Tỷ lệ thiếu máu tăng lên ở nhóm bà mẹ có thai nhiều lần Hà HuyKhôi cũng cho thấy, thiếu vitamin A và thiếu máu do thiếu sắt thường cao rõrệt vào cuối thời kỳ có thai và ở những phụ nữ đẻ nhiều lần [32]
Nhiều nghiên cứu đã ghi nhận, tỷ lệ thiếu máu cao hơn ở những ngườinghèo, những người sống ở vùng kinh tế khó khăn (nông thôn, miền núi) [33],[34] Trình độ học vấn của người mẹ cũng liên quan đến tình trạng thiếu máu.Theo nghiên cứu năm 1995, bà mẹ không đi học có nguy cơ mắc thiếu máucao hơn 1,3 lần so với những người có trình độ cao hơn [26] Năm 2000,những bà mẹ học đến tiểu học có nguy cơ mắc thiếu máu cao hơn 2,3 lần sovới những bà mẹ học từ trung học phổ thông trở lên [34]
1.2.3 Tình trạng dinh dưỡng của phụ nữ trước khi có thai
Chất dinh dưỡng được cung cấp cho thai nhi từ 3 nguồn, trực tiếp từkhẩu phần ăn của người mẹ, từ kho dự trữ các chất dinh dưỡng của mẹ như ởgan, xương, khối mỡ và từ quá trình tổng hợp các chất dinh dưỡng từ rau thai
Sự phát triển của rau thai có ảnh hưởng rất nhiều tới sự kiểm soát quá trìnhvận chuyển các chất dinh dưỡng, hormone và các chất cần thiết cho bào thai.Những người mẹ thiếu dinh dưỡng trường diễn (CED), thường có bánh raunhỏ hơn bình thường và dẫn đến máu đi qua rau thai giảm đi, đồng thời việc
Trang 22tổng hợp các chất cần thiết cho bào thai giảm, do đó ảnh hưởng tới sự pháttriển của bào thai [35].
Theo Phạm Hoàng Hưng, Lê Thị Hợp và Nguyễn Xuân Ninh, có mốiliên quan mật thiết giữa thiếu máu và tình trạng CED: tỷ lệ bà mẹ CED ởnhóm thiếu máu cao hơn có ý nghĩa so với nhóm không thiếu máu [7]
1.2.4 Thực trạng kiến thức và thực hành phòng chống thiếu máu
Khả năng thực hành phòng chống thiếu máu của các đối tượng luônphụ thuộc vào mức độ kiến thức của dối tượng này Mặc dù chương trìnhphòng chống thiếu máu đã được triển khai toàn quốc nhiều năm qua, tuynhiên tỷ lệ phụ nữ được tiếp cận thông tin về thiếu máu chưa cao Thực trạngđối tượng có nguy cơ được tiếp cận thông tin về thiếu máu có sự khác nhaugiữa các vùng có triển khai và không triển khai chương trình Đánh giá vềmức độ kiến thức và thực hành phòng chống thiếu máu một vài nghiên cứutrước đây, theo nhiều cách khác nhau, nhưng nhìn chung đều có kết quả tương
tự đó là kiến thức và thực hành dinh dưỡng còn hạn chế [28], [36] Chính vìvậy, giải pháp phòng chống thiếu máu luôn luôn được đề cập đến đó là giáodục truyền thông nâng cao kiến thức
Ngoài những yếu tố trên thì thu nhập thấp, quy mô gia đình lớn, khoảngcách sinh ít hơn 2 năm, không bổ sung sắt cũng được tìm thấy là những yếu tốnguy cơ gây thiếu máu trong thai kỳ [37]
Trang 23Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
- Địa điểm nghiên cứu: huyện Tịnh Biên là một trong hai huyện thuộc vùngđồi núi thấp của tỉnh An Giang, có đường biên giới chung với Vương quốcCampuchia dài gần 20 km Đây là cầu nối giao thương quan trọng nối huyệnTịnh Biên nói riêng và tỉnh An Giang nói chung với các tỉnh vùng đồng bằngsông Cửu Long và các nước trong khu vực Đông Nam Á Toàn huyện được chiathành 3 thị trấn và 11 xã Dân số toàn huyện là 121.729 người, mật độ dân sốbình quân đạt 343 người/km2, trong đó dân tộc Khơ me chiếm 32% [38]
Nghiên cứu được tiến hành tại 10 xã, thị trấn thuộc huyện Tịnh Biên,tỉnh An Giang: Thị trấn Tịnh Biên và Nhà Bàng, các xã: An Hảo, Tân Lợi,Văn Giáo, Vĩnh Trung, An Nông, An Cư, An Phú, Thới Sơn
- Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 9/ 2016 đến tháng 5/ 2017
2.2 Thiết kế nghiên cứu
Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang
2.3 Đối tượng nghiên cứu
- Tiêu chuẩn lựa chọn đối tượng nghiên cứu:
PNCT không kể tuổi thai trên địa bàn trong thời gian nghiên cứu
- Tiêu chuẩn loại trừ đối tượng nghiên cứu
• PNCT có vấn đề về tâm thần, rối loạn trí nhớ,…
• PNCT mắc các bệnh cấp hoặc mạn tính liên quan đến thiếu máu trongthời gian nghiên cứu
• PNCT không đồng ý tham gia nghiên cứu
Trang 242.4 Cỡ mẫu và chọn mẫu
- Cỡ mẫu: được tính theo công thức tính cỡ mẫu ước lượng cho 1 tỷ lệ
Trong đó:
• n là cỡ mẫu nghiên cứu
• p= 0,266 là tỷ lệ thiếu máu của PNCT tại đồng bằng sông Cửu Long theoTổng điều tra dinh dưỡng năm 2009-2010 của Viện Dinh dưỡng [5]
• d= 0,05 là khoảng sai lệch mong muốn giữa tỷ lệ thu được từ mẫu (p)
và tỷ lệ của quần thể (P)
• α là mức ý nghĩa thống kê, chọn α=0,05 với độ tin cậy là 95%
• Z1- /2= 1,96 là giá trị của hệ số giới hạn tin cậy tương ứng với α=0,05với độ tin cậy là 95%
Từ đó tính ra được cỡ mẫu cần có là 300 đối tượng Trên thực tế cỡ mẫu cuốicùng thu thập được là 314 đối tượng nghiên cứu
2.5 Các biến số, chỉ số nghiên cứu
Với mục tiêu 1: Đánh giá tình trạng thiếu máu, kiến thức - thực hành phòng chống thiếu máu của phụ nữ có thai tại huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang, năm 2016.
- Tình trạng thiếu máu
Trang 25• Tỷ lệ thiếu máu.
• Mức độ thiếu máu
• Tỷ lệ thiếu máu theo quý thai
• Tỷ lệ thiếu máu theo nhóm tuổi
- Kiến thức - thực hành phòng chống thiếu máu
• Tỷ lệ PNCT biết về biểu hiện, tác hại, cách phòng, điều trị bệnh thiếumáu và kiến thức về các thực phẩm giàu sắt
• Thực hành ăn uống trong lần mang thai, ăn kiêng của PNCT, khám thai,uống bổ sung vitamin, đa vi chất, uống viên sắt, tẩy giun trong 6 thángtrước khi mang thai
Với mục tiêu 2: Xác định một số yếu tố liên quan đến tình trạng thiếu máu của phụ nữ có thai tại huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang, năm 2016.
Mối liên quan giữa tình trạng thiếu máu và:
- Một vài thông tin chung của đối tượng nghiên cứu: tuổi, dân tộc, nghềnghiệp, trình độ học vấn, xếp loại kinh tế hộ gia đình, số con, quý thai, TTDDtrước khi mang thai
- Kiến thức về bệnh thiếu máu của PNCT
- Thực hành uống viên sắt của PNCT
2.6 Phương pháp thu thập số liệu
- Phỏng vấn đối tượng: Phỏng vấn trực tiếp đối tượng bằng bộ câu hỏi thiết
kế sẵn, được thử nghiệm trước khi triển khai nhằm thu thập các thông tin liên
Trang 26quan đến tuổi, trình độ học vấn, nghề nghiệp, điều kiện kinh tế hộ gia đình,
kiến thức, thực hành phòng chống thiếu máu, (Bộ câu hỏi - phụ lục 1).
- Hỏi ghi tần suất tiêu thụ lương thực thực phẩm: Sử dụng bộ câu hỏi về tần suất tiêu thụ thực phẩm giàu sắt trong tháng qua được thiết kế sẵn (Bộ câu hỏi
- phụ lục 2).
- Xét nghiệm Hemogolbin: Xét nghiệm Hb bằng phương pháp Cyanmethemoglobin
sử dụng mẫu máu mao do Viện Dinh dưỡng tiến hành
2.7 Một số tiêu chuẩn đánh giá
- Tiêu chí đánh giá mức độ thiếu máu về ý nghĩa sức khoẻ cộng đồng
Mức độ thiếu máu về ý nghĩa sức khỏe cộng đồng được đánh giá dựa vào tỷ lệthiếu máu theo các ngưỡng sau [14]:
• 4,9 % Bình thường
• 5 - 19,9 % Nhẹ
• 20 - 39,9 % Trung bình
- Tiêu chí đánh giá chỉ số nhân trắc học
Đánh giá tình trạng dinh dưỡng (TTDD) của phụ nữ trước khi có thai theo Chỉ
số khối cơ thể (BMI –Body Mass Index) với công thức tính sau:
Cân nặng (kg)
BMI =
Chiều cao (m)2
Kết quả xếp loại TTDD theo phân loại của WHO (2000) [14]:
• BMI < 18,5: thiếu năng lượng trường diễn (CED)
• 18,5 BMI < 25: bình thường
• BMI ≥ 25: thừa cân/ béo phì
- Tiêu chí đánh giá tần suất lương thực thực phẩm
Tiêu chí đánh giá tần suất tiêu thụ lương thực thực phẩm của đối tượng nghiêncứu như sau:
Trang 27• Tiêu thụ ≥ 1 lần/ngày trở lên được coi là có tiêu thụ thường xuyên đốivới: rau màu xanh thẫm, quả chín, sữa công thức
• Tiêu thụ từ 4-6 lần/tuần trở lên được coi là có tiêu thụ thường xuyên đốivới thực phẩm thịt [39], tôm, cua, cá
• Tiêu thụ từ 1-3 lần/tuần trở lên được coi là có tiêu thụ thường xuyên đốivới thực phẩm các loại đậu, đỗ, lạc vừng, trứng [40], tim, gan, bầu dục
2.8 Quản lý số liệu và phân tích số liệu
- Số liệu được quản lý và kiểm tra sau mỗi đợt thu thập
- Số liệu được làm sạch, nhập bằng phần mềm Epi data 3.1
- Tính toán thống kê trên phần mềm Stata, phiên bản 12.0
- Các test thống kê y học thông thường được sử dụng để đánh giá mức
độ khác biệt Nhận định có sự khác biệt khi p< 0,05
2.9 Sai số và phương pháp khống chế sai số
- Sai số:
• Sai số chọn: Sai số từ chối hoặc không trả lời
• Sai số ngẫu nhiên: Thường gặp là các sai số đo lường (ví dụ: xét nghiệm)
• Sai số thông tin: Hay gặp sai số nhớ lại hoặc sai số ước lượng
• Sai số phỏng vấn: Do điều tra viên
- Phương pháp khống chế sai số
• Thử bộ câu hỏi và điều chỉnh trước khi đưa ra sử dụng tại cộng đồng
• Tập huấn cho người điều tra, có giám sát trong quá trình tập huấn vàkhảo sát để người điều tra có kỹ năng phỏng vấn đảm bảo tính đúng, kháchquan, tin cậy về thông tin thu thập
• Giải thích rõ cho PNCT về mục đích nghiên cứu: chọn thời gian thíchhợp để đối tượng nghiên cứu có thể trả lời tỷ mỉ có thiện chí
• Làm sạch và mã hóa số liệu trước khi phân tích
2.10 Đạo đức trong nghiên cứu
Trang 28- Nghiên cứu này được thực hiện sau khi xin phép và được sự đồng ý của
UBND, Trung tâm y tế huyện nơi tiến hành nghiên cứu và được sự chophép của Hội đồng y đức Viện Dinh dưỡng
- Khi tiến hành nghiên cứu, các đối tượng đã được giải thích hiểu rõ về
những yêu cầu và chỉ tiến hành nghiên cứu với sự tự nguyện tham gia Đềtài nghiên cứu vì mục đích phục vụ sức khỏe cộng đồng, không vụ lợi kinh
tế, không ảnh hưởng phong tục truyền thống của dân tộc
- Nghiên cứu không làm ảnh hưởng tới sức khỏe người tham gia và cộng
đồng nơi tiến hành nghiên cứu Các dụng cụ bơm, kim tiêm, và xét nghiệmđược sử dụng trong nghiên cứu đảm bảo vệ sinh, an toàn
- Số liệu nghiên cứu (kết quả xét nghiệm) và những vấn đề liên quan tới kết
quả nghiên cứu được thông báo phản hồi cho huyện, xã và cho PNCT giúp
có thêm số liệu và sự ủng hộ của địa phương về công tác chăm sóc sức khoẻ sinh sản
Trang 29Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu
Bảng 3.1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu
(n=314)
Tỷ lệ (%)
Trang 3040,1% Nghề nghiệp chính của các PNCT ở đây là nội trợ, chiếm 47,1% và19,7% là nông dân Trình độ học vấn của PNCT đa số ở mức THCS (35,5%).Tuy nhiên vẫn còn 13,4% PNCT không biết chữ Có 10,2% PNCT có trình độ
từ Trung cấp trở lên, chiếm tỷ lệ thấp nhất Về xếp loại kinh tế hộ gia đình, đa
số hộ gia đình của các PNCT xếp loại kinh tế mức bình thường, chiếm 80,6%,mức nghèo 15,9% và mức cận nghèo chiếm tỷ lệ thấp nhất 3,5% Tỷ lệ PNCTchưa có con chiếm 44,9%, tỷ lệ PNCT có 1 con là 44,3% và tỷ lệ PNCT có từ
Biểu dồ 3.1 Tình trạng dinh dưỡng của đối tượng trước khi mang thai
Trước khi có thai, 74,8% PNCT có TTDD bình thường, 18,2% PNCTthiếu năng lượng trường diễn và 7,0% PNCT thừa cân/ béo phì
Trang 313.2 Tình trạng thiếu máu, kiến thức - thực hành của phụ nữ có thai
3.2.1 Tình trạng thiếu máu của phụ nữ có thai
Bảng 3.2 Tỷ lệ thiếu máu của phụ nữ có thai Tình trạng thiếu
máu
Tần số (n= 314)
Tỷ lệ (%)
Bảng 3.3 Tỷ lệ thiếu máu của phụ nữ có thai theo quý thai
n (%)
Không TM
n (%)
P ( χ²- test)
Trang 32Bảng 3.4 Tỷ lệ thiếu máu của phụ nữ có thai theo nhóm tuổi
n (%)
Không TM
n (%)
p ( χ²- test)
3.2.2 Kiến thức - thực hành của phụ nữ có thai
81.90%
18.10%
Đã từng nghe Chưa từng nghe
Biểu đồ 3.2 Tỷ lệ phụ nữ có thai đã từng nghe về bệnh thiếu máu
Đa số PNCT (81,9%) đã từng nghe về bệnh thiếu máu và 18,1% PNCT chưa từng nghe hoặc không nhớ đã nghe về bệnh thiếu máu
Trang 33Bảng 3.5 Kiến thức của phụ nữ có thai về bệnh thiếu máu
(n= 257)
Tỷ lệ (%)
Ảnh hưởng năng suất lao động 75 29,2
Tăng nguy cơ sảy thai, thai lưu 99 38,5
Ảnh hưởng sự phát triển trí tuệ trẻ 63 24,5
Đẻ con có cân nặng sơ sinh thấp
Ăn các loại thực phẩm nhiều chất sắt 134 52,1
Ăn đủ chất dinh dưỡng (04 nhóm) 102 39,7
Sử dụng thực phẩm bổ sung sắt 37 14,4
Trong các PNCT đã từng nghe về bệnh thiếu máu thì các biểu hiện, cáctriệu chứng mà PNCT biết nhiều nhất là hoa mắt, chóng mặt (77,8%); ngườiyếu, mệt mỏi (57,2%) Tuy nhiên chỉ 5,5% PNCT biết biểu hiện thường xuyên
bị ốm cũng là biểu hiện của bệnh thiếu máu Về tác hại của thiếu máu, tác hại
mà nhiều PNCT biết nhất là tăng nguy cơ đẻ non (39,7%); tăng nguy cơ sảy
Trang 34thai, thai lưu (38,5%) và ảnh hưởng năng suất lao động (29,2%) Phần lớn cácPNCT đều biết uống viên sắt để phòng tránh bệnh thiếu máu (76,7%) Tuynhiên 97,7% PNCT không biết tẩy giun định kỳ cũng là một cách phòngchống bệnh thiếu máu.
Biểu đồ 3.3 Kiến thức của phụ nữ có thai về thực phẩm giàu sắt
Khoảng 1/3 PNCT (34,4%) không biết các thực phẩm giàu sắt 30,9% PNCT kể được đúng từ 1 đến 2 thực phẩm giàu sắt, 24,2% kể đúng từ 3 đến 4 loại và 10,5% kể đúng hơn 4 loại thực phẩm giàu sắt