1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

SKKN phạm thị hải yến 2018

48 54 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 48
Dung lượng 664 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong chương trình Tập làm văn lớp 5, văn tả cảnh chiếm một vị trí hết sức quan trọng nhưng học sinh viết văn lại viết rất yếu: kĩ năng sử dụng từ,lập câu, lập đoạn chưa tốt, các ý chưa

Trang 1

THÔNG TIN CHUNG VỀ SÁNG KIẾN

1 Tên sáng kiến: Rèn kĩ năng viết bài văn tả cảnh cho học sinh lớp 5.

2 Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Môn Tập làm văn

3 Tác giả:

Họ và tên : Phạm Thị Hải Yến Nữ

Ngày tháng/năm sinh: 30 – 7 - 1975

Trình độ chuyên môn: Cao đẳng tiểu học

Chức vụ : Giáo viên - Tổ trưởng tổ chuyên môn 4- 5

Đơn vị công tác : Trường tiểu học Đức Chính

Điện thoại : 01663948728

4 Đồng tác giả: Không

5 Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến : Trường Tiểu học Đức Chính

6 Đơn vị áp dụng sáng kiến lần đầu :

Lớp 5- Trường Tiểu học Đức Chính- huyện Cẩm Giàng- tỉnh Hải Dương

7 Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến

- Nhà trường tạo điều kiện tốt nhất cho việc dạy và học

- Giáo viên phải có lòng yêu nghề, nhiệt tình, tâm huyết với công tác giảng dạy

- Học sinh phải có ý thức ham học hỏi, tìm tòi, khám phá kiến thức

- Phụ huynh học sinh quan tâm đến việc học tập của con em mình

8 Thời gian áp dụng sáng kiến lần đầu:

Thời gian áp dụng vào thưc tế bắt đầu từ đầu năm học 2016 – 2017và hoàn thành vào cuối học kì I năm học 2017 – 2018.

TÁC GIẢ Phạm Thị Hải Yến

XÁC NHẬN CỦA CƠ QUAN ĐƠN VỊ

ÁP DỤNG SÁNG KIẾN XÁC NHẬN CỦA PHÒNG GD VÀ ĐT

Trang 2

TÓM TẮT SÁNG KIẾN

1 Hoàn cảnh nảy sinh sáng kiến:

Là một giáo viên dạy nhiều năm ở lớp 5, tôi nhận thấy chất lượng giảng dạy môn Tiếng Việt ở Tiểu học được phản ánh rõ nét nhất ở phân môn Tập Làm Văn Trong chương trình Tập làm văn lớp 5, văn tả cảnh chiếm một vị trí hết sức quan trọng nhưng học sinh viết văn lại viết rất yếu: kĩ năng sử dụng từ,lập câu, lập đoạn chưa tốt, các ý chưa gắn kết với nhau ; câu văn thiếu hình ảnh, thiếu cảm xúc, chưa gắn với thực tế … chất lượng bài văn còn thấp so với yêu cầu

Từ những hạn chế trên, tôi không khỏi băn khoăn, trăn trở : Làm thế nào

để tiết học Tập làm văn nhẹ nhàng mà hiệu quả? Làm thế nào để các em hoạt động tích cực, chủ động trong giờ học Tập làm văn? Làm thế nào để các em có

kĩ năng viết được một bài văn tả cảnh hoàn chỉnh đạt được yêu cầu như mong

muốn? Đó cũng chính là lí do tôi chọn đề tài : “ Rèn kĩ năng viết bài văn tả cảnh cho học sinh lớp 5”.

2 Điều kiện, thời gian, đối tượng áp dụng sáng kiến

2.1 Điều kiện áp dụng sáng kiến

- Ban giám hiệu quan tâm, tạo mọi điều kiện tốt nhất cho việc dạy và học đặc biệt là việc đổi mới phương pháp dạy học nhằm nâng cao chất lượng giáo dục

- Đa số học sinh có ý thức ham học hỏi, ngoan, biết vâng lời, có ý thức tìm tòi

- Học sinh sống ở vùng nông thôn gần gũi với thiên nhiên, đồng ruộng, cây tre, bến nước, mái đình …

- Phụ huynh học sinh rất quan tâm đến việc học tập của con em mình

- Bản thân là giáo viên nhiều năm liền giảng dạy lớp 5, yêu nghề, nhiệt tình, tâm huyết với nghề mà mình đã chọn

2.2 Thời gian áp dụng sáng kiến:

Việc nghiên cứu tìm ra một số biện pháp : ‘‘Rèn kĩ năng viết bài văn tả cảnh cho học sinh lớp 5’’ được tiến hành từ đầu năm học 2016 – 2017 và hoàn

thành vào cuối học kì I năm học 2017 – 2018

2 3 Đối tượng áp dụng sáng kiến:

Trang 3

- Học sinh lớp 5.

- Thể loại văn tả cảnh lớp 5, một số kinh nghiệm rèn viết văn tả cảnh

3 Nội dung sáng kiến :

Trước khi thực hiện sáng kiến này, tôi đã tìm hiểu những vướng mắc củagiáo viên cũng như học sinh trong tiết Tập làm văn tả cảnh và đưa ra nhữngbiện pháp, áp dụng vào lớp tôi trực tiếp giảng dạy cụ thể là:

- Cung cấp cho học sinh phương pháp làm văn miêu tả nói chung và tả cảnh nóiriêng

- Hướng dẫn học sinh một số thủ pháp làm văn tả cảnh

- Xây dựng một số bài tập bổ trợ rèn kĩ năng sử dụng từ ngữ và các biện phápnghệ thuật tu từ

- Cung cấp, khuyến khích học sinh tích lũy vốn từ ngữ khi học, đọc, viết cácbài văn, thơ về tả cảnh Cung cấp vốn sống, vốn hiểu biết về cảnh

Sau khi áp dụng những biện pháp trên vào việc giảng dạy tiết Tập làm văn

tả cảnh, tôi nhận thấy rằng : Học sinh tập trung hơn vào bài học, kĩ năng viếtvăn tả cảnh của học sinh được nâng cao lên rõ rệt Bài văn của học sinh xácđịnh đúng yêu cầu nội dung của đề bài, bố cục chặt chẽ, trình tự miêu tả hợp líhơn không còn tình trạng bài dạng liệt kê, câu ý đoạn không phù hợp .Giờ học tập làm văn diễn ra nhẹ nhàng, thoải mái đối với các em Không khílớp học luôn luôn sôi nổi, chất lượng giờ học đảm bảo Chất lượng môn TiếngViệt của lớp được nâng lên rõ rệt

4 Khẳng định giá trị, kết quả đạt được của sáng kiến

Tôi khẳng định rằng việc tôi áp dụng những biện pháp dạy học nêu trên vàogiảng dạy đã mang lại những kết quả đáng mừng cho giáo viên và học sinh lớp tôi chủ nhiệm Tôi luôn hi vọng với giải pháp nhỏ này không những được áp dụng ở lớp tôi mà còn được nhiều anh, chị đồng nghiệp tham khảo Tôi rất mong nhận được những lời góp ý của các cấp lãnh đạo và bạn bè đồng nghiệp

Trang 4

để giải pháp ngày càng được hoàn thiện hơn

Môn Tiếng việt gồm nhiều phân môn khác nhau như tập đọc, luyện từ vàcâu, kể chuyện, tập viết, chính tả, tập làm văn Song khó hơn cả đối với ngườidạy cũng như đối với người học là phân môn Tập làm văn

Tập làm văn là một phân môn rất quan trọng trong chương trình dạy học tiểuhọc, nó không chỉ giúp học sinh hình thành các kĩ năng: Nghe, nói, đọc, viết

mà còn rèn cho học sinh khả năng giao tiếp, quan sát, phân tích tổng hợp vàđặc biệt còn hình thành cho học sinh những phẩm chất tốt đẹp của con ngườimới hiện đại và năng động Dạy tập làm văn là dạy học sinh cách nhìn nhậncuộc sống xung quanh trong thực tế vốn có của nó với cảm xúc thực của các

em Đồng thời cũng dạycác em cách ghi lại sự nhìn nhận ấy qua các văn

Trang 5

bản-còn gọi là đoạn văn, bài văn một cách chính xác về đối tượng, về ngữ phápTiếng Việt.

Tập làm văn lớp 5 gồm nhiều nội dung, một trong những nội dung chính củachương trình tập làm văn 5 là văn miêu tả Tả cảnh là một kiểu bài khó vì họcsinh không có khả năng quan sát tinh tế, mặt khác có những cảnh học sinh chỉ

có thể gặp một lần khi đi du lịch hay xem trên truyền hình, không cảm nhậnđược vẻ đẹp của cảnh hay những thay đổi của cảnh, không biết dựa vào cảmxúc của mình để làm cảnh đó trở nên đẹp hơn, sinh động hơn, gần gũi hơn Làm thế nào để cho học sinh làm văn hay và có hiệu quả thì lại là một vấn đề rất khó khăn, cần phải suy nghĩ và dày công nghiên cứu của những người làm công tác giáo dục

1.2 Cơ sở thực tiễn:

Là một giáo viên đã trải qua nhiều năm giảng dạy chương trình lớp 4, 5 tôinhận thấy thể loại văn tả cảnh trong phân môn Tập làm văn ở lớp 5 là thể loạivăn dùng lời nói có hình ảnh và cảm xúc làm cho người nghe, người đọc hìnhdung một cách rõ nét, cụ thể về người, vật, cảnh vật, sự việc như nó vốn cótrong đời sống Một bài văn miêu tả hay không những phải thể hiện rõ nét,chính xác, sinh động đối tượng miêu tả mà còn thể hiện được trí tưởng tượng,cảm xúc và đánh giá của người viết đối với đối tượng được miêu tả Thực tếgiảng dạy tập làm văn phần tả cảnh, bản thân người giáo viên là người hướngdẫn đôi khi cũng cảm thấy lúng túng, bí từ và không biết phải hướng dẫn thếnào để học sinh có thể viết được bài văn hay, có hình ảnh có cảm xúc Một sốtài liệu như sách giáo khoa, sách giáo viên, sách thiết kế thì hướng dẫn chungchung, còn một số sách khác như văn mẫu lại chỉ có các bài văn đã viết sẵn vàthực tế mẫu nhưng không phải là chuẩn mực, có chăng chỉ là đôi chỗ có câu, ýhay,… mà lại không có một sự hướng dẫn cụ thể nào để định hướng cho giáoviên cũng như học sinh

Là một giáo viên tiểu học tôi luôn trăn trở suy nghĩ để làm thế nào cho họcsinh thích làm văn, viết văn chân thật, có cảm xúc và sinh động Trong năm học

2016 – 2017 tôi đã dạy và tìm hiểu khá kĩ về mảng Tập làm văn, đặc biệt là văn

Trang 6

tả cảnh lớp 5 Tôi đã áp dụng một số phương pháp và thấy có những kết quảđáng mừng Kinh nghiệm này được áp dụng và đã mang lại hiệu quả nhất địnhtrong dạy Tập làm văn Năm học 2017- 2018, tôi mạnh dạn đề xuất một vài

biện pháp nhỏ “ Rèn kĩ năng viết bài văn tả cảnh cho học sinh lớp 5”, để

nghiên cứu với hi vọng giúp phần nâng cao trình độ của bản thân và nâng caochất lượng dạy - học văn tả cảnh lớp 5 nói riêng và nâng cao chất lượng dạyhọc nói chung Qua đây, tôi mong muốn nhận được nhiều ý kiến trao đổi củađồng nghiệp để đề tài thực sự có giá trị trong quá trình dạy học

2 Cơ sở lý luận liên quan đến dạy học văn tả cảnh

Văn tả cảnh là loại văn dùng lời với những hình ảnh, cảm xúc làm cho

người đọc, người nghe có thể hình dung được rõ nét và cụ thể về một cảnh vậtnào đó xung quanh ta

Như vậy văn tả cảnh có thể xem là một văn bản nghệ thuật có sử dụng ngônngữ văn chương để miêu tả sự vật hiện tượng một cách cụ thể sinh động Bất kìhiện tượng nào trong thực tế đời sống cũng có thể miêu tả được, tuy nhiên bằngnhững cảm xúc khác nhau của mỗi người, mỗi hiện tượng lại được lại đượcmiêu tả với cách thể hiện riêng qua việc quan sát, sử dụng từ ngữ và cách diễnđạt khác nhau

Đối tượng của bài văn tả cảnh là những cảnh vật quen thuộc xung quanh tanhư dòng sông, cánh đồng, hàng cây Khi viết bài văn tả cảnh cần đặc biệt tậptrung vào những nét tiêu biểu của cảnh vật đó Để bài văn được sinh động vàhấp dẫn hơn với người đọc ta có thể lồng vào đó việc tả người, tả vật với nhữngcung bậc cảm xúc khác nhau

Ngôn ngữ trong văn miêu tả cần chính xác, cụ thể, giàu hình ảnh và có nétriêng biệt Chính vì thể để có bài văn hay đòi hỏi người viết phải có hiểu biết vềphương pháp làm văn, phải biết dùng từ ngữ, biết vận dụng linh hoạt các biệnpháp nghệ thuật tu từ được học

3 Thực trạng của vấn đề

3.1 Sách giáo khoa.

Trang 7

Hiện nay theo phân phối chương trình trong sách giáo khoa có 19 tiết tảcảnh, trong đó có 13 tiết lý thuyết kết hợp thực hành, còn lại là kiểm tra và trảbài.

Nội dung tả cảnh tập trung vào các cảnh: Một buổi trong ngày, một hiệntượng thiên nhiên, trường học, cảnh sông nước Với các nội dung trên, yêu cầuviết lại chủ yếu là đoạn văn Do đó, với mỗi cảnh học sinh ít được viết hoànthiện một bài văn hoàn chỉnh ngay trên lớp để thầy cô và bạn bè trực tiếp góp ý

3.2 Người học (về phía học sinh)

- Học sinh chưa biết bộc lộ cảm xúc và sử dụng các biện pháp nghệ thuật khi tảcảnh khiến bài viết thiếu hình ảnh, khô khan,… Học sinh chưa có hứng thú viếtvăn đặc biệt là văn miêu tả

- Học sinh không có thói quen sử dụng các biện pháp so sánh, nhân hóa khi viếtvăn

- Khi làm văn, học sinh miêu tả hời hợt, chung chung, vốn từ còn nghèo nàn,bài văn trở thành một bảng liệt kê các đối tượng miêu tả, không làm nổi bậtđược cảnh đang tả

- Bài văn học sinh làm thường vay mượn ý tình của người khác, các em thườngsao chép những bài văn mẫu thành bài văn của mình không kể đầu bài quy địnhnhư thế nào Với cách làm ấy các em không cần biết đối tượng cần miêu tả gì,không chú ý tới đặc điểm nổi bật tạo nên nét riêng của cảnh, cũng như không

có cảm xúc về nó

- Học sinh chưa có ý thức quan sát đối tượng miêu tả và ghi chép những điềuquan sát được một cách cụ thể và chi tiết chính vì vậy mà các em còn lơ mơ vềđối tượng miêu tả nên tả còn nhiều chi tiết khập khiễng, lủng củng không gắnkết với nhau

- Học sinh tiểu học vốn sống, vốn kiến thức và những rung cảm trước cái đẹpcòn hạn chế nên chưa thổi được vào cảnh cái hồn để cảnh miêu tả trở nên sinhđộng, ấn tượng hơn

- Học sinh chưa có phương pháp làm văn cụ thể, việc tiếp thu kiến thức làmvăn đến vận dụng kiến thức đó chưa chủ động và linh hoạt

Trang 8

- Kĩ năng vận dụng các từ ngữ gợi hình, gợi tả và các biện pháp nghệ thuật tu

từ còn lúng túng

3.3 Người dạy( về phía giáo viên)

- Giáo viên chỉ có một con đường duy nhất là hình thành các hiểu biết về líthuyết, thể loại văn, kĩ năng làm văn Đó là qua phân tích các bài văn mẫu với

lý thuyết khô khan, khó hiểu

- Giáo viên chưa chủ động, sáng tạo trong dạy học, chưa gây hứng thú cho họcsinh khi học văn, chưa có những câu văn chân thực, gần gũi,… Đặc biệt, khihọc sinh đưa ra một câu văn dùng từ chưa chuẩn hay thiếu hình ảnh, chưa hợp

lí, … chưa chỉnh sửa kịp thời và không làm bật được cái hạn chế và thay thế

ngay câu văn có nghĩa, đúng ngữ pháp, giàu hình ảnh để học sinh có thể ‘‘mê’’

thì chưa thể thổi hồn, làm cầu nối nâng tình yêu văn học cho các em

- Một số giáo viên còn mắc bệnh thành tích trong dạy học Để đối phó với việchọc sinh làm kém và đảm bảo “chất lượng” khi kiểm tra, thi cử nhiều cô giáo,thầy giáo cho học sinh học thuộc (làm sẵn) một số bài văn mẫu để các em khigặp đầu bài tương tự cứ thế mà chép ra làm cho các em lệ thuộc vào bài mẫu,không có sáng tạo trong làm bài

- Ra đề bài chưa thích hợp với học sinh theo từng vùng miền, địa phương.Khiến học sinh vô cùng lúng túng khi miêu tả

Ví dụ: Đề bài yêu cầu tả cảnh biển lúc bình minh, thực tế học sinh chưa được

nhìn thấy hay được quan sát biển bao giờ

- Giáo viên không thực hiện đúng các yêu cầu khi trả bài viết của học sinh,không giúp các em nhận thấy được những lỗi sai của mình khi làm bài để có sựchỉnh sửa rút kinh nghiệm cho bài làm sau Đây không phải là vấn đề có thểgiải quyết được trong một tiết, một tuần, … mà là cả một quá trình dạy Tậplàm văn bởi dạng văn tả cảnh là sự kết hợp của nhiều thể loại văn các em đãhọc và còn cần có cách nhìn, cách nghĩ, cách sáng tạo mới

- Chính vì một số nguyên nhân trên, vào 2 tuần đầu của năm học 2017 -2018,

tôi đã khảo sát chất lượng làm văn của học sinh hai lớp 5 : lớp 5C (đối chứng)

và lớp 5D (thực nghiệm) để làm cơ sở kiểm chứng thực nghiệm sau này.

Trang 9

- Đề bài : Em hóy tả một cảnh thiên nhiên đẹp ở địa phơng.

- Kết quả thu được như sau :

tỉ lệ học sinh đạt điểm 9 -10 , điểm 7 -8 , điểm 5- 6, điểm dưới 5 luụn ngang nhau, tụi quyết định lựa chọn một số giải phỏp để ứng dụng, thực nghiệm mongmuốn cú kết quả tốt để cải tiến cỏch dạy, cỏch học cho cỏ nhõn và học sinh và

cú thể là giải phỏp cho đồng nghiệp

4 Cỏc biện phỏp thực hiện

Đứng trước thực trạng dạy và học như trờn yờu cầu đặt ra cấp thiết là phảiđổi mới phương phỏp dạy học để học sinh đến với phõn mụn Tập làm văn thểloại miờu tả cảnh một cỏch say mờ, hứng thỳ để từ đú cú cảm xỳc viết văn Đểđạt được mục tiờu trờn thỡ cần phải tiến hành giải quyết cỏc vấn đề chớnh sau:

 Cung cấp cho học sinh phương phỏp làm văn miờu tả núi chung và tả cảnhnúi riờng

 Hướng dẫn học sinh một số thủ phỏp làm văn tả cảnh

 Xõy dựng một số bài tập bổ trợ rốn kĩ năng sử dụng từ ngữ và cỏc biệnphỏp nghệ thuật tu từ

 Cung cấp, khuyến khớch học sinh tớch lũy vốn từ ngữ khi học, đọc, viết cỏcbài văn, thơ về tả cảnh Cung cấp vốn sống, vốn hiểu biết về cảnh

Cỏc vấn đề được nờu ở trờn cần được giải quyết đồng thời, xen lẫn vào

nhau một cỏch nhịp nhàng và linh động thỡ hiệu quả sẽ cao hơn rất nhiều

Từ kinh nghiệm dạy học của mỡnh, tụi xin đưa ra một số biện phỏp để giảiquyết cỏc vấn đề được nờu ở trờn giỳp học sinh làm tốt bài văn tả cảnh như sau:

4.1 Cung cấp cho học sinh phương phỏp làm văn miờu tả núi chung và tả

cảnh núi riờng.

Trang 10

Việc cung cấp cho học sinh phương pháp làm văn miêu tả nói chung và tảcảnh nói riêng giúp học sinh có con đường đi đến bài văn đúng hướng, không

bị sai lệch về cả nội dung và hình thức

- Học sinh cần nắm được 4 yêu cầu khi làm văn miêu tả:

+ Cụ thể hóa sự vật ( tả cái gì?)

Ví dụ : Tả cánh đồng thì tập trung tả cánh đồng, không miên man tả sâu cảnh

xóm làng nằm bên cạnh cánh đồng, hay cảnh trời mây vào thời điểm đó cho dùcác sự vật đó cũng có liên quan

+ Cá thể hóa sự vật (tả như thế nào?) : Tả cảnh nào thì người đọc

hình dung cảnh đó chứ không bị lẫn lộn với cảnh khác

Ví dụ : Tả cảnh cánh đồng thì phải tả chủ yếu những yếu tố liên quan không

thể tách rời như: Lúa, ngô, rau màu, thửa ruộng, bờ mương, đàn trâu, con ngườilao động,

+ Mục đích hóa sự vật (tả với mục đích gì ?)

Ví dụ : Tả cánh đồng với mục đích đó là tả lại một cảnh đẹp rất đáng tự hào

của người dân quê hương, ích lợi mà cánh đồng mang lại…

+ Cảm xúc hóa sự vật (tả với tư tưởng, tình cảm, thái độ ra sao?)

Ví dụ : Tả cánh đồng với niềm tự hào, với sự ngưỡng mộ về một vẻ đẹp nên

+ Bước 4: Viết bài hoàn chỉnh

+ Bước 5: Kiểm tra lại bài.

Hiện nay Sách giáo khoa không còn những tiết riêng cho Tìm hiểu đề, quansát tìm ý nhưng qua mỗi đề văn giáo viên phải hướng dẫn học sinh làm theo cácbước kể trên

Trang 11

Để rèn cho học sinh thói quen làm tuần tự theo các bước kể trên khi làm vănthì mỗi bước làm giáo viên cũng phải hướng dẫn học sinh một cách tỉ mỉ vềphương pháp cũng như cách suy nghĩ, cách thực hiện bài làm.

Cụ thể:

* Bước 1 : Tìm hiểu đề

- Tác dụng: Giúp học sinh xác định được yêu cầu đề bài, tránh làm lạc đề Nói

cách khác tìm hiểu đề để định hướng học sinh nắm được mình đang làm bàivăn thuộc thể loại gì, tả cái gì, đối tượng đó có những yêu cầu, giới hạn đếnđâu

- Cách thực hiện: Hướng dẫn học sinh làm những công việc sau:

+ Đọc kĩ đề

+ Phân tích đề

Phân tích đề bằng cách:

- Gạch 1 gạch dưới các từ xác định thể loại bài văn.

- Gạch 2 gạch dưới từ xác định đối tượng miêu tả.

Ví dụ: Đề bài: Hãy miêu tả vẻ đẹp của một dòng sông mà em yêu thích (ấn tượng).

Học sinh tìm hiểu và phân tích đề bài qua việc trả lời các câu hỏi:

?/ Hãy xác định thể loại làm văn?

?/ Đối tượng miêu tả là gì?

?/ Mấy cảnh? Cảnh đó được miêu tả vào thời gian nào ?

Thể loại Đối tượngmiêu tả Giới hạn miêu tả

Miêu tả Dòng sông Không gianMở Thời gianB ất kì Đặc điểmấn tượng,yêu thích

Sau khi trả lời đúng các câu hỏi trên, học sinh thực hành gạch chân trựctiếp trên đề bài

Đề bài: Hãy miêu tả vẻ đẹp của một dòng sông mà em yêu thích (ấn

tượng).

* Bước 2: Bước quan sát và tìm ý

Trang 12

- Tầm quan trọng: Là bước quyết định thành công của bài văn, học sinh

muốn tả cảnh được chân thật, sống động phải có được sự quan sát trực tiếp đối tượng miêu tả và phải có sự ghi chép tỉ mỉ, chi tiết những đặc điểm mình miêutả

- Cách thực hiện: Giáo viên cần hướng dẫn học sinh quan sát trực tiếp đối

tượng miêu tả nhiều lần và bằng nhiều giác quan khác nhau như thị giác, thínhgiác, vị giác, khứu giác, xúc giác nhằm giúp các em nhận biết về cảnh đầy đủ

và chính xác hơn

* Luyện kĩ năng quan sát:

Muốn quan sát có hiệu quả, quan sát phải có tính mục đích, người quan sátphải có cách nghĩ, cách cảm của riêng mình Quan sát để làm văn nhằm phảnánh một đối tượng cụ thể, vừa chi tiết, vừa có tính khái quát Qua chi tiết, ngườiđọc phải thấy được bản chất của sự việc Vì vậy quan sát phải có lựa chọn Nếuyêu cầu các chi tiết cụ thể nhưng đó không phải là những chi tiết rời rạc, tảnmạn, mang tính chất liệt kê Chi tiết không cần nhiều mà phải chọn lọc, lựachọn những điểm riêng biệt, nổi bật, gây ấn tượng,… Đó là những chi tiết lột tảđược cái thần của cảnh Khi quan sát, cần sử dụng đồng thời nhiều giác quan vàđiều quan trọng là phải quan sát bằng tấm lòng Mục đích quan sát sẽ quy địnhđối tượng và phương pháp quan sát Để tả cảnh, cần xác định vị trí quan sát.thời điểm quan sát, trình tự và nội dung quan sát Quan sát phải luôn gắn vớiviệc tìm ý và tìm từ ngữ để diễn tả Để giúp quan sát và tìm ý, với mỗi đề bàicần có một hệ thống câu hỏi gợi ý nội dung quan sát và các ý cần xác lập

Nếu học sinh không thực hiện tốt bước quan sát và tìm ý thì học sinh sẽkhông có chất liệu để làm văn từ đó học sinh sẽ không có hứng thú làm bàihoặc sao chép bài văn từ những bài văn mẫu Tuy nhiên, giáo viên cần hướngdẫn học sinh cách ghi chép tỉ mỉ những điều mình quan sát tạo thành một cuốncẩm nang để khi miêu tả học sinh có sẵn tư liệu để làm bài

Thông thường với đề bài nào tôi cũng yêu cầu các em ghi kết quả quan sáttheo các ý

Trang 13

(Thị giác) (Thính giác) (Khứu giác) xúc giác)

(Chọn chi tiết nổi bật, nét riêng độc đáo, …có thể bỏ trống ô nếu không phùhợp)

 Quan sát theo không gian (Vị trí)

Xa, gần, trên, dưới, trong, ngoài, trái, phải, phía trước, phía sau, …

 Hoặc quan sát theo thời gian (Thời điểm)

Sáng, trưa, chiều, tối, các mùa trong năm, thời tiết, …

Lưu ý: Đây là bước tìm ý ban đầu, cái sườn chung nhưng không phải bài nào

cũng theo đủ các ý, các trình tự như trên mà kết hợp cho hài hòa để thể hiện được những nét riêng mà không trùng lặp…

Ví dụ: Khi tả dòng sông quê hương, học sinh quan sát và hoàn thành sơ đồ tư

duy như sau: Từ những ghi chép quan sát trên thì chắc chắn các em sẽ làm được những bài văn vô cùng sinh động và hấp dẫn Tuy nhiên quan sát bằng các giác quan chưa đủ mà giáo viên cũng cần phải hướng dẫn học sinh quan sáttheo trình tự không gian và thời gian

Ví dụ: Cách quan sát dòng sông quê.

Quá trình quan sát dòng sông quê Xúc giác

( Tay cầm)

Thị giác ( Mắt thấy)

Khứu giác (Mũi ngửi)

Thính giác ( Tai nghe)

Nước mát rượi - Sông rộng mênh

mông trải dài

-Sông nhấp nhô…

- Mặt trời , mặt trăng soi bóng xuống nước

- Lũ trẻ bơi lội tung tăng

- Mặt sông loang loáng, lấp lánh

-Mùi khen khét khói bếp của những nhà ven sông

- Mùi tanh tanh của thuyền no bụng cá

- Sóng vỗ rì rào

- bãi ngô bên bờ xào xạc

- Tiếng gõ lanh canh của bác thuyền chài

- Tiếng hát của ngư dân trong đêm trên sông

Trang 14

- Từ những ghi chép quan sát trên thì chắc chắn các em làm được những bài văn tả cảnh vô cùng sinh động và hấp dẫn Tuy nhiên quan sát bằng các giác quan chưa đủ mà giáo viên cũng cần phải hướng dẫn học sinh quan sát theo trình tự không gian và thời gian.

Ví dụ : Dòng sông được quan sát gắn theo trình tự thời gian(thân bài).

- Nước cuồn cuộn xuôi dòng

- Dòng nước trong xanh soi bóng chị tre chải tóc

Chiều

- Mặt nước gợn sóng, những con sóng nhẹ nhàng xô vào hai bên bờ

- Lũ trẻ tắm sông tha hồ lặn ngụp

- làn nước mát rượi ôm ấp, nô đùa cùng lũ trẻ

- Đoàn thuyền no bụng cá nối đuôi nhau cập bến

Tối

- Trăng lên, ánh trăng tỏa xuống mặt sông

- Mặt sông như trải rộng mênh mông, bàng bạc một màu

- ánh sáng hai bên bờ tạo thành vệt sáng lung linh

- Tiếng gõ lanh canh của bác thuyền chài đánh cá trong đêm

- tiếng hát của ngư dân làm dòng sông thêm đẹp, thêm mơ mộng

Nói tóm lại, giáo viên lưu ý cho học sinh khi quan sát một số điểm sau:

+ Khi quan sát học sinh phải nhìn ngắm cảnh trước mặt.

+ Học sinh phải quan sát nhiều lần, quan sát tỉ mỉ ở nhiều góc độ, nhiều khía

cạnh ở thời gian, địa điểm khác nhau

+ Khi quan sát học sinh phải tìm ra những nét chính, trọng tâm của cảnh, sẵn

sàng bỏ đi những nét thừa không cần thiết (Cho nên học sinh không cần điền tất

cả các ô gợi ý trên)

+ Học sinh cần phải tìm được nét tiêu biểu, đặc sắc của cảnh Phải bộc lộ cảm xúc hứng thú say mê của mình trước đối tượng quan sát.

Trang 15

+ Học sinh phải tìm được những từ ngữ chính xác, những câu văn ngắn ngọn

để ghi lại những gì quan sát được

* Bước 3 Sắp xếp ý và lập dàn ý

- Sau khi quan sát và tìm ý, trước khi lập dàn bài chi tiết, học sinh cần xác địnhtrình tự miêu tả để sắp xếp các ý một cách hợp lí Trình tự miêu tả trong văn tảcảnh có thể là trình tự không gian, có thể là trình tự thời gian tuỳ theo từngcảnh để lựa chọn cho phù hợp

Ví dụ: Với bài tả khu vườn vào buổi sáng, ta nên chọn trình tự không gian.

+ Trước cửa vườn  + Giữa vườn:  + Góc vườn bên trái: + Góc

vườn bên phải: + Cuối vườn:

Tuy nhiên, ta vẫn có thể chọn trình tự thời gian:

+ Khoảng trời phía đông ửng hồng + Mặt trời bắt đầu nhô lên sau rặng tre.

+ Khi ánh nắng ban mai bắt đầu toả xuống + Mặt trời lên cao.

Ví dụ: Với bài tả dòng sông chọn trình tự miêu tả là thời gian.

+ Sáng: + Trưa: + Chiều : + Tối:

Ta cũng có thể chọn trình tự không gian như:

+ Nhìn từ xa: + Trên mặt sông:  + Bờ bên trái: + Bờ bên phải:+ Bến sông:

Lập dàn ý.

Do nội dung chương trình trong sách giáo khoa phân bố thì học sinh luyệnviết các đoạn văn tả cảnh rất nhiều Những bài văn tả cảnh hoàn chỉnh chỉ yêucầu thực hiện trong các tiết kiểm tra Chính vì thế, tôi đưa dàn ý chung cho mộtbài văn tả cảnh, và cả dàn ý cho một đoạn văn tả cảnh để học sinh dựa vào đólựạ chọn cách viết cho phù hợp Có khi tôi cho quan sát theo bảng, cũng có khi

cho học sinh quan sát và ghi theo sơ đồ tư duy.( nhóm - cá nhân)

CẤU TRÚC BÀI VIẾT VÀ CÁCH LÀM

1 Phần mở bài:

- Nội dung: Giới thiệu cảnh vật em sẽ tả.

- Cách viết: Tuỳ loại cảnh vật cụ thể của đề ra có thể giới thiệu bằng cách nêu

trực tiếp hay “dẫn dắt” thông qua lí do em được thấy cảnh vật đó

2 Phần thân bài:

Trang 16

- Cách viết: Ngắn gọn nhưng thể hiện được những nhận thức, đánh giá của

em thông qua việc miêu tả ở trên, câu văn có âm điệu kết thúc

Từ dàn ý chung đó các em sẽ lựa chọ cách mở bài, trình tự miêu tả haycách kết bài phù hợp cho bản thân

đoạn văn.

Thân đoạn Tả chi tiết những đặc điểm nổi bật của cảnh

Kết đoạn Nêu tình cảm, nhận xét đánh giá về cảnh.

Trang 17

*Sau khi có trong tay dàn ý chung cho cho bài văn, đoạn văn học sinh sẽ ápdụng để lập dàn ý chi tiết Dàn ý này cũng chính là cái sườn sát nhất cho họcsinh viết thành bài văn cụ thể.

Ví dụ:

Với bài văn tả dòng sông, ta có thể xây dựng 2 dàn ý chi tiết : Dàn ý lựa chọnmiêu tả theo trình tự không gian, dàn ý theo lựa chọn trình tự thời gian, có thểchia nhóm để mỗi học sinh ghi một vài đặc điểm của cảnh theo buổi tại lớp và

về nhà tái hiện lại cùng với cách làm của cá nhân tạo thành một bài văn hoànchỉnh

+ Dàn ý tả dòng sông theo trình tự thời gian(Phần thân bài), có thể như sau:

Sáng  trưa  chiều tối xuân hạ thu đông, …

+ Quan sát theo không gian (Vị trí)

Xa  gần  trên  dưới  trong  ngoài  bên trái  bên phải  đằng sau đằng trước…

Lưu ý: Các em có thể ghép nội dung một số khoảng thời gian, không gian để

tạo thành một đoạn văn khi làm bài Tuy nhiên, tùy vào nội dung và khả năng

mà các em có thể điều chỉnh thêm, bớt số đoạn cho phù hợp

Bước 4: Tạo bài văn

Đây là giai đoạn quan trọng nhất và cũng là khâu khó nhất, đòi hỏi họcsinh phải linh hoạt vận dụng nhiều kiến thức để làm Học sinh phải biết:

+ Dùng từ, đặt câu, dựng đoạn

+ Vận dụng phong cách ngôn ngữ văn bản

+ Bám sát dàn bài để viết thành bài văn hoàn chỉnh.

Muốn học sinh làm tốt bước này, giáo viên cần hướng dẫn học sinh thựchiện theo các yêu cầu sau:

a Dùng từ.

- Dùng từ phải đảm bảo độ chính xác, đồng thời biểu hiện được tư tưởng, tìnhcảm một cách rõ ràng

- Phải tuân thủ các tiêu chuẩn chính tả

- Dùng từ gợi cảm, gợi tả: Thường là các từ đơn, từ ghép, từ láy, động từ

Trang 18

- Dùng từ giàu hình ảnh, âm thanh: Thường là các từ láy, từ tượng hình, từtượng thanh

- Sử dụng từ gần nghĩa, từ trái nghĩa, từ đồng nghĩa, các biện pháp tu từ về từ

+ Các em phải biết sử dụng các phép liên kết câu như: Phép lặp, phép thế,phép nối, phép liên tưởng, , biết sử dụng các biện pháp tu từ về câu(câu hỏi tu

từ, đảo ngữ, điệp ngữ, so sánh, nhân hoá )

Dòng sông như dài lụa đào mềm mại Nó cứ chảy mãi, chảy mãi để mang

phù sa màu mỡ cho đất đai

Trang 19

Câu hỏi tu từ - Bạn có biết cảnh đẹp mà người dân quê em rất đỗi tự

hào là cảnh gì không? Đó chính là dòng sông thái Bình

quanh năm đỏ nặng phù sa đấy!

- Điệp ngữ:

- Điệp câu:

- Mưa nhảy trên mái tôn, mưa ngã xuống mặt sân, mưa đâm

ào vào bụi cây

- “ Đẹp quá! Đẹp quá! ” Thật không uổng phí một đêm thứctrắng ngắm cảnh trăng khuya

- Đảo ngữ - Phất phơ trên cành/ những nụ hoa xuân.

* Học sinh phải phân biệt được câu văn kể với câu văn tả để khi viết sẽ sử

dụng các câu văn miêu tả tránh dùng câu kể khiến người đọc có cảm giác nhưngười viết đang kể lể dài dòng về cảnh

- Câu văn kể chỉ nêu một thông báo cho người đọc, người nghe

- Câu văn tả là câu văn phối hợp nhiều yếu tố (Các kiểu câu, các loại câu, cácbiện pháp tu từ về câu, các từ gợi tả, gợi cảm) để người đọc, người nghe cóthể cảm thấy được hình ảnh, màu sắc, âm thanh, cảm xúc của cảnh đó

Ví dụ:

- Mặt trời toả nắng xuống mặt đất

- Ông mặt trời vén màn mây trắng, toả

những tia nắng vàng óng như tơ xuống mặt đất.

- Lúc nào sông cũng chảy để mang phù

sa cho đất

- Hết năm này đến năm khác, sông cứ cần

mẫn chảy mang phù sa bồi đắp cho đất đai màu mỡ, cây cối xanh tốt.

c Dựng đoạn

c1 Cách trình bày đoạn văn

Trang 20

Đoạn văn là phần văn bản nằm giữa hai chỗ xuống dòng và thường biểu đạtmột ý tương đối hoàn chỉnh Khi làm bài thông thường học sinh chỉ để ý đến từ,câu mà ít quan tâm đến đoạn văn.

- Cách trình bày một đoạn văn thường là diễn dịch, quy nạp, song hành, mócxích, tổng phân hợp Song đó không phải là phần lý thuyết giáo viên dạy chohọc sinh tiểu học mà nhiện vụ của giáo viên là giúp các em biết cách viết cácđoạn văn, biết trình bày các đoạn văn theo các cấu trúc trên

Ví dụ:

Diễn dịch + Câu mở đoạn nêu nhận xét đánh giá chung về đối tượng tả

trong đoạn, các câu còn lại tả chi tiết đối tượng đó.

+ Ví dụ: Ôi, bầu trời đêm mới đẹp làm sao! Mặt trăng tròn, to

như quả bóng vàng treo lơ lửng trên bầu trời mờ đục, cao thăm thẳm Những vì sao như ngàn vạn hạt kim cương lấp lánh tô điểm cho chiếc áo đêm thêm lộng lẫy Chúng mang đến vẻ đẹp bí ẩn cho “thửa ruộng của vợ chồng lão nông ”…

Quy nạp

+ Câu cuối đoạn nêu nhận xét, đánh giá về đối tượng được tả ởtrên các câu còn lại tả chi tiết các đặc điểm của đối tượng

+ Ví dụ: Mặt trăng tròn, to như quả bóng vàng treo lơ lửng trên

bầu trời mờ đục, cao thăm thẳm Những vì sao như ngàn vạn hạt kim cương lấp lánh tô điểm cho chiếc áo đêm thêm lộng lẫy ánh trăng vàng đổ xuống mái nhà, lồng trong kẽ lá, chảy xuống nhành cây, tràn ngập khắp con đường trắng xoá Khoảng sân đầy ắp trăng, cánh đồng trăng mênh mông Dưới ánh trăng,

dòng sông lấp lánh như được dát bạc Ôi, trăng đêm nay thật

đẹp!

+ Tả luôn các đặc điểm của đối tượng tả, có thể mỗi đặc điểm được tả bằng một hoặc hai câu.

+ Ví dụ: Nàng hồng xúng xính trong bộ áo đỏ thắm, nàng cúc

Trang 21

Song hành

tưng bừng trong chiếc váy màu vàng rực rỡ…tất cả đang toả

hương thơm ngát Cây cam mang trên mình những trái cam căng tròn, đỏ ối lúc lỉu trên cành Mẹ con bác chuối vui vẻ dang cánh tay to bản phần phật trong gió Mấy hàng rau cải khiêm tốn nằm

sát mặt đất xoè những chiếc lá xanh non mơn mởn thi nhau vươn lên đón nắng mai

Tổng phân

hợp

+ Câu đầu đoạn và câu cuối đoạn nêu nhận xét, đánh giá về đối tượng tả Các câu còn lại miêu tả chi tiết đặc điểm của đối tượng.

+ Ví dụ : Dòng sông vào đêm trăng thật đẹp và nên thơ Dưới

ánh trăng và lớp sương bàng bạc, dòng sông như được trải rộng mênh mông Mặt sông như được dát bạc Ánh đèn hai bên tạo thành những vệt sáng lấp loáng làm sông trở nên lung linh hơn Văng vẳng đâu đây tiếng lanh canh của thuyền đánh cá đêm,

tiếng hò của ngư dân Lúc này, dòng sông bồng bềnh, huyền ảo

và đẹp như bức tranh thuỷ mặc.

Trong các mô hình cấu trúc một đoạn văn trên thì cấu trúc tổng phân

-hợp là tiêu biểu nhất đối với học sinh tiểu học Cấu trúc này tương ứng với cấu

trúc của cả bài văn

- (Mở bài- thân bài- kết bài) và cấu trúc của đoạn văn (Câu mở đoạn- phần

trung tâm - câu kết đoạn) Mặt khác trong chương trình sách giáo khoa lớp 4,

lớp 5 có rất nhiều bài tập yêu cầu học sinh viết một đoạn văn

- Khi viết một đoạn văn đứng độc lập thì chọn cấu trúc Tổng - phân- hợp là

hợp lí hơn cả

c2 Liên kết đoạn văn.

Khi trình bày bài văn thành nhiều đoạn khác nhau, các em cần phải biết cáchliên kết đoạn văn Liên kết đoạn văn có thể dùng từ ngữ, dùng câu:

+ Dùng từ để liên kết đoạn:

> Chỉ trình tự, bổ sung: Buổi sáng, buổi trưa, khi mùa xuân về, …trước hết,

cuối cùng, ngoài ra, thêm vào đó,

Trang 22

> Chỉ ý nghĩa tổng kết, khái quát: Tóm lại, nói tóm lại, nhìn chung,

> Chỉ ý đối lập, tương phản: Ngược lại, trái lại, nhưng, thế mà, tuy vậy,

> Từ ngữ thay thế: Do đó, do vậy, vì thế, cho nên,

+ Dùng câu:

> Dùng câu nối với phần trước của văn bản

> Dùng câu nối với phần sau của văn bảm

> Dùng câu nối phân trước và phần sau của văn bản

c3 Quan hệ giữa đoạn văn với đoạn văn.

- Để tạo ra sự lôgic trong diễn đạt thì học sinh có thể dựa vào quan hệ khônggian, quan hệ thời gian, quan hệ đặc điểm (với dạng bài tả cảnh thì thườngdùng quan hệ (không gian, quan hệ thời gian)

Ví dụ : + Quan hệ không gian

Trước cửa vườn, nàng Hồng mang trên mình hạt sương long lanh đang

e lệ trong lá, cánh hoa đỏ thắm mịn màng, khum khum úp sát vào nhau Nàng Cúc cũng thay cho mình bộ váy vàng rực rỡ để chờ đón anh ong bước đến chơi Các nàng thi nhau tỏa hương thơm làm cả một không gian thơm mát Cuối vườn, mẹ con bác chuối lục đục gọi nhau dậy tập thể dục Những cánh tay bản giwo cao phần phật trong gió Mấy đứa chuối con thấy chuối mẹ tập vỗ tay reo vui làm chút sương cuối cùng rơi xuống đất.

+ Quan hệ thời gian

Buổi sáng, dòng sông như dải lụa đào vắt qua đồng bằngBắc bộ Mặt sông

gợn lên những con sóng nhẹ Bờ bên phải là bãi ngô xanh ngả đầu vào nhau rì rầm trò chuyện Bờ bên trái là bãi cát trắng trải dài mênh mông Thuyền chở người, chở than, thuyền đánh cá tấp nập qua lại như mắc cửi Tiếng cười nói, tiếng động cơ xe nhộn nhịp bế đò ngang.

Buổi trưa, khi mặt trời giận dữ ném những tia nắng chói chang xuống mặt sông khoác chiếc áo dát vàng lấp lánh Nước sông đỏ ngầu, sóng lao vào bờ soàn soạt Dòng sông hừng hực, hamwhowr chảy về xuôi.

- Ngoài ra quan hệ giữa các đoạn văn có thể là quan hệ giữa ý chính và ý diễngiải, giữa ý cụ thể với ý tổng kết

Trang 23

Bước 5: Kiểm tra lại toàn bộ bài văn

Kiểm tra lại toàn bộ bài văn là bước quan trọng nhưng thực tế đây làbước mà nhiều giáo viên bỏ qua hoặc nếu có thực hiện thì chỉ lướt qua gọi là

có Sau khi viết xong bài văn, sau khi nhận bài chấm của cô nhiều em khôngbiết mình viết không được ở chỗ nào, lỗi sai ở đâu, không hay ở đâu, có khi chỉnhìn xem mình được mấy điểm, hơn kém ai, …

* Với học sinh Đây là bước rất cần thiết, nó giúp người viết sửa chữa những

lỗi sai khi viết văn như: lỗi chính tả, cách dùng từ, đặt câu, tạo đoạn, dấu câu,cách trình bày và đặc biệt là nhận biết được mình đã làm đúng yêu cầu đề bàichưa và bổ sung nội dung còn thiếu

* Cách làm: Bước kiểm tra này có thể tự học sinh kiểm tra sau khi viết xong

bài (ở nháp, ở dàn bài chi tiết hoặc bài hoàn chỉnh), khi nhận xét bài của bạn,trong tiết trả bài Giáo viên yêu cầu các em thực hiện nghiêm túc 3 bước:

+ Đọc đi đọc lại bài văn

+ Tìm lỗi sai hoặc chưa hay về dàn bài, dùng từ, đặt câu, dựng đoạn.

+ Sửa lại cho đúng, cho hay.

Các em có thể tự làm một mình hoặc cùng bạn kiểm tra để đặt ra câu hỏi và

tự trả lời như:

+ Mở bài, thân bài, kết bài đã đủ bố cục chưa?

+ Nên thêm hay bớt chỗ nào? thay thế từ nào cho phù hợp? Có lạc ý không? + Bài văn, đoạn văn có đủ bố cục chưa?

+ Mình đã dùng nhiều từ láy, từ gợi tả chưa?

+ Những câu nào sử dụng biện pháp so sánh, nhân hóa?

+ Có lỗi chính tả không?

+ Câu có đủ thành phần chưa? Câu nào cần bổ sung trạng ngữ?

+ Cách trình bày đoạn đã phù hợp chưa?

* Với giáo viên: Đây là kết quả của việc giảng dạy nhiều ngày- bước hái quả,

nên chúng ta sẽ biết được ưu điểm, hạn chế trong cách dạy để điều chỉnh chophù hợp

Trang 24

Tổ chức rút kinh nghiệm thực hiện tiết trả bài chính là thực hiện khâu cuốicùng kiểm tra, đánh giá nhằm mục đích củng cố lại dạng bài, biết sửa lỗi, bổsung ý thiếu cho bài tới và nâng cao chất lượng viết văn.

* Cách làm: Thu bài, chấm, đọc ghi lại những lỗi cụ thể, ghi câu văn hay, ý

hay, đoạn văn giàu hình ảnh, dùng từ khéo léo … thống kê vào bài soạn tiết trả

bài, có khi đưa vào cuốn sổ tích lũy cho những năm sau.

+ Tìm cách sửa lỗi cho học sinh

+ Cho học sinh đọc lại bài nếu cần, yêu cầu học sinh đó và các bạn tìm lỗi giúpbạn sửa và xem ai có cách sửa hay nhất

+ Giáo viên dùng câu hỏi gợi mở dẫn dắt để học sinh tự phát hiện ra lỗi sai vàsửa lỗi Hướng dẫn chữa lỗi từ đơn giản đến phức tạp Rèn cho học sinh có thóiquen kiểm tra trước khi viết hoặc viết rồi vẫn có chỗ sửa sai như vở chính tả

Cho học sinh đọc lại câu văn hay, ý hay, bài văn viết tốt để các bạn tham khảođồng thời để kích thích, khích lệ động viên các em theo đặc điểm tâm listaoj ấn

tượng tốt: (nhà văn triển vọng, nhà văn nhí, cây bút tài năng, …) Những học

sinh học chưa tốt thì cần quan tâm đặc biệt để các em có sự tiến bộ Nếu tiến bộ

dù rất nhỏ cũng nên khen, khuyến khích động viên để các em tự tin, cố gắng vàkhông ngừng vươn lên

Giáo viên nên kiên trì để hình thành thói quen cho học sinh thì chắc hẳn sẽ hạnchế được những lỗi và giờ trả bài sẽ nhẹ nhàng hơn, hiệu quả hơn

4.2 Hướng dẫn học sinh một số thủ pháp làm văn tả cảnh

4

2.1 Chọn đối tượng tả.

+ Thực tế, chương trình sách giáo khoa, một số đề thi, đề tự luyện văn tả

cảnh thường ra một số đề dạng mở Tức là, học sinh có thể tuỳ chọn đối tượng

tả cụ thể trong chủ đề yêu cầu của đề bài Tuy thế, nhiều em còn lúng túng

không biết lựa chọn tả cảnh gì Đôi khi các em còn chọn những đối tượng cụthể mà không hề có cơ hội quan sát hoặc chỉ quan sát theo kiểu đã biết sơ qua

Ngày đăng: 08/07/2019, 15:48

w