1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Nội dung bài học TMHHDV

22 155 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 68,17 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tự do hóa thương mại là sự nới lỏng can thiệp của nhà nước hay chính phủ vào lĩnh vực trao đổi, buôn bán quốc tế. Còn biện pháp áp dụng phòng vệ thương mại là các biện pháp chống bán phá giá, chống trợ cấp và tự vệ được áp dụng để bảo vệ thị trường nội địa trước sự thâm nhập của hàng hóa nước khác. Như vậy hai khái niệm này có nội hàm và phạm trù riêng biệt nên việc việc ký kết nhiều thỏa thuận tự do hóa thương mại sẽ không đương nhiên làm giảm thiểu các biện pháp áp dụng phòng vệ thương mại. Còn biện pháp áp dụng phòng vệ thương mại là các biện pháp chống bán phá giá, chống trợ cấp và tự vệ được áp dụng để bảo vệ thị trường nội địa trước sự thâm nhập của hàng hóa nước khác. Như vậy hai khái niệm này có nội hàm và phạm trù riêng biệt nên việc việc ký kết nhiều thỏa thuận tự do hóa thương mại sẽ không đương nhiên làm giảm thiểu các biện pháp áp dụng phòng vệ thương mại.

Trang 1

LUẬT THƯƠNG MẠI, HÀNG HOÁ VÀ DỊCH VỤ

M c l c ụ ụ

Bài 1: Giới thiệu

Đối với DNTN: DNTN tuy không có tư cách pháp nhân, cũng không có tài sản độc lập nhưng nó lại được thành lập một cách hợp pháp, có Quyền và NV nhất định.

• Tự chịu trách nhiệm bằng tài sản, ở mức thương nhân thì chỉ được hiểu là khi chủ thể đó là chủ sở hữu DNTN không phải là CSH Chủ DNTN chỉ tự chịu khi mà sổ kế toán của DNTN không đủ tài sản để thanh toán nghĩa vụ

• Do đó nó là một chủ thể kinh doanh: Tức là chủ thể tiến hành hoạt động kinh doanh và có nghĩa vụ đăng ký kinh doanh

Đối với khoản 1 Điều 6 LTM 2005: Cần hiểu cụm từ "cá nhân" ở đây là như thế nào? Cần phải hiểu là các cá nhân phải làm các thủ tục nhất định để đăng ký thành lập một thương nhân khác, tức là các chủ thể kinh doanh Hiện thì cá nhân có thể thành lập Cty TNHH 1 TV, DNTN, HKD, Nhưng chính các Cty, DNTN, HKD đó mới là thương nhân, chứ không phải là chính người chủ đó Cá nhân đó chỉ là chủ sở hữu Đối với chi nhánh và VPDĐ: VPDĐ không được thực hiện khuyến mại, chỉ được thực hiện trưng bày sản phẩm của thương nhân mà mình là đại diện.

I Thương nhân

1 Khái niệm và phân loại

- Các chủ thể là thương nhân (cơ bản, thường xuyên): Doanh nghiệp, HGĐ, HTX và

liên hiệp HTX (Tổ chức kinh tế)

Chủ thể không thường xuyên của Luật thương mại là cơ quan quản lý nhà nước về

kinh tế: Đó là cơ quan thay mặt nhà nước, nhân danh nhà nước thực hiện tổ chức quản

Trang 2

lý, chỉ đạo các thương nhân tiến hành hoạt động kinh doanh thương mại như: Chínhphủ, các bộ, cơ quan ngang bộ, UBND, các sở, phòng, ban…

2 Thương nhân nước ngoài hoạt động tại Việt Nam

Khoản 1 Điều 16 LTM 2005: Hiện diện thương mại tại VN, không có hiện diệnthương mại tại VN (Nghị định 90)

DNCVĐTNN là thương nhân VN (K4 Đ16), còn Nhà đầu tư nước ngoài mới làthương nhân nước ngoài

Tuy nhiên, khi 2 DNCVĐTNN ký hợp đồng với nhau, mặc dù HĐ này vẫn đc xácđịnh là HĐ mua bán hàng hóa quốc tế, nhưng không có yếu tố NN vì 2 DN này làthương nhân VN, thực hiện hoạt động thương mại trên VN, đối tượng hàng hóatrên VN  không cho phép chọn luật

3 Phạm vi áp dụng của LTM 2005 và các nguyên tắc cơ bản

- Luật thương mại có phạm vi điều chỉnh là:

• Các hoạt động của thương nhân như: đầu tư, mua bán hàng hoá, cung ứng dịch

vụ đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động khác nhằm mục đích sinh lợi

• Các hoạt động mang tính tổ chức của cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhưngliên quan trực tiếp đến hoạt động thương mại như: Đăng ký kinh doanh, kiểmtra, giám sát hoạt động kinh doanh, thương mại; giải thể và phá sản doanhnghiệp

Trong một số bản án, quyết định, cơ quan giải quyết tranh chấp đã giải quyết tư cách đương

sự trong TT như sau:

1 Bị đơn: công ty A-chi nhánh của tổng công ty Y- CTTNHH 1 TV

2 Nguyên đơn: DN tư nhân D

3 Nguyên đơn: DNTN P, do bà H, chủ DN làm đại diện

4 Bị đơn: ông M, chủ DNTN M

5 Bị đơn: cơ sở T (biết rằng cơ sở T là HKD)

6 Bị đơn: Đại lý thức ăn tôm T, do bà T làm đại diện (Đại lý thức ăn tôm T là HKD)

7 Bị đơn: của hàng âm thanh ánh sáng nhạc cụ HQ, biết rằng đây là HKD

8 Bị đơn: bà P, chủ cửa hàng HQ (biết rằng theo GCN HKD, thì HKD là cơ sở HQ)

9 Bị đơn: bà T là chủ hộ KD T

Câu hỏi:

Việc xác định tư cách đương sự trong TT như trên của các CQ giải quyết tranh chấp có phùhợp với qui định của PL không?

Phân biệt tư cách chủ thể HĐ và tư cách đương sự trong TT Ý nghĩa của việc xác định đúng

tư cách chủ thể HĐ và tư cách đương sự trong TT

Trang 3

Tình huống 1:

Công ty A giao kết với công ty B làm một dây chuyền sản xuất cà phê Công ty B với trình

độ của mình thực hiện xong đơn hàng một cách nhanh chóng

Trong HĐ có nói là phía công ty A sẽ thanh toán một phần tiền, phần còn lại sẽ thanh toánsau khi đã hết hạn bảo hành là 5 năm

Tuy nhiên, sử dụng được 1 năm, công ty A thấy rằng đối thủ có dây chuyền sản xuất chấthơn, năng suất gấp rưỡi mà giá thành như nhau Công ty A ko thể huỷ HĐ và cũng ko thể bándây chuyền sản xuất

Thế là phía công ty A yêu cầu tuyên HĐ với công ty B vô hiệu do công ty B chỉ đc đăng kýngành nghề là cơ khí, không có ngành nghề chế tạo dây chuyền sản xuất cà phê Tức là HĐ

vô hiệu do chủ thể không thực hiện đúng ngành nghề đăng ký kinh doanh

Vậy hướng giải quyết ra sao?

Nội dung vụ việc xoay quanh về vấn đề tự do trong kinh doanh, 1 nguyên tắc cơ bản trongTM

Học thuyết ultra vires (vượt quá thẩm quyền) được áp dụng phổ biến trong luật công ty vớinghĩa là hành vi vượt quá phạm vi hoạt động kinh doanh của công ty mà đã được nêu trongvăn kiện thành lập công ty (và đã được đăng ký với cơ quan đăng ký công ty) Trong các đạoluật thành lập công ty có các quy định hạn chế phạm vi hoạt động của công ty Việc vi phạmcác quy định hạn chế này được coi là hành vi ultra vires và giao dịch vì vậy sẽ vô hiệu

Ưu điểm:

- Với mục đích là nhằm để bảo vệ chủ nợ và cổ đông tương lai Bằng cách này, một chủ nợhoặc một cổ đông tương lai có thể tham chiếu đến điều khoản về phạm vi hoạt động củacông ty tại thỏa thuận thành lập/điều lệ công ty để biết phạm vi hoạt động của công ty vàquyết định có cho nợ hoặc đầu tư vào công ty hay không

- Nếu công ty có hành vi vượt quá phạm vi hoạt động đã quy định thì chủ nợ hoặc cổ đông

có quyền yêu cầu tòa án ra lệnh cho công ty chấm dứt hành vi vượt quá thẩm quyền hoặcyêu cầu giải thể công ty

- Đối với giao dịch vượt quá thẩm quyền đã giao kết với bên thứ ba, cổ đông hoặc chủ nợ

có quyền yêu cầu tòa án tuyên vô hiệu giao dịch với bên thứ ba

Nhược điểm:

- Hạn chế quyền tự do kinh doanh của doanh nghiệp Những người điều hành doanh

nghiệp một mặt luôn phải xác định xem hành vi của mình đang thực hiện nhân danhdoanh nghiệp có nằm trong phạm vi hoạt động của doanh nghiệp hay không Nếu

Trang 4

không, dù đó là cơ hội kinh doanh có lợi nhuận cao cũng không được quyền giao dịchmặc dù công ty hoàn toàn có khả năng thực hiện

 Các cổ đông có thể sửa đổi thỏa thuận thành lập và điều lệ tương ứng nhưng quytrình sửa đổi thì lâu mà cơ hội kinh doanh có thể đã bị mất

- Đối với các bên giao dịch với doanh nghiệp, trước khi giao dịch cũng phải tìm hiểu

xem doanh nghiệp có thẩm quyền giao kết trong một lĩnh vực nào đó không Tuynhiên, quan trọng hơn là một bên ác ý luôn có thể lạm dụng học thuyết để yêu cầu vôhiệu hợp đồng, khiến học thuyết trở thành một cái bẫy cho những bên ngay tình

Khoản 1 Điều 39, Đạo luật về Công ty 2006 Anh quốc quy định: “Tính có hiệu lực của một hành vi của công ty không bị ảnh hưởng bởi lý do rằng công ty không có thẩm quyền thực hiện hành vi đó như được quy định tại thỏa thuận thành lập công ty”.

“The validity of an act done by a company shall not be called into question on the ground of lack of capacity by reason of anything in the company's constitution”.

Thừa nhận tính có hiệu lực của giao dịch với bên thứ ba, các nhà lập pháp Anh vẫn cho phéphọc thuyết có giá trị ràng buộc trong nội bộ công ty Giả sử các cổ đông trong Thỏa thuậnthành lập vẫn quy định về phạm vi hoạt động của công ty mà người đại diện cho công ty lạihành động vượt quá phạm vi này, gây thiệt hại cho công ty hay chủ nợ thì người đại diện sẽchịu trách nhiệm trực tiếp với cổ đông hoặc chủ nợ công ty

Tóm lại, học thuyết không có giá trị ràng buộc đối với bên thứ ba Hợp đồng, giao dịch vớibên thứ ba vượt quá phạm vi hoạt động kinh doanh vẫn có hiệu lực Tuy nhiên, học thuyết lại

có giá trị ràng buộc trong nội bộ công ty

***

Giả sử nếu một công ty chưa thỏa mãn điều kiện kinh doanh do pháp luật yêu cầu, ví dụ chưa

có chứng chỉ hành nghề, giấy phép kinh doanh hay vốn pháp định, nhưng lại giao dịch vớimột bên thứ ba thì giao dịch có vô hiệu hay không?

Về vấn đề này, nguyên tắc chung là thẩm phán sẽ phải xác định xem yêu cầu về điều kiệnkinh doanh là quy định cấm (quy định bắt buộc) của pháp luật hay chỉ là quy định mang tínhquản lý hành chính Nếu quy định về điều kiện kinh doanh là quy định cấm (bắt buộc) củapháp luật – yêu cầu được đặt ra để bảo vệ lợi ích công cộng (ví dụ sức khỏe cộng đồng, anninh quốc gia…), bên liên quan nhất thiết phải thỏa mãn điều kiện kinh doanh mới được giaodịch, thì hậu quả giao dịch sẽ vô hiệu tuyệt đối Nếu là quy định mang tính quản lý – yêu cầumang tính quản lý hành chính nhà nước mà không phải để bảo vệ lợi ích công cộng, thì giaodịch không nhất thiết bị vô hiệu mà hậu quả chỉ là phạt vi phạm hành chính đối với các bên

vi phạm

Theo Khoản 1 Điều 12 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2015, Điều 9 LuậtBHVBQPPL 1996, văn bản pháp luật chỉ được sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ hoặc bãi bỏ

Trang 5

bằng văn bản pháp luật của chính cơ quan Nhà nước đã ban hành văn bản đó hoặc bị đình chỉviệc thi hành, hủy bỏ hoặc bãi bỏ bằng văn bản của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.

Luật này cũng quy định các trường hợp văn bản pháp luật hết hiệu lực gồm:

(1) Hết thời hạn có hiệu lực đã được quy định trong văn bản;

=> Không có

(2) Được sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế bằng văn bản mới của chính cơ quan Nhà nước đãban hành văn bản đó;

(3) Bị hủy bỏ hoặc bãi bỏ bằng một văn bản của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền

Chưa có văn bản nào thay thế, bổ sung, bãi bỏ Nghị quyết 04 nên theo Luật Ban hành vănbản quy phạm pháp luật, Nghị quyết 04 vẫn còn hiệu lực

Tình huống 2:

Thương nhân A và B ký 1 HĐ mua bán hàng hóa: mật rỉ đường Các bên có thỏa thuận rấtnhiều, một trong số đó là chất lượng của hàng hóa (có nhiều tiêu chí xác định chất lượng,trong đó có 2 yếu tố cần quan tâm là hàm lượng đường và độ đông đặc) Thỏa thuận tiếp theo

là giao tại bên bán A hỗ trợ trong việc Tuy nhiên việc bảo quản mật rỉ đường rất nghiêmngặt và khó khăn Ngay khi hàng xuất khỏi kho, có một thỏa thuận: A tạo điều kiện cho B để

B kiểm tra, nhưng A chỉ xuất kho khi B đồng ý (như là ký phiếu xuất kho) và khi hàng rakhỏi kho thì A không chịu trách nhiệm rủi ro nữa Bên B chỉ kiếm tra ngoại quan

Sau đó B bán cho C với giá cao hơn Khi hàng giao đến kho của C, không có yếu tố lưu kho

và không có suy giảm chất lượng C kiểm tra lại bằng giám định thì phát hiện thấy 2 tiêu chítrên thấp hơn so với thỏa thuận trong hợp đồng Bên C từ chối nhận hàng và thực hiện cácchế tài khác

B sau khi chịu trách nhiệm với C, yêu cầu A hoàn lại tiền vì cho rằng hàng bị suy giảm chấtlượng không do lỗi của B, A phải chịu trách nhiệm hoàn toàn Phía A không phủ nhận giảmchất lượng, nhưng họ cho rằng vì có thỏa thuận loại trừ trách nhiệm giữa 2 bên phát sinh hiệulực A cũng tạo mọi điều kiện để cho B kiểm tra

Câu hỏi: Trách nhiệm về sự không phù hợp của hàng hóa thuộc về bên nào?

Cần lưu ý: Đây không phải là rủi ro trong MBHH, mà sự suy giảm chất lượng hàng hóa là

do vi phạm hợp đồng

Kể cả bên A có biết hàng suy giảm chất lượng, nhưng chỉ khi những sự suy giảm này an nguyđến tính mạng, sức khỏe của người khác thì phải thông báo ngay Còn nếu không thì phía Acũng không có nghĩa vụ phải thông báo Ngoài ra, đây cũng chưa phải là thông tin thay đổitrong giao kết hợp đồng theo Điều 387 BLDS 2015

Trang 6

Bên cạnh đó, nếu sử dụng Điều 44 mang tính chất Quy phạm bắt buộc thì hiểu bắt buộc A và

B ỏ đây là về cái gì?

- Nếu theo Luật 1997, bên bán là bên gánh nặng nhất, phải chịu trách nhiệm đến cùng

đối với hàng hóa mình được giao, kiểm tra hàng hóa thuộc về bên bán

- Đến Luật 2005, kiểm tra hàng thuộc về thỏa thuận giữa các bên Bên mua giờ là bên

kiểm tra, bên bán tạo điều kiện để kiểm tra Có 2 trường hợp đó là khoản 4 và 5 Điều

44

- Các biện pháp thông thường tức là các biện pháp kiểm tra nếu áp dụng sẽ có thể

không biết được các khiếm khuyết tiềm ẩn

Luật mới đã san sẻ trách nhiệm cho cả bên bán lẫn bên mua Song dù thế nào, việc phân địnhtrách nhiệm là theo Luật, chứ các bên không được thoả thuận khác 2 khoản 3 và 4 được quyđịnh bắt buộc Do đó nếu như thỏa thuận loại trừ giữa A và B không tương thích với khoản 4

và 5 thì thỏa thuận không được áp dụng

Cần lưu ý thêm: Chỉ khi có thỏa thuận kiểm tra theo K1 Đ44 (và A – B có thỏa thuận), thìmới có phân định trách nhiệm theo khoản 4 và 5 Còn nếu không có thì theo Điều 40, vốn làmột điều khoản tùy nghi (Lúc này thỏa thuận giữa A và B có hiệu lực và bên B chịu)

Do đó, sau này khi tư vấn, cần lưu ý rằng: tùy vào khách hàng muốn gì, mà khoan tư vấnphải có điều khoản thỏa thuận kiểm tra hàng hóa Lúc này phải theo Điều 40 Còn nếu kháchmuốn có kiểm tra thì tư vấn phải có thỏa thuận

Bài 2: Hoạt động mua bán hàng hoá

I Mua bán hàng hoá trực tiếp:

II Hợp đồng MBHH:

1 Chủ thể:

+ Giữa các thương nhân

+ Thương nhân và 1 bên không thương nhân, chọn LTM giải quyết (Điều 1.3 LTM2005)

* Nếu hợp đồng chỉ chọn áp dụng pháp luật Việt Nam giải quyết thì không đượcxem là chọn LTM

o Nghị định 59/2006/NĐ-CP, Nghị định 43/2009/NĐ-CP về HH cấm KD,hạn chế KD và KD có điều kiện

Trang 7

3 Nội dung của hợp đồng:

- Cần bảo đảm nội dung HĐ phải tuân theo quy phạm PL bắt buộc Còn lại là quy phạm

tùy nghi, cho các bên thỏa thuận lựa chọn

- Cách LTM tiếp cận ra sao?

Ví dụ: về chất lượng hàng, đây là thỏa thuận giữa các bên Nhưng nếu như không có

thỏa thuận, thì sẽ áp dụng một tiêu chuẩn chung để đánh giá hàng hóa có được xem làphù hợp hay không, theo Điều 39 LTM 2005

Đối với mục đích sử dụng cụ thể: trường hợp hàng hóa thực tế không đáp ứng đượcnhu cầu của bên bán thì nếu biết hoặc phải biết thì cũng xem là không phù hợp

Về không bảo đảm chất lượng: Ván đề được đặt ra là chất lượng ở đây là chỉ cần bảođảm thành phần chính giống với hàng mẫu, hay bắt buộc tất cả các thành phần đềuphải giống?

4 Thực hiện hợp đồng:

Thực hiện HĐ có 2 nhóm quy phạm: nhóm quy phạm bắt buộc và nhóm quy phạm tuỳ nghia) Thực hiện nghĩa vụ của bên bán

Giao hàng và các chứng từ liên quan đến hàng hoá:

- Giao hàng hoá đúng phương thức (Điều 36)

- Giao chứng từ liên quan đến hàng hoá (Điều 42)

- Giao hàng đúng số lượng, chất lượng, quy cách phẩm chất và điều kiện giao hàng tại

địa điểm quy định: Nếu không có thoả thuận về chất lượng hàng hoá giữa các bên, thìnếu thuộc một hay nhiều TH tại Khoản 1 Điều 39 LTTM 2010 thì sẽ được xem làhàng hoá không đạt chất lượng

b) Thực hiện nghĩa vụ của bên mua

- Tiếp nhận hàng hoá (Điều 56)

- Thanh toán tiền hàng: về điều khoản giá cả (Điều 52)

Tình huống: Các bên mua bán nhau lụa tơ tằm, mà cần phải ra thợ thủ công dệt Các bên

thỏa thuận: Bên mua sẵn sàng thanh toán 90% tiền hàng trước khi thanh toán, 6 tháng sauhàng mới được giao đến Bên mua thanh toán 10% còn lại Các bên ký HĐ, gia hạn 1 tuần từngày 2 ngày trước khi đến hạn thanh toán 90% tiền hàng thì bên mua nhận thấy bên bán cóthể rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán Như vậy, chắc chắn bên mua phải ngừng thanhtoán Nhưng việc thanh toán này có vi phạm nghĩa vụ thanh toán?

Bài học: Thương nhân (khách hàng) phải tự bảo vệ bản thân bằng quy định rõ ràng trong HĐ

về các trường hợp ngừng thanh toán Nếu không thì phải từ chối thanh toán tiền hàng, chấpnhận trả tiền vi phạm nghĩa vụ, bồi thường thiệt hại và tiền lãi chậm trả

Phân tích: 4 TH ngừng thanh toán tiền mua hàng theo Điều 51 LTM 2005:

1 Bên bán lừa dối: không có căn cứ chứng minh do bên bán có thể chứng minh khả năng

Trang 8

tiếp tục thực hiện hợp đồng của mình

2 Chứng minh bên bán mất khả năng thanh toán: phải chứng minh bên bán đã nộp thủtục phá sản

3 Hàng hoá thuộc đối tượng đang bị tranh chấp

4 Hàng hoá không phù hợp với hợp đồng

* Đọc thêm: quy định về vi phạm HĐ trước hạn (Điều 51) Các bên được phép thoả thuận về

ngưng tiếp tục thực hiện HĐ trong TH bên còn lại vi phạm HĐ trước hạn

Tài liệu: breach-80847.aspx

https://danluat.thuvienphapluat.vn/vi-pham-hop-dong-truoc-thoi-han-anticipatory-III MBHH thông qua SGDHH

1 Khái niệm: Điều 63 LTM 2005

- Hoạt động thương mại nhằm mua bán một lượng hàng hoá nhất định của một loại

hàng hoá nhất định của SGDHH

- Tiêu chuẩn hàng hoá thuân thủ theo quy định của SGDHH

- Giá được thoả thuận tại thời điểm giao kết HĐ

- Thời gian giao hàng được xác định thời điểm trong tương lai

- Ưu điểm của giao dịch qua SGDHH: Vì Sở là một tổ chức trung gian, nên là ngoài

việc khớp lệnh mua – bán thì nó còn cung cấp các dịch vụ, cơ sở vật chất – kỹ thuậtcho các bên nhằm hỗ trợ cho các bên trong giao dịch (chẳng hạn giao hàng hóa, thanhtoán bù trừ: 2 hoạt động này giải quyết được nỗi sợ của cả bên bán lẫn bên mua)

- Có 2 trung tâm qua Sở cụ thể: Trung tâm thanh toán bù trừ, Trung tâm giao nhận hàng

hóa Khi có vấn đề xảy ra tại các giai đoạn thực hiện hợp đồng, 2 trnug tâm này sẽđứng ra gánh chịu rủi ro, giảm thiểu thiệt hại cho các bên Đây là điều mà giao dịchmua bán trực tiếp không làm được

-2 Đặc điểm:

- Thứ nhất, chủ thể tham gia vào giao dịch trên Sở giao dịch hàng hoá:

o Trung tâm thanh toán bù trừ MBHH qua SGDHH (trung tâm thanh toán bùtrừ): Điều 26 Nghị định 158/2006/NĐ-CP, K23 Đ1 Nghị định 51/2018

o Trung tâm giao nhận hàng hoá: Điều 29 Nghị định 158/2006/NĐ-CP

- Thứ hai, về hình thức:

o Hợp đồng kì hạn: Khoản 2 Điều 64 LTM 2005

o HĐ về quyền chọn mua hoặc quyền chọn bán: Khoản 3 Điều 64

o Quyền chọn mua: giá thị trường > giá thoả thuận trên HĐ => có lời (trừ tiềnmua quyền) và ngược lại

o Quyền chọn bán: giá thị trường < giá thoả thuận trên HĐ => có lời (trừ tiềnmua quyền) và ngược lại

Trang 9

Bài 3: Dịch vụ thương mại

I Khái quát về cung ứng dịch vụ

c Điều kiện KD DV Logistics

d Quyền và nghĩa vụ của các bên trong HĐ

c Quyền và nghĩa vụ của các bên

d Quản lý nhà nước đối với quá cảnh hàng hoá

* Dịch vụ quá cảnh tách ra khỏi logisictics vì bản chất của DV quá cảnh là mượn đườngtrong lãnh thổ VN, điểm bắt đầu và điểm kết thúc nằm ngoài lãnh thổ VN hoặc nằm trongcác khu vực đặc biệt như khu chế xuất, khu phie thuế quan… Logistics không cho phép vậnchuyển hàng hoá cấm xuất khẩu trong khi quá cảnh có thể được NN cho phép Ngoài ra, quácảnh không được cầm giữa hàng hoá để khấu trừ nợ

3 DV giám định

a Khái niệm

b Quan hệ dịch vụ giàm định: 2 trường hợp

c Quyền và nghĩa vụ của các bên

Trang 10

nhân viên của công ty B Đơn giá 25.000 đồng / suất ăn (chưa bao gồm VAT) Thời hạn hợpđồng từ 1/4/2015 – 1/4/2018 Sau khi ký hợp đồng, công ty T lắp đặt trang thiết bị, đưa nhânviên vào nấu ăn cho nhân viên của công ty B cho đến 31/12/2016 thì công ty B đã tự ý chorằng công ty T thực hiện không đúng hợp đồng và đơn phương chấm dứt hợp đồng với công

ty T Công ty T cho rằng công ty B đơn phương CDHĐ trái pháp luật nên yêu cầu Tòa ánbuộc Công ty B bồi thường các khoản sau:

1 Tổn thất về đầu tư thiết bị: 180 triệu đồng

2 Lợi nhuận 16 tháng còn lại của hợp đồng: 15 triệu x 16 tháng = 240 triệu đồng

Yêu cầu: Giải quyết yêu cầu các bên Biết rằng Điều 3 của HĐ về điều kiện chấm dứt: Công

ty B có quyền đơn phương CDHĐ nếu không hài lòng về chất lượng phục vụ của công ty T.Ngoài ra còn 1 điều kiện nữa: Nếu 1 trong 2 bên muốn CDHĐ thì thông báo cho bên kiatrước 30 ngày

Gợi ý: Trong tranh chấp này: nguyên đơn là cung cấp dịch vụ nấu ăn, vậy đã rõ mục đích

sinh lợi Nhưng phía bị đơn ký HĐ này có nhằm mục đích sinh lợi không?

 Xác định luật áp dụng

Công ty B sử dụng dịch vụ, không trực tiếp sinh lợi, nhưng việc cho nhân viên ăn uốngkiểu này thì tức là phục vụ, thúc đẩy cho việc sinh lợi nhuận (Theo mục 3.3 nghị quyết01/2005/NQ-HĐTP)

Trang 11

Tình huống 2:

Thương nhân A và TN B Ký kết HĐ mua bán hàng hóa A thực hiện nghĩa vụ giao, B làngười nhận hàng nhưng không nộp tiền B cho rằng hàng giao không phù hợp với hợp đồng.Hàng này được sản xuất theo dây chuyền khép kín hiện đại nên A cho rằng hàng phù hợp vớihợp đồng, B khiếu nại không đúng Song, B nằng nặc không chịu, nên A muốn thu thập thêmchứng cứ Do đó, A ký HĐ giám định hàng hóa với thương nhân C, thuê C giám định hàngnày Kết quả hàng phù hợp với hợp đồng  Càng củng cố niềm tin của A, sau đó A gửi thưđòi tiền B và kết quả giám định cho B Lúc này nhận được chứng thư giám định, B vẫn éokhôngchịu tin Do đó, B thuê 1 thương nhân D giám định lại Kết quả hàng không phù hợp.Cuối cùng, A và B cùng thuê 1 thương nhân là E giám định lại lần 2 Kết quả giám định lạilần 2 là hàng không phù hợp với hợp đồng

Lúc này, A khởi kiện C và yêu cầu C hoàn lại chi phí, với lý do: Khi ngay từ đầu C đã có kếtquả không đúng, thì tổn thất đã phát sinh nhiều hơn Do đó tổn thất phải trả đáng nhẽ sẽ thấphơn Do đó A yêu cầu C bồi thường phần phát sinh thêm

Vậy C có phải chịu trách nhiệm cho tổn thất phát sinh thêm hay không? Biết kết quả của Eđược dùng để giải quyết tranh chấp

C chỉ chịu trách nhiệm cho tổn thất phát sinh khi:

• Theo Điều 261 LTM 2005 thì A cần chứng minh C giám định không trung thực, khôngkhách quan hoặc sai về kỹ thuật, nghiệp vụ giám định

• Theo điểm a K2 Đ262 LTM 2005 thì chính C tự thừa nhận đã giám định sai

Do đó, nếu A không yêu cầu D giám định, nhưng A vẫn có thể bị chịu trách nhiệm

Cần lưu ý, điểm b K3 Đ262 LTM 2005 không thừa nhận kết quả giám định lại lần 2 là đúng,

mà chỉ là có giá trị pháp lý ràng buộc với tất cả các bên

Lưu ý: Dù kết quả giám định có gây bất lọi hay không cho bên yêu cầu, thì bên yêu cầu vẫn

phải chịu ràng buộc pháp lý Do đó, việc đơn phương yêu cầu giám định là mạo hiểm Nhưvậy, tốt nhất là cùng thỏa thuận yêu cầu giám định Còn nếu đơn phương yêu cầu giám định,thì nó chỉ có giá trị tham khảo với bên không yêu cầu

Riêng đối với Logistics thì luôn phải thỏa thuận các điều khoản chế tài

Ngày đăng: 11/06/2019, 22:57

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w