Bước 2: Thông báo cho các đối tượng cần tham gia cuộc họp xử lý KLLĐ Ngay sau khi phát hiện hành vi vi phạm của NLĐ, NSDLĐ thông báo đến tổ chức đại diện tập thể lao động tại cơ sở mà NL
Trang 11 Bình luận quy định của pháp luật về trình tự, thủ tục xử lý kỷ luật lao động ("KLLĐ").
Trình tự, thủ tục xử lý KLLĐ theo Bộ luật Lao động 2019 ("BLLĐ 2019") được quy định chi tiết tại Điều 70 Nghị định số 145/2020/NĐ-CP ("NĐ 145") Có rất nhiều thay đổi về trình tự, thủ tục xử lý kỷ luật lao động tại NĐ 145 so với Nghị định số 145/2018/NĐ-CP (" NĐ 148")
trước đó
Bước 1: Lập biên bản vi phạm
Khi phát hiện người lao động ("NLĐ") có
hành vi vi phạm KLLĐ tại thời điểm xảy ra
hành vi vi phạm, người sử dụng lao động
("NSDLĐ") tiến hành lập biên bản vi phạm.
Trường hợp NSDLĐ phát hiện hành vi vi
phạm KLLĐ sau thời điểm hành vi vi phạm
KLLĐ sau thời điểm hành vi vi phạm đã xảy
ra thì thực hiện thập chứng cứ chứng minh lỗi
của NLĐ
CSPL: Khoản 1 Điều 70 NĐ 145
NĐ 145 quy định tương tự như NĐ 148 đối với trường hợp NSDLĐ phát hiện hành vi vi phạm của NLĐ ngay tại thời điểm xảy ra vi phạm Theo đó, NSDLĐ
có nghĩa vụ tiến hành lập biên bản ghi nhận hành vi vi phạm KLLĐ của NLĐ Riêng đối với trường hợp NSDLĐ phát hiện hành vi vi phạm NLĐ, NĐ 145 bổ sung thêm yêu cầu NSDLĐ phải tiến hành thu thập chứng cứ chứng minh lỗi (hành
vi vi phạm của NLĐ) Ngoài ra, NĐ 145 cũng đã tách riêng trường hợp này với quy định về những công việc mà NSDLĐ phải thực hiện trong thời hiệu xử lý ký luật, tạo ra sự rõ ràng và dễ hiểu
Bước 2: Thông báo cho các đối tượng cần
tham gia cuộc họp xử lý KLLĐ
Ngay sau khi phát hiện hành vi vi phạm của
NLĐ, NSDLĐ thông báo đến tổ chức đại diện
tập thể lao động tại cơ sở mà NLĐ là thành
viên; người đại diện theo pháp luật trong
trường hợp người lao động là người dưới 15
tuổi để tiến hành họp xử lý kỷ luật lao động
Trong thời hiệu xử lý KLLĐ, ít nhất 05 ngày
làm việc trước ngày tiến hành cuộc họp xử lý
KLLĐ, NSDLĐ phải thông báo về nội dung,
thời gian, địa điểm tiến hành cuộc họp này, họ
tên của NLĐ bị xử lý và hành vi vi phạm của
NĐ 145 có thay đổi về đối tượng mà NSDLĐ phải thông báo sau khi phát hiện hành vi vi phạm như sau:
- NĐ 145 đã loại bỏ cha, mẹ của NLĐ dưới 15 tuổi và rút gọn chỉ còn người đại diện theo pháp luật Đây là quy định hợp lý vì cha hoặc mẹ dương nhiên là người đại diện của con dưới
18 tuổi theo khoản 1 Điều 136 Bộ luật Dân sự 2015 ("BLDS 2015")
- NĐ 145 giảm độ tuổi của NLĐ mà NSDLĐ có nghĩa vụ phải thông báo cho người đại diện từ dưới 18 tuổi xuống còn dưới 15 tuổi Theo quan
Trang 2người này.
Ngay sau khi nhận được thông báo của
NSDLĐ, các thành phần phải tham dự họp
phải xác nhận tham dự cuộc họp với NSDLĐ
Trường hợp một trong ác thành phần tham dự
không thể tham dự họp theo thời gian, địa
điểm đã thông báo thì các bên thỏa thuận việc
thay đổi thời gian, địa điểm; trường hợp hai
bên không thống nhất thì NSDLĐ quyết định
các vấn đề này
CSPL: Khoản 1, điểm a và b khoản 2 Điều 70
NĐ 145
điểm của nhà làm luật thì người từ đủ
15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi có khả năng chịu trách nhiệm về hành vi vi phạm KLLĐ của mình nên không cần phải thông báo cho người đại diện theo pháp luật
Ngoài ra, NĐ 145 còn yêu cầu NSDLĐ phải thông báo các nội dung liên quan đến cuộc họp xử lý KLLĐ và NLĐ bị xử lý ít nhất 05 ngày trước ngày tổ chức cuộc họp NĐ 148 trước đó không quy định về thời gian tối thiểu phải thông báo Quy định này nhằm tránh trường hợp NSDLĐ thông báo sát ngày tổ chức cuộc họp khiến các thành phần phải tham gia cuộc họp không thể tham gia
Về phái các đối tượng phải tham gia cuộc họp xử lý KLLĐ, NĐ 145 đã loại bỏ nghĩa vụ của các đối tượng này phải xác nhận với NSDLĐ "trong thời hạn tối đa
03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông báo" Điều này đồng nghĩa với việc các đối tượng này có thể xác nhận vào bất
kỳ thời điểm nào trước khi diễn ra cuộc họp
NĐ 145 cũng đã bổ sung các quy định liê
n quan đến địa điểm, thời gian tổ chức cuộc họp nhằm tạo điều kiện cho các bên tiến hành cuộc họp một cách ổn thỏa, tránh việc trì hoãn vì những lý do về thời gian và địa điểm họp
Bước 3: Tiến hành họp xử lý kỷ luật lao
động
NSDLĐ tiến hành cuộc họp xử lý KLLĐ theo
thời gian, địa điểm thông báo và có sự tham
gia đầy đủ của các thành phần phải tham gia
NĐ 145 đã sửa đổi trường hợp NSDLĐ vẫn tiến hành xử lý kỷ luật lao động khi một trong các thành phần phải tham gia " không xác nhận tham dự cuộc họp, hoặc nêu lý do không chính đáng, hoặc đã xác
Trang 3Trường hợp một trong các thành thông
báo không xác nhận tham dự cuộc họp hoặc
vắng mặt thì NSDLĐ vẫn tiến hành xử lý
KLLĐ
CSPL: Điểm c khoản 2 Điều 70 NĐ 145
nhận tham dự" trong NĐ 148 thành NSDLĐ vẫn tiến hành xử lý kỷ luật lao động khi một trong các thành phần phải tham gia "không xác nhận tham dự cuộc họp hoặc vắng mặt"
Thay đổi này là hợp lý vì việc xác định người phải tham gia nêu lý do vắng mặt
"không chính đáng" sẽ làm phát sinh thêm tranh chấp giữa các bên trong quá trình xử
lý KLLĐ
Bước 4: Nội dung cuộc họp
Nội dung cuộc họp xử lý kỷ luật lao động phải
được lập thành biên, thông qua trước khi kết
thúc cuộc họp
Biên bản phải có đầy đủ chữ ký của:
- Người đại diện tổ chức đại diện người lao
động tại cơ sở mà người lao động đang bị xử
lý kỷ luật là thành viên;
- Người lao động bị xử lý KLLĐ; và
- Luật sư hoặc tổ chức đại diện người lao
động bào chữa cho NLĐ bị kỷ luật, hoặc
người đại diện theo pháp luật của NLĐ dưới
15 tuổi
Trường hợp một trong các thành phần phải
tham dự cuộc họp mà không ký vào biên bản
thì phải ghi rõ họ tên, lý do không ký (nếu có)
vào biên bản
CSPL: Khoản 3 Điều 70 NĐ 145
NĐ 145 yêu cầu biên bản phải có "chữ ký của người tham dự cuộc họp quy định tại điểm b, điểm c khoản 1 Điều 122 của Bộ luật Lao Động", thay vì "chữ ký của người tham dự cuộc họp".
Quy định này nhằm tránh trường hợp xảy
ra tranh chấp liên quan đến hiệu lực của biên bản cuộc họp xử lý KLLĐ không có chữ ký của một hoặc một số người tham gia cuộc họp, nhưng không phải thành phần phải tham gia
Ngoài ra NĐ 145 còn yêu cầu người không ký vào biên bản họp phải ghi rõ họ tên nhưng không bắt buộc phải nêu lý do trong biên bản Vì giả sử như NLĐ không
ký tên vào biên bản thì việc ghi rõ họ tên mình là bằng chứng xác nhận NLĐ đã có mặt tại cuộc họp
Bước 5: Ra quyết định xử lý kỷ luật
- Thẩm quyền: người có thẩm quyền ra quyết
định xử lý kỷ luật lao động;
- Thời hạn ban hành: Quyết định xử lý kỷ luật
lao động phải được ban hành trong thời hạn
của thời hiệu xử lý kỷ luật lao động;
NĐ 145 quy định nhiều điểm mới liên quan đến quyết định xử lý kỷ luật, bao gồm:
- Về thẩm quyền ra quyết định xử lý KLLĐ, NĐ 145 không quy định rõ người thẩm quyền ra quyết định là người giao
Trang 4- Gửi quyết định xử lý kỷ luật: Quyết định xử
lý kỷ luật lao động phải được gửi đến các
thành phần phải tham dự
CSPL: Khoản 5 Điều 70 NĐ 145, điểm I
khoản 2 Điều 118 BLLĐ 2012
kết hợp đồng lao động với NLĐ bị xử lý
kỷ luật mà là "người có thẩm quyền ra quyết định xử lý kỷ luật lao động" Theo BLLĐ 2019 thì người có thẩm quyền ra quyết định xử lý kỷ luật lao động được bắt buộc quy định trong nội quy lao động Điều này góp phần tạo ra sự linh hoạt cho NSDLĐ vì có thể quy định người có thẩm quyền ra quyết định là người quản
lý trực tiếp NLĐ
- Về thời hạn ban hành quyết định, NĐ
145 đã bỏ cụm từ "hoặc thời hạn kéo dài thời hiệu xử lý kỷ luật lao động" vì thời hạn kéo dài này cũng đã được uqy định trong thời hiệu xử lý KLLĐ trong BLLĐ 2019; và
- Về gửi quyết định xử lý kỷ luật, NĐ 145 không nêu rõ các đối tượng mà NSDLĐ phải gửi mà chỉ quy định NSDLĐ phải gửi đến "các thành phần phải tham dự"
2 Nêu quy định của pháp luật về giảm, xóa KLLĐ.
Vấn đề xoá kỷ luật, giảm thời hạn chấp hành kỷ luật lao động được quy định tại Điều 126 BLLĐ 2019 như sau:
"1 Người lao động bị khiển trách sau 03 tháng hoặc bị xử lý kỷ luật kéo dài thời hạn nâng lương sau 06 tháng hoặc bị xử lý kỷ luật cách chức sau 03 năm kể từ ngày bị xử lý, nếu không tiếp tục vi phạm kỷ luật lao động thì đương nhiên được xóa kỷ luật.
2 Người lao động bị xử lý kỷ luật kéo dài thời hạn nâng lương sau khi chấp hành được một nửa thời hạn nếu sửa chữa tiến bộ thì có thể được người sử dụng lao động xét giảm thời hạn".
Nhìn chung, quy định về việc xét giảm thời hạn kỷ luật đối NLĐ bị xử lý kỷ luật kéo dài thời hạn nâng lương theo BLLĐ 2019 không có sự thay đổi so với Bộ luật trước đó Còn đối với vấn đề xóa kỷ luật thì có sự thay đổi đối với trường hợp NLĐ bị xử lý KLLĐ bằng hình thức cách chức Theo quy định của BLLĐ 2012 thì NLĐ sau thời hạn 03 năm bị cách chức, mặc
dù không có hành vi vi phạm kỷ luật và/ hoặc có sửa chữa, cải tạo, nhưng vẫn không được xóa kỷ luật mà trong trường hợp tiếp tục vi phạm thì sẽ không bị xem là tái phạm để áp dụng
Trang 5hình thức xử lý KLLĐ nặng hơn là sa thải BLLĐ 2019 quy định theo hướng ngược lại, sau
03 năm bị xử lý kỷ luật cách chức thì NLĐ sẽ đương nhiên được xóa kỷ luật Điều này đồng nghĩa với việc NLĐ được quyền quay lại vị trí cũ Có thể thấy đây là việc sửa đổi là nhằm tăng cường báo vệ quyền lợi cho NLĐ nhưng cũng tạo ra rắc rối cho NSDLĐ phải bố trí cho NLĐ quay lại vị trí cũ mặc khả năng cao là đang có NLĐ khác giữ vị trí này
3 Tình huống số:
Nguyễn Văn A là con của anh C và chị B (hai anh chị đang làm việc tại doanh nghiệp M) Do
ở nhà tập thể sát với trụ sở doanh nghiệp và bị bạn bè xấu rủ rê, A cùng với chúng tiến hành lấy trộm tài sản doanh nghiệp, sau đó một thời gian bị cơ quan có thẩm quyền phát hiện và xử
lý Theo quy định tại nội quy doanh nghiệp: "Người lao động đang làm việc, được doanh nghiệp cấp nhà tập thể nếu người thân trong gia đình trộm cắp tài sản doanh nghiệp thì phải chịu trách nhiệm bồi thường và bị chấm dứt quan hệ lao động" Căn cứ vào quy định trên,
doanh nghiệp ra quyết định chấm dứt hợp đồng lao động với anh C và kỷ luật khiển trách chị
B (được giải thích vì chị B là thanh viên Ban chấp hành Công đoàn nên không bị chấm dứt HĐLĐ)
Hỏi: Anh (chị) hãy cho biết việc xử lý của doanh nghiệp M đối với anh C và chị B nêu trên là
đúng hay sai? Giải thích tại sao?
Bài làm
Hành vi xử lý của doanh nghiệp M đối với anh C và chị B là trái với các quy định của pháp luật về lao động
Khoản 1 Điều 36 BLLĐ 2019 quy định các trường hợp NSDLĐ có quyền đơn phương chấm dứt HĐLĐ trong các trường hợp sau:
"a) Người lao động thường xuyên không hoàn thành công việc theo hợp đồng lao động được xác định theo tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thành công việc trong quy chế của người sử dụng lao động…
b) Người lao động bị ốm đau, tai nạn đã điều trị 12 tháng liên tục đối với người làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn hoặc đã điều trị 06 tháng liên tục đối với người làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn từ 12 tháng đến 36 tháng…
c) Do thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh nguy hiểm, địch họa hoặc di dời, thu hẹp sản xuất, kinh doanh theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền mà người sử dụng lao động đã tìm mọi biện pháp khắc phục nhưng vẫn buộc phải giảm chỗ làm việc;
d) Người lao động không có mặt tại nơi làm việc sau thời hạn quy định tại Điều 31 của Bộ luật này;
Trang 6đ) Người lao động đủ tuổi nghỉ hưu theo quy định tại Điều 169 của Bộ luật này, trừ trường hợp có thỏa thuận khác;
e) Người lao động tự ý bỏ việc mà không có lý do chính đáng từ 05 ngày làm việc liên tục trở lên;
g) Người lao động cung cấp không trung thực thông tin theo quy định tại khoản 2 Điều 16 của Bộ luật này khi giao kết hợp đồng lao động làm ảnh hưởng đến việc tuyển dụng người lao động".
Như vậy hành chấm dứt hợp đồng lao động với anh C của doanh nghiệp M dựa trên nội dung nội quy lao động không thuộc các trường hợp để doanh nghiệp này có thể đơn phương chấm dứt HĐLĐ theo BLLĐ 2019
Đối với hành vi kỷ luật khiển trách chị B, điểm g khoản 2 Điều 118 BLLĐ 2019 quy định về
nội dung nội quy lao động như sau: "Nội dung nội quy lao động không được trái với pháp luật
về lao động và quy định của pháp luật có liên quan Nội quy lao động bao gồm những nội dung chủ yếu sau đây:
…
g) Các hành vi vi phạm kỷ luật lao động của người lao động và các hình thức xử lý kỷ luật lao động;
…"
Bên cạnh đó, điểm g khoản 2 Điều 69 145/2020/NĐ-CP cũng quy định nội quy lao động phải
quy định: "Các hành vi vi phạm kỷ luật của người lao động và các hình thức xử lý kỷ luật lao động: quy định cụ thể hành vi vi phạm kỷ luật lao động ; hình thức xử lý kỷ luật lao động tương ứng với hành vi vi phạm".
Như vậy, quy định tại nội quy doanh nghiệp M không quy định hình thức kỷ luật khiển trách
đối với trường hợp "Người lao động đang làm việc, được doanh nghiệp cấp nhà tập thể nếu người thân trong gia đình trộm cắp tài sản doanh nghiệp" Do đó, việc doanh nghiệp M áp
dụng hình thức kỷ luật khiển trách với chị B của doanh nghiệp M là trái với pháp luật lao động