ĐÁNH GIÁ tác ĐỘNG lũ lụt tới
Trang 1ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ KHOA KINH TẾ PHÁT TRIỂN
-CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
Đề tài :
ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG LŨ LỤT TỚI TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ CỦA XÃ QUẢNG PHƯỚC,
HUYỆN QUẢNG ĐIỀN, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
Lớp: K43 TNMT
Huế, 05/2013
Trang 2PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong suốt thế kỉ qua trên thế giới, môi trường đã và đang là vấn đề cấp bách của toàn thể nhân loại Ô nhiễm môi trường, thiên tai, thảm họa cướp đi sinh mạng và của cải của hàng triệu người trên thế giới và đẩy cuộc sống của họ gặp nhiều khó khăn, thách thức Vấn đề môi trường, nhất là thiên tai, thảm họa không loại trừ bất kì ai, bất
kì quốc gia nào dù giàu hay nghèo
Trong số các thảm hoạ thiên tai ở Việt Nam thì Lũ lụt là hiện tượng xảy ra phổ biến tại các tỉnh ven biển miền Trung và đem lại nhiều thiệt hại nặng nề nhất về người
và tài sản Hiện nay, vấn đề lũ lụt miền Trung là một vấn đề nhà nước ta và nhân dân cả nước quan tâm Và một trong những tỉnh phải gánh hậu quả nặng nề nhất là tỉnh Thừa Thiên Huế
Nằm ở vùng thấp trũng, vùng đầm phá ven biển nên nhiều xã của huyện Quảng Điền tỉnh Thừa Thiên Huế thường xuyên phải đối mặt với bão lụt Người dân ở vùng này đã phải học cách sống chung với lụt, đặc biệt là những người có sinh kế phụ thuộc vào chức năng sản xuất của lũ lụt hàng năm Mỗi năm lũ lụt đã cướp đi hàng trăm sinh mạng, tàn phá nhà cửa, mùa màng Người dân ở đây bỗng chốc tay trắng Sau mỗi cơn
lũ, cuộc sống của những người dân ở đây rất khó khăn Tình trạng thiếu lương thực trầm trọng, họ không có nhà để ở, không có nước sạch để uống, để sinh hoạt; Và rác cùng xác các động vật phân hủy đó là nguy cơ bùng phát các dịch bệnh nguy hiểm Nhưng bên cạnh đó lụt là một phần quan trọng trong các hệ nông nghiệp và sinh thái, vì nhờ có lụt mà mùa màng, cây cối và đời sống sinh vật phát triển Vì thế, điều quan trọng ở đây
là điều chỉnh chiến lược quản lý lụt hiện nay của đất nước để một mặt bảo vệ sinh kế của người sống nhờ vào các cơn lụt hàng năm, và mặt khác hạn chế thiệt hại tài sản và kinh tế do lũ lụt gây ra
Vì vậy không thể thiếu các nghiên cứu cụ thể để đánh giá sự ảnh hưởng của các tổn thất do lũ lụt đến sinh kế của người nông dân Từ đây sẽ góp phần hình thành các cơ
sở thực tiễn giúp các nhà hoạch định chính sách định hướng đường lối đúng đắn cho việc phòng chống và khắc phục hậu quả do lũ lụt gây ra Đây cũng chính là lí do tôi lựa
Trang 3chọn đề tài “Đánh giá tác động lũ lụt đối với tình hình phát triển kinh tế của xã Quảng Phước- huyện Quảng Điền- tỉnh Thừa Thiên Huế”
2 Mục tiêu và đối tượng nghiên cứu
2.1 Mục tiêu nghiên cứu:
- Tìm hiểu ảnh hưởng của lũ lụt đến kinh tế của người dân ở xã Quảng Phước, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế
- Đánh giá tác động kinh tế của lũ lụt đến người dân ở xã Quảng Phước, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế
- Đánh giá tác động xã hội của lũ lụt đến người dân ở xã Quảng Phước, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế
- Tìm hiểu cách ứng phó với lũ lụt của địa phương
- Đưa ra các giải pháp phòng chống, giảm nhẹ thiên tai và chuẩn bị chiến lược sẵn sàng phòng chống các tác động của thiên tai đối với kinh tế của người dân
2.2 Đối tượng nghiên cứu:
Xã Quảng Phước - huyện Quảng Điền - tỉnh Thừa Thiên Huế
3 Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp điều tra thu thập số liệu:
• Số liệu thứ cấp: Căn cứ vào số liệu được cung cấp bởi các phòng chức năng của UBND xã Quảng Phước
• Số liệu sơ cấp: Nghiên cứu tiến hành điều tra tìm hiểu ý kiến các hộ dân ở
Xă Quãng Phước
>> Chọn mẫu điều tra: Các mẫu được chọn theo phương pháp ngẫu nhiên không lặp
>> Được phản ánh qua phiếu điều tra được xây dựng sẵn
- Phương pháp phân tích thống kê: Dùng phần mềm EXCEL để tổng hợp so sánh
sự biến động các chỉ tiêu đánh giá của lũ lụt ảnh hưởng về kinh tế của xã Quảng Phước
- huyện Quảng Điền - tỉnh Thừa Thiên Huế
- Phương pháp chuyên gia: Trong quá trình thực hiện đề tài có tham khảo ý kiến, kinh nghiệm của các cơ quan chức năng và các hộ gia đình
Trang 44 Phạm vi nghiên cứu :
- Phạm vi không gian : Địa bàn xã Quảng Phước
- Phạm vi thời gian :các dữ liệu, thông tin sử dụng được thu thập chủ yếu trong 3 năm 2010-2012
- Phạm vi nội dung: Thực trạng tình hình sản xuất và đời sống của các hộ dân bị ảnh hưởng bởi lũ lụt
Trang 5PHẦN II : NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨUCHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Sự hình thành lũ
Các khái niệm cơ bản
Lũ: là hiện tượng dòng nước do mưa lớn tích luỹ từ nơi cao tràn về dữ dội làm
ngập lụt một khu vực hoặc một vùng trũng, thấp hơn Nếu mưa lớn, nước mưa lại bị tích luỹ bởi các chướng ngại vật như đất đá, cây cối cho đến khi lượng nước vượt quá sức chịu đựng của vật chắn, phá vỡ vật chắn, ào xuống cấp tập (rất nhanh), cuốn theo đất đá, cây cối và quét đi mọi vật có thể quét theo dòng chảy thì được gọi là lũ quét (hay lũ ống), thường diễn ra rất nhanh, khoảng 3-6 giờ
Lụt: là hiện tượng nước ngập quá mức bình thường, ảnh hưởng đến đời sống và
sản xuất Lụt xảy ra khi nước lũ dâng cao tràn qua sông, suối, hồ và đê đập vào các vùng trũng, làm ngập nhà cửa, cây cối, ruộng đồng
Lũ lụt là hiện tượng tự nhiên, gần như xẩy ra hằng năm Lũ do mực nước sông,
suối dâng cao, có vận tốc dòng chảy lớn Khi nước sông lên cao (do mưa lớn hoặc triều cao), vượt qua khỏi bờ, chảy tràn vào các vùng trũng và gây ra ngập trên diện rộng trong một khoảng thời gian nào đó là ngập lụt Lũ lụt được gọi là lớn và đặc biệt lớn khi nó gây ra nhiều thiệt hại lớn và kéo dài về người và của cải
Đặc điểm lũ lụt
Hàng năm, mùa lũ diễn ra khác nhau ở cácvùng Tuỳ theo điều kiện địa lý tự nhiên và thời tiết hàng năm mà mùa lũ có thể đến sớm hoặc đến muộn hơn Lũ xảy ra quá sớm hoặc quá muộn cũng như các trận lũ lớn đều có thể gây thiệt hại nghiêm trọng
- Mùa lũ trên các sông ở Thừa Thiên Huế từ tháng 9 đến 12
- Dòng chảy phân phối không đều trong mùa lũ
Trên các sông Trung Bộ thường vào tháng 10, 11 Rõ ràng dòng chảy mùa lũ, trên thực tế, chỉ tập trung trong thời gian ngắn Đây là thời kỳ lũ, lụt lớn thường xảy ra nhất trong năm
- Cường suất lũ, biên độ lũ, đỉnh lũ trên các sông thường rất lớn, lũ ác liệt, tập trung nhanh về đồng bằng nhỏ hẹp hạ lưu Cường suất lũ, biên độ lũ, đỉnh lũ, từ đó là
Trang 6diễn biến lũ, lụt ở các vùng cũng rất khác nhau, tuỳ thuộc vào điều kiện trên mỗi lưu vực sông
- Ở miền Trung cường suất lũ trên các sông ở vùng núi có thể lên đến 2-5mét/giờ;
ở đồng bằng hạ lưu các sông, có thể 0,5- 1mét/giờ Biên độ lũ trên các sông miền núi có thể đạt 10-15 mét, có nơi đạt trên 20 mét Biên độ lũ trên sông ở vùng đồng bằng thường từ 3- 8 mét Trong điều kiện hiện nay ở các vùng khác, thì độ sâu ngập lụt đều rất lớn, thường từ 2- 4 mét, có nơi tới trên 4- 6 mét, như năm 1999 ở Thừa Thiên Huế
Những ảnh hưởng của lũ lụt đến sinh kế
Lũ lụt ở Việt Nam là hiện tượng phổ biến và diễn ra trên khắp các vùng miền đất nước, đặc biệt là vùng ven biển miền Trung, đồng bằng sông Mêkông và đồng bằng sông Hồng Người dân ở những vùng này đã phải học cách sống chung với lũ lụt, đặc biệt là những người có sinh kế phụ thuộc vào chức năng sản xuất của lũ lụt hàng năm Văn hoá Việt Nam thường nhắc đến và không thể quên những cơn lụt lớn trong lịch sử,
vì tổ tiên dân tộc Việt Nam xem lụt lội là một trong bốn hiểm hoạ lớn nhất đối với con người Thực tế là do tác động tiêu cực của lũ lụt quá lớn nên trong khi lập kế hoạch ứng phó lũ lụt, người ta thường không đánh giá đúng mức hoặc thậm chí không xét đến ích lợi của lụt Thực ra, lũ lụt là một phần quan trọng trong các hệ nông nghiệp và sinh thái,
vì nhờ có lụt mà mùa màng, cây cối và đời sống sinh vật phát triển Vì thế, điều quan trọng ở đây là Việt Nam cần điều chỉnh chiến lược quản lý lụt hiện nay của đất nước để một mặt bảo vệ sinh kế của người sống nhờ vào các cơn lụt hàng năm, và mặt khác hạn chế thiệt hại tài sản và kinh tế do lũ lụt gây ra
1.1.2 Khái niệm về kinh tế
Kinh tế là tổng hòa các mối quan hệ tương tác lẫn nhau của con người và xã hội liên quan trực tiếp đến việc sản xuất, trao đổi, phân phối, tiêu dùng các loại sản phẩm hàng hóa và dịch vụ, nhằm thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao của con người trong một xã hội với một nguồn lực có giới hạn
Việc sản xuất cũng như trao đổi, phân phối hàng hóa và dịch vụ đều chịu ảnh hưởng rủi ro của thiên tai, lũ lụt… và mức độ ảnh hưởng như thế nào còn tùy theo từng
vùng, từng địa phương ( Theo Wikipedia).
Trang 7 Về kinh tế
Hoạt động sản xuất chính ở Việt Nam là nông nghiệp, thủy hải sản và diễn ra chủ yếu ở vùng nông thôn, vùng núi và vùng ven biển Hầu hết các thiên tai gây thiệt hại cho đời sống và sản xuất ở Việt Nam đều có liên quan với sự bất thường của khí hậu và nguồn nước
Về xã hội
Thiên tai lũ lụt để lại hậu quả đáng kể đối với các hộ gia đình, cộng đồng dân cư và toàn thể xã hội Các thành viên trong cộng đồng có mối liên hệ chặt chẽ với nhau và cùng giúp đỡ nhau khắc phục hậu quả thiên tai Ngoài ra lũ lụt hằng năm có thể phá hủy nhiều công trình công cộng , trường học, y tế, bệnh viên…Số học sinh phải nghỉ học trong mùa mưa lũ nhiều hơn, cũng vì vậy mà có nhiều trẻ em bỏ học Một tác động khác của lũ lụt đối với cộng đồng địa phương là nảy sinh những vấn đề mâu thuẫn trong vấn đề phân chia cứu trợ sau lũ lụt
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Thiệt hại do lũ lụt ở một số nước trên thế giới và Việt Nam
1.2.1.1 Thiệt hại do bão lụt ở một số nước trên thế giới
Thống kê một số thiệt hại do lũ tiêu biểu trên thế giới:
- Lịch sử đã ghi nhận trận lũ lụt kinh hoàng nhất diễn ra năm 1887 trên sông Hoàng Hà, Trung Quốc làm trôi mất 7 ngôi làng và làm 7 triệu người chết
- Trận lụt năm 1931 trên sông Trường Giang, Trung Quốc đã giết chêt 145.000 người, cuốn trôi 4 triệu ngôi nhà, 10 triệu người phải sống trong cảnh màn trời chiếu đất, vùi lấp 5,5 triệu ha đát canh tác Trận lụt này làm tổn thất 6 % tổng thu nhập quốc dân năm đó
- Trận lũ năm 1993 ở Mỹ đã nhấn chìm hơn 80.000 km2 đất, giết chết 50 người dân, 70.000 người mất nhà cửa, thiệt hại ước chừng 12 tỷ USD
- Và còn rất nhiều những trận lũ lụt to nhỏ diễn ra ở khắp các quốc gia trên khắp thế giới
( Phòng chống thiên tai – ThS Lê Anh Tuấn)
1.2.1.2 Thiệt hại do bão lụt ở Việt Nam
Một số thiệt hại do lũ ở Việt Nam:
Trang 8- Lịch sử Việt Nam đã cho biết trong vòng 10 thế kỷ ( từ thế kỷ X – XIX), Việt Nam có 188 cơn lũ làm vỡ đê sông Hồng Riêng thế kỷ XIX, đã có 26 năm đê bị vỡ gây
lũ lụt, điển hình các năm 1814, 1824, 1835, 1893 Trận lụt năm 1893, mực nước đỉnh lũ tại Hà Nội lên đến 13 mét Sang thế kỷ thứ XX, đã có 20 lần vỡ đê ở hạ lưu sông Hồng
( Phòng chống thiên tai – ThS Lê Anh Tuấn)
1.2.2 Tình hình lũ lụt tại miền Trung
Miền trung là nơi chịu nhiều trận lũ lụt so với cả nước vì nơi đây lưu vực hẹp, độ dốc lớn nên nước tập trung rất nhanh
Những năm gần đây đã có những trận lũ lụt lớn chưa từng thấy xảy ra ở các tỉnh ven biển Đặc biệt là năm 1999, tình hình thời tiết, lũ lụt ở các tỉnh Miền Trung rất phức tạp và khác thường; chỉ trong vòng hơn 1 tháng (từ 1/11 đến 6/12), ở hầu hết các tỉnh Trung Bộ và Tây Nguyên đã có 2 đợt mưa rất to và đặc biệt to gây ra 2 đợt lũ diện rộng hiếm thấy trong lịch sử, làm ngập lụt nghiêm trọng, dài ngày, thiệt hại lớn cho kinh tế, dân sinh, môi trường: hơn 700 người chết, gần 500 người bị thương, hàng vạn hộ gia đình bị mất nhà cửa, tài sản, thiệt hại ước tính lên tới gần 5000 tỷ đồng, vượt xa mức thiệt hại xảy ra năm 1996, năm lũ lụt lớn trên cả nước Tình hình mưa lũ ở Miền Trung năm 1999 là hết sức ác liệt và hiếm thấy trong 100 năm qua
Trang 9II: ẢNH HƯỞNG CỦA LŨ LỤT ĐẾN KINH TẾ
2.1 Đặc điểm của địa bàn nghiên cứu.
2.1.1 Điều kiện tự nhiên.
2.1.1.1 Điều kiện địa lý địa hình:
Đặc điểm địa lý
Xã Quảng Phước nằm dọc tỉnh lộ 4B, cuối hạ lưu sông Bồ Xã cách thành phố Huế
18 km về phía Đông Bắc Toạ độ địa lý 160 40’ 13’’ vĩ độ Bắc và 1070 21’58’’ kinh độ Đông
+ Phía Nam giáp xã Quảng Thọ
+ Phía Bắc giáp Thị trấn Sịa và phá Tam Giang
+ Phía Đông giáp xã Quảng An
+ Phía Tây giáp huyện lỵ Quảng Điền
Hình 1: Bản đồ vị trí xã Quảng Phước trong huyện Quảng Điền.
Như vậy vị trí của xã nằm gọn trong vành đai nhiệt đới bắc bán cầu và là khu vực chịu ảnh hưởng gió mùa châu Á Nằm sát phá Tam Giang, xã vừa chịu ảnh hưởng của gió mùa đông bắc vừa bị gió mùa tây nam chi phối Do vậy, đây là nơi luân phiên tác động và tranh giành ảnh hưởng của các khối không khí có nguồn gốc khác nhau theo mùa Chính
sự hội tụ của không khí lạnh từ phía bắc tràn xuống và không khí nóng ẩm từ phía nam di
Trang 10chuyển lên đã gây ra mưa lớn, dông, lốc tố trên khu vực này và hình thành những trận lũ lớn và lũ quét làm trượt lở đất, xói lở bờ sông.
Đặc điểm địa hình
Xã Quảng Phước có địa hình bằng phẳng, không có đồi núi, có thể chia ra làm 2 vùng chính:
- Vùng nằm sát phá Tam Giang gồm có 5 thôn: Mai Dương, Phước Lý, Phước Lâm,
Hà Đồ, Phước Lập Đây là vùng thấp trũng, đất đai thường xuyên bị nhiễm mặn vì vậy trong sản xuất nông nghiệp thường bị mất mùa do ngập mặn nên vùng này chủ yếu nuôi trồng thuỷ sản (chiếm 40%)
- Vùng đồng bằng phía Nam gồm 3 thôn : Thủ Lễ Nam, Thủ Lễ Đông và Khuôn Phò chạy dọc theo tuyến tỉnh lộ 4B đây là vùng trọng điểm lúa của xã
Do đặc thù là vùng ven phá nên đặc điểm sản xuất và đời sống phụ thuộc nhiều vào những thay đổi khí hậu và thuỷ văn của đầm phá
2.1.1.2 Điều kiện khí hậu – thủy văn
Quảng Phước nằm trong vùng đồng bằng ven biển miền Trung nên khí hậu, thời tiết gặp nhiều bất lợi, khí hậu trong năm được phân thành hai mùa rõ rệt Mùa khô bắt đầu từ tháng 3 đến tháng 8, mùa mưa từ tháng 9 đến tháng 2 năm sau
Về mùa khô chịu ảnh hưởng của gió mùa Tây Nam nên khô nóng
Về mùa lạnh do ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc nên mưa nhiều, trời lạnh, nhiệt độ trung bình 24,8oC
Mùa mưa bắt đầu từ tháng 9 và kết thúc vào tháng 2 năm sau chiếm 78% lượng mưa cả năm Hai tháng có lượng mưa lớn nhất là tháng 10 và tháng 11 trung bình có 20,7 đến 21,6 ngày có mưa trong tháng với lượng mưa trung bình 106,6 – 372,6mm/tháng
Mùa khô từ tháng 3 đến tháng 8, các tháng ít mưa nhất trong năm là tháng 2, 3 và tháng 4 Lượng mưa trung bình trong các tháng này 57,1 đến 62,6mm/tháng
Trang 11Lượng bốc hơi trong năm trung bình là 980mm, trong thời kỳ từ tháng 3 đến tháng
8 lượng bốc hơi hơn lượng mưa khiến cây trồng dễ bị khô hạn vào đầu vụ hè thu Ngược lại cuối vụ hè thu trở nên bấp bênh, kém ổn định do hệ thống thủy lợi chưa ổn định.Độ ẩm không khí bình quân cả năm 83%, thời kỳ độ ẩm cao từ tháng 11 đến tháng
2 năm sau (85-88%) Đây là thời kỳ có độ ẩm thuận lợi cho đất canh tác
Các hướng gió chính là gió Đông Nam, Tây Nam (gió mùa mùa hạ), gió Tây Bắc, Đông Bắc (gió mùa mùa Đông) mùa Gió mùa mùa hạ có từ tháng 5 đến tháng 9, tốc độ gió trung bình 1,3 – 1,6m/s Gió mùa mùa Đông có từ tháng 10 đến tháng 3, tốc độ trung bình 1,6-1,9m/s, khi có khí lạnh tràn về đến 17-18m/s tối đa 20m/s
Bão lụt thường xuất hiện trong mùa mưa từ tháng 9 đến tháng 10 đặc biệt hàng năm xuất hiện lũ Tiểu mãn trong khoảng tháng 5, tháng 6 Lũ không lớn nhưng gây thiệt hại đáng kể vì rơi đúng vào mùa vụ của người nông dân và nuôi trông thủy sản
• Thuỷ văn
Quảng Phước là xã có vùng đầm phá khá lớn nên các dòng sông đổ vào phá Tam Giang đều ảnh hưởng đến thủy văn của xã, trong đó xã chịu chi phối nhiều nhất bởi con sông Bồ
Sông Bồ bắt nguồn từ sườn núi phía Đông của dãy Trường Sơn có lưu vực vào khoảng 720km2 gồm hai nhánh chính: Một nhánh chảy qua Hương Toàn về ngã ba Sình nhập với sông Hương Một nhánh từ Quảng Phú qua Quảng Thọ về Quảng An và Quảng Phước ra phá Tam Giang, nhánh sông này đổ ra phá Tam Giang bằng những nhánh con không có dòng chính nên làm cho lũ lụt xảy ra trên diện rộng vào mùa lũ
2.1.2 Điều kiện kinh tế xã hội
2.1.2.1 Đặc điểm chung về kinh tế- xã hội
Toàn xã có 08 thôn: 3 thôn nằm sát huyện lỵ, 5 thôn còn lại chạy dọc theo phá Tam Giang
Cơ cấu kinh tế những năm gần đấy đã có những tiến bộ tích cực trên các lĩnh vực, phát triển theo cơ cấu : Nông nghiệp - Dịch vụ - Tiểu thủ công nghiệp
Về sản xuất nông nghiệp:
Trang 12- Trồng trọt:
Đã chú trọng đầu tư cho ngành trồng trọt, chỉ đạo gieo cấy hết lúa 2 vụ với diện tích 364,78 ha Đẩy mạnh ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp, đã đưa vào gieo cấy giống lúa chất lượng cao đạt 148ha/364.78ha đạt 40,57% diện tích đất canh tác Từng bước cơ giới hóa trong nông nghiệp, đầu tư thâm canh tăng năng xuất lúa hàng năm từ 100 tạ/ha (năm 2005) lên 125 tạ/ha (năm 2010) Tổng sản lượng lương thực có hạt bình quân hàng năm đạt 4.433 tấn Thực hiện tốt chủ trương
"Dồn điền đổi thửa " từng bước cơ giới hóa nông nghiệp bao gồm các khâu sản xuất và thu hoạch, đặc biệt là chỉ đạo thực hiện tốt khung lịch thời vụ, chủ động khâu làm đất, thủy lợi, đảm bảo tưới tiêu phục vụ sản xuất Tích cực chuyển đổi cơ cấu cây trồng, đầu
tư kiến thiết hạ tầng đáp ứng nhu cầu sản xuất nhằm không ngừng tăng năng suất và một số sản phẩm hàng hóa có giá trị kinh tế cao
- Chăn nuôi:
Chăn nuôi có bước phát triển khá mạnh, bình quân hàng năm tổng đàn gia súc gia cầm đạt trên 2.566 con (trong đó lợn 2016 con nạc hóa 50%, trâu 100, bò 50, gia gia cầm 12.200 con) tuy tình hình dịch bệnh tai xanh năm 2008 đã làm giảm tổng đàn và thiệt hại kinh tế rất lớn đối với nhân dân, nhưng với sự quyết tâm, khắc phục khó khăn sớm để khôi phục lại tổng đàn sau dịch bệnh kịp thời
Thường xuyên chỉ đạo tốt công tác tiêm phòng cho đàn gia súc, gia cầm theo định
kỳ hàng tháng, quý, hạn chế tình hình dịch xảy ra trên địa bàn
Về tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ:
Phát huy hiệu quả các ngành nghề truyền thống hiện có như thợ mộc, thợ nề, ấp trứng, nghề thêu ren, chằm nón, mua bán vật liệu xây dựng, cung cấp thức ăn gia súc, gia cầm, dịch vụ xay xát, dịch vụ máy cày, máy gặt đập liên hợp Đồng thời mở ra các ngành nghề kinh doanh, dịch vụ mới như photocoppy, các quán ăn nhỏ lẻ, văn phòng phẩm đã tạo sự chuyển biến tích cực trong phát triển tiểu thủ công nghiệp nhằm đem lại thu nhân cho người dân
Nhìn chung, phần lớn các dịch vụ chỉ là buôn bán nhỏ lẻ như: Kinh doanh bãi cát sạn, buôn bán hàng tạp hóa, các dịch vụ phục vụ chăn nuôi và sản xuất nông nghiệp, do
Trang 13những yếu tố khách quan làm ảnh hưởng tâm lý của người dân nên nhân dân chưa dám mạnh dạn đầu tư phát triển các dịch vụ, mặc dù địa phương rất quan tâm tạo điều kiện.
Giáo dục
Sự nghiệp giáo dục thường xuyên được quan tâm chăm lo và tiếp tục chuyển biến
cả về số lượng lẫn chất lượng ở cả bậc mầm non và bậc phổ thông, tỷ lệ học sinh khá giỏi tăng rõ rệt so với năm trước
Y tế - dân số- kế hoạch
- Y tế: thực hiện tốt các chương trình y tế cộng dồng , chăm sóc sức khoẻ cho nhân
dân , năng lực cán bộ y tế được nâng cao , chất lượng khám chữa bệnh có chuyển biến tích cực
- Dân số - Kế hoạch hóa giai đình: chương trình quốc gia về dân số có nhiều chuyển biến tích cực
Thực hiện được nhiều chương trình như “cụm dân cư không sinh con thứ 3”, khám cho bà mẹ và trẻ em…
Văn hoá thông tin - thể dục thể thao
Xã Quảng Phước có truyền thống văn hóa lịch sử lâu đời, được nhân dân lưu truyền gìn giữ và không ngừng phát huy Có hệ thống kiến trúc cổ như: Nhà thờ họ, nhánh, đình làng điển hình là đình làng Thủ Lễ, Miếu thờ Huyền Trân công chúa được
Bộ văn hóa thông tin công nhận di tích văn hóa lịch sử
Là vùng đất nằm cuối hạ lưu sông Bồ, có lợi thế về đi lại giao lưu buôn bán giữa các vùng lân cận bằng đường thủy Điều kiện phát triển các môn thể thao truyền thống như: Đua thuyền, võ, vật, kéo co Các làn điệu dân ca như: Hò ba trạo, hò giã gạo, múa bông…Những món ăn đậm tính dân gian như: Trứng vị lộn, bánh ước thịt heo, bánh bèo, bánh ít Đây là nét đặc trưng trong văn hóa ẩm thực của vùng đất Quảng Phước
Trang 142.1.2.2 Dân số, lao động và mức sống của dân cư
( Nguồn: Tại UBND xã Quảng Phước)
Tính đến năm 2012 dân số của xã Quảng Phước là 8.242 người, tỷ lệ tăng dân số tự nhiên năm 2012 là 1,1%, tăng cơ học là không đáng kể Tình hình biến động dân số 5 năm qua hầu như chỉ có tăng tự nhiên, tăng cơ học không có là do dân đi nơi khác làm ăn hầu hết là dân trong độ tuổi lao động, ngành nghề chủ yếu là làm nông
Lao động và việc làm:
Về lao động trong độ tuổi của xã rất lớn và tương đối trẻ, có trình độ Hiện có 5.858 lao động trong độ tuổi, chiếm 70,95% dân số của xã, trong đó khoảng 2.800 đã qua đào tạo Tỷ lệ lao động trong lĩnh vực nông nghiệp ngày càng có xu hướng giảm so với trước, cụ thể là: Nông nghiệp 6.081 lao động chiếm 75% Tiểu thủ công nghiệp có
819 lao động chiếm 10% Dịch vụ có 1.228 lao động chiếm 15%
Cơ cấu lao động theo kiến thức phổ thông: Tiểu học 45%, THCS 35%, THPT 20%
Tỷ lệ lao động được đào tạo chuyện môn:
- Sơ cấp 30%
- Trung cấp chuyên nghiệp: 25%
- Cao đẳng: 10%
- Đại học là 5 %
Trang 15Hiện phần lớn lao động trẻ đã chuyển sang làm việc trong môi trường khác như: Công nhân các nhà máy, khu công nghiệp, thợ và một bộ phận chuyển sang lĩnh vực kinh doanh các dịch vụ khác.
Mức sống của dân cư:
Bình quân thu nhập đầu người: 19,533 trđ/ người/năm
2.1.2.3 Tình hình sử dụng đất của xã Quảng Phước
Tổng diện tích tự nhiên có đến ngày 01 tháng 01 năm 2013: 1.267,77 ha
Hình 2: Bản đồ hiện trạng sử dụng đất xã Quảng Phước
( Nguồn: UBDN Xã Quảng Phước )
Trang 16Qua những số liệu trên ta thấy: Diện tích đất nông nghiệp chiếm 54,23 %, hơn nửa diện tích đất tự nhiên Cho thấy Quảng Phước vẫn là một xã thiên về sản xuất nông nghiệp Do vậy chính quyền của xã cần nắm rõ được những lợi thế và hạn chế của xã,
để có thể khai thác được những thế mạnh trong công tác quy hoạch và có những biện pháp thích hợp nhằm khắc phục những hạn chế để xây dựng một nền nông nghiệp toàn diện cho xã với cơ cấu nông- lâm- ngư- nghiệp, công nghiệp và dịch vụ, làm tiền đề cho việc phát triển theo hướng công nghiệp hoá hện đại hoá
2.1.2.4 Cơ sở hạ tầng kinh tế- xã hội
Hướng tiêu chính: Tiêu động lực ra phá Tam Giang
Tổng chiều dài hệ thống kênh mương, thủy lợi là 30 km do 3 hợp tác xã quản lý và xây dựng, trong đó số được đầu tư xây dựng kiên cố từ nguồn vốn hỗ trợ của nhà nước
và nhân dân đóng góp là 16,6 km còn lại 13,4 km cần được kiên cố hoá
Nhìn chung, nhờ có lợi thế của sông Bồ nên xã đảm bảo, chủ động nhu cầu về tưới tiêu, phục vụ sản xuất
Trang 17 Giao thông
Hệ thống đường giao thông của xã (đường trục chính
tỉnh lộ 4B xã, liên xã, đường trục thôn, liên
thôn, ngõ xóm và đường trục chính nội đồng)
Tổng chiều dài đường giao thông trong toàn xã là:
Số km đường liên xã được bê tông, nhựa hoá ( Theo
tiêu chuẩn của Bộ GTVT) với tổng chiều dài 7
km Đường thôn xóm có xe cơ giới đi lại thuận
tiện 8 km, chiếm 31,13% Đường ngõ xóm
sạch, không lầy lội vào mùa mưa: 8 km chiếm
31.13% tổng chiều dài Đường trục chính nội
đồng đã được kiên cố hoá là 3.0 km, chiếm
Đông Phước: 10/0,4 KV - 320KVA
Bơm Đông Phước: 10/0,4 KV - 100KVA
Trang 18Xã Quảng Phước hiện chỉ có đường ống cấp nước chạy dài trên trục đường tỉnh lộ
4, ống cấp nước được sử dụng là HPDE D110, hiện xã chưa có hệ thống cấp nước sạch tập trung, 2 loại hình cấp nước là nước giếng khoan, giếng đào do dân tự xây dựng vẫn được các nơi trong xã dùng
Nguồn nước giếng khoan, đào sử dụng cho sản xuất chăn nuôi, vệ sinh chuồng trại, và cả cho nhu cầu ăn uống, sinh hoạt Chất lượng nước ngầm không đảm bảo tiêu chuẩn vệ sinh
Giáo dục đào tạo:
+ Trường mầm non: Hiện xã có 03 cụm Mầm non
bán trú tập trung với 12 phòng học, trong đó xây mới 6
phòng, bàn ghế: 106 bộ lớp mẫu giáo, 3 bộ nhóm trẻ 18
ghế, 04 máy vi tính
Các trường đều chưa đạt chuẩn quốc gia Diện tích
bình quân khoảng hơn 12m2/em
+ Trường tiểu học số 1: Được xây dựng kiên cố 13
phòng, tầng hoá và có 13 phòng đạt chuẩn, 01 phòng tin
học với 21 máy tính đạt chuẩn các phòng đoàn đội,
phòng thiết bị giáo dục, hệ thống đường nội bộ, hệ thống
thoát nước, nhà vệ sinh, nhà rửa, nước uống cho học
sinh đảm bảo tốt, diện tích khuôn viên sân chơi 1.019m2,
đã san lấp mặt bằng 7500m2, còn 2.500m2 chưa san lấp
Bàn ghế, hệ thống điện chiếu sáng, quạt điện, nước
Trang 19sạch, các cơ sở vật chất khác được trang bị đảm bảo quy
cách theo yêu cầu dạy và học của giáo viên và học sinh
do Bộ Giáo dục quy định, diện tích trên 10 m2/học sinh
Hiện xã đang chỉ đạo, đầu tư xây dựng Trường Tiểu học
số 1 đạt chuẩn quốc gia
Cần đầu tư xây dựng thêm phòng y tế học đường,
phòng giáo viên, phòng dạy ngoại ngữ, phòng đa năng-
giáo dục thể chất và phòng trực
+ Trường tiểu học số 2: Được xây dựng kiên cố và
tầng hóa 10 phòng phòng đạt chuẩn, trong đó có 01
phòng tin học với 15 máy tính, diện tích khuôn viên sân
chơi 7000m2, cần mở rộng thêm khuôn viên trường tại
cơ sở thôn phước Lý
Bàn ghế, hệ thống điện chiếu sáng, quạt điện, nước
sạch, các cơ sở vật chất khác được trang bị đảm bảo quy
cách theo yêu cầu dạy và học của giáo viên và học sinh
do Bộ Giáo dục quy định, diện tích trên 10 m2/học sinh
Cần đầu tư xây dựng thêm phòng 05 phòng, bao
gồm phòng hiệu bộ, phòng y tế học đường, phòng giáo
viên, phòng dạy ngoại ngữ, phòng đa năng- giáo dục thể
chất và phòng trực, trang bị thêm 10 máy tính phục vụ
cho dạy và học
+ Trường THCS: Trường THCS được xây dựng
kiên cố, 02 dãy nhà hai tầng: bao gồm 21 phòng, trong
đó có 9 phòng chức năng 12 phòng học, cần đầu tư xây
dựng thêm 03 phòng bao gồm phòng đa chức năng,
phòng bộ môn Tổng diện tích của trường THCS 02 ha,
đảm bảo bình quân 01 em hơn 20m2, có sân chơi và
đang trồng hệ thống cây xanh, đảm bảo môi trường sạch
đẹp Hiện trường THCS đang đầu tư xây dựng hạ tầng
Trang 20cơ sở để xây dựng trường đạt chuẩn quốc gia.
2.2 Đánh giá tình hình lũ lụt tại xã Quảng Phước
Lũ ở đây có ảnh hưởng hai mặt rõ rệt đến kinh tế - xã hội và môi trường
- Mùa lũ về gây thiệt hại lớn về người và của: phá hủy các công trình, nhà ở, giao thông công cộng Lũ là trở ngại lớn nhất trong việc khai thác tiềm năng đất đai, giảm thời gian sử dụng đất quay vòng trong họat động nông nghiệp, giảm năng suất Đồng thời lũ cũng ảnh hưởng đến phát triển nông thôn, đô thị hóa và các họat động kinh tế xã hội khác
- Tuy nhiên lũ cũng mang lại các lợi ích khác như nước lũ mang theo phù sa, ấu trùng, tôm cá, góp phần cải tạo môi trường đất và nước đối với khu vực chua phèn, tăng
độ phì cho đất Như vậy, bên cạnh tác động không có lợi thì lũ còn có những tác động
có lợi cần được vận dụng và khai thác triệt để các mặt lợi của nó Vì thế, cần phải hiểu biết rõ ràng về lũ cũng như diễn biến về lũ như thế nào
2.2.1 Tác động tích cực
2.2.1.1 Ảnh hưởng về mặt kinh tế
Huyện Quảng Điền nói chung, Xã Quảng Phước nói riêng là xã thuần nông, cơ cấu ngành kinh tế chủ yếu là nông nghiệp Nông nghiệp bao gồm: trồng trọt, chăn nuôi và thủy sản Định hướng cơ cấu kinh tế của xã là: “Dịch vụ - Nông nghiệp – Tiểu thủ công nghiệp” nhưng nông nghiệp vẫn đang giữ vai trò chủ đạo
Tổng giá trị sản xuất năm 2012 đạt 118,757 tỷ đồng, trong đó:
- Nông nghiệp : 48,843 tỷ đồng ( chiếm 41,13%)
- Tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ : 69,914 tỷ đồng (chiếm 58,87%)
Lũ lụt làm tăng lượng phù sa, làm tăng thêm độ màu mỡ của đất, có tác dụng tích cực trong việc cải thiện môi trường đất và nước thời gian ngập lũ kéo dài, mực nước càng cao, độ đục trong nước càng lớn sẽ làm tăng độ màu mỡ của đất như tăng lượng mùn, hàm lượng kali, các khoáng chất vi lượng,
Lũ lụt hằng năm là một trong những thành phần thiết yếu trong cuộc sống con người, lũ lụt giúp làm sạch môi trường, mang phù sa cho đất nông nghiệp và tiêu diệt côn trùng Ngoài ra, còn làm mới cho môi trường nuôi trồng thủy sản, làm sạch môi
Trang 21trường, thông thoáng hơn, tôm cá ít dịch bệnh, tăng cường nguồn dinh dưỡng cho cây trồng.
Lũ lụt giúp làm sạch môi trường, mang phù sa cho đất nông nghiệp và tiêu diệt côn trùng Ngoài ra, còn làm mới cho môi trường nuôi trồng thủy sản, làm sạch môi trường, thông thoáng hơn, tôm cá ít dịch bệnh, tăng cường nguồn dinh dưỡng cho cây trồng
Lũ lụt làm tăng GDP trong ngắn hạn:
• Lượng lúa được cất trữ lại trước khi lũ lụt xảy ra sẽ bán dc giá cao hơn sau lũ
• Sau khi lũ lụt xảy ra sẽ gây thiệt hại rất lớn về nhà cửa vật chất, một số cơ sở hạ tầng khác, điều này làm GDP của ngành xây dựng và một số ngành khác tăng lên trong ngắn hạn
2.2.1.2 Ảnh hưởng về mặt xã hội
Tích luỹ kinh nghiệm cho bà con nông dân: Sau mỗi trận lũ xảy ra hằng năm cũng giúp cho bà con nông dân tích lũy dần được nhiều kinh nghiệm trong hoạt động sản xuất, trồng trọt và đời sống sinh hoạt Từ đó có những biện pháp phòng và tránh lũ lụt kịp thời, hạn chế mất mát và thiệt hại
Mặt khác cũng nhờ lũ lụt mà tinh thần cộng đồng được nâng cao, tạo nên sự gắn kết giữa con người, các thành viên trong xã hội ví dụ như các công tác phòng chống, cứu trợ, tinh thần khuyên góp tương thân tương ái của người dân cả nước đến những người phải gánh chịu hậu quả do lũ lụt gây ra,…
- Tinh thần tương thân, tương ái, đoàn kết, đùm bọc lẫn nhau trong hoạn nạn khó khăn của những người dân địa phương được thể hiện rõ nét trong những lũ lụt bằng những việc đơn giản: chia sẻ thức ăn, đồ uống, viên thuốc, giúp đỡ nhau mỗi khi có người gặp khó khăn, hoạn nạn
- Sau lũ lụt thì các nghi thức như xuống đồng, vào mùa vụ mới,…vẫn được người dân thực hiện trong cuộc sống
2.2.2 Tác động tiêu cực.
2.2.2.1 Ảnh hưởng về mặt kinh tế
Lũ lụt hằng năm gây thiệt hại rất lớn về người và tài sản, làm thiệt hại đến nhà cửa, cơ sở hạ tầng và tổn thất mùa vụ của người nông dân
Trang 22Thiệt hại do lũ lụt trong năm 2012:
Về nhà cửa: Toàn xã có 100 nhà ngập từ 0.5m trở lên, ước tính thiệt hại khoảng
200 triệu đồng
Về sản xuất nông nghiệp: Diện tích lúa chín chưa thu hoạch bị ngập úng 94ha loại giống lúa TH5, và diện tích lúa thu hoạch không phơi được bị ướt 30 ha
Về hệ thống giao thông nông thôn và giao thông thuỷ lợi nội đồng:
• Giao thông liên thôn: tuyến đường liên xã Quảng Phước – Quảng An bị sạt lở 2 bên đường với chiều dài 760m, với khối lượng ước tính khoảng 830m3
• Sạt lở giao thông nông thôn toàn xã 2000m3
• Đê điều bờ vũng bị sạt lở 85m, với khối lượng bị sạt lở 850m3; Đê bao: 870m với khối lượng 9750m3; Bồi lấp đê mương bị sụt lún 1050m3; Giao thông nội đồng bị sạt lở 100m với khối lượng 70m3 và diện tích đất nông nghiệp bị lấp 31ha
Về nuôi trồng thuỷ sản: Ước tính khoảng 550 triệu đồng, chủ yếu là đê điều, sáo mùng, trại hồ và một số tôm, cá, cua…
2.2.2.2 Ảnh hưởng về mặt xã hội
Không chỉ về mặt kinh tế mà lũ lụt còn đêm lại nhiều hậu quả nặng nề cho xã hội:
- Lũ lụt làm thiệt hại nhà cửa, ruộng vườn, làm cho cuộc sống của người dân sa sút, nhiều người mất niềm tin vào công việc đống áng, làm chán nản, nhụt chí của một
bộ phận người dân, điều này có thể dẫn đến những suy nghĩ tiêu cực và đẩy người dân vào các tệ nạn xã hội và con đường làm ăn sai trái
- Nhiều trường học, trang thiết bị giáo dục bị hư hỏng làm cho nhiều học sinh phải nghỉ học
- Lũ gây thiệt hại đường xá, cầu cống
- Đặc biệt lũ kéo dài gây ra nhiều bệnh tật cho con người như: sốt xuất huyết, tiêu chảy, bệnh đường hô hấp và các bệnh ngoài da…
- Số người mất việc làm trong nhóm hộ sản xuất nông nghiệp là nhiều nhất vì sinh
kế của hộ gia đình chủ yếu là trồng trọt và chăn nuôi nên việc làm của người dân dễ bị ảnh hưởng khi có thiên tai, lũ lụt xãy ra
- Lũ lụt đi qua để lại một lớp đất phủ trên bề mặt đường, ảnh hưởng đến việc đi lại, làm việc và sinh hoạt hàng ngày của người dân làm trì hoãn công việc mất ngày công làm việc