1. Trang chủ
  2. » Lịch sử

Thực trạng thiếu máu và một số yếu tố liên quan ở phụ nữ có thai tại 9 xã huyện Bố Trạch, Quảng Bình năm 2019.

73 21 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 73
Dung lượng 1,37 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu của Lê Minh Chính về thực trạng thiếu máu ở phụ nữ Sán Dìu, cho thấy tỷ lệ thiếu máu ở những phụ nữ sống trong điều kiện nhà ở mất vệ sinh 44,1% cao hơn so với người có nhà ở [r]

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG

TRẦN THỊ DIỆU HƯƠNG

THỰC TRẠNG THIẾU MÁU VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ

LIÊN QUAN Ở PHỤ NỮ CÓ THAI TẠI 9 XÃ HUYỆN

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG KHOA: KHOA HỌC SỨC KHỎE

BỘ MÔN: Y TẾ CÔNG CỘNG

TRẦN THỊ DIỆU HƯƠNG- C01060

THỰC TRẠNG THIẾU MÁU VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN Ở PHỤ NỮ CÓ THAI TẠI 9 XÃ HUYỆN BỐ TRẠCH, QUẢNG BÌNH NĂM 2019

Trang 3

Để hoàn thành Luận văn này, em đã nhận được sự giúp đỡ tận tình của quý thầy cô giáo, gia đình và bạn bè

Trước hết em xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu, các Khoa – Phòng,

Bộ môn, cùng quý thầy cô giáo và cán bộ Trường Đại học Thăng Long đã nhiệt tình giảng dạy, quan tâm, giúp đỡ em trong suốt thời gian học tập

Em xin trân trọng cảm ơn cô giáo PGS-TS Nguyễn Bạch Ngọc đã tận tâm góp nhiều ý kiến, hướng dẫn, hỗ trợ em hoàn thành luận văn này

Xin chân thành cảm ơn TTYT huyện Bố Trạch và các phụ nữ mang thai tại địa bàn nghiên cứu huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình đã tạo mọi điều kiện thuận lợi, nhiệt tình tham gia, giúp đỡ em trong khi triển khai đề tài

Em xin gửi lời cảm ơn đến các anh chị, bạn bè trong lớp Cao học Y tế Công Cộng 6.1B đã giúp đỡ, chia sẽ nhiều kinh nghiệm cho em trong quá trình học tập

Cuối cùng, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới những người thân trong gia đình, những người bạn thân thiết đẫ động viên, khuyến khích em, cùng em chia sẻ những khó khan và dành cho em những tình cảm, sự chăm sóc quý báu trong suốt thời gian qua

Trân trọng!

Hà Nội, ngày 03 tháng 12 năm 2019

Học viên cao học YTCC 6.1B

TRẦN THỊ DIỆU HƯƠNG

Trang 4

Tôi xin cam đoan đề tài luận văn: “Thực trạng thiếu máu và một số yếu tố

một công trình nghiên cứu của riêng tôi và được sự hướng dẫn khoa học của cô giáo PGS-TS Nguyễn Bạch Ngọc Các nội dung nghiên cứu, kết quả trong đề tài này là trung thực và chưa công bố dưới hình thức nào trước đây Những số liệu trong các bảng biểu phục vụ cho việc phân tích, nhận xét, đánh giá được chính tác giả thu thập từ các nguồn khác nhau có ghi rõ trong phần tài liệu tham khảo

Ngoài ra, trong luận văn còn sử dụng một số nhận xét cũng như số liệu của các tác giả khác, cơ quan tổ chức khác đều có trích dẫn và chú thích nguồn gốc Nếu có phát hiện bất kỳ sự gian lận nào tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm

về luận văn của mình

Hà Nội, ngày 03 tháng 12 năm 2019

Học viên cao học YTCC 6.1B

TRẦN THỊ DIỆU HƯƠNG

Trang 5

Trang

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 3

1.1 Khái niệm thiếu máu 3

1.2 Nghiên cứu thiếu máu ở phụ nữ trong thời kỳ mang thai 6

1.3 Một số yếu tố lien quan đến thiếu máu ở PNMT 9

1.4 Một số hoạt động phòng chống thiếu máu dinh dưỡng ở PNMT 15

1.5 Giới thiệu địa bàn nghiên cứu 17

1.6 Khung lý thuyết 19

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20

2.1 Đối tượng nghiên cứu 20

2.2 Thời gian nghiên cứu và địa điểm nghiên cứu 20

2.3 Phương pháp nghiên cứu 20

2.4 Các biến, chỉ số nghiên cứu và tiêu chuẩn đánh giá 22

2.5 Thu thập và xử lý số liệu 26

2.6 Khó khăn, hạn chế và biện pháp khắc phục 28

2.7 Đạo đức nghiên cứu 29

2.8 Hạn chế của nghiên cứu 29

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 30

3.1 Một số đặc điểm của mẫu nghiên cứu 30

3.2 Thực trạng thiếu máu ở phụ nữ có thai 34

3.3 Một số yếu tố liên quan đến thiếu máu ở PNMT 36

CHƯƠNG 4 BÀN LUẬN 41

4.1 Thực trạng thiếu máu ở PNMT trong địa bàn nghiên cứu 41

4.2 Các yếu tố liên quan đến thiếu máu ở PNMT 42

KẾT LUẬN 49

1 Tỷ lệ thiếu máu ở PNMT 49

2 Các yếu tố liên quan đến PNMT 49

KHUYẾN NGHỊ 50

Trang 6

PHỤ LỤC 56

PHỤ LỤC 1 PHIẾU ĐIỀU TRA VÀ PHỎNG VẤN PHỤ NỮ CÓ THAI 56

PHỤ LỤC 2 PHIẾU XÉT NGHIỆM MÁU 61

PHỤ LỤC 3 HƯỚNG DẪN LẤY MÁU VÀ LÀM XÉT NGHIỆM MÁU 62

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang

Bảng 3.1 Đặc điểm nhân khẩu học của ĐTNC 30

Bảng 3.2 Đặc điểm gia đình của ĐTNC 31

Bảng 3.3 Tiền sử sản khoa và bệnh tật của ĐTNC 31

Bảng 3.4.Tình trạng mang thai hiện tại của ĐTNC 32

Bảng 3.5 Thời gian bổ sung viên sắt 33

Bảng 3.6 Thông tin về sử dụng dịch vụ khám thai của ĐTNC 33

Bảng 3.7 Mức độ thiếu máu 34

Bảng 3.8 Tỷ lệ thiếu máu theo đặc điểm nhân khẩu học của ĐTNC 35

Bảng 3.9 Tỷ lệ thiếu máu theo vùng và kinh tế gia đình của ĐTNC 35

Bảng 3.10 Tỷ lệ thiếu máu theo số lần mang thai và số con hiện có 36

Bảng 3.11 Phân bố thiếu máu theo từng giai đoạn thai kỳ của ĐTNC 36

Bảng 3.12 Mối liên quan giữa một số đặc điểm nhân khẩu học với thiếu máu của đối tượng nghiên cứu 37

Bảng 3.13 Mối liên quan giữa một số đặc điểm gia đình PNMT với thiếu máu

37

Bảng 3.14 Mối liên quan giữa một số yếu tố về cá nhân của đối tượng mang thai với thiếu máu 38

Bảng 3.15 Mối liên quan giữa tiền sử bệnh của ĐTNC với thiếu máu 38

Bảng 3.16 Mối liên quan giữa tình trạng mang thai lần này của ĐTNC với thiếu máu 39

Bảng 3.17 Mối liên quan giữa ăn uống khi mang thai của ĐTNC với thiếu máu 39

Trang 10

Ở Việt Nam, số liệu điều tra năm 2014 của Vụ sức khỏe bà mẹ trẻ em cho thấy tỷ lệ thiếu máu ở phụ nữ mang thai là 32,8% [39] Thiếu máu ở phụ nữ mang thai luôn có ở mọi vùng từ thành thị đến nông thôn, ở mọi tầng lớp xã hội,

ở mọi thời kỳ thai nghén (3 tháng đầu, 3 tháng giữa, 3 tháng cuối) Số liệu của viện dinh dưỡng cho thấy rằng, tỷ lệ thiếu máu ở phụ nữ mang thai cao nhất ở vùng núi phía Bắc 45,7%, tiếp đến là khu vực Bắc và ven biển miền Trung 44,1% và thấp nhất là vùng Đông Nam Bộ là 24% [37] Một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng tỷ lệ thiếu máu đặc biệt cao ở các phụ nữ mang thai ở dân tộc thiểu

số Đắc Lắc là 50,1% [20], ở 6 tỉnh miền núi phía Bắc, miền Trung, Tây Nguyên

là 34% [18], tỉnh Kon Tum, Lai Châu là 31,8% và 38,6% [23]

Phụ nữ mang thai có thể bị thiếu máu do rất nhiều nguyên nhân khác nhau: Do chảy máu, do nhiễm ký sinh vật, do hậu quả của một số bệnh lý, do

các tác nhân vật lý, hóa học, do ức chế tủy xương

Tuy nhiên nhiều nghiên cứu đã khẳng định rằng thiếu máu do thiếu các yếu tố tạo máu (thiếu máu dinh dưỡng) là nguyên nhân quan trọng và phổ biến hơn cả Trong thiếu máu dinh dưỡng ở phụ nữ có thai thì hàng đầu là thiếu máu

do thiếu sắt, thiếu acid folic và thiếu vitamin B12 Đặc biệt thiếu máu do thiếu sắt được coi là yếu tố bệnh nguyên quan trọng nhất của thiếu máu thai nghén Ngoài ra người ta còn đề cập đến một số nguyên nhân khác gây thiếu máu ở phụ

nữ có thai như: Nhiễm độc nội sinh gây ức chế tủy xương và đặc biệt là sự thay đổi các yếu tố miễn dịch Thiếu máu khi có thai làm ảnh hưởng đến sức khỏe người mẹ, tạo điều kiện phát sinh hoặc phát triển các bệnh tật khi mang thai, làm cho người mẹ dễ bị các tai biến trong quá trình mang thai và trong khi đẻ Với thai nhi: thiếu máu của mẹ trong thời kỳ có thai có thể làm thai nhi kém phát

Trang 11

triển, giảm cân nặng sơ sinh, làm ảnh hưởng đến sự phát triển thể lực Đặc biệt khi thiếu máu nặng và kéo dài có thể làm giảm sự phát triển trí tuệ của thai nhi sau này

Bố Trạch là một huyện của tỉnh Quảng Bình với đầy đủ địa hình đồng bằng, miền núi, trung du và ven biển; có đồng bào dân tộc sinh sống như Vân Kiều, Arem, Makong Nghề nghiệp chủ yếu là làm nông nghiệp ở vùng đồng bằng, vùng núi, đánh bắt thủy hải sản ở vùng ven biển Trình độ học vấn, điều kiện kinh tế, xã hội của người dân trong huyện còn thấp hơn ở các nơi khác Các dịch vụ chăm sóc bà mẹ và trẻ em còn nhiều hạn chế, việc phòng chống thiếu máu cho trẻ em và phụ nữ mang thai chưa được quan tâm đúng mức [34] Bố Trạch còn là nơi có bệnh sốt rét lưu hành [33] và tỷ lệ nhiễm giun còn cao [34]

Do đó sự hiểu biết đầy đủ các khía cạnh của thiếu máu ở phụ nữ có thai như: tỷ

lệ thiếu máu, tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến thiếu máu sẽ giúp cho việc đề

ra các giải pháp khống chế và làm giảm tỷ lệ thiếu máu ở phụ nữ có thai, nâng cao hiệu quả công tác bảo vệ sức khỏe bà mẹ, trẻ em và sức khỏe sinh sản Tuy nhiên ở huyện Bố Trạch chưa có nghiên cứu nào về thiếu máu ở phụ nữ mang

thai? Vì vậy chúng tôi tiến hành đề tài: Thực trạng thiếu máu và một số yếu tố

liên quan ở phụ nữ có thai tại 9 xã huyện Bố Trạch, Quảng Bình năm 2019

Trang 12

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 1.1 THIẾU MÁU

1.1.1 Khái niệm thiếu máu

Thiếu máu: Theo WHO thiếu máu là tình trạng giảm số lượng hồng cầu

(HC), giảm hàm lượng hemoglobin (Hb) trong một đơn vị thể tích máu, gây tình trạng thiếu oxy trong tổ chức, trong đó sự thiếu hụt Hb là quan trọng nhất [52]

Thiếu máu thai kỳ: Là hiện tượng bệnh lý hay gặp trong thai nghén, xảy ra

khi mất cân bằng giữa hai quá trình sản xuất hồng cầu với nhu cầu tăng về số lượng HC và khối lượng máu [52]

1.1.2 Tiêu chuẩn đánh giá và cách phân loại thiếu máu

1.1.2.1 Tiêu chuẩn đánh giá thiếu máu

Phân loại thiếu máu được đánh giá qua chỉ số chính là nồng độ Hb Theo WHO, tiêu chuẩn đoán thiếu máu như sau[52]:

- Mức Hb < 120g/l với phụ nữ không mang thai

- Mức Hb < 110g/l với PNMT

1.1.2.2 Phân loại thiếu máu

Có nhiều cách phân loại thiếu máu, thông thường theo 3 tiêu chí sau [2]

Theo mức độ: thiếu máu có 3 mức độ: nhẹ, vừa, nặng

Theo nguyên nhân:

- Do thiếu nguyên liệu tạo máu: thiếu sắt, acid folic, vitamin B12, protein, v.v đây là những nguyên nhân thiếu máu chủ yếu trong thai nghén, thực chất đó là loại thiếu máu dinh dưỡng

- Do chảy máu, mất máu như: sẩy thai, băng huyết, sinh đẻ nhiều, bệnh sốt rét, giun sán, chủ yếu là giun móc,v.v

Trang 13

Theo diễn biến:

Cấp tính hay mạn tính (cấp tính như sẩy thai, băng huyết, chửa ngoài tử cung,v.v ; mạn tính trong mắc các bệnh gây thiếu máu như bệnh sốt rét, giun sán, bệnh gan, bệnh thận, v.v )[3]

1.1.3 Nguyên nhân thiếu máu ở PNMT trong thời gian thai kỳ

Trong thời kỳ mang thai bà mẹ bị thiếu máu do rất nhiều nguyên nhân khác nhau Mà nguyên nhân chính là thiếu máu dinh dưỡng, thiếu sắt, mất máu (do chảy máu hoặc nhiễm trùng/ký sinh trùng) và các nguyên nhân khác như hậu quả của một số bệnh mạn tính hoặc bệnh lý của các cơ quan tạo máu Nguyên nhân chính thường gặp nhất là thiếu máu dinh dưỡng mà chủ yếu là thiếu sắt Ngoài ra còn có các nguyên nhân khác như sốt rét, nhiễm giun đặc biệt là giun móc vẫn còn phổ biến ở nhiều tỉnh, nhất là vùng núi, vùng sâu trong đó có huyện

Bố Trạch, Quảng Bình mà chúng tôi đang nghiên cứu

1.1.3.1 Thiếu dinh dưỡng

Thiếu máu dinh dưỡng thường là do khẩu phần ăn hàng ngày không đủ các yếu tố tạo máu Ở PNMT, thiếu máu thường xảy ra vì khi mang thai nhu cầu về dinh dưỡng của phụ nữ tăng cao hơn bình thường để phát triển thai nhi, nhau thai, nuôi con bằng sữa mẹ, dự trữ về sau cho mẹ Do vậy, nếu trong khi mang thai, phụ nữ không có được khẩu phần ăn tăng lên, đặc biệt là nếu thiếu thức ăn

có nguồn gốc động vật (thịt, trứng, cá sữa ) sẽ không đáp ứng đủ năng lượng, protein, sắt, các vitamin và các yếu tố vi lượng cần thiết dẫn đến thiếu máu[3]

Yếu tố khẩu phần liên quan đến thiếu vi chất dinh dưỡng bao gồm: Thiếu

số lượng thực phẩm, thiếu các thực phẩm chứa nhiều vi chất có giá trị sinh học cao, thiếu các chất giúp cho quá trình tạo máu, như protein, lipid, vitamin C, A

và các chất khác…

Lưu ý là trong các chế độ ăn cần có cả đạm động vật và đạm thực vật Vitamin C giúp hấp thu sắt tốt hơn nhưng cũng có một số thức ăn làm hạn chết hấp thu sắt như cafe, nước chè đặc Phối hợp thức ăn hợp lý, ăn nhiều rau, hoa quả, để bổ sung vitamin cũng là biện pháp hữu hiệu nhằm tăng khả năng hấp thu sắt [3]

Theo nghiên cứu của Trương Hồng Sơn về hiệu quả can thiệp cộng đồng

bổ sung sớm đa vi chất dinh dưỡng trên phụ nữ tại một số xã thuộc tỉnh Kon

Tum và Lai Châu, nguyên nhân thiếu máu do thiếu vi chất dinh dưỡng ở nhóm

Trang 14

PNMT chiếm tỷ lệ là 36,9% [23] Thiếu sắt còn có nguyên nhân là cung cấp không đủ sắt do mất sắt (sốt rét, bệnh giun móc, sán máng, nhiễm HIV ), do bệnh lý Hb và một số nguyên nhân khác [8]

1.1.3.2 Bổ sung sắt chưa đầy đủ

Như đã đề cập trên, nguyên nhân gây thiếu máu dinh dưỡng ở PNMT chủ yếu là do thiếu sắt vì thời kỳ này nhu cầu về sắt và các chất dinh dưỡng tăng cao Đặc biệt thiếu máu do thiếu sắt được coi là yếu tố bệnh nguyên quan trọng nhất của thiếu máu thai nghén bởi thai nhi tiếp thu lượng lớn sắt từ cơ thể người mẹ qua nhau thai Nếu chế độ ăn uống của người mẹ không hợp lý, người mẹ rất dễ

bị thiếu máu do thiếu sắt, biểu hiện rõ nhất ở phụ nữ đa thai, đẻ nhiều, các lần chửa đẻ gần nhau (dưới 2 năm)[2][53] Ngoài ra, trong thời kỳ mang thai có sự gia tăng số lượng HC của mẹ và thể tích huyết thanh cũng tăng lên khoảng 50% nên nhu cầu sắt cũng tăng cao[2]

Theo nghiên cứu của Aikawa R và cộng sự tại Việt Nam về việc bổ sung sắt, lượng sắt thực tế hiện nay của bữa ăn người Việt Nam chỉ đạt khoảng 30-50% nhu cầu, nhất là ở các vùng nông thôn, đó chính là nguyên nhân dẫn đến thiếu máu thiếu sắt ở nông thôn thường rất cao[47] Thiếu máu thiếu sắt thường tiềm ẩn từ trước khi mang thai, vì vậy phụ nữ tuổi sinh đẻ hoặc các em gái tuổi vị thành niên (VTN) cần được bổ sung sắt[9]

PNMT được tư vấn và cho uống viên sắt ngay say khi phát hiện mang thai càng sớm càng tốt Tuy nhiên, uống viên sắt có thể có một số tác dụng phụ như buồn nôn, táo bón vì vậy hướng dẫn, tư vấn uống vào một giờ nhất định, uống thêm nước và ăn thêm trái cây là rất quan trọng

1.1.3.3 Nhiễm trùng và ký sinh trùng

Nhiễm trùng ảnh hưởng tới bộ máy tiêu hóa, phá hủy các tuyến nhày của

dạ dày, làm cho ăn uống kém và mất ngon miệng Đặc biệt nếu có viêm dạ dày,

do xoắn khuẩn Helicobacter pylori khu trú và phát triển ở niêm mạc dạ dày và khiềm hóa, đồng thời sản sinh chất catalase, proteae, lipase dẫn tới việc kém hấp thu các chất dinh dưỡng và các vi chất dinh dưỡng[2]

Nhiễm ký sinh trùng đường ruột gây tác hại lớn, vì ký sinh trùng chiếm mất chất dinh dưỡng của cơ thể (giun đũa), hút máu và gây chảy máu thành ruột (giun móc, giun mỏ) Hậu quả nghiêm trọng nhất là gây mất máu mạn tính từ tá tràng, hỗng tràng dẫn đến thiếu máu thiếu sắt Ngoài ra, giun còn tiết ra chất độc

Trang 15

như ascarridol, chất ức chế các men pepsin, cathepsin, chymotrypsin của cơ thể dẫn tới chán ăn, rối loại tiêu hóa Đối với giun tóc, ký sinh ở đại tràng và hút máu, gây tổn thương niêm mạc đại tràng và gây hội chứng lỵ [2][15]

1.1.3.4 Một số nguyên nhân khác

Một số nguyên nhân khác gây thiếu máu ở PNMT như: nhiễm độc nội sinh gây ức chế tủy xương và đặc biệt là sự thay đổi các yếu tố miễn dịch khi PNMT, PNMT mắc các bệnh mạn tính khác như bệnh thận, huyết tán, v.v [3]

1.1.4 Hậu quả của thiếu máu đối với PNMT và sự phát triển của thai nhi

1.1.4.1 Đối với phụ nữ mang thai

Trong quá trình mang thai nếu người mẹ bị thiếu máu có thể làm giảm sự tăng cân sinh lý hoặc khiến sức khỏe mẹ giảm sút, sức đề kháng giảm, làm tăng nguy cơ mắc các bệnh truyền nhiễm, nhiễm khuẩn hậu sản Do đó, tỷ lệ mẹ mắc bệnh tăng và nguy cơ tử vong của mẹ cũng tăng[5]

Thiếu máu ở PNMT làm tăng các tỷ lệ tai biến trong tai biến như sẩy thai,

đẻ non Nghiên cứu tại Đắk lắc của Đặng Oanh cho thấy PNMT thiếu máu dinh dưỡng có nguy cơ sảy thai cao gấp 2,3 lần và nguy cơ sinh non cao gấp 2,6 lần bình thường[20] Đồng thời, thiếu máu ở PNMT cũng làm tăng tỷ lệ đẻ khó, mổ lấy thai và tăng các biến chứng sau sinh như đờ tử cung, băng huyết, v.v

1.1.4.2 Đối với thai nhi và trẻ sau sinh

Thiếu máu ở PNMT khiến nuôi dưỡng bào thai giảm, dẫn đến hậu quả là chiều dài và cân nặng sơ sinh thấp so với bình thường, trường hợp nặng có thể dẫn tới thai nhi không phát triển có thể sảy thai, đẻ non hoặc chết lưu Trẻ sơ sinh từ các bà mẹ thiếu máu thường bị giảm chức năng miễn dịch nên thường dễ mắc bệnh, tăng nguy cơ tử vong Thiếu máu từ người mẹ cũng ảnh hưởng đến sự phát triển thể chất và trí tuệ lâu dài của trẻ[2][25]

1.2 NGHIÊN CỨU THIẾU MÁU Ở PHỤ NỮ TRONG THỜI KỲ MANG THAI

1.2.1 Thiếu máu ở phụ nữ trong thời kỳ mang thai trên thế giới

Thiếu máu là vấn đề sức khỏe cộng đồng, ảnh hưởng đến cả quốc gia phát triển và quốc gia đang phát triển, gây hậu quả nặng nề đối với sức khỏe con

Trang 16

người cũng như đối với sự phát triển kinh tế và xã hội Thiếu máu xảy ra ở tất cả các giai đoạn của chu kỳ vòng đời, nhưng phổ biến nhất ở phụ nữ có thai và trẻ

nhỏ

Theo thống kê của Tổ chức Y tế thế giới [55] từ số liệu điều tra trên 192 quốc gia từ năm 1993 đến năm 2005 (Ngân hàng dữ liệu toàn cầu của WHO) cho thấy có 56,4 triệu phụ nữ có thai bị thiếu máu, chiếm 41,8%, trong đó tỷ lệ thiếu máu cao nhất ở châu Phi (57,1%), tiếp đến Đông Nam Á (48,2%) Châu Âu và châu Mỹ có tỷ lệ thiếu máu thấp hơn (25,1% và 24,1%) Châu Phi vẫn là châu lục có tỷ lệ thiếu máu cao nhất (47,5%) với 69,9 triệu phụ nữ bị thiếu máu Theo Paula (2016) và cộng sự ở Ấn Độ, gần 59% PNMT bị thiếu máu và chiếm 20-40% tổng số ca tử vong mẹ[50] Theo Ahmed, Faruk và nhóm nghiên cứu năm

2018 ở Bangladesh 34,7% phụ nữ mang thai bị thiếu máu[51]

Ủy ban thường trực về dinh dưỡng của Liên hiệp quốc (UNSCN) nhận xét rằng tỷ lệ thiếu máu qua nhiều năm cải thiện chưa nhiều, thậm chí không

giảm được bao nhiêu so với các thiếu hụt dinh dưỡng khác[46]

Hiện nay tỷ lệ thiếu máu ở PNMT có giảm Theo thống kê của WHO năm

2011, tỷ lệ thiếu máu ở PNMT trên toàn cầu là 38% tương ứng với 32 triệu PNMT Sự khác biệt rõ rệt nhất là giữa các nước đang phát triển và các nước phát triển[54] Cũng theo WHO, tỷ lệ thiếu máu ở PNMT tại một số nước như CANADA (11,5%), Đức (12,3%), Bỉ (12,9%), Italia (15,5%), Thụy Sỹ (9,7%) trong khi tỷ lệ này lại cao rất nhiều lần ở một số nước đang phát triển như Malaysia (38,3%),Campuchia (66,4%), Nepal (74,6%), Algeria (42,8%), Angola

(51,7%)[53]

1.2.2 Thiếu máu ở phụ nữ trong thời kỳ mang thai ở Việt Nam

Thiếu máu ở Việt Nam tuy có giảm nhưng vẫn ở mức cao Theo kết quả điều tra của Viện Dinh dưỡng tỷ lệ thiếu máu ở PNMT năm 2008 là 31,4%; năm

2010 là 36,5% [37] và theo vụ sức khỏe bà mẹ trẻ em đến năm 2014 là 32,8%[39] Tỷ lệ thiếu máu khác khác nhau tùy theo khu vực, cao nhất là vùng núi phía Bắc (45,7%), cao gần gấp đôi so với nơi thấp nhất là vùng Đông Nam

Bộ (24%)[37]

Bảng 1.1.Tình hình thiếu máu ở phụ nữ không mang thai và PNMT theo vùng sinh thái

Trang 17

Vùng

PNMT Phụ nữ không mang thai

n % thiếu máu n % thiếu máu

Hình 1.1 Tỷ lệ thiếu máu ở PNMT theo vùng

Nhiều tác giả nghiên cứu về tỷ lệ thiếu máu ở PNMT trên các địa bàn khác nhau trong cả nước cũng có kết luận là rất cao ở khu vực miền núi Theo Nguyễn Công Hiếu (2016) tỷ lệ thiếu máu ở phụ nữ mang thai là 31,2%; thuộc mức thiếu máu trung bình về ý nghĩa sức khỏe cộng đồng Tỷ lệ thiếu máu ở 3 tháng cuối thai kỳ cao nhất (36,4%), thiếu máu nhẹ chiếm tỷ lệ cao (64,1%)[10]

Đoàn Thị Nga, Huỳnh Nguyễn Khánh Trang (2010) Nghiên cứu Y học Sản Phụ Khoa 259 tỷ lệ PNMT trong nghiên cứu là 17,36%[17] Theo Lê Thị

Trang 18

Thùy Trang (2017) và cộng sự Kết quả cho thấy tỷ lệ thiếu máu chung ở phụ nữ mang thai là 27,2%[32] Phạm Vân Thúy, Nguyễn Thị Minh Chính nghiên cứu can thiệp bán thử nghiệm trên 118 phụ nữ mang thai 13-24 tuần nhằm xác định tình trạng thiếu máu của phụ nữ mang thai 3 tháng giữa (13-24 tuần thai) trước

và sau 12 tuần bổ sung viên sắt/acid folic tại Thái Bình Tỷ lệ thiếu máu ban đầu

1.3 MỘT SÔ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN THIẾU MÁU Ở PHỤ NỮ MANG THAI

1.3.1 Các yếu tố đặc trưng cá nhân

Tuổi mẹ và tuổi thai

Nghiên cứu của Phan Thị Ngọc Bích ở thai phụ đẻ tại bệnh viện Phụ sản Trung ương cho thấy tuổi của thai phụ dưới 20 tuổi và trên 40 tuổi là một trong những nguy cơ gây thiếu máu[1] K bb v ết quả này cũng tương đương với nghiên cứu của Nguyễn Song Tú trên 360 phụ nữ tuổi sinh đẻ từ 15-40 tuổi tại 3

xã của huyện Ân thi, tỉnh Hưng Yên Tỷ lệ thiếu máu tuổi sinh đẻ là 20,8%; cao nhất ở nhóm tuổi 40-49 với tỷ lệ 28% và thấp nhất ở nhóm tuổi 15-29 với tỷ lệ 9,7% Nghiên cứu này cũng cho thấy PNMT trên 30 tuổi có nguy cơ thiếu máu cao gấp 2,2 lần so với lứa tuổi thấp hơn[26] Mối liên quan giữa tuổi với tình trạng thiếu máu của PNMT cũng được Nguyễn Nhật Quang chứng minh trong nghiên cứu tại huyện Củ Chi, Tp Hồ Chí Minh Phụ nữ từ 35 tuổi trở lên có nguy

cơ thiếu máu gấp 6,5 lần so với phụ nữ dưới 35 tuổi (p<0,01)[22] Tác giả Phạm Thị Đan Thanh cũng cho thấy thai phụ trên 35 tuổi tại Bạc Liêu có nguy cơ thiếu máu thiếu sắt gấp 3,6 lần so với thai phụ từ 19-30 tuổi[28]

Trang 19

Một vài nghiên cứu khác theo dõi tình trạng thiếu máu theo thai kỳ đã chỉ

ra rằng tỷ lệ thiếu máu tăng dần theo tuổi thai Đặng Oanh và cộng sự tại Đắk Lắk cho thấy tỷ lệ thiếu máu ở PNMT thấp nhất ở 3 tháng đầu và cao nhất ở 3 tháng cuối (62%)[20] Nghiên cứu của Đặng Đình Thoảng tại Hà Nam cũng cho thấy tỷ lệ thiếu máu ở PNMT từ 6-9 tuần là 6,7%; 10-13 tuần là 14,0% và từ 14-

16 tuần là 24,0% (p<0,05)[29]

Dân tộc: Nghiên cứu tại Đắc Lắc cho kết quả tỷ lệ thiếu máu ở PNMT dân

tộc thiếu số là 50,1%, cao hơn nhiều dân tộc kinh[16]

Vùng sinh thái, nơi sinh sống

Sự khác biệt về tỷ lệ thiếu máu ở PNMT theo các vùng sinh thái được nhiều nghiên cứu khẳng định Nguyễn Xuân Ninh và cộng sự cho thấy tỷ lệ thiếu máu ở phụ nữ trước và trong khi mang thai của nước ta ở mức trung bình, trong khi ở vùng núi phía Tây Bắc và vùng Bắc ven biển miền Trung lại ở mức nặng[18] Khảo sát của viện Dinh dưỡng năm 2008 cũng cho thấy tỷ lệ thiếu máu ở PNMT cao nhất ở vùng núi phía Bắc (45,7%), tiếp đến là khu vực Bắc và ven biển miền Trung với tỷ lệ là 44,1% và thấp nhất là vùng Đông Nam Bộ (24%)[37]

Trình độ học vấn

Mối liên quan giữa trình độ học vấn và tình trạng thiếu máu ở PNMT chưa

có kết luận thống nhất giữa các nghiên cứu trong và ngoài nước Nguyễn Nhật Quang nghiên cứu tại huyện Củ Chi, TP Hồ Chí Minh cho thấy phụ nữ có học vấn từ THPT trở xuống có tỷ lệ thiếu máu trong 3 tháng đầu thai kỳ là 22,2%, cao hơn so với phụ nữ có trình độ THPT trở lên (19,9%) nhưng sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê[22] Trong khi đó, nghiên cứu tại bệnh viện Phụ sản Trung ương của Phan Thị Ngọc Bích khẳng định có mối tương quan giữa trình

độ học vấn và thiếu máu ở PNMT (p<0,05)[1] Các nghiên cứu tại nước ngoài cũng cho kết quả khác nhau Nghiên cứu ở Trung Quốc và Nigeria cho thấy có mối liên kết giữa trình độ học vấn và thiếu máu ở PNMT [50][51], trong khi tác giả Kefiyalew nghiên cứu ở Ethiopia không tìm thấy có mối liên quan này[42]

Nghề nghiệp: Nghiên cứu của Phan Thị Ngọc Bích tại bênh viện Phụ sản

Trung ương đã chỉ ra thai phụ làm ruộng có nguy cơ thiếu máu cao hơn những ngành nghề khác[1] Nghiên cứu tại Trung Quốc trên 6.413 PNMT ở các vùng khác nhau cũng kết luận là PNMT làm nghề nông nghiệp có tỷ lệ thiếu máu cao hơn các ngành nghề khác[50]

Kiến thức về cách phòng ngừa thiếu máu

Trang 20

Kiến thức về cách phòng ngừa thiếu máu và dự phòng thiếu máu có vai trò quan trọng trong can thiệp dự phòng thiếu máu ở PNMT Nghiên cứu của Nguyễn Nhân Thành và cộng sự tại TP Hồ Chí Minh cho thấy những PNMT biết cách phòng ngừa thiếu máu qua việc ăn đủ dinh dưỡng kết hợp ăn bổ sung có tỷ

lệ thiếu máu 26,6% thấp hơn nhiều so với các bà mẹ không biết các kiến thức này (41,3%)[27]

Nguyễn Văn Hòa cùng cộng sự đã khảo sát Kiến thức về phòng chống

thiếu máu ở PNMT và cho con bú tại TP Huế Kết quả nghiên cứu cho thấy,

trong tổng số 281 PNMT tham gia nghiên cứu có 204 PNMT có kiến thức tốt về thiếu máu (72,6%) Trình độ học vấn và nghề nghiệp có liên quan với kiến thức

về phòng chống thiếu máu ở PNMT Bà mẹ lao động phổ thông kiến thức đạt cao nhất là 57,3%, tiếp theo là nội trợ/ở nhà 23,9% và cuối cùng là cán bộ công chức 18,8% (p<0,05) Bà mẹ có trình độ THCS có hiểu biết đúng cao nhất với tỷ

lệ 50,7%, tiếp đến là bà mẹ có trình độ từ THCS trở lên (37,1%) và thấp nhất là

bà mẹ có học vấn từ tiểu học trở xuống (12,2%)(p<0,05)[12]

Nghiên cứu “thực trạng kiến thức, thực hành về dinh dưỡng và phòng

chống thiếu máu thiếu sắt của phụ nữ có thai dân tộc Mường ở Hòa Bình năm 2013” của Huỳnh Nam Phương và Trần Thị Giáng Hương đã chỉ ra các yếu tố

ảnh hưởng đến kiến thức và thực hành đúng về uống bổ sung viên sắt là: nguồn thuốc có thường xuyên (ảnh hưởng đến 97% đối tượng), thuốc dễ uống (40%), giá cả phù hợp (60%), ảnh hưởng tốt đến sức khỏe (47%) và thuốc ít có tác dụng phụ (24%)[21]

1.3.2 Tiền sử đẻ

Nghiên cứu của Phạm Thị Ngọc Bích tại Bệnh viên Phụ sản Trung ương

đã cho kết luận, những phụ nữ tuổi sinh đẻ có 3 con trở lên hoặc có khoảng cách giữa 2 lần mang thai gần nhau dưới 3 năm có liên quan chặt chẽ đến tình trạng thiếu máu của thai phụ Những thai phụ đẻ từ 3 lần trở lên tỷ lệ thiếu máu cao nhất (43,5%), tiếp theo là thai phụ đẻ lần đầu (33,0%) và thấp nhất là thai phụ đẻ lần hai (31,7%) Trong nhóm thai phụ có khoảng cách sinh lần này so với lần trước dưới 3 năm, tỷ lệ bị thiếu máu cao nhất (46,4%) và những thai phụ có khoảng cách sinh trên 5 năm tỷ lệ thiếu máu thấp nhất (31,55%) Ngoài ra, thai phụ đa thai, thai phụ mắc tiền sản giật có nguy cơ thiếu máu cao hơn thai phụ chửa một thai[1]

Trang 21

Nguyễn Nhật Quang cũng đã cho thấy số lần sinh con liên quan đến tình trạng thiếu máu ở PNMT 3 tháng đầu Phụ nữ sinh lần hai trở lên có nguy cơ thiếu máu cao gấp 2,4 lần so với phụ nữ sinh dưới 2 lần (p<0,001); phụ nữ sinh lần 3 trở lên có nguy cơ thiếu máu còn cao hơn nữa, cao gấp 4,3 lần so với phụ

nữ sinh dưới 3 lần (p<0,001)[22] Kết quả của Phạm Thị Đan Thanh tại Bạc Liêu chỉ ra thai phụ sinh từ 3 lần trở lên có nguy cơ thiếu máu thiếu sắt gấp 12 lần so với phụ nữ mang thai lần đầu[28] Nghiên cứu của Đặng Oanh với PNMT dân tộc thiểu số tại Đắc Lắc cũng cho thấy phụ nữ sinh trên 4 lần có nguy cơ thiếu máu gấp 3,5 lần bình thường[20] Nghiên cứu của một số tác giả nước ngoài cũng tương tự Nghiên cứu của Taseer và cộng sự trên 250 PNMT ở miền nam Punjab, Pakistan cho thấy thiếu máu liên quan với PNMT nhiều lần[49] Nghiên cứu của Jenmal Haider trên 970 phụ nữ từ 15-49 tuổi tại Ethiopia chỉ ra mối liên quan giữa việc có nhiều con và tình trạng thiếu máu[42]

Việc uống sắt trong thai kỳ ảnh hưởng đến thiếu máu cũng được Nguyễn Nhân Thành và cộng sự chứng minh trong nghiên cứu tại TP Hồ Chí Minh PNMT uống sắt ít nhất 2 tháng trong thai kỳ có tỷ lệ thiếu máu thấp hơn PNMT không uống sắt đủ 2 tháng (6,0% so với 10,6%, p<0,05)[27]

Tiền sử bệnh tật và bệnh tật hiện tại

Một trong những tác hại của ký sinh trùng đường ruột, đặc biệt là giun móc gây ra là chảy máu mãn tính gây thiếu máu thiếu sắt Phụ nữ tuổi sinh đẻ, PNMT, trẻ em là những đối tượng có nhu cầu cao về sắt và cũng là đối tượng có nguy cơ nhiễm giun cao[3]

Tại Việt Nam, năm 2008 nghiên cứu của Nguyễn Song Tú tại huyện Ân Thi, Hưng Yên chỉ ra những phụ nữ tuổi sinh đẻ nhiễm giun có nguy cơ thiếu máu gấp 4 lần so với những người không bị nhiễm giun[26] Mối liên quan này cũng được tìm thấy qua nghiên cứu của Nguyễn Nhật Quang tại huyện Củ Chi,

TP Hồ Chí Minh PNMT nhiễm giun móc có nguy cơ thiếu máu cao gấp 14,6 lần phụ nữ không nhiễm giun móc (p<0,001)[22]

Tiếp cận, cung cấp dịch vụ tư vấn và chăm sóc PNMT

Việc tiếp cận các thông tin giáo dục sức khỏe có ảng hưởng lớn đến kiến thức của PNMT về chăm sóc thai kỳ, những vấn đề cần thiết như tăng cường dinh dưỡng, uống bổ sung sắt, v.v Cung cấp dịch vụ thai nghén và tư vấn cho PNMT là rất quan trọng trong việc bảo đảm sức khoẻ cho bà mẹ và thai nhi nói chung và phòng chống thiếu máu nói riêng Năm 2010, Lê Minh Chính đã tiến

hành nghiên cứu về Thực trạng thiếu máu ở phụ nữ Sán Dìu trong thời kỳ mang

Trang 22

thai tại huyện Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên và hiệu quả của biện pháp can thiệp

Mô hình phòng chống thiếu máu ở phụ nữ Sán Dìu, đã phối hợp giữa các hoạt động truyền thông giáo dục sức khỏe với các giải pháp kỹ thuật, các chương trình đào tạo tăng cường năng lực cho cán bộ y tế trong tư vấn chăm sóc hỗ trợ PNMT Kết quả can thiệp đã làm giảm 27,3% tỷ lệ thiếu máu ở PNMT[7] Điều

đó cũng đã cho thấy tầm quan trọng trong tiếp cận dịch vụ y tế của PNMT để phòng chóng thiếu máu Những đối tượng không tiếp cận hoặc gặp khó khăn trong tiếp cận các dịch vụ y tế chủ yếu là người dân tộc, người có trình độ văn hóa thấp, và kinh tế nghèo[36] Điều này cho thấy việc tiếp cận dịch vụ tư vấn

về kiến thức liên quan tới mang thai ở nhóm này cũng thấp hơn so với các đối tượng khác, đồng nghĩa với việc họ gặp nhiều bất lợi hơn trong việc thực hành tốt trong mang thai, là một phần nguyên nhân gây nên thiếu máu ở PNMT

Điều kiện kinh tế không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến bữa ăn của PNMT có

đủ chất dinh dưỡng không, có uống bổ sung sắt không mà còn ảnh hưởng đến những yếu tố gián tiếp dẫn đến thiếu máu (điều kiện vệ sinh có đảm bảo để phòng chống giun sán, chống muỗi, sốt rét, đảm bảo vệ sinh chế biến thực phẩm, v.v )

Hỗ trợ từ chồng và các thành viên trong gia đình

Chồng và các thành viên trong gia đình chủ yếu hỗ trợ về lao động, điều kiện sinh hoạt cũng như chế độ ăn uống Trong những giai đoạn quan trọng trong thai kỳ (3 tháng đầu, 3 tháng cuối) chế độ ăn uống hay nghĩ ngơi sẽ ảnh hưởng khá nhiều đến PNMT Đôi khi do người phụ nữ ăn chung thực phẩm với gia đình, không có bổ sung hoặc tăng số lượng các chất cần thiết thì sẽ ảnh hưởng

Trang 23

đến chế độ dinh dưỡng của người phụ nữ trong thời kỳ mang thai Từ đó có thể gây ra thiếu máu[35]

Nghiên cứu của Nguyễn Nhật Quang chỉ ra rằng PNMT không sống chung với cha mẹ có nguy cơ thiếu máu cao gấp 1,7 lần so với nhóm phụ nữ sống chung với cha mẹ[22] Điều này cho thấy, gia đình/ người chăm sóc có liên quan đến việc thiếu máu ở PNMT Trong nghiên cứu của Lê Minh Chính năm 2010 đã chứng minh rằng, theo nhiều khía cạnh khoa học và dinh dưỡng lao động, thì mức độ tiêu hao năng lượng cho các công việc nội trợ của người PNMT cũng ngang bằng với lao động nặng nhọc[7]

1.3.4 Yếu tố cộng đồng

Phong tục tập quán về chăm sóc PNMT

Năm 2010, Lê Minh Chính tiến hành đề tài nghiên cứu định tính “Một số phong tục tập quán của người dân tộc Sán Dìu ở xã Nam Hòa, huyện Đồng Hỷ

có ảnh hưởng tới sức khỏe sinh sản” ĐTNC là 112 phụ nữ đồng bào dân tộc Sán Dìu gồm: những người đang mang thai, bà mẹ nuôi con bú và một số phụ nữ tuổi sinh đẻ Kết luận đã chỉ ra yếu tố rất cụ thể trong phong tục tập quán ảnh hưởng tới thiếu máu Thứ nhất, do kinh tế khó khăn, đời sống văn hóa thấp, lấy chồng

và sinh con sớm trực tiếp ảnh hưởng tới sức khỏe sinh sản, đặc biệt là thiếu máu dinh dưỡng Thứ hai, tập quán về ăn uống kiêng khem, thiếu vệ sinh, nhà bếp chật chội, gần hoặc kề bên chuồng gia súc gia cầm, giếng nước và nhà xí, vì vậy môi trường sống có nguy cơ ô nhiễm cao Trong năm, người Sán Dìu có nhiều lễ tết, cúng bái có ảnh hưởng đến kinh tế và đời sống sinh hoạt hàng ngày, nhất là đối với chế độ dinh dưỡng ở phụ nữ sinh đẻ và nuôi con Họ cũng có tục lệ cúng

ma khi ốm đau là yếu tố nguy cơ dẫn tới bệnh nặng, đưa đến trạm y tế (TYT) hoặc bệnh viện chậm trễ [7]

Những hủ tục lạc hậu này ảnh hưởng rất lớn tới những người phụ nữ dân tộc khi mang thai bởi đó là nếp sống cổ truyền khó có thể xóa bỏ hoặc thay đổi

Như vậy có rất nhiều các yếu tố ảnh hưởng đến thiếu máu ở PNMT được đánh giá bằng định lượng và định tính trên nhiều nhóm khác nhau, khá toàn diện

và đầy đủ đã cho thấy một cái nhìn đa chiều về các yếu tố có thể ảnh hưởng đến

Trang 24

thiếu máu Trong đó có những yếu tố có thể tác động để tạo ra thay đổi mà chúng tôi muốn tìm hiểu trong nghiên cứu này

1.4 MỘT SỐ HOẠT ĐỘNG PHÒNG CHỐNG THIẾU MÁU Ở PHỤ

NỮ MANG THAI Ở VIỆT NAM

1.4.1 Truyền thông giáo dục sức khỏe, nâng cao kiến thức, thực hành

về phòng chống thiếu máu

Chiến lược dinh dưỡng quốc gia giai đoạn 2001-2010 đã triển khai hiệu quả và chiến lược giai đoạn 2010-2020 đã được thủ tướng chính phủ phê duyệt trong đó phòng chống thiếu vi chất và thiếu máu dinh dưỡng là một trong những mục tiêu quan trọng trong giai đoạn tới[6] Các hoạt động tập huấn và đào tạo kiến thức về phòng chống thiếu máu được thực hiện trong nhiều năm qua góp phần nâng cao năng lực cho cán bộ cơ sở trong triển khai chương trình Truyền thông giáo dục dinh dưỡng cho cộng đồng cũng chú trọng đến các thông điệp về phòng chống thiếu máu lồng ghép vào các thông điệp chung về dinh dưỡng: Đa dạng hóa bữa ăn, phối hợp nhiều loại thực phẩm; bữa ăn hợp lý bao gồm: bữa ăn cung cấp đủ năng lượng, đủ chất dinh dưỡng cần thiết và cân đối Thành phần bữa ăn hợp lý khi có đủ 4 nhóm thực phẩm là tinh bột, chất đạm, chất béo, vitamin và khoáng chất

1.4.2 Các biện pháp dinh dưỡng hợp lý, tăng cường vi chất

Đa dạng hóa bữa ăn là giải pháp bền vững nhất để cải thiện tình trạng vi chất của người dân Cần cung cấp đủ năng lượng và các thực phẩm giàu sắt cho người mẹ, hướng dẫn lựa chọn các thực phẩm giàu sắt, hạn chế sử dụng các thực phẩm hay đồ uống chứa chất ức chế hấp thu sắt như nước chè đặc, cà phê Khuyến khích cách chế biến hạt nảy mầm, lên men như làm giá đỗ, dưa chua để làm tăng lượng vitamin C và giảm acid phytic trong thực phẩm

Bổ sung viên sắt được xem là một trong những giải pháp quan trọng trong việc giải quyết tình trạng thiếu máu do thiếu sắt Giải pháp này có khả năng cải thiện nhanh tình trạng sắt trên cộng đồng và đặc biệt có giá trị trong những trường hợp tăng nhu cầu trong một giai đoạn ngắn và biết trước được (như bổ sung trong giai đoạn có thai, trẻ em đang lớn, phụ nữ lứa tuổi sinh đẻ) Đối với PNMT: uống viên sắt từ khi phát hiện mang thai cho đến một tháng sau đẻ Uống đều đặn hàng ngày, mỗi ngày một viên

Trang 25

1.4.3 Phòng và điều trị các bệnh nhiễm ký sinh trùng, sốt rét và vệ sinh môi trường

Phòng chống các bệnh nhiễm ký sinh trùng, sốt rét, nhiễm trùng cũng là một trong những giải pháp phòng chống thiếu máu Cải thiện môi trường được coi là một yếu tố cần thiết đi kèm trong tất cả các can thiệp phòng chống thiếu máu hay thiếu vi chất ở các nước đang phát triển như ở nước ta Định kỳ tẩy giun, đặc biệt giun móc sẽ có tác động tới cải thiện tình trạng sắt Khuyến nghị tẩy giun định kỳ hàng năm bằng Mebendazol và Albendazol, đặc biệt cho phụ

nữ và trẻ em trên 2 tuổi

Các giải pháp phối hợp vệ sinh môi trường và vệ sinh cá nhân: Khuyến khích thói quen rữa tay bằng xà phòng trước khi ăn, sau khi đi vệ sinh, sử dụng nước sạch cho ăn uống Xử lý phân rác hợp vệ sinh, không dùng phân tươi bón ruộng, sử dụng bảo hộ lao động khi làm nông nghiệp

1.4.4 Tăng cường sắt vào thực phẩm

Tăng cường sắt vào thực phẩm là một giải pháp lựa chọn chiến lược có hiệu quả và an toàn cao Tăng cường sắt vào thực phẩm đã được triển khai tốt ở các nước phát triển và các nước đang phát triển Trên thế giới sắt được tăng cường vào các loại thức ăn như sữa, bột ngủ cóc, bánh mì, mì ăn liền, sữa bột đậu tương, bánh bích quy Ở Việt Nam sắt được tăng cường vào nước mắm, bánh bích quy, bánh dinh dưỡng Mumsure cho phụ nữ trước khi có thai, phụ nữ

có thai và cho con bú, bột dinh dưỡng cho thời kỳ ăn bổ sung, bột dinh dưỡng Growsure, v.v

Trang 26

1.5 GIỚI THIỆU ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU

Hình 1.2 bản đồ huyện Bố Trạch, Quảng Bình

Huyện Bố Trạch có diện tích tự nhiên 2.124,2 km2, với diện tích trải rộng

từ Tây sang Đông chiếm toàn bộ chiều ngang của Việt Nam; vừa tiếp giáp với Biển Đông vừa tiếp giáp đường biên giới giữa Việt Nam và Lào Phía Nam giáp thành phố Đồng Hới, phía Bắc giáp thị xã Ba Đồn và huyện Quảng

Trạch Toàn huyện có 28 xã và 2 thị trấn, với đầy đủ địa hình đồng bằng, miền

núi, trung du và ven biển Hội tụ đầy đủ hệ thống giao thông đường bộ, đường sắt, đường biển; có các tuyến đường giao thông huyết mạch chạy qua là đường

Hồ Chí Minh, quốc lộ 1A, đường sắt Bắc - Nam và các tỉnh lộ tạo thành mạng lưới giao thông ngang - dọc tương đối hoàn chỉnh Hơn nữa, Bố Trạch còn có cửa khẩu Cà Roòng - Noọng Ma (Việt Nam - Lào), có cảng Gianh, danh thắng nổi tiếng Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng được UNESCO công nhận di sản thiên nhiên thế giới lần 2 Có đường bờ biển dài 24 km, hình thành các khu

du lịch, điểm dịch vụ, có bãi tắm Đá Nhảy Thành phần chủ yếu là dân tộc Kinh, Vân Kiều, Makong, Arem Về cơ bản, người Kinh và các dân tộc khác ở trên địa bàn huyện Bố Trạch có chung những đặc điểm về văn hóa, xã hội, điều kiện kinh tế, đời sống sinh hoạt, đồng thời vẫn còn lưu giữ những phong tục tập quán và truyền thống của từng dân tộc Nghề nghiệp chủ yếu của người dân là làm nông nghiệp: làm ruộng, làm rẫy, chăn nuôi nhỏ lẻ

Các xã đều có nhà văn hóa, có trạng bị phương tiện loa, đài, truyền thông Hàng năm, các TYT xã đều có các chương trình truyền thông giáo dục sức khỏe,

Trang 27

với các nội dung chăm sóc sức khỏe ban đầu, chăm sóc sức khỏe bà mẹ và trẻ

em Tuy nhiên chưa có chương trình nào phòng chống thiếu máu cho PNMT

Hầu hết các xã đều đạt chuẩn quốc gia về y tế Mỗi TYT có từ 5-8 cán bộ,

có đầy đủ chức danh bảo đảm cho việc khám chữa bệnh tại TYT xã, thị trấn trên địa bàn huyện Chương trình chăm sóc sức khỏe bà mẹ và trẻ em là mạng lưới phát triển toàn diện góp phần nâng cao sức khỏe cho bà mẹ và trẻ em Tuy nhiên chương trình can thiệp thiếu máu ở PNMT và trẻ em chưa đạt kết quả mong muốn[34] Đây cũng là lý do để chúng tôi tiến hành nghiên cứu trên địa bàn để

có thể đưa ra những kiến nghị phù hợp nhằm giảm thiểu tình trạng thiếu máu ở PNMT

Trang 28

1.6 KHUNG LÝ THUYẾT NGHIÊN CỨU

- Tiếp cân dịch vụ

y tế và tư vấn dinh dưỡng khi mang thai (uống viên sắt, acid folic )

Thiếu máu ở phụ nữ mang thai

- Tiếp cận truyền thông

- Phong tục, tập quán về chăm sóc PNMT

Trang 29

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu

- Phụ nữ có thai trong danh sách quản lý của TYT 9 xã được chọn tại huyện Bố Trạch - Quảng Bình

Tiêu chí lựa chọn:

- PNMT đồng ý tham gia nghiên cứu

- PNMT đang có mặt tại thời điểm tiến hành thu tập số liệu cho nghiên cứu

- Đối tượng có đầy đủ khả năng nghe, nói, không có dị tật bẩm sinh

Tiêu chuẩn loại trừ:

- Phụ nữ đang mang thai mắc các bệnh về máu (Thalassemia), thai đôi

- Phụ nữ đang mang thai không đồng ý tham gia nghiên cứu

2.2 Thời gian nghiên cứu và địa điểm nghiên cứu:

Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 4/2019 – 9/2019

Địa điểm nghiên cứu: 9 xã của huyện Bố Trạch, Quảng Bình

2.3 Phương pháp nghiên cứu:

2.3.1 Thiết kế nghiên cứu: Mô tả cắt ngang có phân tích

2.3.2 Cỡ mẫu nghiên cứu:

Áp dụng công thức tính cỡ mẫu trong điều tra mô tả cắt ngang:

2

2 α/2) (1

p) p(1

n: Cỡ mẫu cần điều tra

p: Tỷ lệ (%) ước tính của một nghiên cứu về thiếu máu có trước

Z: Ứng với độ tin cậy 95% thì z = 1,96

α: Là mức ý nghĩa thống kê, lấy α = 5%

: Sai số cho phép giữa quần thể với mẫu nghiên cứu

Trang 30

Lấy tỷ lệ thiếu máu ở phụ nữ mang thai của Lê Thị Thùy Trang và cộng

sự (2017) tại Lệ Thủy, Quảng Bình là 27% [32] thì p = 0,27 và (1 - p) = 1 - 0,27

= 0,73

Chọn sai số cho phép lấy: = 0,05

Thay số vào công thức, tính được n = 303

Để tránh thiếu mẫu do thất thoát phiếu, lấy thêm 10% Tổng số mẫu trong điều tra:

đối tượng điều tra là: 333/3 = 111 người

Bước 2: Chọn xã có chủ đích: Vùng núi, trung du: 4 xã (Đảm bảo các xã

có người dân tộc Makong, Arem, Vân kiều Đại diện cho xã vùng núi phần lớn

có người dân tộc sinh sống); vùng đồng bằng 3 xã; vùng biển 2 xã Tổng số là 9

- Vùng núi/trung du: 111/4 = 28 người

- Vùng đồng bằng: 111/3 = 37 người

- Vùng ven biển: 111/2 ≈ 55 người

Bước 3: Lập danh sách PNMT: Tại các xã đã chọn, y tế xã lập danh sách toàn bộ phụ nữ đang mang thai tại thời điểm điều tra Kết quả số phụ nữ mang thai tại mỗi xã như sau:

Bảng 2.1 Số PNMT trong danh sách quản lý cuả TYT tại 9 xã nghiên cứu

Trang 31

Bước 4: Chọn mẫu tại mỗi xã: Do số lượng PNMT tại mỗi xã được chọn vào nghiên cứu so với cỡ mẫu cần thiết của nghiên cứu không chênh nhau nhiều, nghiên cứu quyết định lựa chọn toàn bộ số PNMT ở 9 xã vào nghiên cứu

Kết quả thu thập số liệu: trong quá trình nghiên cứu, do một số đối tượng đang đi làm ăn xa/ vắng nhà trong thời gian nghiên cứu nghiên cứu tiến hành phỏng vấn, xét nghiệm máu với 333 PNMT ở 9 xã được chọn cụ thể như sau:

Bảng 2.2 Số PNMT của TYT tại 9 xã tham gia vào nghiên cứu

Trang 32

2.4.1 Biến số và chỉ số nghiên cứu

Phương pháp thu thập

I MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM CỦA ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

A Đặc điểm nhân khẩu học

1 Dân tộc Số lượng, tỷ lệ % Định danh Phỏng vấn

2 Tuổi Số lượng, tỷ lệ % Liên tục Phỏng vấn

Tình trạng hôn nhân hiện

Nhị phân Phỏng vấn

Trang 33

ĐTNC

13

Sốt rét

Là tình trạng có mắc bệnh sốt rét có kết luận của NVYT trước khi mang thai lần này của ĐTNC

Là loại viên sắt/axit Folic

bổ sung trong thời gian mang thai lần này Định danh Phỏng vấn

Trang 34

22

Viêm dạ

dày

Là tình trạng ĐTNC có đang mắc viêm dạ dày hay không

Nhị phân Phỏng vấn

23 Sốt rét

Là tình trạng ĐTNC có đang mắc sốt rét hay không

Nhị phân

Kết quả xét nghiệm

E Một số yếu tố liên quan đến thiếu máu ở PNMT

Trang 35

2.4.2 Tiêu chuẩn đánh giá

Đánh giá thiếu máu:

Đánh giá nghèo và cận nghèo:

Theo Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg về việc ban hành chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016-2020 ban hành ngày 19/11/2015

- Chuẩn nghèo: Thu nhập 700.000 đồng/người/tháng ở khu vực nông

thôn và 900.000 đồng/người/tháng ở khu vực thành thị

- Chuẩn cận nghèo: Thu nhập 1.000.000 đồng/người/tháng ở khu vực

nông thôn và 1.300.000 đồng/người/tháng ở khu vực thành thị[30]

Trang 36

Các bước triển khai thu thập số liệu:

Bước 1: Thống nhất kế hoạch với các TYT xã

Bước 2: Thông qua nhân viên y tế thôn bản gửi giấy mời tới PNMT và dặn

dò những điều cần thiết liên quan tới việc chuẩn bị xét nghiệm máu

Bước 3: Tổ chức buổi thu thập số liệu:

- PNMT khi tới TYT được đánh dấu vào danh sách có sẵn

- Phỏng vấn trực tiếp PNMT bằng bộ câu hỏi đã thiết kế sẵn

(xem phụ lục 1)

- Tiến hành thu mẫu: lấy mẫu bệnh phẩm được mã hóa theo số của ĐTNC

và bảo quản theo quy trình lấy mẫu máu theo quy định Tình trạng thiếu máu được thông báo trực tiếp cho PNMT ngay sau khi có kết quả xét nghiệm PNMT

bị thiếu máu sẽ được cán bộ y tế tư vấn, hỗ trợ giải đáp các thông tin đến bệnh, được bảo mật thông tin và đưa vào danh sách quản lý của TYT xã

- Cán bộ nghiên cứu kết hợp với CBYT của TTYT Bố Trạch, cán bộ TYT

xã tư vấn, cung cấp một số thông tin liên quan tới theo dõi thai kỹ và chế độ dinh dưỡng, lao động cho PNMT

+ Xét nghiệm máu:

Kỹ thuật lấy máu: Các kỹ thuật viên xét nghiệm của Trung tâm y tế Bố

Trạch (TTYT) phối hợp với các TYT xã tổ chức lấy bệnh phẩm tại TYT xã Lấy 2ml máu tĩnh mạch PNMT, cho vào ống EDTA, lắc đều vào bảo quản ở nhiệt độ

4oC và đưa vào máy phân tích huyết học tự động 18 thông số Celltac alpha làm xét nghiệm Hb xác định tình trạng thiếu máu dinh dưỡng

(Xem chi tiết tại phụ lục 3)

+ Công cụ thu thập số liệu:

- Phiếu xét nghiệm được cung cấp cho bệnh nhân nhằm thu thập kết quả chuẩn đoán tình trạng thiếu máu ở PNMT

- Phiếu điều tra được xây dựng dựa trên bộ câu hỏi của một số nghiên cứu

về vần đề này đã được triển khai trước đây[1],[7], [20],[22],[26],[28] Bộ phiếu được thử nghiệm và chỉnh sửa trước khi khảo sát chính thức Bộ câu hỏi gồm các nội dung chính: Thông tin về đặc điểm nhân khẩu học và gia đình của ĐTNC; Tình trạng sản khoa và tiền sử bệnh tật; Tình trạng mang thai hiện tại và tiếp cận dịch vụ y tế trong thai kỳ

(Xem phụ lục 1)

Ngày đăng: 11/03/2021, 01:04

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Phan Thị Ngọc Bích (2008), Nghiên cứu tình trạng thiếu máu ở thai phụ đẻ tại bệnh viện Phụ sản Trung ương năm 2007, Luận văn thạc sỹ Y học chuyên ngành phụ sản, Trường Đại học Y Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu tình trạng thiếu máu ở thai phụ đẻ tại bệnh viện Phụ sản Trung ương năm 2007
Tác giả: Phan Thị Ngọc Bích
Năm: 2008
2. Bộ môn nội – Trường Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh (2009), Triệu chứng học nội khoa, Nxb Y học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Triệu chứng học nội khoa
Tác giả: Bộ môn nội – Trường Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb Y học
Năm: 2009
4. Bộ Y tế (2006), Nhu cầu dinh dưỡng khuyến nghị cho người Việt Nam, Nxn Y học Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhu cầu dinh dưỡng khuyến nghị cho người Việt Nam
Tác giả: Bộ Y tế
Năm: 2006
5. Bộ Y tế (2008), Dinh dưỡng cộng đồng và an toàn vệ sinh thực phẩm, Nxb giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dinh dưỡng cộng đồng và an toàn vệ sinh thực phẩm
Tác giả: Bộ Y tế
Nhà XB: Nxb giáo dục
Năm: 2008
6. Bộ Y tế (2012), Chiến lược quốc gia về dinh dưỡng giai đoạn 2011- 2020 và tầm nhìn đến năm 2030, Nxb Y học Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược quốc gia về dinh dưỡng giai đoạn 2011- 2020 và tầm nhìn đến năm 2030
Tác giả: Bộ Y tế
Nhà XB: Nxb Y học Hà Nội
Năm: 2012
7. Lê Minh Chính (2010), Thực trạng thiếu máu ở phụ nữ Sán Dìu trong thời kỳ mang thai tại huyện Đồng Hỷ, Tỉnh Thái Nguyên và hiệu quả của các biện pháp can thiệp, luận án tiến sỹ Y học, Trường Đại học Y Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng thiếu máu ở phụ nữ Sán Dìu trong thời kỳ mang thai tại huyện Đồng Hỷ, Tỉnh Thái Nguyên và hiệu quả của các biện pháp can thiệp
Tác giả: Lê Minh Chính
Năm: 2010
8. Candio F. (2007), Điều trị thiếu máu thiếu sắt trong thai kỳ, Tổ chức y tế thế giới, Geneva Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều trị thiếu máu thiếu sắt trong thai kỳ
Tác giả: Candio F
Năm: 2007
9. Đặng Thị Hà (2009), Hiệu quả điều trị thiếu máu thiếu sắt ở phụ nữ sau sinh, Thạc sỹ dinh dưỡng, Đại học Y dược, TP Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiệu quả điều trị thiếu máu thiếu sắt ở phụ nữ sau sinh
Tác giả: Đặng Thị Hà
Năm: 2009
12. Nguyễn Văn Hòa và các cộng sự (2013), Kiến thức về phòng chống thiếu máu ở PNCT và cho con bú tại TP Huế, tạp chí YHTH (911) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiến thức về phòng chống thiếu máu ở PNCT và cho con bú tại TP Huế
Tác giả: Nguyễn Văn Hòa và các cộng sự
Năm: 2013
13. Lê Thị Hợp và Lê Danh Tuyên (2010), tình trạng thiếu vi chất dinh dưỡng, tổng điều tra dinh dưỡng 2009- 2010, Viện Dinh dưỡng, Nxb Y học Hà Nội, tr 72-73 Sách, tạp chí
Tiêu đề: tình trạng thiếu vi chất dinh dưỡng
Tác giả: Lê Thị Hợp và Lê Danh Tuyên
Nhà XB: Nxb Y học Hà Nội
Năm: 2010
14. Nguyễn Thị Mỹ Loan (2017), Thiếu máu ở phụ nữ mang thai tại 4 xã thuộc huyện Thới Lai, thành phố Cần Thơ năm 2017,Tạp chí trường Đại học Y tế công cộng, Tập 01, Số 01-2017, tr.17-24 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiếu máu ở phụ nữ mang thai tại 4 xã thuộc huyện Thới Lai, thành phố Cần Thơ năm 2017
Tác giả: Nguyễn Thị Mỹ Loan
Năm: 2017
16. Hoàng Văn Miêng (2008), Tình hình nhiễn giun tròn đường ruột tại 8 xã của tỉnh Thái Bình năm 2007, tạp chí phòng chống bệnh sốt rét và các bệnh ký sinh trùng. 4, tr 77-82 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình nhiễn giun tròn đường ruột tại 8 xã của tỉnh Thái Bình năm 2007
Tác giả: Hoàng Văn Miêng
Năm: 2008
18. Nguyễn Xuân Ninh và các cộng sự (2012), Tình trạng thiếu máu và thiếu sắt ở trẻ em và phụ nữ tại 6 tỉnh miền núi phía Bắc, miền trung và Tây Nguyên năm 2009, Kỷ yếu hội nghị Mekong Sante lần thứ 3, Hà Nội tr.110 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình trạng thiếu máu và thiếu sắt ở trẻ em và phụ nữ tại 6 tỉnh miền núi phía Bắc, miền trung và Tây Nguyên năm 2009, Kỷ yếu hội nghị Mekong Sante lần thứ 3
Tác giả: Nguyễn Xuân Ninh và các cộng sự
Năm: 2012
19. Võ Thu Nguyệt và các cộng sự (2008), khảo sát tình trạng thiếu sắt trong 3 tháng nữa thai kỳ và các yếu tố liên quan tại bệnh viện Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh, tạp chí Y học TP Hồ Chí Minh. 12(1), tr. 162- 170 Sách, tạp chí
Tiêu đề: khảo sát tình trạng thiếu sắt trong 3 tháng nữa thai kỳ và các yếu tố liên quan tại bệnh viện Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh
Tác giả: Võ Thu Nguyệt và các cộng sự
Năm: 2008
20. Đặng Oanh và các cộng sự (2009), Tình trạng thiếu máu dinh dưỡng ở PNMT người dân tộc thiểu số tại tỉnh Đắc Lắc, năm 2008, Tạp chí dinh dưỡng và thực phẩm 5(2), tr.24-31 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình trạng thiếu máu dinh dưỡng ở PNMT người dân tộc thiểu số tại tỉnh Đắc Lắc, năm 2008
Tác giả: Đặng Oanh và các cộng sự
Năm: 2009
21. Huỳnh Nam Phương và Trần Thị Giáng Hương (2013), Thực trạng kiến thức, thực hành về dinh dưỡng và phòng chống thiếu máu, thiếu sắt của PNMT dân tộc Mường ở Hòa Bình, Tạp chí dinh dưỡng và thực phẩm. 9(1), tr.1-17 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng kiến thức, thực hành về dinh dưỡng và phòng chống thiếu máu, thiếu sắt của PNMT dân tộc Mường ở Hòa Bình
Tác giả: Huỳnh Nam Phương và Trần Thị Giáng Hương
Năm: 2013
22. Nguyễn Nhật Quang (2012), Nghiên cứu thực trạng thiếu máu ở PNMT tại huyện Củ Chi, TP Hồ Chí Minh và hiệu quả một số biện pháp can thiệp, Luận án tiến sỹ Y học, Đại học Y dược TP Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu thực trạng thiếu máu ở PNMT tại huyện Củ Chi, TP Hồ Chí Minh và hiệu quả một số biện pháp can thiệp
Tác giả: Nguyễn Nhật Quang
Năm: 2012
23. Trương Hồng Sơn (2012), Hiệu quả can thiệp cộng đồng bổ sung sớm đa vi chất dinh dưỡng trên phụ nữ tại một số xã thuộc tỉnh Kon Tum và Lai Châu, Luận án tiến sỹ dinh dưỡng, Viện dinh dưỡng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiệu quả can thiệp cộng đồng bổ sung sớm đa vi chất dinh dưỡng trên phụ nữ tại một số xã thuộc tỉnh Kon Tum và Lai Châu
Tác giả: Trương Hồng Sơn
Năm: 2012
24. Văn Quang Tân (2015), Thực trạng tình trạng dinh dưỡng trước- trong thời kỳ mang thai của bà mẹ và chiều dài, cân nặng của trẻ sơ sinh tại Bình Dương năm 2010- 2012, Luận án tiến sỹ Y tế công cộng, Đại học Y tế công cộng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng tình trạng dinh dưỡng trước- trong thời kỳ mang thai của bà mẹ và chiều dài, cân nặng của trẻ sơ sinh tại Bình Dương năm 2010- 2012
Tác giả: Văn Quang Tân
Năm: 2015
38. Viện Dinh dưỡng Quốc gia truy cập ngày 11/02/2019, tại trang Web http://vichat.viendinhduong.vn Link

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w