Học sinh tiểu học là thế hệ măng non của đất nước, các em Học vì ngày mai lập nghiệp. Học để hiểu biết, học để trau dồi tri thức và học để trở thành những người công dân có ích cho xã hội. Vì vậy việc đào tạo thế hệ trẻ trở thành những người năng động sáng tạo độc lập tiếp thu tri thức để trở thành một công dân thực thụ là một vấn đề quan tâm hàng đầu của nền giáo dục nước ta. Để thực hiện tốt nhiệm vụ này nhà trường Tiểu học phải bước đầu cung cấp cho học sinh những tri thức ban đầu để hình thành và phát triển các năng lực nhận thức và trang bị các phương pháp kĩ năng về hoạt động nhận thức, bồi dưỡng và phát triển tình cảm thói quen, đức tính tốt đẹp của con người thông qua việc dạy các môn học nói chung và môn Tiếng Việt nói riêng. Môn Tiếng Việt trong chương trình bậc Tiểu học giúp học sinh biết đọc thông viết thạo, biết sử dụng từ ngữ một cách chuẩn xác và có kĩ năng giao tiếp trong cuộc sống sinh hoạt hàng ngày. Những kiến thức của môn Tiếng Việt là tiền đề là cơ sở cho học sinh tiếp cận với các môn học khác. Việc dạy và học môn Tiếng Việt trong nhà trường luôn được chú trọng ngay từ lớp đầu cấp. Đặc biệt trong bộ môn Tiếng Việt phân môn Luyện từ và câu có một vị trí rất quan trọng là chìa khoá mở ra kho tàng văn hoá trên mọi lĩnh vực đời sống xã hội của con người. Hơn nữa phân môn Luyện từ và câu còn có nhiệm vụ cung cấp những kiến thức sơ giản về Tiếng Việt và rèn luyện kĩ năng dùng từ đặt câu (nóiviết), kĩ năng đọc cho học sinh.Cụ thể là: Mở rộng, hệ thống hoá vốn từ trang bị cho học sinh một số hiểu biết sơ giản về từ và câu. Rèn luyện cho học sinh các kĩ năng dùng từ đặt câu và sử dụng dấu câu. Bồi dưỡng cho học sinh thói quen dùng từ đúng và nói thành câu, có ý thức sử dụng Tiếng Việt văn hoá trong giao tiếp.Nhận thức được tầm quan trọng đó của phân môn Lyuện từ và câu, tôi đã mạnh dạn nghiên cứu đề tài: “Phương pháp tổ chức dạy các dạng bài tập luyện từ và câu cho học sinh lớp 4”.
Trang 1THÔNG TIN CHUNG VỀ SÁNG KIẾN
1 Tên sáng kiến“Phương pháp tổ chức dạy các dạng bài tập luyện từ và câu cho học sinh lớp 4”.
2 Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Môn Luyện từ và câu.
3 Tác giả:
Họ và tên: Phạm Thị Hải Yến Nữ
Ngày tháng/năm sinh: 30/07/1975
Trình độ chuyên môn: Cao đẳng Sư phạm
Chức vụ, đơn vị công tác: Giáo Viên Trường Tiểu học Đức Chính
Điện thoại: 036 3948 728
4 Đồng tác giả: Không
5 Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến : Trường Tiểu học Đức Chính
6 Đơn vị áp dụng sáng kiến lần đầu
Lớp 4 - Trường Tiểu học Đức Chính- huyện Cẩm Giàng- tỉnh Hải Dương
7 Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến:
- Nhà trường tạo điều kiện tốt nhất cho việc dạy và học
- Giáo viên phải có lòng yêu nghề, nhiệt tình, tâm huyết với công tác giảng dạy
- Học sinh phải có ý thức ham học hỏi, tìm tòi, khám phá kiến thức
- Phụ huynh học sinh quan tâm đến việc học tập của con em mình
8 Thời gian áp dụng sáng kiến lần đầu: Sáng kiến kinh nghiệm được áp dụng
cho giáo viên dạy khối lớp 4 giảng dạy từ năm học 2017 -2018 đến nay
Trang 21 Hoàn cảnh nảy sinh sáng kiến:
Việc giải quyết các dạng bài tập Luyện từ và câu lớp 4 có hiệu quả đặt ra cho
các Giáo viên Tiểu học là một vấn đề không phải đơn giản Qua thực tế dạy tôi đã gặpphải không ít những khó khăn Bởi đây là chương trình thay sách lớp 4 mới Cùng tồntại với nó là từ ngữ và ngữ pháp của chương trình cải cách đều đảm nhiệm cung cấpvốn từ cho học sinh, việc hướng dẫn làm các bài tập Luyện từ và câu mang tính chấtmáy móc, không mở rộng cho học sinh nắm sâu kiến thức của bài Về phía học sinh,làm các bài tập chỉ biết làm mà không hiểu tại sao làm như vậy, học sinh không cóhứng thú trong việc giải quyết kiến thức Do vậy việc tổ chức cho học sinh trong cácgiờ giải quyết các bài tập Luyện từ và câu là vấn đề trăn trở cho các giáo viên và ngaybản thân tôi
Trong quá trình dạy học cũng như việc phát hiện học sinh năng khiếu, tôi cũngnhư một số giáo viên khác khi dạy đến tiết Luyện từ và câu, đặc biệt các khái niệm về
từ đơn, từ ghép, các kiểu từ ghép bộc lộ không ít hạn chế Về nội dung chương trìnhdạy phần đó trong sách giáo khoa rất ít Chính vì vậy học sinh rất khó xác định, dẫnđến tiết học trở nên nhàm chán không thu hút học sinh vào hoạt động này Để tháo gỡkhó khăn đó rất cần có một phương pháp tổ chức tốt nhất, có hiệu quả nhất cho tiếtdạy các dạng bài tập Luyện từ và câu cho học sinh lớp 4
Từ những lý do khách quan và chủ quan đã nêu trên, thông qua việc học tập,giảng dạy trong những năm qua, tôi đã chọn đề tài này để nghiên cứu sâu hơn vềphương pháp tổ chức dạy các dạng bài tập Luyện từ và câu cho học sinh lớp 4, nhằmtìm ra được phương pháp, hình thức tổ chức thích hợp nhất, vận dụng tốt nhất trongquá trình giảng dạy của mình Vì điều kiện, khả năng nghiên cứu có hạn tôi xin mạnh
dạn trình bày kết quả nghiên cứu của mình thông qua đề tài “Phương pháp tổ chức dạy các dạng bài tập luyện từ và câu cho học sinh lớp 4”.
2 Điều kiện, thời gian, đối tượng áp dụng sáng kiến
2.1 Điều kiện áp dụng sáng kiến
Trang 3- Ban giám hiệu quan tâm, tạo mọi điều kiện tốt nhất cho việc dạy và học đặc biệt là việc đổi mới phương pháp dạy học nhằm nâng cao chất lượng giáo dục
- Đa số học sinh có ý thức ham học hỏi, ngoan, biết vâng lời, có ý thức tìm tòi Phụ huynh học sinh rất quan tâm đến việc học tập của con em mình
- Bản thân là giáo viên nhiều năm liền giảng dạy lớp 4, yêu nghề, nhiệt tình, tâm huyết với nghề mà mình đã chọn
2.2.Thời gian áp dụng sáng kiến:
Sáng kiến kinh nghiệm được áp dụng cho giáo viên dạy khối lớp 4 giảng dạy
từ năm học 2017 -2018 đến nay
2.3.Đối tượng:
- Học sinh lớp 4
- Dạng: Các dạng bài tập luyện từ và câu cho học sinh lớp 4
3.Nội dung sáng kiến :
Dựa trên thực trạng dạy và học môn Luyện từ và câu ở lớp 4 nói chung, dạy họcsinh làm thành thạo các dạng bài tập luyện từ và câu cho học sinh nói riêng, tôi muốnđưa ra một số ý kiến đổi mới để giúp các em nắm chắc cách cách làm các dạng bàitập một cách sâu sắc, tránh bị nhầm lẫn, giúp các em nắm vững bài học và yêu thíchmôn Luyện từ và câu hơn Từ đó các em hiểu được từ mới, phát triển kĩ năng, kỹ xảo
sử dụng từ ngữ, nhận diện xác định các dạng bài tập, phân tích kỹ, chính xác yêu cầucủa đề bài, từ đó có hướng cho hoạt động học tập của mình
4.Khẳng định giá trị, kết quả đạt được của sáng kiến:
Tôi khẳng định rằng việc tôi áp dụng những biện pháp dạy học nêu trên vào giảng dạy đã mang lại những kết quả đáng mừng cho giáo viên và học sinh lớp tôi chủ nhiệm Tôi luôn hi vọng với giải pháp nhỏ này không những được áp dụng ở lớptôi mà còn được nhiều anh, chị đồng nghiệp tham khảo Tôi rất mong nhận được những lời góp ý của các cấp lãnh đạo và bạn bè đồng nghiệp để giải pháp ngày càng được hoàn thiện hơn
Trang 4MÔ TẢ SÁNG KIẾN
1 Hoàn cảnh nảy sinh sáng kiến
Học sinh tiểu học là thế hệ măng non của đất nước, các em "Học vì ngày mailập nghiệp" Học để hiểu biết, học để trau dồi tri thức và học để trở thành nhữngngười công dân có ích cho xã hội Vì vậy việc đào tạo thế hệ trẻ trở thành nhữngngười năng động sáng tạo độc lập tiếp thu tri thức để trở thành một công dân thực thụ
là một vấn đề quan tâm hàng đầu của nền giáo dục nước ta Để thực hiện tốt nhiệm vụnày nhà trường Tiểu học phải bước đầu cung cấp cho học sinh những tri thức ban đầu
để hình thành và phát triển các năng lực nhận thức và trang bị các phương pháp kĩnăng về hoạt động nhận thức, bồi dưỡng và phát triển tình cảm thói quen, đức tính tốtđẹp của con người thông qua việc dạy các môn học nói chung và môn Tiếng Việt nóiriêng
Môn Tiếng Việt trong chương trình bậc Tiểu học giúp học sinh biết đọc thôngviết thạo, biết sử dụng từ ngữ một cách chuẩn xác và có kĩ năng giao tiếp trong cuộcsống sinh hoạt hàng ngày Những kiến thức của môn Tiếng Việt là tiền đề là cơ sởcho học sinh tiếp cận với các môn học khác Việc dạy và học môn Tiếng Việt trongnhà trường luôn được chú trọng ngay từ lớp đầu cấp Đặc biệt trong bộ môn TiếngViệt phân môn Luyện từ và câu có một vị trí rất quan trọng là chìa khoá mở ra khotàng văn hoá trên mọi lĩnh vực đời sống xã hội của con người Hơn nữa phân mônLuyện từ và câu còn có nhiệm vụ cung cấp những kiến thức sơ giản về Tiếng Việt vàrèn luyện kĩ năng dùng từ đặt câu (nói-viết), kĩ năng đọc cho học sinh.Cụ thể là:
- Mở rộng, hệ thống hoá vốn từ trang bị cho học sinh một số hiểu biết sơ giản
về từ và câu
- Rèn luyện cho học sinh các kĩ năng dùng từ đặt câu và sử dụng dấu câu
- Bồi dưỡng cho học sinh thói quen dùng từ đúng và nói thành câu, có ý thức sửdụng Tiếng Việt văn hoá trong giao tiếp.Nhận thức được tầm quan trọng đó của phân
môn Lyuện từ và câu, tôi đã mạnh dạn nghiên cứu đề tài: “Phương pháp tổ chức dạy
Trang 52 Cơ sở lý luận của vấn đề
2 1 Vị trí vai trò của phân môn Luyện từ và câu.
Phân môn Luyện từ và câu là một môn học giữ vị trí quan trọng trong chươngtrình Tiếng Việt lớp 4 Ngay từ đầu của hoạt động học tập ở trường, học sinh đã đượclàm quen với lý thuyết của từ và câu Sau đó chương trình được mở rộng thêm vànâng cao dần để phục vụ cho nhu cầu ngày một tăng trong cuộc sống của các em cũngnhư trong lao động, học tập và giao tiếp
Vai trò quan trọng đặc biệt trong hệ thống ngôn ngữ là đơn vị trung tâm củangôn ngữ Chính vì vậy, dạy Luyện từ và câu có vị trí rất quan trọng không có mộtvốn từ đầy đủ thì không thể nắm được ngôn ngữ như một phương pháp giao tiếp Việcdạy từ và câu giúp học sinh nắm được tiếng mẹ đẻ, tạo điều kiện học tập phát triểntoàn diện Khả năng giáo dục nhiều mặt của Luyện từ và câu là rất to lớn Nó có nhiềukhả năng để phát triển ngôn ngữ, tư duy logíc và các năng lực trí tuệ như trừu tượnghoá, khái quát hoá, phân tích tổng hợp và các phẩm chất đạo đức như tính cẩn thận,cần cù Ngoài ra phân môn Luyện từ và câu còn có vai trò hướng dẫn cho học sinh kĩnăng nói, đọc, viết
Luyện từ và câu là môn học nền tảng để học sinh học các môn học khác trongtất cả các cấp học sau cũng như trong lao động và giao tiếp trong cuộcsống, bởi nó giúp học sinh có năng lực nói đúng Từ đó sử dụng Tiếng Việt văn hoámột cách thành thạo làm công cụ tư duy để học, giao tiếp và lao động
2.2 Nhiệm vụ của phân môn Luyện từ và câu.
Dạy phân môn Luyện từ và câu ở trường Tiểu học nói chung và ở lớp 4 nóiriêng có nhiệm vụ cung cấp cho các em một số kiến thức cơ bản ban đầu và cần thiết
về từ, câu, các kiểu từ, các kiểu câu nhưng phải vừa sức đối với lứa tuổi các em
Dạy Luyện từ và câu có nhiệm vụ trang bị cho học sinh một số hệ thống kháiniệm, sự hiểu biết về cấu trúc ngôn ngữ và những quy luật của nó Cụ thể là Luyện từ
và câu ở tiểu học giúp cho học sinh hiểu về cấu tạo của từ, khái niệm về từ và câu
Trang 6Những kĩ năng mà học sinh cần đạt trong giờ Luyện từ và câu: Biết dùng từ,câu trong nói và viết, nói đúng, dễ hiểu và sử dụng các câu văn hay, nhận ra những từ
và câu không có văn hoá để loại ra khỏi vốn từ, ngoài ra học còn nắm được văn hoáchuẩn của lời nói
Hơn nữa phân môn Luyện từ và câu còn rèn cho học sinh khả năng tư duy logiccao và khả năng thẩm mĩ
Nhiệm vụ chủ yếu của việc dạy từ và câu giúp học sinh mở rộng, phát triểnvốn từ (phong phú hoá vốn từ), nắm được nghĩa của từ(chính xác hoá vốn từ), quản líphân loại vốn từ (hệ thống hoá vốn từ và luyện tập sử dụng từ), tích cực
hoá vốn từ
2 3 Tác dụng của phân môn luyện từ và câu
Xuất phát từ nhiệm vụ của phân môn Luyện từ và câu đã được trình bày ở trên,giúp học sinh phân biệt câu và từ, từ và tiếng, các kiểu câu trong đó biết dùng từ đặtcâu, biết mở rộng vốn từ và giải nghĩa từ, biết dùng dấu câu phù hợp, góp phần bổsung kiến thức, rèn luyện tư duy và hình thành nhân cách cho học sinh( Thông quacác kĩ năng các em dùng từ để đặt câu)
Qua phân môn Luyện từ và câu các em nắm được cấu tạo từ và mở rộng vốn từ,giải nghĩa của từ, nắm được các kiểu câu, các dấu câu ( dấu chấm hỏi, dấu chấm than,dấu hai chấm, dấu ngoặc kép, dấu ngoặc đơn), biết cách sử dụng từ và câu phù hợpvới ngữ cảnh và lời nói
Ngoài ra, nội dung chương trình của phân môn Luyện từ và câu ở tiểu học đượcxây dựng phù hợp với yêu cầu phát triển lời nói của học sinh, giúp các em mở rộngthêm kiến thức trong quá trình học tập, lao động và giao tiếp ngày một tốt hơn, tiến bộhơn, đạt kết quả cao hơn Như vậy phân môn Luyện từ và câu có tác dụng to lớn trongquá trình phát triển tư duy ngôn ngữ cho học sinh
3 Thực trạng của vấn đề
3.1 Khảo sát nội dung chương trình sách giáo khoa.
Trang 7Môn Luyện từ và câu lớp 4 cả năm có 62 tiết và được bố trí dạy 2tiết/ 1tuần.Nội dung chương trình gồm:
- Mở rộng và hệ thống hoá vốn từ theo chủ điểm ( Gồm 10 chủ điểm )
thực hiện ước mơ
Chủ điểm 3: Những người quả cảm-Dũng
- Cung cấp kiến thức sơ giản về cấu tạo của tiếng và từ:
+ Cấu tạo của tiếng
+ Cấu tạo của từ: Từ đơn và từ phức, các loại từ phức
- Từ loại: Cung cấp kiến thức sơ giản về Danh từ, Động từ, Tính từ
- Câu: Cung cấp cho học sinh một số hiểu biết sơ giản về cấu tạo, công dụng vàcách sử dụng các kiểu câu như câu hỏi, câu kể (bao gồm: Ai làm gì?; Ai thế nào?; Ai
là gì?), câu khiến, câu cảm, thêm trạng ngữ cho câu
- Ôn luyện kiến thức về công dụng và luyện tập sử dụng một số dấu câu: Dấuhai chấm (: ), dấu ngoặc kép(" "), dấu chấm hỏi(?), Dấu ghạch ngang(-)
3.2.Đối với giáo viên.
- Phân môn Luyện từ và câu là phần kiến thức khó nên một số giáo viên cònlúng túng và gặp khó khăn trong khi hướng dẫn học sinh nắm được yêu cầu và vậndụng vào việc làm các bài tập
Trang 8- Một số giáo viên chưa chịu đầu tư thời gian cho việc nghiên cứu để khai tháckiến thức và tìm ra phương pháp phù hợp với học sinh còn lệ thuộc vào đáp án, gợi ýdẫn đến học sinh ngại học phân môn này.
- Hình thức tổ chức dạy học của một số giáo viên còn đơn điệu, hầu như ít sángtạo, chưa thu hút lôi cuốn học sinh
- Một số giáo viên còn chưa quan tâm đến việc mở rộng vốn từ, phát triển vốn từcho học sinh, giúp học sinh làm giàu vốn hiểu biết phong phú về Tiếng Việt
3.3 Đối với học sinh.
- Hầu hết học sinh chưa hiểu hết vị trí, tầm quan trọng, tác dụng của phân mônLuyện từ và câu nên ít có hứng thú học tập, chưa dành nhiều thời gian để học mônnày
- Nhiều học sinh chưa nắm rõ khái niệm của từ, câu Từ đó việc nhận diệnphân loại, xác định hướng làm bài lệch lạc Việc xác định còn nhầm lẫn
- Học sinh chưa có thói quen phân tích dữ kiện của đầu bài, thường hay bỏ sót,làm sai hoặc không làm hết yêu cầu của đề bài
- Học sinh thường nắm kiến thức một cách máy móc, thụ động và tỏ ra yếu kémthiếu chắc chắn
* Chính vì một số nguyên nhân trên, sau khi học bài: "Từ ghép, từ láy", SGKTV4
-Trang 38) tôi đã tiến hành khảo sát học sinh hai lớp 4 : lớp 4D (đối chứng) và lớp 4C (thực nghiệm) để làm cơ sở kiểm chứng thực nghiệm sau này.
Đề bài : Xác định từ ghép và từ láy trong đoạn văn sau.
Dáng tre mộc mạc, màu tre tươi nhũn nhặn Rồi tre lớn lên cứng cáp, dẻo dai, vững chắc Tre trông thanh cao, giản dị, chí khí như người.
Kết quả khảo sát như sau:
Lớp Tổng
số HS
Điểm 9- 10 Điểm 7- 8 Điểm 5 - 6 Điểm dưới 5
Trang 94C 27 2 7,4 7 26 13 48 5 18,6
Từ kết quả trên tôi thấy chất lượng học sinh hai lớp là tương đương bởi tỉ lệ họcsinh đạt điểm 9 -10, điểm 7 - 8, điểm 5- 6, điểm dưới 5 luôn ngang nhau, tôi quyếtđịnh lựa chọn một số giải pháp để ứng dụng, thực nghiệm mong muốn có kết quả tốt
để cải tiến cách dạy, cách học cho cá nhân và học sinh và có thể là giải pháp cho đồngnghiệp
4.Các giải pháp, biện pháp thực hiện
4.1 Để có thể học tốt phân môn luyện từ và câu, ngay từ đầu tiết học giáo viên phải khơi sự tò mò, hứng thú học tập cho học sinh.
Hứng thú là một khâu quan trọng, là một hiện tượng trong tâm lý đời sống mỗingười Hứng thú tạo điều kiện cho con người học tập lao động được tốt hơn Nhà văn
M.Goóc ki nói "Thiên tài nảy nở từ tình yêu đối với công việc".Việc bồi dưỡng hứng
thú học tập môn Tiếng Việt - Phân môn Luyện từ và câu lớp 4 là một việc làm cầnthiết Để tạo được sự hứng thú học tập cho các em, người giáo viên phải tạo được sựthoải mái trong học tập, phải làm cho các em cảm nhận được vẻ đẹp và khả năng kìdiệu của ngôn từ, để kích thích vốn từ sẵn có của từng em Nếu giáo viên biết gâyhứng thú học tập cho học sinh sẽ làm cho các em thích thú học tập không còn gâycảm giác khô khan, chán học
Khi hướng dẫn học sinh tìm hiểu bài giáo viên có thể sử dụng nhiều phươngpháp, hình thức khác nhau (Phương pháp trò chơi, phương pháp động não, phươngpháp hỏi đáp) phù hợp với từng loại bài
Ví dụ : Sử dụng phương pháp hỏi đáp khi giới thiệu bài " Mở rộng vốn từ: Trung thực - Tự trọng" - Tuần 5 SGK trang 48-49
Giáo viên đặt câu hỏi:
Trang 10- Cậu bé Chôm trong truyện "Những hạt thóc giống"có đức tính gì đáng quý?(Trung thực) Vậy theo em trung thực là gì? Còn tự trọng, em hiểu thế nào là tựtrọng?(Học sinh nêu ý kiến).
Giáo viên: Để giúp các em biết thêm nhiều từ, nắm được nghĩa và cách dùngcác từ ngữ theo chủ điểm Trung thực - Tự trọng Hôm nay chúng ta sẽ mở rộng vốn từtheo chủ điểm này
Để thu hút học sinh vào bài học, ngoài giới thiệu bài thì trong khi tổ chức,hướng dẫn làm bài tập giáo viên cũng luôn tạo không khí học tập để khơi gợi sự hứngthú đối với học sinh
Ví dụ : Khi dạy bài Từ ghép - từ láy, Giáo viên tổ chức cho học sinh chơi trò
chơi "Phân biệt nhanh"
*Mục tiêu : Giúp học sinh có khả năng phân biệt các kiểu từ trong Tiếng Việt.
Trang 11mà chơi, không biến giờ học thành giờ chơi
4.2 Giáo viên cần phân ra các kiểu bài trong phân môn luyện từ và câu.
Với mỗi loại bài đều có phương pháp, hình thức tổ chức dạy học khác nhau Vìvậy để tiết học đạt hiệu quả cao giáo viên cần nghiên cứu kĩ nội dung chương trình,xác định các loại bài cụ thể trong phân môn để từ đó vận dụng các phương pháp, hìnhthức dạy học phù hợp
4.2.1 Đối với dạng bài mở rộng vốn từ.
Cơ sở của việc hệ thống hoá vốn từ là sự tồn tại của từ trong ý thức con người,
từ tồn tại trong đầu óc con người không phải là những yếu tố rời rạc mà là một hệthống Chúng được sắp xếp theo một hệ thống liên tưởng nhất định giữa các từ nàyvới từ khác có một nét gì chung khiến ta phải nhớ đến từ kia nên từ được tích luỹnhanh chóng hơn Từ mới có thể được sử dung trong lời nói và khi sử dụng nhờ hệthống liên tưởng, học sinh nhanh chóng huy động lựa chọn từ phù hợp với yêu cầugiao tiếp
Với mục đích tích luỹ nhanh chóng vốn từ và tạo điều kiện để sử dụng từ mộtcách dễ dàng, giáo viên nên đưa ra những từ theo một hệ thống và sử dụng linh hoạtnhiều phương pháp, hình thức dạy học ( Thảo luận nhóm, trò chơi, đàm thoại, hỏiđáp ) có sự hỗ trợ tích cực của đồ dùng dạy học
Trang 12Ví dụ : Khi tổ chức làm bài tập2 trang 17, tiết Luyện từ và câu bài " Mở rộng
vốn từ: Nhân hậu - Đoàn kết" tuần 2
Giáo viên xác định mục tiêu bài học và chuẩn bị đồ dùng cho tiết dạy như sau:
- Mục tiêu :Mở rộng và hệ thống hoá vốn từ ngữ theo chủ điểm Nắm được
cách dùng từ ngữ đó
- Đồ dùng: Bảng ( Từ có tiếng nhân có nghĩa là "người" và Từ có tiếng nhân
có nghĩa là "lòng thương người")
Từ có tiếng nhân có nghĩa là "người" Từ có tiếng nhân có nghĩa là"lòng thương
người"
+Bộ thẻ từ ghi từ đã cho :
- Cách thực hiện: Giáo viên chia lớp thành các nhóm ( nhóm 4), phát cho các
nhóm bộ thẻ từ, thảo luận và gắn vào hai cột trên bảng cho phù hợp.Các nhómtrình bày kết quả (dán phiếu) trên bảng hoăc trên tường ở vị trí của nhóm
Từ có tiếng nhân có nghĩa là "người" Từ có tiếng nhân có nghĩa là"lòng thương
người
nhân hậu
nhân tài
nhân đức
nhân dân
Trang 13
Ngoài việc tổ chức chia nhóm như trên giáo viên có thể tổ chức hoạt động học theohình thức trò chơi
Ví dụ : Khi tổ chức làm bài tập 4 ở tiết Luyện từ và câu tuần 5 trang 148
SGK,Tiếng Việt 4, tập 1, bài "Mở rộng vốn từ: Đồ chơi - Trò chơi"
Giáo viên tổ chức cho học sinh chơi trò chơi " Mở rộng từ ngữ".
* Mục tiêu : Giúp học sinh củng cố mở rộng thêm từ, tích luỹ được vốn từ.
Giúp học sinh phát huy tính chủ động và tự tin
* Chuẩn bị: Chuẩn bị bảng nhóm, bút lông.
* Thời gian : 3 phút
* Cách chơi: Giáo viên tổ chức cho học sinh chơi theo đội, mỗi nhóm học tập
là một đội, giáo viên giao việc cho các đội trong thời gian 3 phút, học sinh tìm tìmcác từ miêu tả tình cảm thái độ của con người khi tham gia các trò chơi và ghi vàobảng nhóm các từ đúng theo yêu cầu thuộc chủ điểm Hết thời gian các đội trình bày.Đội nào tìm được nhiều từ đúng thì đội đó thắng
Kết quả học sinh sẽ tìm được các từ như: hào hứng, say mê, say sưa, đam mê, mê, ham thích
4.2.2 Dạng bài tập về cấu tạo từ- Tìm từ ghép, từ láy.
Dạy nghĩa của từ được hiểu là nội dung đối tượng vật chất, là sự phản ánh đốitượng của hiện thực trong nhận thức được ghi lại bằng tổ hợp âm thanh xác định Đểlàm tăng vốn từ cho học sinh, công việc đầu tiên giáo viên cần phải làm cho học sinhhiểu nghĩa của từ
nhân ái nhân từ
nhân dân
công nhân
hânhaaaaaaa anhaanhaaâ
nhân hậu
nhân tài
nhân đức
nhân loại
Trang 14Muốn thực hiện được điều này người giáo viên phải hiểu được nghĩa của từ,phải biết vận dụng các phương pháp cũng như hình thức dạy học phù hợp với đốitượng học sinh.
Đối với các dạng bài tập này giáo viên tổ chức cho học sinh làm việc theonhóm Các nhóm thi làm bài và trình bày kết quả
Đối với hình thức chia nhóm, giáo viên nên sử dụng theo nhiều cách khác nhautạo điều kiện cho các em được học hỏi, giao lưu với nhiều bạn khác trong lớp Giáoviên có thể chia nhóm theo số điểm danh, theo màu sắc, theo tên các loại trái cây các
em yêu thích Yêu cầu học sinh có cùng số điểm danh, cùng một màu, cùng một loạitrái cây yêu thích sẽ cùng vào một nhóm
Ví dụ : Bài tập 2 trang 40 SGK tiết Luyện từ và câu " Từ ghép và từ láy".
- Tìm từ láy, từ ghép chứa các tiếng sau đây:
a) Ngay b) Thẳng c) Thật
*Mục tiêu: Học sinh biết vận dụng kiến thức đã học để phân biệt từ ghép với
từ láy, tìm được các từ ghép và từ láy đơn giản, tập đặt câu với các từ đó
*Chuẩn bị: Giáo viên chuẩn bị phiếu bài tập sau:
PHIẾU BÀI TẬP
Từ ghép
Từ láy
* Cách thực hiện: