Xuất phát từ lý do đó, pháp luật dân sự nước ta đã quy định khá đầy đủ, chặtchẽ và cụ thể về việc xác lập, thực hiện hợp đồng dân sự thông qua quy định vềgiao dịch dân sự cũng như việc q
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Hợp đồng dân sự là một loại giao dịch dân sự và cũng là một trong nhữngphương thức hữu hiệu cho cá nhân, pháp nhân, hộ gia đình, hợp tác xã, xác lập vàthực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình nhằm thỏa mãn các nhu cầu trong sinhhoạt, tiêu dùng và trong sản xuất Trong điều kiện của nền kinh tế thị trường theođịnh hướng xã hội chủ nghĩa của nước ta trong giai đoạn hiện nay thì hợp đồngdân sự càng có ý nghĩa hơn nữa
Hiện nay, Việt Nam đang trên đà phát triển kinh tế xã hội, và việc gia nhập
Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) đã mở ra vô vàn cơ hội nhưng cũng đặt rakhông ít những khó khăn, thách thức, chính điều này đòi hỏi pháp luật Việt Namnói chung và pháp luật dân sự nói riêng phải hoàn thiện để đáp ứng các nhu cầuthực tế xảy ra Hơn nữa, các tranh chấp về hợp đồng dân sự cũng ngày một giatăng và mức độ ngày càng phức tạp thì đòi hỏi pháp luật về hợp đồng dân sự phảihoàn thiện để giải quyết một cách triệt để
Xuất phát từ lý do đó, pháp luật dân sự nước ta đã quy định khá đầy đủ, chặtchẽ và cụ thể về việc xác lập, thực hiện hợp đồng dân sự thông qua quy định vềgiao dịch dân sự cũng như việc quyết định các trường hợp giao dịch dân sự vôhiệu Những quy định này của pháp luật dân sự đã tạo ra một khung hành langpháp lý cho các chủ thể tham gia vào hợp đồng dân sự được thuận tiện hơn, đặcbiệt khi có tranh chấp xảy ra thì đây là cơ sở để giải quyết tranh chấp
Thực tiễn cho thấy, ngành toà án cũng đã giải quyết những vụ án về hợpđồng dân sự vô hiệu Trong đó, hợp đồng dân sự do giả tạo là một trong nhữngloại giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạm ý chí chủ thể gây nhiều tranh cãi và khókhăn trong quá trình áp dụng pháp luật hiện nay Bộ luật dân sự số 33/2005/QH11
ngày 14/6/2005 của Quốc hội (“BLDS”) quy định về giao dịch dân sự tại Chương
VI của Phần thứ nhất, từ Điều 121 đến Điều 138, trong đó giao dịch dân sự do giảtạo được quy định cụ thể tại Điều 129 Do các quy định của pháp luật hiện hành
Trang 2về vấn đề này chủ yếu dừng lại ở nhiều cách hiểu khác nhau về giao dịch dân sự
do giả tạo và việc giải quyết hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự do giả tạo Từ
đó dẫn đến tình hình vi phạm pháp luật về hợp đồng dân sự do giả tạo đang cónhiều chiều hướng gia tăng và phức tạp Toà án cũng gặp không ít khó khăn trongquá trình giải quyết các vụ án khiếu kiện về hợp đồng dân sự do giả tạo Có nhiều
vụ án đã được xét xử nhiều lần nhưng vẫn còn nhiều thắc mắc, nhiều quan điểmkhác nhau gây nhiều tranh luận phức tạp
2 Mục đích nghiên cứu đề tài
Từ việc nhận thức được tầm quan trọng cũng như thấy rõ những bất cập hiệnhữu liên quan đến hợp đồng dân sự vô hiệu do giả tạo, người viết chọn vấn đề
“Hợp đồng dân sự vô hiệu do giả tạo – Lý luận và thực tiễn” làm nội dung chính
cho đề tài Với đề tài, người viết mong muốn có thể góp phần làm sáng tỏ nhữngquy định về yếu tố vô hiệu do giả tạo của hợp đồng dân sự và hậu quả pháp lý khihợp đồng vô hiệu cũng như thực trạng, thực tiễn áp dụng pháp luật hiện nay, để từ
đó đưa ra một số kiến nghị, giải pháp nhằm từng bước hoàn thiện pháp luật
3 Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đề tài tập trung nghiên cứu những quy định của pháp luật về hợp đồng dân
sự vô hiệu, hậu quả pháp lý của hợp đồng dân sự vô hiệu và thực tiễn xác định,
xử lý hợp đồng dân sự vô hiệu theo quy định của BLDS hiện hành
Bên cạnh đó, sau gần 10 năm thi hành thì thực tiễn đã chứng minh rằngBLDS đã có những tác động tích cực đến sự phát triển kinh tế - xã hội của đấtnước cũng như đối với việc hoàn thiện hệ thống pháp luật điều chỉnh các quan hệdân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại và lao động Trong giaiđoạn phát triển mới của đất nước hiện nay, BLDS hiện hành cũng cần được xemxét sửa đổi, bổ sung thích hợp, đáp ứng những yêu cầu đòi hỏi mới, cụ thể hóacác quy định của Hiến pháp 2013 liên quan đến bảo vệ quyền con người, quyềncông dân và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa vàhội nhập quốc tế Vì lẽ đó, trong đề tài này thì người viết sẽ mở rộng phạm vinghiên cứu đến Dự thảo Bộ luật Dân sự được trình Quốc hội thông qua tại kỳ họp
thứ 10 Quốc hội khóa XIII (“Dự thảo BLDS”) để nhằm đưa ra những kiến nghị
Trang 3cần thiết, phù hợp với thực tiễn về hợp đồng dân sự vô hiệu trong suốt thời gianvừa qua.
4 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu đề tài người viết đã áp dụng một số phương phápnghiên cứu như sau:
Phương pháp nghiên cứu lý luận trên tài liệu, sách: nhằm nghiên cứu các cơ
sở lí luận về giao dịch dân sự, hợp đồng dân sự, hợp đồng dân sự vô hiệu…
Phương pháp phân tích luật viết: đặc biệt là nghiên cứu những quy định của
pháp luật điều chỉnh về hợp đồng dân sự vô hiệu, hợp đồng dân sự vô hiệu do giảtạo được quy định trong các đạo luật và các văn bản có liên quan
Phương pháp so sánh, phân tích, tổng hợp: nhằm tìm ra những điểm chung,
khác biệt khi tiếp cận các vấn đề cần nghiên cứu trong luận văn
Phương pháp sưu tầm số liệu thực tế: bằng cách tìm trên mạng Internet, giáo
trình, tìm kiếm số liệu ở các cơ quan tiến hành tố tụng dân sự… để giúp chongười viết có nguồn thông tin chính xác đối với các trường hợp về hợp đồng dân
sự vô hiệu do giả tạo
5 Bố cục của đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung đề tài được chia làm 03 chương:
Chương 1: Lý luận chung về hợp đồng dân sự vô hiệu.
Chương 2: Hợp đồng dân sự vô hiệu do giả tạo và hậu quả pháp lý của hợp
đồng dân sự vô hiệu do giả tạo
Chương 3: Thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật về giao dịch
dân sự do giả tạo – một số kiến nghị cụ thể
Trang 4CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ HỢP ĐỒNG DÂN SỰ GIẢ TẠO
1.1 Khái quát chung về hợp đồng dân sự
1.1.1 Khái niệm hợp đồng dân sự
1.1.1.1 Khái niệm
Để tồn tại và phát triển, mỗi cá nhân cũng như mỗi tổ chức phải tham gianhiều mối quan hệ xã hội khác nhau Trong đó, việc các bên thiết lập với nhaunhững quan hệ để qua đó chuyển giao cho nhau các lợi ích vật chất nhằm đáp ứngnhu cầu sinh hoạt, tiêu dùng, đóng một vai trò quan trọng, là một tất yếu đối vớimọi đời sống xã hội Tuy nhiên, việc chuyển giao các lợi ích vật chất đó khôngphải tự nhiên hình thành bởi tài sản (vốn là hiện thân của các lợi ích vật chất)không thể tự tìm đến với nhau để thiết lập các quan hệ Các quan hệ tài sản chỉđược hình thành từ những hành vi có ý chí của các chủ thể.1 Mặt khác, nếu chỉ cómột bên thể hiện ý chí của mình mà không được bên kia chấp nhận cũng khôngthể hình thành một quan hệ để qua đó thực hiện việc chuyển giao tài sản hoặc làmmột công việc đối với nhau được Do đó, chỉ khi nào có sự thể hiện và thống nhất
ý chí giữa các bên thì quan hệ trao đổi lợi ích vật chất mới được hình thành Quan
hệ đó được gọi là hợp đồng dân sự
Tuy nhiên, hợp đồng đó chỉ có hiệu lực pháp luật (chỉ được pháp luật côngnhận và bảo vệ) khi ý chí của các bên phù hợp với ý chí của Nhà nước Các bênđược tự do thoả thuận để thiết lập hợp đồng nhưng sự tự do ấy phải được đặttrong giới hạn bởi lợi ích của người khác, lợi ích chung của xã hội và trật tự côngcộng
Khái niệm về hợp đồng dân sự cần phải được xem xét ở nhiều phương diệnkhác nhau
1 Các-Mác cho rằng: “Tự chúng, hàng hóa không thể đi đến thị trường và trao đổi với nhau
được Muốn cho những vật đó trao đổi với nhau thì những người giữ chúng phải đối xử với nhau như những người mà ý chí nằm trong các vật đó”
Trang 5Theo phương diện khách quan thì hợp đồng dân sự là do các quy phạm phápluật của Nhà nước ban hành nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trongquá trình dịch chuyển các lợi ích vật chất giữa các chủ thể với nhau.
Theo phương diện chủ quan, hợp đồng dân sự là một giao dịch dân sự màtrong đó các bên tự trao đổi ý chí với nhau nhằm đi đến sự thoả thuận để cùngnhau làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ dân sự nhất định Theo phương diệnnày, hợp đồng dân sự vừa được xem xét ở dạng cụ thể vừa được xem xét ở dạngkhái quát
Nếu định nghĩa dưới dạng cụ thể thì: “Hợp đồng dân sự là sự thoả thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hay chấm dứt các quyền và nghĩa vụ của các bên trong mua bán, thuê, vay, mượn, tặng, cho tài sản, làm một việc hoặc không làm một việc, dịch vụ hoặc các thoả thuận khác mà trong đó một hoặc các bên nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt, tiêu dùng”2 Sự liệt kê cụ thể bao giờ cũngrơi vào tình trạng không đầy đủ và để quy định của pháp luật có thể bao trùmđược toàn bộ các hợp đồng dân sự xảy ra trong thực tế, BLDS đã định nghĩa nó ở
dạng khái quát hơn: “Hợp đồng dân sự là sự thoả thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi và chấm dứt các quyền và nghĩa vụ dân sự”3 Như vậy, hợp đồngdân sự không chỉ là sự thoả thuận để một bên chuyển giao tài sản, thực hiện mộtcông việc cho bên kia mà có thể còn là sự thoả thuận để thay đổi hay chấm dứtcác nghĩa vụ đó
Ngoài ra, cần phải nói thêm rằng xét về nội dung kinh tế sẽ khó phân biệtgiữa một hợp đồng dân sự với một hợp đồng kinh tế nếu nội dung của chúng đều
là sự mua bán và trao đổi các lợi ích vật chất Tuy nhiên, yêu cầu của quá trìnhtiến hành tố tụng trong việc giải quyết các tranh chấp từ hợp đồng, đòi hỏi cầnphải có sự phân biệt rạch ròi giữa một hợp đồng thương mại với một hợp đồngdân sự Trong thực tế có rất nhiều hợp đồng không thể phân biệt được là hợpđồng thương mại hay hợp đồng dân sự Để có thể phân biệt được hai loại hợpđồng này phải xác định được cụ thể mục đích của từng loại hợp đồng Nếu cácbên chủ thể (hoặc ít nhất có một bên) tham gia hợp đồng với mục đích thoả mãn
2 Điều 1 Pháp lệnh Hợp đồng Dân sự năm 1991.
3 Điều 388 BLDS.
Trang 6nhu cầu sinh hoạt tiêu dùng thì hợp đồng đó được xác định là hợp đồng dân sự.
Vì vậy, chỉ được coi là hợp đồng thương mại khi các bên chủ thể tham gia đềunhằm mục đích kinh doanh Tuy nhiên, mục đích tham gia cũng chỉ là một cơ sởmang tính tương đối trong việc phân biệt giữa hai loại hợp đồng vì rằng có nhữnghợp đồng cả hai bên đều mang mục đích kinh doanh nhưng không thể coi đó làhợp đồng thương mại được nếu có một bên chủ thể là cá nhân không có đăng kíkinh doanh
1.1.1.2 Các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng dân sự
Theo quy định tại Điều 390 BLDS, khi giao kết hợp đồng các chủ thể phảituân theo các nguyên tắc sau đây:
- Tự do giao kết hợp đồng nhưng không được trái pháp luật, đạo đức xã hội.
Nhằm tạo điều kiện cho các chủ thể thoả mãn được các nhu cầu về đời sống
vật chất cũng như tinh thần, BLDS cho phép mọi chủ thể được quyền “tự do giao kết hợp đồng” Theo nguyên tắc này, mọi cá nhân, tổ chức khi có đủ tư cách chủ
thể đều có quyền tham gia giao kết bất kì một hợp đồng dân sự nào, nếu họ muốn
mà không ai có quyền ngăn cản Bằng ý chí tự do của mình, các chủ thể có quyềngiao kết những hợp đồng dân sự đã được pháp luật quy định cụ thể cũng nhưnhững hợp đồng dân sự khác dù rằng pháp luật chưa quy định Tuy nhiên, sự tự
do ý chí đó phải nằm trong một khuôn khổ nhất định Bên cạnh việc chú ý đếnquyền lợi của mình, các chủ thể phải hướng tới việc bảo đảm quyền lợi của nhữngngười khác cũng như lợi ích của toàn xã hội Vì vậy, tự do của mỗi chủ thể phảikhông trái pháp luật, đạo đức xã hội Nằm trong mối liên hệ tương ứng giữa
quyền và nghĩa vụ, mỗi một chủ thể vừa có quyền “tự do giao kết hợp đồng” vừa
có nghĩa vụ tôn trọng pháp luật và đạo đức xã hội Lợi ích của cộng đồng (đượcquy định bằng pháp luật) và đạo đức xã hội được coi là sự giới hạn ý chí tự docủa mỗi một chủ thể trong việc giao kết hợp đồng dân sự nói riêng, cũng như đốivới mọi hành vi nói chung của họ
Trong xã hội xã hội chủ nghĩa, tính cộng đồng và đạo đức xã hội không chophép các cá nhân được tự do ý chí tuyệt đối để biến các hợp đồng dân sự thànhphương tiện bóc lột
Trang 7- Các bên tự nguyện và bình đẳng trong giao kết hợp đồng.
Nguyên tắc này thể hiện bản chất của quan hệ dân sự Quy luật giá trị đòi hỏicác bên khi thiết lập các quan hệ trao đổi phải bình đẳng với nhau Không một aiđược lấy lí do khác biệt về thành phần xã hội, dân tộc, giới tính, tôn giáo, hoàncảnh kinh tế v.v để làm biến dạng các quan hệ dân sự Mặt khác, chỉ khi nào cácbên bình đẳng với nhau về mọi phương diện trong giao kết hợp đồng thì ý chí tựnguyện của các bên mới thật sự được bảo đảm Vì vậy, theo nguyên tắc trên,những hợp đồng được giao kết thiếu bình đẳng và không có sự tự nguyện của cácbên sẽ không được pháp luật thừa nhận Tuy nhiên, đánh giá một hợp đồng cóphải là ý chí tự nguyện của các bên hay không là một công việc tương đối phứctạp và khó khăn trong thực tế
Hợp đồng dân sự là sự thoả thuận thống nhất ý chí của các chủ thể tham gia
Vì thế, muốn xem xét các chủ thể có tự nguyện trong giao kết hợp đồng haykhông, cần phải dựa vào sự thống nhất biện chứng giữa hai phạm trù: Ý chí và sựbảy tỏ ý chí Như chúng ta đã biết, ý chí là mong muốn chủ quan bên trong củamỗi một chủ thể Nó phải được bày tỏ ra bên ngoài thông qua một hình thức nhấtđịnh Ý chí và sự bày tỏ ý chí là hai mặt của một vấn đề, chúng luôn có quan hệmật thiết, gắn bó khăng khít với nhau
Ý chí tự nguyện chính là sự thống nhất giữa ý muốn chủ quan bên trong và
sự bày tỏ ý chí đó ra bên ngoài Vì vậy, để xác định một hợp đồng dân sự có tuântheo nguyên tắc tự nguyện hay không cần phải dựa vào sự thống nhất ý chí củangười giao kết hợp đồng và sự thể hiện (bày tỏ) ý chí đó trong nội dung của hợpđồng mà người đó đã giao kết Chỉ khi nào hợp đồng là hình thức phản ánh mộtcách khách quan, trung thực những mong muốn bên trong của các bên giao kết thìviệc giao kết đó mới được coi là tự nguyện
1 2 Khái quát về hợp đồng dân sự vô hiệu
Trang 8hiện, đang thực hiện hay đã thực hiện xong quyền và nghĩa vụ như cam kết nhưngkhi xác định là HĐVH thì mọi cam kết đã, đang thực hiện thì đều không phải làcác quyền và nghĩa vụ được pháp luật bảo vệ Vậy hợp đồng vô hiệu là khi xáclập các bên đã có vi phạm ít nhất một trong các điều kiện có hiệu lực do pháp luậtquy định dẫn đến hậu quả pháp lý là không làm phát sinh các quyền và nghĩa vụdân sự nào.
Khi tìm hiểu về hợp đồng dân sự vô hiệu thiết nghĩ cần phải có sự phân biệtrạch ròi với trường hợp hợp đồng dân sự mất hiệu lực Theo đó, hợp đồng dân sự
vô hiệu là hợp đồng không có hiệu lực ở ngay thời điểm giao kết Còn hợp đồngmất hiệu lực là hợp đồng có hiệu lực ở thời điểm ký kết nhưng hợp đồng bị mấthiệu lực là do rơi vào tình trạng không thể thực hiện được Tình trạng mất hiệulực của hợp đồng dân sự có thể do một bên vi phạm, dẫn đến bên vi phạm yêu cầuhuỷ hợp đồng hoặc các bên tự thoả thuận với nhau chấm dứt hiệu lực của hợpđồng hoặc do trở ngại khách quan nào khác
1.2.2 Đặc điểm
Căn cứ quy định của BLDS thì những quy định về hợp đồng dân sự vô hiệuđược hiểu và vận dụng giống như là giao dịch dân sự vô hiệu4 Vậy đặc điểmchung của các hợp đồng vô hiệu là không đáp ứng các điều kiện theo quy địnhcủa pháp luật Khi hợp đồng vô hiệu các bên phải gánh chịu hậu quả pháp lý nhấtđịnh có thể bất lợi về vật chất hoặc tinh thần như không đạt được mục đích đã xácđịnh nếu chưa thực hiện được thì sẽ không thực hiện được tiếp, nếu đang thựchiện thì phải chấm dứt việc thực hiện đó để quay trở lại tình trạng ban đầu hoàntrả cho nhau những gì đã nhận5 Người viết đi vào phân tích các đặc điểm sau đốivới hợp đồng dân sự vô hiệu:
1.2.2.1 Không đáp ứng được các điều kiện theo quy định của pháp luật với hợp đồng vô hiệu
- Về năng lực hành vi dân sự của người tham gia hợp đồng:
Bản chất của hợp đồng dân sự là sự thống nhất ý chí và bày tỏ ý chí của cácchủ thể tham gia hợp đồng nhưng không phải ai cũng có quyền tham gia vào bất
4 Khoản 1 Điều 410 BLDS.
5 Khoản 2 Điều 137 BLDS.
Trang 9kỳ loại hợp đồng nào mà chỉ có các chủ thể được pháp luật cho phép mới có thểđược tham gia Trong một số trường hợp thì một số chủ thể chỉ được tham giatrong giới hạn của một số quan hệ quan hệ dân sự nhất định Khi các chủ thể thamgia quan hệ hợp đồng phải có năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự mànăng lực pháp luật là vốn có của chủ thể mà pháp luật quy định cho các chủ thể
có quyền như nhau: mọi cá nhân đều có năng lực pháp luật dân sự như nhau.Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân có từ khi người đó sinh ra và chấm dứt khingười đó chết6 Còn năng lực hành vi thì pháp luật căn cứ vào khả năng nhận biếthành vi của từng con người cụ thể
- Mục đích và nội dung của các hợp đồng không đáp ứng đủ yêu cầu củapháp luật hoặc trái đạo đức xã hội:
Trong chế định hợp đồng dân sự, các chủ thể có quyền tự do thể hiện ý chícủa mình, tự do trong việc quyết định nội dung, hình thức của giao dịch, thể hiệnkhi xác lập hợp đồng các chủ thể có quyền tự do lựa chọn đối tác, tự do thoảthuận nội dung của hợp đồng, hình thức giao kết Nhưng sự tự do không mangtính tuyệt đối mà bị ràng buộc bởi khuôn khổ pháp luật Sự ràng buộc này hạn chế
sự tự do của các chủ thể khi tham gia xác lập hợp đồng Chủ thể không tuân theo
sự hạn chế của pháp luật dẫn tới hợp đồng vô hiệu
+ Mọi thoả thuận không trái với pháp luật
+ Mọi thoả thuận không được trái với đạo đức xã hội Không trái với phápluật thì rõ nhưng không trái với đạo đức xã hội là một vấn đề phức tạp vì kháiniệm đạo đức là một khái niệm trừu tượng
Khái niệm đạo đức xã hội được luật hóa như sau: “Đạo đức xã hội là những chuẩn mực ứng xử giữa người với người trong đời sống xã hội, được cộng đồng thừa nhận”7 Tuy nhiên, các nhà làm luật không quy định cụ thể trường hợp nào
là vi phạm Chính vì vậy mà khi xác định nội dung của khái niệm đạo đức thườngđược xem trong mối quan hệ với án lệ, nhưng về lý thuyết thì Nhà nước ta chưathừa nhận án lệ Chính vì thế trong thực tiễn hiện nay quy định này đã gây rakhông ít khó khăn trong việc áp dụng
6 Khoản 2, 3 Điều 14 BLDS.
7 Điều 128 BLDS.
Trang 10- Chủ thể tham gia xác lập hợp đồng không tự nguyện:
Sự tự nguyện khi giao kết hợp đồng là một yếu tố cơ bản và không thể thiếuđược trong hợp đồng dân sự VÌ vậy các chủ thể khi tham gia giao kết hợp đồngphải thể hiện ý chí đích thực của mình Mọi thoả thuận không phản ánh đúng ýchí cuả các bên đều có thể dẫn đến hợp đồng vô hiệu Ý chí của chủ thể là thểhiện mong muốn của mình ra bên ngoài trong khuôn khổ pháp luật cho phép màkhông bị sự ép buộc nào
- Hình thức hợp đồng không đúng quy định của pháp luật:
Để đảm bảo cho trật tự xã hội, lợi ích của Nhà nước và cá nhân khi tham giagiao kết hợp đồng, ngoài việc các chủ thể tham gia xác lập hợp đồng phải thể hiện
ý chí của mình còn phải tuân theo các quy định của pháp luật về hình thức đối vớimột số loại hợp đồng nhất định Thông qua các biểu hiện về hình thức này ngườikhác có thể phần nào biết được nội dung của hợp đồng Việc quy định một số loạigiao dịch cần phải tuân theo các quy định về hình thức dưạ trên cơ sở là đối tượngcủa các loại hợp đồng này có giá trị lớn hoặc có tính năng đặc biệt nên hình thứccủa hợp đồng là căn cứ xác đinh nội dung của hợp đồng Mặt khác, với nhữngquy đinh này còn là cơ sở để các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền kiểm tra giámsát việc chuyển dịch các tài sản này
1.2.2.2 Các bên tham gia hợp đồng phải gánh chịu hậu quả pháp lý nhất định
Một khi hợp đồng vô hiệu thì: “…các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận; nếu không hoàn trả bằng hiện vật thì phải hoàn trả bằng tiền, trừ trường hợp tài sản giao dịch, hoa lợi, lợi tức thu được bị tịch thu theo quy định của pháp luật Bên có lỗi gây thiệt hại phải bồi thường 8”
Về mặt lý thuyết thì đây là sự tổn thất của các bên nên phải quay lại tình trạngban đầu như trước khi tham gia hợp đồng Tuy nhiên về mặt thực tế có trườnghợp khi tuyên bố hợp đồng vô hiệu có bên được hưởng lợi, có bên bị thiệt hại
1.2.3 Phân loại hợp đồng dân sự vô hiệu
1.2.3.1 Căn cứ vào thủ tục tố tụng để tuyên bố hợp đồng vô hiệu
8 Khoản 2 Điều 137 BLDS.
Trang 11Căn cứ vào tính chất trái pháp luật của hợp đồng xâm phạm đến quyền lợicủa ai, pháp luật sẽ quy định những thủ tục tố tụng và thời hiệu khởi kiện dân sựtương ứng với từng loại hợp đồng vô hiệu đó.
Các hợp đồng xâm phạm đến lợi ích công thì đương nhiên vô hiệu
Các hợp đồng xâm phạm tới lợi ích tư thì có 02 yêu cầu:
(i) khi có đơn yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan;
(ii) có quyết định của Tòa án
Dựa vào căn cứ phân loại này, có thể chia hợp đồng vô hiệu thành 2 loại:hợp đồng vô hiệu tuyệt đối và hợp đồng vô hiệu tương đối Tuy nhiên, trước hếtcần khẳng định rằng khái niệm vô hiệu tuyệt đối và vô hiệu tương đối là hai kháiniệm của ngành khoa học luật dân sự, mang tính lý thuyết và chưa được sử dụngtrong các văn bản quy phạm pháp luật BLDS (Phần thứ nhất, Chương 5) khôngphân loại các trường hợp vô hiệu của giao dịch dân sự thành vô hiệu tuyệt đối hay
vô hiệu tương đối, mà chỉ giới hạn ở việc chỉ ra các trường hợp vô hiệu do viphạm từng điều kiện cụ thể của giao dịch dân sự, cùng với việc chỉ ra hậu quả cụ
thể của từng giao dịch vô hiệu Thế nhưng hai khái niệm “giao dịch dân sự vô hiệu tuyệt đối” và “giao dịch dân sự vô hiệu tương đối” lại là hai khái niệm rất
quan trọng đối với khoa học luật dân sự Chúng là công cụ không thể thiếu đượctrong việc nghiên cứu bản chất của giao dịch dân sự, cũng như trong việc giảiquyết các vấn đề có liên quan đến thủ tục tuyên bố một giao dịch dân sự vô hiệu
Hợp đồng vô hiệu tuyệt đối
Là những hợp đồng bị xem là đương nhiên vô hiệu do việc xác lập hợp đồng
là trái pháp luật, xâm phạm tới lợi ích của nhà nước hoặc lợi ích công cộng
Hợp đồng thuộc một trong các trường hợp sau thì bị coi là vô hiệu tuyệt đối:(i) Hợp đồng vô hiệu do giả tạo;
(ii) Hợp đồng có nội dung, mục đích vi phạm điều cấm của pháp luật;
(iii) Hợp đồng có nội dung, mục đích trái đạo đức xã hội;
(iv) Hợp đồng không đúng hình thức do pháp luật quy định và đã được Tòa
án cho các bên thời hạn để thực hiện đúng quy định về hình thức này nhưng hếtthời hạn đó mà các bên vẫn chưa thực hiện; hoặc
Trang 12(v) Trường hợp pháp luật có quy định về hợp đồng vi phạm hình thức nhưngcác bên chưa thực hiện hợp đồng và các bên có tranh chấp thì hợp đồng bị xem là
vô hiệu
Một hợp đồng vô hiệu tuyệt đối thì không giải quyết theo yêu cầu của cácbên Mọi trường hợp đều giải quyết theo quy định của pháp luật và không đượchòa giải, không có quyền công nhận giá trị pháp lý của hợp đồng trong quá trìnhthụ lý và giải quyết tranh chấp về hợp đồng hoặc các nội dung pháp lý có liênquan
Hợp đồng vô hiệu tương đối
Là những hợp đồng được xác lập, nhưng có thể bị Tòa án tuyên bố là vôhiệu theo yêu cầu của người có quyền và lợi ích liên quan
Sự vô hiệu tương đối thể hiện ở chổ: giao dịch dân sự đó “có thể vô hiệu” hay “không đương nhiên bị xem là vô hiệu” vì nó chỉ xâm hại trực tiếp tới quyền
lơi hợp pháp của cá nhân của từng bên chủ thể tham gia Do đó, hợp đồng nàynếu không có sự xem xét của Tòa án thì vẫn có hiệu lực Trong trường hợp muốnhủy bỏ hợp đồng này, các bên phải yêu cầu Tòa án giải quyết theo thủ tục tư phápthông thường chứ hợp đồng không đương nhiên bị xem là vô hiệu
Các trường hợp dẫn đến giao dịch dân sự vô hiệu tương đối:
(i) Giao dịch dân sự vô hiệu do người xác lập không có năng lực hành vitương ứng với đòi hỏi của pháp luật đối với loại giao dịch đó;
(ii) Giao dịch dân sự vô hiệu do bị đe dọa;
(iii) Giao dịch dân sự vô hiệu do lừa dối;
(iv) Giao dịch dân sự vô hiệu do nhầm lẫn;
(v) Giao dịch dân sự vô hiệu do một người xác lập trong tình trạng người đókhông nhận thức, điều khiển được hành vi của mình
1.2.3.2 Căn cứ vào phạm vi bị vô hiệu
Hợp đồng vô hiệu toàn bộ
Là hợp đồng có toàn bộ nội dung vô hiệu, hoặc tuy chỉ có một phần nội dung
vô hiệu nhưng phần đó lại ảnh hưởng đến hiệu lực của toàn bộ hợp đồng
Trang 13Khi có những căn cứ cho là toàn bộ điều khoản của hợp đồng vô hiệu, thìhợp đồng vô hiệu toàn bộ Căn cứ làm cho hợp đồng vô hiệu có thể xuất phát từ
sự vi phạm nội dung hợp đồng, nhưng cũng có thể là những căn cứ khác như:mục đích, năng lực giao kết hợp đồng, hợp đồng giả tạo, v.v
Cũng có những hợp đồng vô hiệu toàn bộ nhưng đối với một số điều khoảnđược các bên thỏa thuận ghi trong hợp đồng có vai trò độc lập với hợp đồng, thìkhi hợp đồng vô hiệu toàn bộ các điều khoản đó cũng có thể được công nhận cóhiệu lực nếu đủ các điều kiện luật định mà không lệ thuộc vào hiệu lực của toàn
bộ hợp đồng
Hợp đồng vô hiệu từng phần (vô hiệu một phần)
Là những hợp đồng được xác lập mà có một phần nội dung của nó không cógiá trị pháp lý nhưng không ảnh hưởng đến hiệu lực của các phần khác của hợpđồng đó
Đối với một hợp đồng vô hiệu từng phần, ngoài phần vô hiệu không được ápdụng, các phần còn lại vẫn có giá trị thi hành, nên các bên vẫn phải tiếp tục thihành trong phạm vi phầm hợp đồng vẫn còn hiệu lực
1.3.3 Căn cứ vào điều kiện có hiệu lực của hợp đồng
Dựa vào dấu hiệu này có thể phân hợp đồng vô hiệu thành các trường hợpsau:
(i) Hợp đồng vô hiệu do người tham gia là cá nhân không có năng lực hành
vi dân sự;
(ii) Hợp đồng vô hiệu do vi phạm điều cấm, đạo đức xã hội;
(iii) Hợp đồng vô hiệu do không có sự tự nguyện của chủ thể; và
(iv) Hợp đồng vô hiệu do vi phạm hình thức, nếu pháp luật có quy định vềhình thức của hợp đồng là điều kiện bắt buộc
1.3.4 Căn cứ vào mức độ vượt quá phạm vi đại diện của người đại diện
Một trong các điều kiện quan trọng để công nhận hợp đồng có hiệu lực là tưcách đại diện hợp pháp (đại diện theo pháp luật hoặc ủy quyền) của hộ gia đình,
tổ hợp tác, tổ chức hoặc cá nhân Trong nhiều trường hợp, khi việc tham gia xác
Trang 14lập hợp đồng thay cho người thứ ba không dựa trên các trường hợp đại diện luậtđịnh thì hợp đồng đó có thể bị vô hiệu.
1.3.4.1 Hợp đồng vô hiệu do người đại diện xác lập vượt quá phạm vi đại diện
Thường thì đây là hợp đồng được xác lập bởi người đại diện hợp pháp,nhưng do người đại diện đã xác lập hợp đồng trên thực tế vượt quá phạm vi đạidiện Người trực tiếp tham gia hợp đồng tuy có tư cách đại diện hợp pháp nhưngnội dung hợp đồng do họ xác lập có một phần giá trị, mức độ, phạm vi vượt quágiới hạn được ghi trong hợp đồng ủy quyền hoặc được quy định trong loại đạidiện tương ứng
Hợp đồng được xác lập vượt quá phạm vi đại diện thì phần vượt quá phạm
vi đại diện đó bị vô hiệu, trừ trường hợp người được đại diện biết mà không phảnđối
1.3.4.2 Hợp đồng vô hiệu do người giao kết không có quyền đại diện
Hợp đồng vô hiệu do người trực tiếp giao kết không có tư cách đại diện hoặctuy có tư cách đại diện nhưng đã giao kết, thực hiện hợp đồng không thuộc côngviệc mà họ được phép đại diện
Cũng bị xem là không có tư cách đại diện nếu người đại diện đưa ra nhữngtuyên bố ý chí trái với ý chí của người được đại diện, làm những việc khôngthuộc đối tượng của quan hệ đại diện
1.3 Khái niệm và đặc điểm của hợp đồng dân sự do giả tạo
Đối với giao dịch được xác lập do giả tạo, chủ thể hoàn toàn mong muốn sựthể hiện ý chí ra bên ngoài dưới một hình thức nhất định, mặc dù ý chí đó không
Trang 15phải ý chí đích thực của chủ thể Do đó ta có thể hiểu giao dịch dân sự được xáclập do giả tạo là giao dịch được xác lập để nhằm che giấu một giao dịch kháchoặc trốn tránh nghĩa vụ đối với người thứ ba Giao dịch giả tạo là giao dịch đượccác bên chủ thể xác lập nhưng không nhằm mục đích là thiết lập các quyền vànghĩa vụ của các bên tham gia giao dịch Nội dung của giao dịch được xác lậpkhông xuất phát từ ý chí đích thực của các bên.
Các giao dịch được xác lập do giả tạo đều là các giao dịch vô hiệu Mặc
dù trong các giao dịch này, các bên chủ thể tham gia giao dịch hoàn toàn tựnguyện, nhưng lại cố ý bày tỏ ý chí không đúng với ý chí đích thực của họ
1.3.2 Đặc điểm của giao dịch dân sự do giả tạo
Hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự được xác lập do giả tạo là giao dịch vôhiệu, vì vậy, giao dịch giao dịch dân sự do giả tạo mang những đặc điểm chungcủa giao dịch dân sự vô hiệu
Thứ nhất, giao dịch dân sự đáp ứng tất cả các điều kiện có hiệu lực của giao
dịch dân sự được quy định tại Điều 122 BLDS Tuy nhiên giao dịch dân sự xáclập do giả tạo được xác định là vô hiệu do không đảm bảo yêu cầu về tính tựnguyện của các bên chủ thể khi tham gia giao dịch Có nghĩa là các bên tham giagiao dịch hoàn toàn tự nguyện xác lập giao dịch, nhưng lại cố ý bày tỏ ý chíkhông đúng với ý chí đích thực của họ Ý chí đích thực ở đây là sự thể hiện củacác chủ thể, khi tham gia giao dịch, các chủ thể có quyền thể hiện mong muốncủa mình ra bên ngoài trong khuôn khổ của pháp luật mà không bị ép buộc bởibất cứ yếu tố nào khác
Thứ hai, giao dịch dân sự do giả tạo được xác lập dựa trên ý chí tự nguyện
của các bên, các bên biết trước sự không thống nhất giữa ý chí và sự thể hiện của
ý chí ra bên ngoài, nhưng vẫn tự nguyện xác lập giao dịch Mục đích của các bênkhi xác lập giao dịch không nhằm làm phát sinh quyền và nghĩa vụ dân sự theoquy định của pháp luật mà nhằm che giấu một giao dịch khác hoặc trốn tránhnghĩa vụ đối với người thứ ba Qua đó ta hiểu là sự tự nguyện không đơn giản chỉ
là tự nguyện xác lập giao dịch mà còn là sự tự nguyện ở chính bản thân chủ thể
Trang 16Các bên chủ thể phải biểu lộ ý chí một cách thoải mái và trung thực theo đúng ýchí và mong muốn của mình.
Thứ ba, các bên xác lập giao dịch không nhằm mục đích làm phát sinh các
quyền và nghĩa vụ dân sự từ giao dịch mà nhằm che giấu một giao dịch khác hoặctrốn tránh nghĩa vụ với người thứ ba
Đối với giao dịch dân sự giả tạo nhằm che giấu một giao dịch khác thì có haigiao dịch song song tồn tại Giao dịch giả tạo được thể hiện ra bên ngoài nhưngkhông có giá trị thực tế, còn giao dịch ẩn giấu bên trong mới là giao dịch đíchthực, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các bên chủ thể Giao dịch giả tạo chỉ
là hình thức, giao dịch che giấu bên trong mới là ý chí chung của các chủ thểtham gia giao dịch Giao dịch bên trong được che giấu bởi giao dịch giả tạo bênngoài BLDS quy định, chỉ giao dịch dân sự giả tạo mới bị vô hiệu hoàn toàn, còngiao dịch được che giấu vẫn có hiệu lực nếu đáp ứng đủ các điều kiện có hiệu lựccủa giao dịch dân sự theo quy định của pháp luật
Đối với giao dịch giả tạo được xác lập nhằm trốn tránh nghĩa vụ với ngườithứ ba cũng như vậy, pháp luật quy định giao dịch giả tạo sẽ đương nhiên bị vôhiệu mà không cần có sự yêu cầu của chủ thể có quyền lợi liên quan
1.3.3 Các trường hợp giao dịch dân sự do giả tạo
Trên cơ sở xác định mục đích của việc xác lập giao dịch do giả tạo, ta có haitrường hợp giao dịch do giả tạo sau:
Thứ nhất, giao dịch dân sự được xác lập với mục đích nhằm che giấu một
giao dịch khác Trong trường hợp này có hai loại giao dịch song song tồn tại đó làgiao dịch đích thực (bên trong) và giao dịch giả tạo (giao dịch che giấu, thể hiện
ra bên ngoài) Giao dịch dân sự giả tạo nhằm che giấu giao dịch khác luôn luôn
vô hiệu còn giao dịch đích thực vẫn có hiệu lực pháp luật nếu như giao dịch bịche giấu đó đáp ứng được đầy đủ các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự Chẳng hạn như trường hợp sau: Ông Nguyễn Văn A có vợ là bà Đặng Thị
B Ông A muốn tặng cho bạn gái của mình một ngôi nhà tọa lạc tại quận ThủĐức, thành phố Hồ Chí Minh (ngôi nhà này thuộc sở hữu chung của vợ chồng).Nhưng sợ vợ biết được sẽ không đồng ý nên ông nói dối là bán lại cho cô bạn để
Trang 17lấy tiền bỏ vào một dự án đầu tư thì bà B đồng ý (hợp đồng tặng cho không đượclập thành văn bản) Trong trường hợp này, giao dịch mua bán nhà ở bị vô hiệu(giao dịch giả tạo) và giao dịch tặng cho bất động sản cũng bị vô hiệu (giao dịchđược che giấu) do không thỏa mãn về mặt hình thức của hợp đồng.
Khi xác lập giao dịch giả tạo nhằm che giấu một giao dịch khác, các bênchủ thể đều có sự tự nguyện tham gia giao dịch nhưng không có sự thống nhấtgiữa ý chí và bày tỏ ý chí Các bên xác lập giao dịch giả tạo không làm phát sinhquyền và nghĩa vụ giữa các bên tham gia giao dịch Việc giao kết hợp đồng nàychỉ che giấu giao dịch khác, giao dịch này chỉ mang tính hình thức vì nội dunggiao dịch đã thiết lập không đúng với ý chí đích thực của các bên
Thứ hai, giao dịch dân sự được xác lập với mục đích nhằm trốn tránh nghĩa
vụ của người thứ ba Trong trường hợp này, giao dịch dân sự được xác lập có sự
tự nguyện khi thể hiện ý chí, tuy nhiên sự thể hiện ý chí này lại nhằm mục đíchtrốn tránh nghĩa vụ với một chủ thể khác
Có hai trường hợp sau:
(i) Trường hợp bản thân chủ thể tham gia giao dịch đã tồn tại một nghĩa vụvới một chủ thể khác, do đó để trốn tránh nghĩa vụ này, chủ thể đã xác lập giaodịch giả tạo
Chẳng hạn như để trốn tránh nghĩa vụ trả nợ trong một hợp đồng vay tàisản, A đã ký hợp đồng tặng cho ngôi nhà cho người thân của mình để tránhtrường hợp ngôi nhà đó có thể bị xử lý để thực hiện nghĩa vụ của A
(ii) Trường hợp khi tham gia giao dịch, chủ thể có thể phải thực hiện mộtnghĩa vụ nhất định đối với nhà nước nhưng chủ thể đã xác lập hợp đồng giả tạo
để trốn tránh nghĩa vụ đó
Chẳng hạn như trường hợp C bán nhà cho D, nhưng để trốn thuế, C và D đãthỏa thuận lập hợp đồng ủy quyền thỏa thuận D được toàn quyền định đoạt đốivới ngôi nhà đó Trong trường hợp này, hợp đồng ủy quyền bị vô hiệu, còn hợpđồng mua bán vẫn có hiệu lực
Một cách rõ ràng, mục đích của giao dịch giả tạo là nhằm trốn tránh nghĩa
vụ với người thứ ba, hoặc với Nhà nước, mặc dù trên thực tế họ có đủ điều kiện
Trang 18để thực hiện.Vì vậy để bảo vệ lợi ích của Nhà nước cũng như đối với người thứ
ba thì pháp luật quy định các giao dịch do giả tạo sẽ đương nhiên bị vô hiệu màkhông cần phải có sự yêu cầu của chủ thể có quyền lợi liên quan
1.4 Sơ lược sự phát triển của hợp đồng dân sự và hợp đồng dân sự vô hiệu do giả tạo từ năm 1986 đến nay
1.4.1 Từ 1986 đến 1995
Từ giữa những năm 80 của thế kỷ trước, khi đất nước ta bước vào thời kỳđổi mới, phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần có sự quản lý của Nhànước theo định hướng xã hội chủ nghĩa Để bảo vệ các quyền, lợi ích hợp phápcủa cá nhân, Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản pháp luật nhằm thể chế hóa cácchủ trương, đường lối của Đảng về đổi mới kinh tế - xã hội Các văn bản banhành trong giai đoạn này có tính hiệu lực tương đối cao thể hiện dưới dạng Luật,Pháp lệnh và các Nghị định hướng dẫn thi hành, các Luật và Pháp lệnh đượcQuốc hội và Hội đồng nhà nước ban hành
Các văn bản pháp luật được ra đời để điều chỉnh các quan hệ hợp đồng kinh
tế và quan hệ hợp đồng dân sự, trong đó có Pháp lệnh hợp đồng kinh tế năm 1989
và Pháp lệnh hợp đồng dân sự năm 1991 để điều chỉnh các quan hệ kinh tế, dân
sự trong đời sống xã hội ngày càng phát triển
Bộ luật Dân sự đầu tiên của nước ta đã được Quốc hội khoá IX kỳ họp thứ 8thông qua ngày 28 tháng 10 năm 1995, có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 07năm 1996, và các chế định hợp đồng cũng được Bộ luật này công nhận Tuy vậy,mặc dù chế định hợp đồng được Bộ luật dân sự 1995 quy định, vẫn chưa chấmdứt Pháp lệnh hợp đồng kinh tế năm 1989, nên vẫn còn hai chế định hợp đồngkinh tế và hợp đồng thương mại vẫn tồn tại, khiến cho các quy định hợp đồng của
Bộ luật Dân sự 1995 chưa được phát huy đúng mức
1.4.2 Từ 1995 đến 2005
Bộ luật Dân sự 1995 quy định về hợp đồng dân sự nói riêng và giao dịch dân
sự nói chung ở hẳn Chương V, sau khi đã làm rõ khái niệm giao dịch dân sự, điềukiện có hiệu lực của một giao dịch dân sự, mục đích, hình thức của giao dịch dân
sự Các nhà làm luật cũng dành phần lớn công sức, trí tuệ cho việc xây dựng các