Bài tập tháng thứ 2 của nhóm Hà&Partners lớp CLC41B. Giáo viên hướng dẫn là thầy Hoàng Thế Cường và Thầy Hoàng Vũ Cường. Bài được thực hiện vào HK II năm 2. Bài không có gì khó lắm.
Trang 1BUỔI TẬP THÁNG THỨ HAIPHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG VÀ BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI
NGOÀI HỢP ĐỒNG
Giảng viên: Th.S Hoàng Thế Cường
Lớp: CLC41BNhóm : 6
Trang 2Vấn đề 1: Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường ngoài hợp đồng
Câu 1: Thay đổi về các căn cứ làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp
đồng giữa BLDS 2005 và BLDS 2015?
Những thay đổi về căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng giữa BLDS 2005 vs BLDS 2015:
a Thêm điều khoản loại trừ trong trường gây thiệt hại phải bồi thường tại Khoản 1:
Người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường,
trừ trường hợp BLDS 2015, luật khác có liên quan quy định khác.
b Quy định lại trường hợp không phải chịu trách nhiệm BTTH tại Khoản 2:
Người gây thiệt hại không phải chịu trách nhiệm BTTH trong trường hợp thiệt hại phát sinh là do sự kiện bất khả kháng hoặc hoàn toàn do lỗi của bên bị thiệt hại, trừ trường hợpcó thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác
c Bổ sung thêm quy định tại Khoản 3:
Trường hợp tài sản gây thiệt hại thì chủ sở hữu, người chiếm hữu tài sản phải chịu trách nhiệm BTTH, trừ trường hợp thiệt hại phát sinh theo quy định nêu trên
(Căn cứ Điều 584 Bộ luật dân sự 2015)
Câu 2: Việc Tòa án cấp phúc thẩm không áp dụng BLDS 2005 mà áp dụng BLDS 2015
về căn cứ làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng có thuyết phục không? Vì sao?
Trang 3Việc Tòa án cấp phúc thẩm áp dụng Khoản 2 Điều 584 BLDS 2015 (thay vì Khoản 1 Điều
604 như Tòa án cấp sơ thẩm) về căn cứ làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là thuyết phục
Vì tại thời điểm TAND huyện L, tỉnh Hậu Giang xét xử sơ thẩm là ngày 24/3/2017 Tại thời điểm này, BLDS 2015 đã có hiệu lực (từ ngày 1/1/2017)
Ngoài ra, Khoản 1 Điều 604 BLDS 2005 chỉ quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại của người có lỗi, trong khi Khoản 2 Điều 584 BLDS 2015 xác định rằng người gâythiệt hại không phải chịu trách nhiệm bồi thường nếu lỗi hoàn toàn thuộc về bên bị thiệt hại Điều này phù hợp với nội dung, tình tiết vụ án và ý chí của HĐXX
Câu 3: Theo anh/chị, trong vụ việc trên đã thiếu căn cứ gì để làm phát sinh trách nhiệm
bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng? Vì sao?
Trong vụ việc trên, căn cứ bị thiếu là yếu tố lỗi, mối quan hệ nhân quả và hành vi trái pháp luật của ông Danh H, không đủ 4 yếu tố trên lý thuyết để phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
Do việc cơ quan cảnh sát Điều tra, lời khai của phần lớn các nhân chứng đều xác định ông Danh S tự ngã xuống sàn, chứ không hề có sự tác động của ông H dẫn đến cái chết của ông S
Vấn đề 2: Bồi thường thiệt hại phát sinh trong tai nạn giao thông
Trang 4Câu 1: Thay đổi về Các quy định liên quan tới Bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm
cao độ gây ra giữa BLDS 2005 và BLDS 2015?
Ở Khoản 3 và Khoản 4, Điều 623, BLDS 2005 chỉ liệt kê hai chủ thể có thể liên đới chịutrách nhiệm bồi thường với người chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật là nguồn nguy hiểm cao
độ Tuy nhiên, trong thực tế, việc giới hạn ở hai chủ thể là “chủ sở hữu” và “người được chủ
sở hữu giao” nguồn nguy hiểm cao độ đã thể hiện sự bất cập và trong thực tiễn xét xử, Toà
án đã giải quyết theo hướng mở rộng danh sách chủ thể có thể phải liên đới chịu trách nhiệmbồi thường thiệt hại1
Vì thế, tại Khoản 3, Khoản 4, Điều 601, BLDS 2015 đã thay đoạn “người chủ sở hữu giaochiếm hữu, sử dụng” thành “người chiếm hữu, sử dụng” Bởi lẽ, ai được giai giao chiếmhữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ không quan trọng và người nào có lỗi để cho nguồnnguy hiểm cao độ bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật thì phải bồi thường cho người bị thiệthại Đồng thời, để thống nhất với Khoản 4, BLDS 2015 đã bỏ đi cụm từ “chủ sở hữu” tạiKhoản 3, Điều 623, BLDS 2005 Hướng sửa đổi trên là thuyết phục, bao quát được hếtnhững trường hợp bồi thường, mở rộng chủ thể liên đới chịu trách nhiệm bồi thường, bảo vệtốt quyền và lợi ích hợp pháp của người bị thiệt hại2
Câu 2: Xe máy, ô tô có là nguồn nguy hiểm cao độ không?
Theo Khoản 1 Điều 123 BLDS 2015: Nguồn nguy hiểm cao độ bao gồm phương tiện giao
thông vận tải cơ giới, …
Thei Khoản 18 Điều 3 Luật GTĐB 2008: Phương tiện giao thông cơ giới đường bộ (sau đây
gọi là xe cơ giới) gồm xe ô tô; máy kéo; rơ moóc hoặc sơ mi rơ moóc được kéo bởi xe ô tô, máy kéo; xe mô tô hai bánh; xe mô tô ba bánh; xe gắn máy (kể cả xe máy điện) và các loại
Trang 5Như vậy xe máy, ô tô được xem là nguồn nguy hiểm cao độ.
Câu 3: Trong hai vụ việc trên, thiệt hại là do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra hay do con
người gây ra? Vì sao?
- Quyết định số 23/DS-GĐT: Thiệt hại do hành vi của con người gây ra; vì anh Khoakhi điều khiển ô tô đã phát hiện được xe đạp của anh Bình và xe của ông Dũng ở phía trước,nhưng do không làm chủ được tốc độ và tay lái nên đã để ô tô chèn qua xe đạp của anh Bình
và đè gãy đùi trái của anh Bình Trong trường hợp này, xe ô tô chỉ là phương tiện mà ngườiđiều khiển sử dụng gây thiệt hại
- Quyết định số 30/2006/HS-GĐT: Thiệt hại do hành vi của con người gây ra, đó là hành viđiều khiển xe môtô của Nguyễn Văn Giang Xe môtô trong tình huống này là phương tiện
mà người điều khiển sử dụng gây thiệt hại
Câu 4: Trong hai vụ việc trên, đoạn nào của bản án cho thấy Tòa án đã vận dụng các quy
định của chế định bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra?
- Trong Quyết định số 23/GĐT-DS ngày 2-2-2005, đoạn cho thấy Tòa án đã vận dụng các
chế định bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra:
“Mặt khác, như đã phân tích trên trong vụ án này anh Khoa cũng có một phần lỗi Tòa án cấp phúc thẩm buộc chủ phương tiện là ông Vũ Hồng Khánh bồi thường cho anh Bình là đúng, nhưng lại áp dụng khoản 3 Điều 627 là không chính xác mà phải áp dụng khoản 2 Điều 627 Bộ luật Dân sự mới đúng.”
- Trong Quyết định số 30/2006/HS-GĐT ngày 26-9-2006, đoạn cho thấy Tòa án đã vậndụng các chế định bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra:
“Theo quy định tại Điều 623 Bộ luật Dân sự năm 2005 (Điều 627 Bộ luật Dân sự năm
1995) về bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra và hướng dẫn tại điểm b khoản 2 mục III Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP ngày 08-7-2006 của Hội đồng Thẩm
Trang 6phán Tòa án nhân dân tối cao thì: “Trong trường hợp chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ giao cho người khác chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ không đúng quy định của pháp luật thì chủ sở hữu phải bồi thường thiệt hại””.
Câu 5: Suy nghĩ của anh/chị về việc Tòa án đã vận dụng các quy định của chế định bồi
thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra.
Tòa án vận dụng các chế định bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra làthuyết phục
- Đối với Quyết định số 23/GĐT-DS ngày 2-2-2005, anh Dũng (điều khiển xe máy), anhKhoa (điểu khiển ô tô) cùng có lỗi đồng thời gây ra thiệt hại cho anh Bình, Tòa án đã ápdụng Khoản 2, Điều 627, BLDS 1995 để giải quyết về Bồi thường thiệt hại do nguồn nguyhiểm cao độ gây ra:
“2 Chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ phải bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao
độ gây ra; nếu chủ sở hữu đã giao cho người khác chiếm hữu, sử dụng, thì những người này phải bồi thường, trừ trường hợp có thoả thuận khác”.
Căn cứ vào quy định của BLDS 1995 đang có hiệu lực tại thời điểm xảy ra thiệt hại cho anhBình cũng như căn cứ vào Khoản 1, Điều 623, BLDS 2005 và Nghị Quyết số 03 thì ô tô xemáy là nguồn nguy hiểm cao độ Theo đó, chủ sở hữu phải bồi thường thiệt hại do nhữngphương tiện này gây ra Do đó, Tòa án vận dụng chế định của nguồn nguy hiểm cao độ làhợp lí
- Đối với Quyết định số 30/2006/HS-GĐT, bà Trinh đã giao xe máy thuộc sở hữu củachồng mình cho Giang (đại diện hợp pháp là ông Trường bà Lài - cha mẹ của Giang) điềukhiển chở bà Phê và bà Huê gây ra tai nạn làm bà Giỏi chết
Trường hợp này Tòa án sử dụng Điều 623, BLDS 2005 và Nghị Quyết số 03 của HĐTPTòa án nhân dân tối cao để giải quyết buộc bà Trinh và đại diện của Giang liên đới bồithường thiệt hại
Xe máy do Giang điều khiển được xác định là nguồn nguy hiểm cao độ theo quy định tạiKhoản 1 Điều 623 BLDS 2005:
Trang 7“1 Nguồn nguy hiểm cao độ bao gồm phương tiện giao thông vận tải cơ giới, hệ thống tải
điện, nhà máy công nghiệp đang hoạt động, vũ khí, chất nổ, chất cháy, chất độc, chất phóng
xạ, thú dữ và các nguồn nguy hiểm cao độ khác do pháp luật quy định”.
Do vậy, Tòa án áp dụng chế tài bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra làhợp lí Giang chưa đủ tuổi điều khiển xe máy Việc giao xe cho Giang của bà Trinh là khôngđúng quy định, Giang cùng có lỗi khi điều khiển nên cùng liên đới bồi thường cho bà Giỏinhư quy định tại Điều 623, BLDS 2005 là phù hợp
*Trong quyết định số 30,
Câu 6: đoạn nào cho thấy Tòa án đã buộc bà Trinh bồi thường thiệt hại?
Đoạn của Quyết định số 30 cho thấy Tòa án buộc bà Trinh bồi thường thiệt hại là:
“Nguyễn Thị Tuyết Trinh giao nguồn nguy hiểm cao độ (xe môtô) cho Nguyễn Văn Giang
sử dụng trái pháp luật, do đó Trinh là người có trách nhiệm bồi thường khi thiệt hại xảy ra”
Câu 7: Suy nghĩ của anh/chị về việc Tòa án buộc bà Trinh bồi thường thiệt hại.
Việc Tòa án buộc chỉ mình bà Trinh bồi thường thiệt hại là chưa hợp lí
Căn cứ vào khoản 2, Điều 606, BLDS 2005 về Năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệthại của cá nhân:
“2 Người chưa thành niên dưới mười lăm tuổi gây thiệt hại mà còn cha, mẹ thì cha, mẹ
phải bồi thường toàn bộ thiệt hại; nếu tài sản của cha, mẹ không đủ để bồi thường mà con chưa thành niên gây thiệt hại có tài sản riêng thì lấy tài sản đó để bồi thường phần còn thiếu, trừ trường hợp quy định tại Điều 621 của Bộ luật này.
Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi gây thiệt hại thì phải bồi thường bằng tài sản của mình; nếu không đủ tài sản để bồi thường thì cha, mẹ phải bồi thường phần còn thiếu bằng tài sản của mình”.
Trang 8 Ta thấy là Giang đã sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ (xe mô tô) trái với qui định củapháp luật nên khi xảy ra tai nạn thì ông Giang phải bồi thường thiệt hại Theo quyđịnh trên thì Giang (16 tuổi) phải bồi thường cho người bị hại bằng tài sản của mình,nếu không đủ để bồi thường thì ông Trường và bà Lài phải bồi thường phần cònthiếu đó bằng tài sản của mình.
Theo như qui định tại Điều 623 BLDS năm 2005 Bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểmcao độ gây ra:
“4 Trong trường hợp nguồn nguy hiểm cao độ bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật thì
người đang chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ trái pháp luật phải bồi thường thiệt hại.
Khi chủ sở hữu, người được chủ sở hữu giao chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ cũng có lỗi trong việc để nguồn nguy hiểm cao độ bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật thì phải liên đới bồi thường thiệt hại”.
Bên cạnh đó, dù biết Giang không đủ điều kiện điều khiển xe mô tô nhưng bà Trinh vẫngiao cho ông Giang sử dụng xe mô tô và chiếc xe đó là tài sản của vợ chồng bà Trinh và ôngMướt Tuy nhiên, không có căn cứ kết luận ông Mướt có lỗi trong việc để Giang sử dụng xetrái pháp luật nên ông Mướt không phải bồi thường Như vậy, ta thấy chỉ có bà Trinh có lỗi(vô ý) trong việc giao cho Giang sử dụng chiếc xe máy nên bà Trinh cũng phải bồi thườngcho người bị thiệt hại
Vì vậy, trong vụ việc trên thì bà Trinh và ông Giang phải liên đới để bồi thường thiệt hạichứ không phải chỉ có bà Trinh chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại
Câu 8: Trên cơ sở Điều 604 BLDS 2005, Điều 584 BLDS 2015, Tòa án có thể buộc Giang
bồi thường thiệt hại không? Vì sao?
Trên cơ sở Điều 604 BLDS 2005 và Điều 584 BDLS 2015, Tòa án có thể buộc Giang bồi
thường thiệt hại, vì hành vi của Giang có đủ những yếu tố làm phát sinh trách nhiệmbồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng:
Trang 91) Có thiệt hại xảy ra, đó là bà Giỏi bị chấn thương sọ não và chết trên đường đi cấp cứu.2) Có hành vi trái pháp luật, đó là hành vi điều khiển xe mô tô đâm vào người đang đi bộqua đường.
3) Có mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại xảy ra và hành vi trái pháp luật: hành vi điềukhiển xe mô tô Giang đâm vào bà Giỏi đang đi bộ qua đường làm bà Giỏi chết
4) Có lỗi của người gây thiệt hại: Giang chưa đủ tuổi để lái xe và trên xe chở 3 người nên đã
vi phạm luật giao thông và Giang có lỗi vô ý đối với việc gây ra thiệt hại cho bà Giỏi
Câu 9: Theo Nghị quyết số 03, cho phí xây và chụp ảnh có được bồi thường không? Vì
sao?
Theo Tiểu mục 2.2, Mục 2, Phần II, Nghị quyết số 03 quy định:
“2.2 Chi phí hợp lý cho việc mai táng bao gồm: các khoản tiền mua quan tài, các vật dụng
cần thiết cho việc khâm liệm, khăn tang, hương, nến, hoa, thuê xe tang và các khoản chi khác phục vụ cho việc chôn cất hoặc hỏa táng nạn nhân theo thông lệ chung Không chấp nhận yêu cầu bồi thường chi phí cúng tế, lễ bái, ăn uống, xây mộ, bốc mộ…”.
Theo các quy định trên thì chi phí xây mô và chụp ảnh không thuộc các khoản chi phí hợp
lí cho việc mai táng Như vậy theo BLDS và Nghị quyết số 03 thì chi phí xây mộ và chụpảnh không được bồi thường
Câu 10: Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết của Tòa phúc thẩm và Tòa Giám đốc
thẩm liên quan đến chi phí xây mộ và chụp ảnh?
Tòa phúc thẩm và Tòa giám đốc thẩm xét theo hướng không bồi thường chi phí xây mộ vàchụp ảnh là phù hợp với quy định của pháp luật
Xét trong thực tiễn cuộc sống, chi phí xây mộ và chụp ảnh không thể xét theo một mứcchung được, tùy vào hoàn cảnh kinh tế của từng gia đình mà chi phí cho việc xây mộ vàchụp ảnh nhiều hay ít cho nên ta không thể quy kết phải bồi thường trong một khung tiền đãđịnh trước được
Trang 10Vì vậy, nếu Tòa án bắt buộc phải bồi thường chi phí trên thì sẽ phát sinh nhiều tiêu cực nhưmột số gia đình sẽ lợi dụng việc trên để kiếm thêm khoản tiền bồi thường như xây mộ rộng,lớn hơn, khang trang hơn, …thì sẽ làm tăng thêm chi phí bồi thường, điều này sẽ không côngbằng với người phải bồi thường vì họ chỉ phải bồi thường theo đúng nghĩa vụ với thiệt hại
mà họ đã gây ra, những khoản phát sinh thêm là vô lý
*Trong quyết định số 23,
Câu 11: Đoạn nào cho thấy anh Bình là người bị thiệt hại?
Trong Quyết định số 23, đoạn cho thấy Bình là người bị thiệt hại:
“Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm và phúc thẩm xác định trong trường hợp này cả anh Bình, ôngDũng và anh Khoa cùng có lỗi gây ra vụ tai nạn trên và gây thiệt hại cho anh Bình (trong đóanh Bình có lỗi chính) là có cơ sở đúng pháp luật”
Câu 12: Ông Khánh có trực tiếp gây ra thiệt hại cho anh Bình không? Vì sao?
- Ông Khánh không trực tiếp gây ra thiệt hại cho anh Bình
- Vì anh Khoa là người điều khiển ô tô gây ra tại nạn, ông Khánh chỉ là chủ sở hữu phươngtiện đã giao tài sản cho anh Khoa sử dụng chứ không phải là người điều khiển phươngtiện gây ra thiệt hại
Câu 13: Tòa án buộc ông Khánh bồi thường cho anh Bình với tư cách nào? Vì sao?
- Tòa án buộc ông Khánh bồi thường cho anh Bình với tư cách là chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ
- Vì căn cứ vào Khoản 2, Điều 627, BLDS 1995 (Khoản 2, Điều 601, BLDS 2015):
Trang 11“2 Chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ phải bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra; nếu chủ sở hữu đã giao cho người khác chiếm hữu, sử dụng thì những người này phải bồi thường, trừ trường hợp có thoả thuận khác”.
Câu 14: Suy nghĩ của anh/chị về việc Tòa án buộc ông Khanh bồi thường cho anh Bình.
Việc Tòa án buộc ông Khánh bồi thường cho anh Bình là hợp lý, nếu anh Khoa chỉ là ngườiđược ông Khánh thuê lái xe ô tô và được trả tiền công (nói cách khác, anh Khoa là người làmcông cho ông Khánh)
Trong Quyết định số 23, Tòa dân sự không nêu rõ mối quan hệ giữa ông Khánh và anhKhoa, mà chỉ cho biết ông Khánh là chủ sở hữu chiếc xe ô tô gây tai nạn Như vậy, có haikhả năng có thể xảy ra: Anh Khoa là người làm công của ông Khánh hoặc anh Khoa là ngườiđược ông Khánh giao xe ô tô qua hợp đồng thuê tài sản
Căn cứ Tiểu mục đ, Mục 2, Phần III, Nghị quyết số 03, nếu anh Khoa là người làm côngcho ông Khánh, anh Khoa không phải là người chiếm hữu, sử dụng xe ô tô đó mà ông Khánhvẫn chiếm hữu, sử dụng; do đó, ông Khánh phải bồi thường Ngược lại, nếu anh Khoa đượcông Khánh giao xe ô tô thông qua hợp đồng thuê tài sản, có nghĩa là ông Khánh không cònchiếm hữu, sử dụng xe ô tô đó mà anh Khoa là người được ông Khánh giao chiếm hữu, sửdụng hợp pháp; do đó, anh Khoa phải bồi thường thiệt hại
Theo nhóm, Tòa án nên xác định rõ trong quyết định mối quan hệ giữa ông Khánh và anhKhoa trước khi áp dụng Khoản 2, Điều 623, BLDS 2005
Câu 15: Bình có lỗi trong việc để phát sinh thiệt hại không? Đoạn nào của bản án cho
câu trả lời?
Bình có lỗi trong việc để thiệt hại phát sinh
Đoạn của bản án cho câu trả lời: