Việc xác lập họp đồng là một trong những phuơng thức hiệu quả đối với các chủ thể khi tham gia vào các quan hệ dân sụ, kinh tế nhằm huớng tới quyền, lợi ích mong muốn đạt đuợc. Hơn thế, đặt trong tuơng quan với pháp luật thế giới và sụ phát sinh nhiều quan hệ dân sụ mới thì họp đồng lại có ý nghĩa quan trọng, vì họp đồng ghi nhận và ràng buộc quyền, nghĩa vụ của các bên. Đe đuợc pháp luật công nhận và bảo vệ quyền, lợi ích họp pháp thì các bên trong họp đồng phải tuân thủ một số điều kiện nhất định, đó là điều kiện có hiệu lục của họp đồng. Việc vi phạm một trong các điều kiện có hiệu lục sẽ dẫn tới hậu quả là họp đồng bị vô hiệu. Hiện nay, các quy định về họp đồng vô hiệu vẫn còn nhiều vuớng mắc, có những cách hiểu khác nhau, vận dụng khác nhau dẫn tới đuờng lối xử lý chua thống nhất, chua rõ ràng, về phía các cơ quan nhà nuớc, do tính phức tạp của các họp đồng, những quy định không rõ ràng của pháp luật đã tạo cho họ rất nhiều khó khăn, lúng túng trong công tác xét xử có liên quan tới họp đồng vô hiệu. Nói cách khác, chính điều đó làm hạn chế năng lục của các cơ quan chức năng trong việc giải quyết các tranh chấp về họp đồng. Và trên thục tế, cũng không ít truờng họp họp đồng bị tuyên bố vô hiệu do một bên giao kết họp đồng lợi dụng các quy định của pháp luật để “bội uớc”, nhằm trốn tránh thục hiện nghĩa vụ của mình. Họp đồng vô hiệu do giả tạo là một trong những loại họp đồng vô hiệu do vi phạm ý chí chủ thể gây nhiều tranh cãi và khó khăn trong quá trình áp dụng pháp luật hiện nay.
Trang 1VIỆN HÀN LÂMKHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LÊ ĐỨC VIỆT
HỢP ĐÒNG VÔ HIỆU DO GIẢ TẠO THEO PHÁP
LUẬT DÂN SỤ VIỆT NAM HIỆN NAY
Chuyên ngành: Luật kinh tế
Mã số: 60.38.01.07
LUẬN VẨN THẠC sĩ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS TRẦN VĂN BIÊN
HÀ NỘI - 2017
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các sốliệu, ví dụ và trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính xác và trung thực.Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được ai công bố trong bất kỳ côngtrình nào khác
Hà Nội, ngày tháng năm 2017
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
LÊ ĐỨC VIỆT
Trang 3MỤC LỤC
Chương 1: NHŨNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HỢP ĐỒNG VÔ HIỆU DO GIẢ
TẠO 5
1.1 Khái niệm hợp đồng vô hiệu 5
1.2 Khái niệm họp đồng vô hiệu do giả tạo 21
1.3 Các trường họp họp đồng vô hiệu do giả tạo 24
1.4 Họp đồng vô hiệu do giả tạo theo quy định pháp luật của một số nước trên thế giới 28
1.5 Ý nghĩa pháp lý của quy định về họp đồng vô hiệu do giả tạo 30
Chương 2: HỢP ĐỒNG VÔ HIỆU DO GIẢ TẠO THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VÀ THựC TIỄN ÁP DỤNG 33
2.1 Thực tiễn áp dụng họp đồng vô hiệu do giả tạo theo các quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam 33
2.2 Điều kiện của họp đồng vô hiệu do giả tạo 45
2.3 Hậu quả pháp lý của họp đồng vô hiệu do giả tạo 49
2.4 Thời hiệu yêu cầu tuyên bố họp đồng vô hiệu do giả tạo 55
2.5 Bảo vệ quyền và lợi ích của người thứ ba ngay tình khi họp đồng bị tuyên bố là vô hiệu do giả tạo 56
Chương 3: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ VÀ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG VÔ HIỆU DO GIẢ TẠO 65
3.1 Yêu cầu đối với việc hoàn thiện pháp luật về họp đồng vô hiệu do giả tạo 65
3.2 Phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về họp đồng vô hiệu do giả tạo 70 3.2.1 Phương hướng hoàn thiện pháp luật về họp đồng vô hiệu do giả tạo 70
KẾT LUẬN 78
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 79
Trang 4DANH MỤC VIẾT TÃT
TANDTC : Tòa án nhân dân tối caoVKSNDTC : Viện kiểm sát nhân dân tối
cao
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Việc xác lập họp đồng là một trong những phuơng thức hiệu quả đối với cácchủ thể khi tham gia vào các quan hệ dân sụ, kinh tế nhằm huớng tới quyền, lợi íchmong muốn đạt đuợc Hơn thế, đặt trong tuơng quan với pháp luật thế giới và sụ phátsinh nhiều quan hệ dân sụ mới thì họp đồng lại có ý nghĩa quan trọng, vì họp đồngghi nhận và ràng buộc quyền, nghĩa vụ của các bên Đe đuợc pháp luật công nhận vàbảo vệ quyền, lợi ích họp pháp thì các bên trong họp đồng phải tuân thủ một số điềukiện nhất định, đó là điều kiện có hiệu lục của họp đồng Việc vi phạm một trong cácđiều kiện có hiệu lục sẽ dẫn tới hậu quả là họp đồng bị vô hiệu
Hiện nay, các quy định về họp đồng vô hiệu vẫn còn nhiều vuớng mắc, cónhững cách hiểu khác nhau, vận dụng khác nhau dẫn tới đuờng lối xử lý chua thốngnhất, chua rõ ràng, về phía các cơ quan nhà nuớc, do tính phức tạp của các họp đồng,những quy định không rõ ràng của pháp luật đã tạo cho họ rất nhiều khó khăn, lúngtúng trong công tác xét xử có liên quan tới họp đồng vô hiệu Nói cách khác, chínhđiều đó làm hạn chế năng lục của các cơ quan chức năng trong việc giải quyết cáctranh chấp về họp đồng Và trên thục tế, cũng không ít truờng họp họp đồng bị tuyên
bố vô hiệu do một bên giao kết họp đồng lợi dụng các quy định của pháp luật để “bộiuớc”, nhằm trốn tránh thục hiện nghĩa vụ của mình Họp đồng vô hiệu do giả tạo làmột trong những loại họp đồng vô hiệu do vi phạm ý chí chủ thể gây nhiều tranh cãi
và khó khăn trong quá trình áp dụng pháp luật hiện nay
Thục trạng trên cho thấy, cần nghiên cứu một cách nghiêm túc vấn đề họpđồng vô hiệu do giả tạo để từ đó đua ra các kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy địnhpháp luật về vấn đề này Việc xây dụng các quy định pháp luật về hợp đồng vô hiệu
do giả tạo hoàn chỉnh, phù họp với thục tiễn không những là yêu cầu chính đáng củanguời dân để họ bảo vệ quyền, lợi ích họp pháp của mình, mà còn là điều kiện để cơquan nhà nuớc có thẩm quyền hoàn thành tốt chức năng, nhiệm vụ đuợc giao Xuấtphát từ những lý do trên, việc tiến hành nghiên cứu một cách có hệ thống về vấn đềhợp đồng vô hiệu do giả tạo là việc làm hết sức cần thiết Do đó, tác giả đã lụa chọn
đề tài “Hợp đồng vô hiệu do giả tạo theo pháp luật dân sự Việt Nam hiện nay”.
2 Tinh hình nghiên cứu đề tài
Họp đồng vô hiệu đã đuợc nhiều nhà khoa học pháp lý nghiên cứu duới góc
độ lý luận cũng nhu thục tiễn giải quyết tranh chấp, có thể trục tiếp hoặc gián tiếpnhu các bài giảng trong giáo trình Luật dân sụ của Truờng Đại học Kiểm sát, 1
Trang 5Trường Đại học Luật Hà Nội, Khoa Luật - Đại học Quốc gia, trong một số ấn phẩmnhư: Bình luận BLDS của Bộ Tư pháp và trong một số bài viết của một số tác giả ở
góc độ hẹp, đó là: TS Bùi Đăng Hiếu: Giao dịch dân sự vô hiệu tương đổi và giao dịch dân sự vô hiệu tuyệt đổi Trong bài viết này tác giả chủ yếu phân tích, so sánh
và đưa ra sự khác biệt chung thể hiện bản chất của khái niệm giao dịch dân sự vôhiệu tương đối và vô hiệu tuyệt đối, theo đó, vấn đề giao dịch dân sự vô hiệu do lừadối được tác giả đề cập dưới hình thức là một giao dịch vô hiệu tương đối Ngoài ra,còn có các bài viết khoa học đã được đăng trên các tạp chí luật chuyên ngành như
“Chế định họp đồng dân sự vô hiệu và yêu cầu sửa đổi, bổ sung BLDS năm 2005”(2010) của Bùi Thị Thanh Hằng, Tạp chí Khoa học (Kinh tế - Luật); “Tính chất đền
bù của họp đồng dân sự vô hiệu” (2006) của TS Bùi Đăng Hiếu, Tạp chí Luật học số
11 Điều này cho thấy vấn đề họp đồng vô hiệu đã, đang được quan tâm rất lớn từnhững nhà nghiên cứu, giảng dạy pháp luật cho đến những người áp dụng, thực hiệnpháp luật Mỗi bài viết nêu trên của các tác giả đã tiếp cận vấn đề họp đồng vô hiệu ởnhiều góc độ khác nhau, có sự nghiên cứu, so sánh, tiếp thu những quy định củapháp luật thế giới; là nguồn tài liệu quý giá cho quá trình nghiên cứu của tác giả Từnhững bài viết về khái niệm, đặc điểm, phân loại, hậu quả pháp lý họp đồng vô hiệu
mà tác giả có thể vận dụng cho riêng đề tài đặc thù của mình - họp đồng vô hiệu dogiả tạo
Có thể nói, đề tài họp đồng vô hiệu do giả tạo là một đề tài mới, và chưa đượcnghiên cứu nhiều Họp đồng vô hiệu do giả tạo thường chỉ được nhắc đến trong cácbài bình luận họp đồng vô hiệu hoặc bình luận án liên quan đến họp đồng vô hiệu, có
thể kể đến như: Đỗ Văn Đại, Luật Hợp đồng Việt Nam - Bản án và bình luận bản án,
Nhà xuất bản chính trị quốc gia năm 2013 đã đưa ra những vụ án và bình luận về ánhọp đồng vô hiệu trên cơ sở quy định của pháp luật Trong hệ thống tài liệu luận văn,luận án, họp đồng vô hiệu do giả tạo đã được nghiên cứu trong luận văn thạc sĩ củaNguyễn Hải Ngân về Họp đồng dân sự vô hiệu do giả tạo (2015) và luận văn thạc sĩcủa Vũ Thị Thanh Nga về Giao dịch dân sự do giả tạo một số vấn đề lý luận và thựctiễn (2011) Ở hai luận văn này, các tác giả đã phân tích và lý giải nhằm làm rõ cơ sở
lý luận cơ bản về họp đồng vô hiệu do giả tạo, phân loại họp đồng vô hiệu do giả tạotheo pháp luật dân sự Việt Nam Đồng thời làm rõ hậu quả pháp lý khi tuyên bố họpđồng vô hiệu do giả tạo và thực trạng áp dụng quy định pháp luật về họp đồng vôhiệu do giả tạo hiện nay Đe xuất phương hướng hoàn thiện các quy định pháp luật
và các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật Theo đó, vấn đề họpđồng vô hiệu do giả tạo được các tác giả đề 2
Trang 6cập dưới hình thức là một trường họp của họp đồng vô hiệu Tuy nhiên, với sự ra đờicủa BLDS năm 2015 thì những thay đổi về họp đồng vô hiệu, họp đồng vô hiệu dogiả tạo đã có những điểm đổi mới, cần được tác giả lưu tâm và cập nhật vào luận văncủa mình.
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu trên đây đã nêu và phân tích nhữngvấn đề có tính khái quát nhất về vô hiệu và giải quyết hậu quả pháp lý của họp đồng
vô hiệu Vấn đề họp đồng vô hiệu do giả tạo chỉ là một phần nhỏ trong các côngtrình này Việc nghiên cứu hoàn chỉnh và cụ thể về họp đồng vô hiệu do giả tạo chưađược khai thác một cách triệt để Vì vậy, một lần nữa có thể khẳng định, việc nghiêncứu đề tài họp đồng vô hiệu do giả tạo thực sự rất cần thiết
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu đề tài
Mục đích của việc nghiên cứu đề tài là nhằm góp phần làm sáng tỏ khái niệm,đặc điểm pháp lý chế định họp đồng vô hiệu nói chung và họp đồng vô hiệu do giảtạo nói riêng, qua đó làm rõ hậu quả pháp lý của họp đồng vô hiệu do giả tạo, đồngthời phân tích thực trạng pháp luật, thực tiễn áp dụng pháp luật về họp đồng vô hiệu
do giả tạo Ngoài ra, khi nghiên cứu thực trạng, đánh giá hiệu quả điều chỉnh của cácquy định pháp luật về họp đồng vô hiệu do giả tạo và thực tiễn việc giải quyết hậuquả pháp lý của họp đồng vô hiệu do giả tạo, luận văn còn nhằm mục đích đề xuấtmột số kiến nghị hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính khả thi khi áp dụng trong thựctiễn giải quyết các tranh chấp về họp đồng vô hiệu do giả tạo tại TAND
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
Đe thực hiện mục đích trên, luận văn có nhiệm vụ làm rõ những vấn đề sau:
- Phân tích và lý giải nhằm làm rõ cơ sở lý luận cơ bản về họp đồng, họpđồng vô hiệu và họp đồng vô hiệu do giả tạo trong pháp luật dân sự Việt Nam
- Nghiên cứu và so sánh pháp luật nước ngoài về họp đồng vô hiệu do giảtạo
- Nghiên cứu pháp luật thực định Việt Nam về họp đồng vô hiệu do giả tạo,hậu quả pháp lý khi tuyên bố họp đồng vô hiệu do giả tạo
- Nghiên cứu thực tiễn về họp đồng vô hiệu do giả tạo và đánh giá về hiệuquả của những quy định pháp luật hiện hành thông qua việc áp dụng pháp luật củacác cơ quan nhà nước có thẩm quyền
- Đe xuất phương hướng hoàn thiện các quy định pháp luật và các giải phápnhằm nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật
3
Trang 74 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những vấn đề
lý luận và thực tiễn về hợp đồng vô hiệu do giả tạo theo quy định của pháp luật ViệtNam hiện nay
- Phạm vi nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu lý luận và thực tiễn xét
xử về hợp đồng vô hiệu do giả tạo vấn đề này được tiếp cận theo chiều sâu và toàndiện trong hệ thống pháp luật dân sự Việt Nam và đặc biệt là quy định của BLDS2015
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Việc nghiên cứu, đánh giá các vấn đề trong luận văn dựa trên cơ sở phươngpháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và phápluật Bên cạnh đó, tác giả còn sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu cụ thể như:phân tích, tổng hợp, so sánh, thống kê .kết họp giữa lý luận với thực tiễn để thựchiện luận văn
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Luận văn làm rõ những vấn đề cơ bản của họp đồng vô hiệu do giả tạo nhưkhái niệm, đặc điểm họp đồng vô hiệu do giả tạo, thực trạng pháp luật và thực tiễn
áp dụng pháp luật tại Tòa án về họp đồng vô hiệu do giả tạo, thông qua đó, đưa ranhững kiến nghị và giải pháp nhằm hoàn thiện quy định pháp luật về vấn đề này
Những đề xuất, kiến nghị của luận văn góp phần hoàn thiện các quy địnhpháp luật dân sự về họp đồng vô hiệu do giả tạo Ket quả nghiên cứu của luận văn sẽgóp phần vào việc nhận thức sâu sắc thêm về họp đồng vô hiệu do giả tạo
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung củaluận văn được chia làm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về họp đồng vô hiệu do giả tạo
Chương 2: Họp đồng vô hiệu do giả tạo theo quy định của pháp luật ViệtNam và thực tiễn áp dụng
Chương 3: Một số kiến nghị và giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về họpđồng vô hiệu do giả tạo
Trang 8Chương 1 NHỮNG VẤN ĐÈ LÝ LUẬN VÈ HỢP ĐỒNG VÔ HIỆU DO GIẢ TẠO
1.1 Khái niệm hợp đồng vô hiệu
1.1.1. Khái niệm
Họp đồng là một trong những chế định quan trọng của pháp luật dân sự đượcghi nhận trong các quy định của BLDS và pháp luật có liên quan Khi tìm hiểu vềkhái niệm “họp đồng vô hiệu” trước hết chúng ta phải hiểu rõ bản chất của khái niệm
“họp đồng” theo quy định của BLDS hiện hành
Ở Việt Nam, trong thực tế đời sống, có nhiều thuật ngữ khác nhau được sử
dụng để chỉ về họp đồng: khế ước, giao kèo, văn tự, văn khế, cam kết, tờ giao ước, tờ ưng thuận Trong cổ luật, dựa vào các cứ liệu lịch sử còn lại cho đến ngày nay, thuật ngữ “v’ở/7 /ự” hay “v’ở/7 £/ỉế”[52, tr.363 - 366], hay mua, bán, cho, cầm đã
được sử dụng khá sớm, trong Bộ Quốc triều Hình luật [34, tr 156] Sau này, thuật
ngữ “khế ước” mới được sử dụng chính thức trong sắc lệnh ngày 21/7/1925 (được
sửa đổi bởi Sắc lệnh ngày 23/11/1926 và sắc lệnh ngày 06/9/1927) ở Nam phầnthuộc Pháp, trong Bộ Dân luật Bắc kỳ 1931, và trong Bộ Dân luật Trung kỳ 1936 -
1939 Thuật ngữ “khế ước” cũng được sử dụng trong sắc lệnh 97/SL của nước Việt
Nam Dân chủ Cộng hòa, được Hồ Chủ tịch ký ban hành ngày 22/5/1950 (Điều 13).Thuật ngữ “khế ước” cũng được sử dụng trong Bộ Dân luật 1972 của chế độ ViệtNam Cộng hòa ở miền Nam trước 30/4/1975 (Điều 653) Ngoài ra, trong các văn bản
nêu trên còn sử dụng thuật ngữ “hiệp ước”, trong đó nhà làm luật xem “khế ước ” là một “hiệp ước”[3, tr.664] hoặc đồng nhất giữa “khểước” với “hiệp ước”[4, tr.653].
Các văn bản pháp luật hiện hành của nhà nước ta không còn sử dụng thuật
ngữ “khể ước” hay “hiệp ước” như trước đây mà sử dụng các thuật ngữ có tính
“chức năng 1 ', “công cụ” [22, tr.40] như hợp đồng, hợp đồng lao động, hợp đồng thương mại Trong pháp luật của nhiều nước chỉ sử dụng thuật ngữ “hợp đồng”, chứ không sử dụng các thuật ngữ hợp đồng dân sự, hợp đồng thương mại, hợp đồng lao động như luật Việt Nam.
Ngoài việc chọn “hợp đong' làm thuật ngữ pháp lý chính thức trong các văn
bản pháp luật, các luật gia cũng quan tâm tới việc làm rõ nội hàm của khái niệm
“hợp đồng', về mặt học thuật và pháp lý, các luật gia cũng đã gặp nhiều khó khăn
trong việc đưa ra một định nghĩa về họp đồng Đúng như một luật gia đã nhận xét,
hợp đồng “dường như là một trong những hiện tượng có thể nhận thức được rất dễ dàng nhưng thật khó khăn để có thể đưa ra được một định nghĩa về nó”[55, tr 14].
5
Trang 9cỏ thể nói, thuật ngữ “Aợp đồng' là một phạm trù đa nghĩa và có thể được
xem xét nhiều góc độ khác nhau Các luật gia Việt Nam thường hiểu khái niệm “Aợp
đồng” theo hai nghĩa: nghĩa khách quan và nghĩa chủ quan Theo nghĩa khách quan,
“họp đồng” là một bộ phận của chế định nghĩa vụ trong Luật Dân sự, bao gồm các
“quy phạm pháp luật được quy định cụ thể trong BLDS nhằm điều chỉnh các quan
hệ xã hội (chủ yếu là quan hệ tài sản) trong quá trình dịch chuyển các lợi ích vật chất giữa các chủ thể với nhau” Theo nghĩa chủ quan, họp đồng “là sự ghi nhận kết quả của việc cam kết, thỏa thuận giữa các chủ thể giao kết hợp đồng'' hay “là kết quả của việc thỏa thuận, thống nhất ý chỉ của các bên, được thể hiện trong các điều khoản cụ thể về quyền và nghĩa vụ mỗi bên để có cơ sở cùng nhau thực hiện” [42, tr.
19]
Trong phạm vi mục này, tác giả chỉ bàn về khái niệm họp đồng hiểu theonghĩa chủ quan (nghĩa hẹp) Theo đó, ngoài việc được ghi nhận chính thức trong cácvăn bản pháp luật của nhiều nước trên thế giới, khái niệm họp đồng còn được nhiềuhọc giả đưa ra nhiều định nghĩa khác nhau Một trong những định nghĩa sớm nhất vềhọp đồng thường được nhiều học giả ngày nay nhắc đến và chấp nhận, là định nghĩa
của học giả người Pháp - Pothier trong tác phẩm “Traỉté des oblỉgatỉons” năm 1761:
“Họp đồng là sự thỏa thuận theo đó hai hoặc chỉ một bên hứa, cam kết với người khác để chuyển giao một vật, để làm một công việc hoặc không làm một công việc
[59, tr.3] Định nghĩa này không khác gì so với định nghĩa họp đồng trong các BLDShiện đại ngày nay BLDS Pháp cũng có định nghĩa họp đồng giống gần như hoàn
toàn định nghĩa của Pothier: “Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó một hoặc nhiều người cam kết với một hoặc nhiều người khác về việc chuyển giao một vật, làm hoặc không làm một công việc nào đó” [9, tr 1101].
Theo quy định tại Điều 1378 BLDS 1994 của Bang Québec (Canada): “Hợp đồng là sự thống nhất ý chỉ, theo đó một hoặc nhiều chủ thể phải thực hiện những cam kết đã định vì lợi ích của một hoặc nhiều chủ thể khác” Tuy có tính khái quát
hon, nhưng định nghĩa này cũng không hoàn toàn “thoát ly” khỏi định nghĩa tại Điều
1101 BLDS Pháp [54, Điều 1378] Cả hai định nghĩa trên đều thể hiện rõ bản chất
của họp đồng là sự “thỏa thuận” hay “thống nhất ý chí” giữa các bên Tuy nhiên,
nội dung định nghĩa chỉ thể hiện chức năng của họp đồng mà chưa chỉ ra được dấu
hiệu đặc trưng thứ hai của họp đồng: nhằm tạo ra hiệu lực ràng buộc pháp lý về quyền và nghĩa vụ giữa các bên Trong Bách Khoa toàn thư về Pháp luật của Hoa Kỳ cũng có định nghĩa họp đồng: “Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa hai thực thể pháp lý, tạo ra một sự ràng buộc nghĩa vụ nhằm để làm một việc, hoặc để 6
Trang 10không làm một việc, giao một vật xác định'' [56, tr.53] Định nghĩa này thể hiện rõ
ràng hơn bản chất và mục đích cơ bản của khái niệm hợp đồng và nội dung của nócũng có tính “hội nhập” hơn với khoa học pháp lý của các quốc gia khác trên thếgiới
Điều 385 BLDS 2015 định nghĩa họp đồng nhu sau: “Họp đồng là sụ thoảthuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sụ”
Có thể dễ dàng thấy rằng, quy định tại Điều 385 BLDS Việt Nam 2015 cũng gần
giống nhu quy định của Điều 2 Luật họp đồng Trung Quốc (1999): “Hợp đồng theo quy định của luật này là sự thỏa thuận về việc xác lập, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự giữa các chủ thể bình đẳng tự nhiên, các tổ chức khác ” và đặc biệt là hoàn toàn giống với quy định tại khoản 1 Điều 420 BLDS Nga (1994): "Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa hai hay nhiều bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự” [22, tr.3 9]
Xét về bản chất, họp đồng đuợc tạo ra bởi sụ thỏa thuận của các bên, là kếtquả của quá trình thuơng thảo và thống nhất ý chí giữa các bên để làm phát sinh, thayđổi, chấm dứt các quyền và nghĩa vụ đối với nhau, trừ những quyền và nghĩa vụ màpháp luật có qui định là không thể thay đổi hoặc chấm dứt bằng thỏa thuận của cácbên Xét về vị trí, vai trò của họp đồng, theo nghĩa hẹp, thì họp đồng là một loại giaodịch dân sụ, là một căn cứ pháp lý làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quan hệ phápluật dân sụ Nhu vậy, họp đồng là phuơng tiện pháp lý để các bên tạo lập quan hệnghĩa vụ Có thể nói, định nghĩa trên đã hàm chứa tất cả dấu hiệu mang tính bản chấtcủa họp đồng và thể hiện rõ chức năng, vai trò của họp đồng trong việc làm phátsinh, thay đổi, chấm dứt quan hệ pháp luật
Định nghĩa trên đây của BLDS 2015 đuợc xem là họp lý và thuyết phục nhất
ở Việt Nam từ truớc đến nay vì có nội dung ngắn gọn, chuẩn xác; vừa mang tính
khái quát cao, phản ánh đúng bản chất của thuật ngữ “hợp đồng”, vừa thể hiện rõ vai
trò của họp đồng nhu là một căn cứ pháp lý (phổ biến) làm phát sinh, thay đổi, chấmdứt quyền và nghĩa vụ (dân sụ) của các bên [37, tr.57] Theo quy định của BLDSnăm 2015, cách gọi “họp đồng” thay cho “Họp đồng dân sụ” là một điểm mới họp
lý Truớc đây việc sử dụng khái niệm “họp đồng dân sụ” có thể gây sụ trùng lặp giữakhái niệm họp đồng theo nghĩa rộng với họp đồng theo nghĩa hẹp (đuợc quy địnhtrong phần riêng về các loại họp đồng dân sụ) Bởi bản thân từ “dân sụ” trong phápluật Việt Nam vừa có thể đuợc hiểu theo nghĩa rộng là để chỉ các vấn đề thuộc lĩnhvục luật tu nói chung, vừa có thể theo nghĩa hẹp là để chỉ các vấn đề mang tính chấtdân sụ thuần túy nhu ngành “luật dân sụ”, “họp đồng dân sụ”,
7
Trang 11“tòa dân sự” để phân biệt với các vấn đề tương đồng khác không phải dân sự nhưngành “luật thương mại” hay “luật hôn nhân và gia đình” Như vậy hai từ “dân sự”được đặt ngay sau danh từ “họp đồng” dường như có chủ ý của nhà làm luật là muốnkhẳng định sự khác biệt giữa họp đồng trong pháp luật dân sự với các họp đồngthuộc phạm vi điều chỉnh của các luật chuyên ngành Hiểu theo nghĩa đó thì tên gọi
“họp đồng dân sự” như quy định trong BLDS năm 2005 trước đây là không phù họpvới tính chất, vị trí, vai trò là luật chung của BLDS Điều này làm người đọc cảmnhận các quy định trong phần chung về họp đồng trong BLDS là chỉ dành riêng đểđiều chỉnh họp đồng “dân sự” và qua đó quy định này đã tự làm giới hạn phạm vi tácđộng của quy định về họp đồng chuyên biệt trong pháp luật chuyên ngành Hai là,không phải mọi thỏa thuận giữa các bên đều có thể đưa đến một bản họp đồng Ví dụthỏa thuận kết hôn, thỏa thuận về việc một bên vợ hoặc chồng trực tiếp nuôi con
Trong khi đó, khái niệm “họp đồng dân sự” được qui định tại Điều 388 BLDS
2005 với chủ định xem đây khái niệm chung được sử dụng để chỉ mọi họp đồng, chứkhông phải chỉ dành cho riêng “họp đồng dân sự” Do vậy, không nên đặt từ “dânsự” ngay sau khái niệm “họp đồng” vì dễ gây hiểu lầm, và không cần thiết Việc sửa
đổi khái niệm Họp đồng theo hướng bỏ hai từ “dân sự” kèm theo sau thuật ngữ
“hợp đồng” là hoàn toàn họp lý.
về khái niệm họp đồng vô hiệu, theo từ điển Tiếng Việt năm 2003 của ViệnNgôn ngữ học thì “vô hiệu” được hiểu là “không có hiệu lực, không mang lại kếtquả” Theo cách hiểu này, họp đồng vô hiệu là họp đồng không có giá trị (hiệu lực)
về mặt pháp lý, mặc dù họp đồng đó đã được xác lập nhưng mọi cam kết của các bênđều không được pháp luật bảo hộ, không có giá trị pháp lý [46, tr 1083]
“Họp đồng vô hiệu” là thuật ngữ được sử dụng phổ biến trong khoa học pháp
lý và pháp luật họp đồng Trong chế định họp đồng, họp đồng vô hiệu là một bộphận không thể tách rời, trong mối quan hệ biện chứng với họp đồng, điều kiện cóhiệu lực của họp đồng Tuy nhiên, trong khi “họp đồng” được định nghĩa tương đốiphổ biến trong pháp luật dân sự của các nước, thì khái niệm “họp đồng vô hiệu” lạikhông được pháp luật dân sự của nhiều nước trên thế giới (trong đó có Việt Nam)đưa ra, mà thông thường chỉ làm rõ các tiêu chí xác định sự vô hiệu của họp đồng.Điều 407 BLDS 2015 nêu rõ: “Quy định về giao dịch dân sự vô hiệu từ Điều 123 đếnĐiều 133 của Bộ luật này cũng được áp dụng đối với họp đồng vô hiệu” [7, Điều407] Vì thế, để hiểu được khái niệm họp đồng vô hiệu phải đặt chúng trong mốiquan hệ với giao dịch dân sự vô hiệu
Trang 12Đe xác định giao dịch vô hiệu phải căn cứ vào quy định tại Điều 117 và Điều
122 BLDS (giao dịch dân sụ không có một trong các điều kiện đuợc quy định tạiĐiều 117 của BLDS năm 2015 là vô hiệu) Các điều kiện theo quy định tại Điều 117là: nguời tham gia giao dịch có năng lục pháp luật dân sụ và hành vi dân sụ phù họpvới giao dịch dân sụ đuợc xác lập; chủ thể tham gia giao dịch hoàn toàn tụ nguyện;mục đích và nội dung của giao dịch dân sụ không vi phạm điều cấm của luật, khôngtrái đạo đức xã hội; hình thức giao dịch dân sụ là điều kiện có hiệu lục của giao dịchtrong truờng họp pháp luật có quy định Đồng thời, BLDS 2015 cũng quy định cáctruờng họp giao dịch dân sụ vô hiệu cụ thể bao gồm: giao dịch dân sụ vô hiệu do viphạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội (Điều 123); do giả tạo (Điều 124); donguời chua thành niên, nguời mất năng lục hành vi dân sụ, nguời có khó khăn trongnhận thức, làm chủ hành vi, nguời bị hạn chế năng lục hành vi dân sụ xác lập, thụchiện (Điều 125); do bị nhầm lẫn (Điều 126); do bị lừa dối, đe dọa, cuỡng ép (Điều127); do nguời xác lập không nhận thức và làm chủ đuợc hành vi của mình (Điều128); do không tuân thủ quy định về hình thức (Điều 129) Các điều khoản của giaodịch dân sụ vô hiệu đuợc áp dụng đối với họp đồng vô hiệu
Đe hiểu rõ hơn về giao dịch dân sụ vô hiệu, cần phải có sụ phân biệt sụ khácnhau giữa giao dịch dân sụ vô hiệu với giao dịch dân sụ mất hiệu lục Giao dịch dân
sụ vô hiệu là giao dịch không có hiệu lục ở ngay thời điểm giao kết, còn giao dịchdân sụ bị mất hiệu lục là giao dịch có hiệu lục tại thời điểm ký kết nhung giao dịch bịchấm dứt hiệu lục là do rơi vào tình trạng không thể thục hiện đuợc Tình trạng mấthiệu lục của giao dịch dân sụ có thể do một bên vi phạm, dẫn đến bên bị vi phạm yêucầu hủy giao dịch hoặc các bên tụ thỏa thuận với nhau chấm dứt hiệu lục của giaodịch hoặc do một trở ngại khách quan nào khác [26, tr.27-28] Ví dụ, hai bên ký kếtmột họp đồng mua bán gỗ pơ mu, thời điểm này Nhà nuớc không cấm mua bán đốivới loại mặt hàng này, nhung trong khi hai bên đang thục hiện họp đồng, Nhà nuớclại có quyết định cấm khai thác và mua bán gỗ pơ mu, dẫn đến họp đồng không thểthục hiện đuợc và mất hiệu lục
Họp đồng là sụ thỏa thuận ý chí tụ nguyện của các bên chủ thể tham gia kí kếthọp đồng Vì thế nếu họp đồng đuợc thiết lập mà thiếu tính tụ nguyện của các bênhoặc một bên thì họp đồng đó bị coi là vô hiệu và không thể làm phát sinh quyền vànghĩa vụ của các bên tham gia kí kết họp đồng kể từ thời điểm họp đồng đuợc xáclập Căn cứ vào những điều kiện có hiệu lục của giao dịch dân sụ đuợc BLDS 2015quy định thì có thể hiểu họp đồng vô hiệu là: Họp đồng thể hiện ý chí của các bêntham gia mà khi xác lập có sụ vi phạm ít nhất một trong những điều 9
Trang 13kiện có hiệu lực của hợp đồng theo quy định của BLDS Tuy nhiên, chua thể coi đây
là một khái niệm hoàn chỉnh của hợp đồng vô hiệu vì nó chua nêu lên đuợc bản chất,đặc trung của hợp đồng vô hiệu
Qua những phân tích trên, có thể đua ra khái niệm hợp đồng vô hiệu nhu sau:
“Hợp đồng vô hiệu là hợp đồng không đuợc pháp luật thừa nhận, không làm phátsinh quyền và nghĩa vụ của các bên đã cam kết trong hợp đồng kể từ thời điểm xáclập hợp đồng”
Nhu vậy, theo quy định của BLDS năm 2015, hợp đồng nếu vi phạm mộttrong bốn điều kiện sau thì sẽ có thể bị coi là vô hiệu
Thứ nhất, hợp đồng vô hiệu do không có sụ tụ nguyện của các chủ thể thamgia quan hệ hợp đồng Bản chất của hợp đồng là sụ thống nhất ý chí và bày tỏ ý chícủa các chủ thể tham gia giao kết hợp đồng nhung không phải bất cứ ai cũng cóquyền tham gia vào bất kỳ giao kết nào mà chỉ có các chủ thể đuợc pháp luật chophép mới có thể đuợc tham gia Đe bảo vệ trật tụ xã hội, bảo vệ quyền lợi của nguờitham gia giao dịch, pháp luật dân sụ căn cứ vào khả năng sinh học của con nguời, địa
vị pháp lý của các cá nhân và pháp nhân để đặt ra điều kiện cho phép các bên thamgia với tu cách là chủ thể của giao dịch dân sụ Đặc điểm này xuất phát từ nguyên tắc
tụ do thỏa thuận và thống nhất ý chí giữa hai hoặc nhiều bên chủ thể dân sụ trên cơ
sở thỏa thuận Theo đó, hợp đồng không chỉ là sụ thể hiện ý chí của các bên chủ thểthông qua nội dung các điều khoản, mà truớc hết còn là sụ thống nhất ý chí giữa cácbên Mỗi bên trong quan hệ hợp đồng đều có ý chí riêng của mình Tuy nhiên, tronghợp đồng ý chí của một bên đòi hỏi cần phải có sụ đáp lại của bên kia, tạo thành sụthống nhất ý chí của các bên, từ đó mới hình thành quan hệ hợp đồng Sụ thống nhất
ý chí trong quan hệ hợp đồng phải trên cơ sở thỏa thuận Khi tham gia vào quan hệgiao kết hợp đồng, các bên chủ thể bình đẳng truớc pháp luật Trong quan hệ hợpđồng không thể có việc một bên ép buộc bên kia mà hoàn toàn là tụ nguyện, trên cơ
sở thỏa thuận để đi đến thống nhất ý chí Các bên cùng trao đổi, cùng thỏa thuận vềcác điều khoản của hợp đồng và đi đến thống nhất giao kết hợp đồng thể hiện ý chíchung Thỏa thuận vừa là nguyên tắc, vừa là đặc trung của hợp đồng và đuợc thểhiện trong tất cả các giai đoạn của quan hệ hợp đồng Do đó, khi các bên của hợpđồng cố tình đi nguợc lại với sụ tụ do thỏa thuận, tụ do ý chí của các chủ thể thamgia giao kết hợp đồng thì hợp đồng đó bị coi là vô hiệu
Thứ hai, hợp đồng vô hiệu khi không đảm bảo năng lục giao kết hợp đồng
Đe đảm bảo sụ thống nhất ý chí và bày tỏ ý chí của chủ thể tham gia, điều kiện cần: những nguời có ý chí độc lập, có năng lục pháp luật, có khả năng nhận thức 10
Trang 14được hành vi của họ để có thể tự mình xác lập, thực hiện các quyền, nghĩa vụ phátsinh từ họp đồng Trường họp ngược lại, người không có năng lực pháp luật, nănglực hành vi dân sự giao kết họp đồng thì bị coi là không thể có khả năng biểu lộ ýchí đích thực của họ - do đó không thể có sự tự nguyện Do vậy, một trong các yếu
tố mà khoa học pháp lý và pháp luật dân sự các nước sử dụng để xác định họp đồng
vô hiệu do người tham gia giao kết họp đồng không có năng lực giao kết Tư cáchcủa chủ thể tham gia quan hệ giao dịch dân sự luôn là sự thống nhất giữa năng lựcpháp luật và năng lực hành vi Năng lực hành vi dân sự cá nhân là khả năng cá nhânbằng hành vi của mình xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự Còn năng lựcpháp luật dân sự của cá nhân là khả năng cá nhân có quyền và nghĩa vụ được phápluật quy định Năng lực pháp luật chính là điều kiện cần, năng lực hành vi chính làđiều kiện đủ để tạo ra tư cách của một chủ thể khi tham gia vào giao dịch dân sự.Trong thực tế một số giao dịch dân sự mà chủ thể có đầy đủ năng lực hành vi nhưngkhông được tham gia một số giao dịch nhất định, như: người giám hộ không đượcquyền mua tài sản của người người chưa thành niên mà do chính mình giám hộ hay
là người được ủy quyền không được mua tài sản của người ủy quyền [24] ViệcBLDS 2015 bổ sung điều kiện chủ thể tham gia giao dịch dân sự phải đáp ứng haiđiều kiện về năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự là đầy đủ và khái quáthon BLDS 2005
Thứ ba, mục đích và nội dung của họp đồng vi phạm điều cấm của pháp luậthoặc trái với đạo đức xã hội Nếu như BLDS 1995 và BLDS 2005 quy định nộidung và mục đích không trái quy định pháp luật và đạo đức xã hội thì BLDS 2015lại quy định không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội Quy địnhnày tôn trọng nguyên tắc hiến định công dân được làm những gì pháp luật khôngcấm Trong giao kết họp đồng thì yếu tố thể hiện ý chí là một trong các nguyên tắcchủ yếu và đặc trưng của giao dịch dân sự Theo nguyên tắc này chủ thể tham giagiao dịch có quyền tự do thể hiện ý chí của mình, tự do trong việc quyết định nộidung, hình thức của giao dịch, khi xác lập giao dịch thì các chủ thể có quyền tự dolựa chọn đối tác, tự do thỏa thuận nội dung của giao dịch, hình thức giao kết.Nhưng sự tự do đó không mang tính tuyệt đối mà bị ràng buộc trong khuôn khổpháp luật cho phép Sự ràng buộc này chính là sự hạn chế tự do của các chủ thể khitham gia vào giao dịch Pháp luật do Nhà nước ban hành và bảo đảm thực hiện đểbảo vệ các quan hệ xã hội, do đó, khi các quan hệ xã hội bị các chủ thể xâm phạmhay nói cách khác họ không tuân thủ và thực hiện đúng những chuẩn mực do nhànước đề ra thì hành vi đó được coi là vi phạm pháp luật Bởi
11
Trang 15vậy, nhằm mục đích bảo vệ các quan hệ xã hội được nhà nước thừa nhận, nhà nước
đã đưa ra các quy định cụ thể về hợp đồng vô hiệu nhằm thể hiện phản ứng của mìnhtrước những hành vi giao kết hợp đồng, thực hiện hợp đồng không đúng quy địnhcủa pháp luật nhằm bảo vệ lợi ích của các chủ thể trong quan hệ hợp đồng, lợi íchcủa nhà nước hoặc lợi ích của các chủ thể khác
Tuy nhiên, nội dung hợp đồng cho dù không trái bất cứ một quy định nào củapháp luật nhưng vẫn có thể bị vô hiệu khi vi phạm đạo đức xã hội Pháp luật về hợpđồng ở đa số các nước trên thế giới đều có quy định này Ví dụ, tại Điều 113 BLDS
và thương mại Thái Lan quy định: “Một hành vi pháp lý bị vô hiệu nếu mục tiêu của
nó rõ ràng bị pháp luật ngăn cấm hoặc không thể thực hiện được, hoặc trái với trật tựcông cộng hoặc trái với đạo đức”[ 11, tr 113]
Thứ tư, hợp đồng vô hiệu khi vi phạm quy định của pháp luật về hình thứccủa hợp đồng Hình thức là biểu hiện của nội dung hợp đồng Xuất phát từ nguyêntắc tự do hợp đồng, các bên tự do lựa chọn hình thức biểu hiện nội dung hợp đồng
Do vậy, pháp luật dân sự nhiều nước không coi hình thức hợp đồng là một điều kiện
có hiệu lực của hợp đồng, nhưng điều đó không có nghĩa là có thể miễn trừ hoàntoàn các đòi hỏi về hình thức, bởi đều nhìn nhận sự cần thiết phải có sự can thiệp củanhà nước đối với một số giao dịch nhằm bảo vệ lợi ích của các bên và lợi ích côngcộng Do đó, đều đưa ra các đòi hỏi về hình thức đối với các giao dịch này Trướchết, những hợp đồng này phải được thể hiện bằng văn bản, những trường hợp chặtchẽ hơn nó còn phải có xác nhận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền Trong trườnghợp này, pháp luật quy định rõ, hình thức là một điều kiện có hiệu lực đối với một sốloại hợp đồng thì các bên tham gia phải tuân thủ, nếu không hợp đồng sẽ bị vô hiệu
1.1.2. Phân loại hợp đồng vô hiệu
1.1.2.1 Căn cứ vào thủ tục tổ tụng để tuyên bổ hợp đồng vô hiệu
Theo căn cứ này, hợp đồng vô hiệu được phân thành: hợp đồng vô hiệu tuyệtđối và hợp đồng vô hiệu tương đối
Hợp đồng vô hiệu tuyệt đối (hay còn gọi là đương nhiên vô hiệu): Vô hiệukhông phụ thuộc vào ý chí của các bên tham gia quan hệ hợp đồng Những trườnghợp vô hiệu này thường do nó xâm hại đến lợi ích công cộng Các dạng thường gặpcủa hợp đồng vô hiệu tuyệt đối là các hợp đồng có nội dung vi phạm điều cấm củapháp luật, trái đạo đức xã hội, hợp đồng giả tạo
Hợp đồng vô hiệu tương đối (hay còn gọi là hợp đồng vô hiệu có điều kiện):Những hợp đồng này có thể bị vô hiệu theo ý chí của các bên tham gia quan hệ hợp
12
Trang 16đồng Khi họ có sự yêu cầu và đuợc Tòa án căn cứ vào yêu cầu đó để tuyên bố vôhiệu Các yếu tố đua đến hợp đồng vô hiệu tuong đối nhu: hợp đồng đuợc giao kết donhầm lẫn, đe dọa, lừa dối, do nguời không có năng lục hành vi hoặc bị hạn chế nănglục hành vi xác lập thục hiện.
Các thuật ngữ khác nhau để chỉ các hình thức vô hiệu nói trên, có thể đuợcpháp luật dân sụ mỗi nuớc sử dụng, ví dụ: BLDS Pháp dùng khái niệm đuơng nhiên
vô hiệu - vô hiệu có điều kiện (hoặc bị hủy bỏ); BLDS Nhật Bản, sử dụng thuật ngữ
vô hiệu xóa bỏ; BLDS và Thuong mại Thái Lan phân chia thành hợp đồng vô hiệu
-có thể bị vô hiệu Dù vậy, về bản chất, chúng không -có sụ khác nhau, đó là: mộtloại quan hệ chịu sụ tác động của quyền lục Nhà nuớc - ý chí Nhà nuớc quyết địnhhợp đồng vô hiệu và một loại vô hiệu khác do chủ thể giao kết hợp đồng quyết địnhthông qua việc hủy bỏ, thay đổi hoặc có thể yêu cầu tòa án tuyên bố vô hiệu
Ở Việt Nam, khoa học pháp lý có quan điểm phân loại hợp đồng vô hiệutuyệt đối và vô hiệu tuong đối Tuy nhiên, trong BLDS, sụ phân biệt này rất mờ nhạt,ngoại trừ quy định về thời hiệu yêu cầu tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu (theo Điều
132 BLDS): Những hợp đồng vô hiệu tuyệt đối có thời hiệu tuyên bố vô hiệu khônghạn chế nhu: Hợp đồng có nội dung vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xãhội; hợp đồng do giả tạo Các truờng hợp vô hiệu tuơng đối thông thuờng có thời hạnđuợc giới hạn là 2 năm kể từ ngày giao dịch đuợc xác lập Hiện nay, trong lý luậncũng nhu trong thục tiễn chua có sụ thống nhất về tiêu chuẩn thật rõ ràng để phânbiệt hợp đồng vô hiệu tuơng đối và hợp đồng vô hiệu tuyệt đối Tuy nhiên, khi phânđịnh sụ khác nhau giữa chúng thông thuờng nguời ta dựa vào các tiêu chí: Một là, ýchí của Nhà nuớc và của các bên đối với sụ vô hiệu của hợp đồng Hợp đồng vô hiệutuyệt đối bị vô hiệu, không phụ thuộc vào ý chí của các bên trong quan hệ hợp đồng
đó, mà phụ thuộc vào ý chí của nhà nuớc Ví dụ: Hợp đồng vận chuyển trái phépchất ma túy đuơng nhiên vô hiệu, cho dù các bên giao kết hợp đồng không có tranhchấp và thừa nhận với nhau quan hệ hợp đồng nhung nó vẫn vô hiệu bởi Nhà nuớckhông thừa nhận hợp đồng đó Đối với hợp đồng vô hiệu tuơng đối, Quyết định củaTòa án là cơ sở làm cho hợp đồng vô hiệu Khi có đơn yêu cầu của nguời có quyền,lợi ích có liên quan, Tòa án sẽ tiến hành xem xét Bên có đơn yêu cầu phải chứngminh cơ sở của yêu cầu Ví dụ: Neu cho rằng mình ký kết hợp đồng do bị bên kia lừadối thì phải chứng minh đuợc sụ lừa dối đó Dựa trên những chứng cứ này, Tòa án sẽcân nhắc xem hợp đồng có bị vô hiệu hay không Hai là, sụ khác biệt về mục đích.Việc quy định hợp đồng vô hiệu tuyệt đối nhằm bảo vệ các lợi ích công (lợi ích củaNhà nuớc, của xã hội nói chung) Hợp đồng vô
13
Trang 17hiệu tương đối, xét trong một góc độ nhất định, đều có ảnh hưởng đến lợi ích công.Tuy nhiên, pháp luật quy định các trường họp vô hiệu này chủ yếu để đảm bảo quyềnlợi cho chính các chủ thể tham gia giao kết họp đồng Ba là, thời hiệu khởi kiện họpđồng vô hiệu Họp đồng vô hiệu tuyệt đối có thời hiệu khởi kiện dài hơn, thậm chíkhông có giới hạn Đối với họp đồng vô hiệu tương đối, thời hiệu khởi kiện có hạnđịnh Bốn là, chủ thể có quyền tuyên bố vô hiệu: Đối với họp đồng vô hiệu tươngđối, chỉ có người nào được pháp luật bảo vệ mới có quyền yêu cầu tuyên bố vô hiệuhọp đồng Bên cùng giao kết không thể dựa vào sự vô hiệu tương đối để xin hủy bỏhọp đồng Đối với họp đồng vô hiệu tuyệt đối, về nguyên tắc tất cả những người cóquyền, lợi ích liên quan đều có thể yêu cầu tuyên bố họp đồng vô hiệu Như vậy,phạm vi của những người có quyền yêu cầu tuyên bố vô hiệu đối với họp đồng bị coi
là vô hiệu tuyệt đối rộng hơn so với vô hiệu tương đối Quan điểm này xuất phát từnguyên tắc ưu tiên bảo vệ lợi ích công, pháp luật không bảo vệ người có lỗi Năm là,khả năng khắc phục khiếm khuyết Đối với họp đồng vô hiệu tuyệt đối, các khiếmkhuyết thông thường không khắc phục được Ví dụ: Họp đồng vi phạm pháp luậtnhư buôn bán ma túy, theo pháp luật Việt Nam thì đương nhiên vô hiệu, các bêntrong quan hệ họp đồng không thể thực hiện bất cứ biện pháp nào để họp đồng cóhiệu lực Ngược lại, khiếm khuyết của họp đồng vô hiệu tương đối thường có thểkhắc phục được Ví dụ: Trong BLDS Việt Nam quy định trong trường họp họp đồng
có yếu tố nhầm lẫn, bên bị nhầm lẫn có quyền yêu cầu bên kia thay đổi nội dung củahọp đồng đó (biện pháp khắc phục khiếm khuyết về không đảm bảo sự tự nguyệntrong họp đồng), nếu bên kia không chấp nhận thì bên bị nhầm lẫn có quyền yêu cầuToà án tuyên bố họp đồng vô hiệu (Điều 131) Như vậy, những họp đồng vô hiệutuyệt đối - đương nhiên vô hiệu - không phụ thuộc vào ý chí của các bên tham giagiao kết họp đồng mà phụ thuộc vào ý chí của Nhà nước Họp đồng vô hiệu tươngđối - có thể bị vô hiệu căn cứ vào ý chí của chính các bên trong quan hệ họp đồng.Ngoài ra, sự khác biệt giữa họp đồng vô hiệu tuyệt đối và vô hiệu tương đối có thểcòn ở mục đích tuyên bố họp đồng vô hiệu, thời hiệu khởi kiện, chủ thể yêu cầutuyên bố vô hiệu và khả năng khắc phục khiếm khuyết của họp đồng
1.1.2.2 Căn cứ vào mức độ của sự vô hiệu
Họp đồng vô hiệu được phân chia thành vô hiệu toàn bộ và vô hiệu từngphần
Họp đồng vô hiệu toàn bộ không được ghi nhận cụ thể trong quy định củaBLDS, nhưng khái niệm họp đồng vô hiệu toàn bộ tồn tại dựa trên thực tế áp dụngquy định pháp luật, nhất là điều khoản họp đồng vô hiệu một phần được ghi nhận
Trang 18trong BLDS Đây cũng là truyền thống xây dựng luật của một số nuớc trên thế giới.Trong BLDS Pháp không thấy sụ ghi nhận về phạm vi vô hiệu toàn bộ lại do thụctiễn xét xử quyết định và Tòa án cố gắng đua ra tiêu chí để giải quyết: nếu một điềukhoản bị vô hiệu là yếu tố quan trọng trong ý chí của các bên họp đồng là một khốithống nhất thì họp đồng vô hiệu toàn bộ [58] Khi họp đồng vô hiệu toàn bộ thì toàn
bộ quyền và nghĩa vụ đã đuợc xác lập trong họp đồng sẽ không có giá trị pháp lý tức
là không làm phát sinh, thay đổi hay chấm dứt quyền và nghĩa vụ đó đối với các chủthể trong họp đồng
Cũng có những họp đồng vô hiệu toàn bộ nhung đối với một số điều khoảnđuợc các bên thỏa thuận ghi trong họp đồng có vai trò độc lập với họp đồng, thì khihọp đồng vô hiệu toàn bộ, các điều khoản đó cũng có thể đuợc công nhận có hiệu lụcnếu đủ các điều kiện luật định mà không lệ thuộc vào hiệu lục của toàn bộ họp đồng.Họp đồng vô hiệu từng phần (vô hiệu một phần) là những họp đồng đuợc xáclập mà có một phần nội dung của nó không có giá trị pháp lý nhung không ảnhhuởng đến hiệu lục của các phần khác của họp đồng đó Thông thuờng kết cấu củamột họp đồng sẽ bao gồm phần nội dung và hình thức Phần nội dung của họp đồngghi nhận các điều khoản cụ thể trên cơ sở họp thức hóa các thỏa thuận của chủ thểtham gia giao kết họp đồng Do vậy, căn cứ vào điều kiện có hiệu lục của họp đồng
đã đuợc pháp luật quy định, đối chiếu với thỏa thuận chủ thể giao kết, nếu thỏa thuậnnày trái luật tức là không có giá trị pháp lý Nhung pháp luật cũng không vì một nộidung vi phạm mà liên đới tới các nội dung không vi phạm khác
Đối với một họp đồng vô hiệu từng phần, ngoài phần vô hiệu không đuợc ápdụng, các phần còn lại vẫn có giá trị thi hành, nên các bên vẫn phải tiếp tục thi hànhtrong phạm vi phần họp đồng vẫn còn hiệu lục Chỉ có những phần vô hiệu mớikhông làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ của các bên; phần còn lạicủa họp đồng vẫn có giá trị thục hiện và giá trị pháp lý ràng buộc các chủ thể tronghọp đồng trong phạm vi phần có giá trị hiệu lục đó
Cách phân loại này tuơng đối phổ biến ở pháp luật dân sụ nhiều nuớc Ví dụ:Theo nội dung của quy định tại Điều 135 BLDS và Thuơng mại Thái Lan: Neu bất
kỳ phần nào của họp đồng bị vô hiệu thì toàn bộ họp đồng vô hiệu, trừ khi có thể chorằng, do hoàn cảnh vụ việc, hai bên ký kết có ý định tách phần có hiệu lục ra khỏiphần vô hiệu Pháp luật dân sụ Việt Nam có quy định tuơng tụ: Họp đồng vô hiệutừng phần khi một phần của họp đồng vô hiệu nhung không ảnh huởng đến hiệu lụccủa phần còn lại của họp đồng (Điều 130 BLDS) Trong họp đồng vô hiệu 15
Trang 19từng phần, chỉ những phần họp đồng vi phạm bị vô hiệu, không ảnh hưởng đến hiệulực của toàn bộ họp đồng Nói cách khác, khi họp đồng được xác định là vô hiệutừng phần thì họp đồng vẫn tồn tại và có hiệu lực Họp đồng vô hiệu toàn bộ đượcxác định khi các điều kiện có hiệu lực của họp đồng không được đảm bảo, làm chotoàn bộ họp đồng không có hiệu lực Đây là điểm khác biệt cơ bản giữa họp đồng vôhiệu toàn bộ và họp đồng vô hiệu từng phần.
1.1.2.3 Căn cứ vào điều kiện có hiệu lực của hợp đồng
Trên cơ sở các điều kiện có hiệu lực của họp đồng được quy định tại Điều 117BLDS 2015, có thể phân chia họp đồng vô hiệu thành bốn trường họp:
Thứ nhất, họp đồng vô hiệu do người tham gia giao kết không có năng lựcpháp luật và năng lực hành vi dân sự Khi tham gia bất kỳ một giao dịch nào các chủthể cũng phải đáp ứng điều kiện về mặt năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân
sự đối với họp đồng Chủ thể tham gia họp đồng không đáp ứng quy định này sẽ làmcho họp đồng vô hiệu
Thứ hai, họp đồng vô hiệu do có mục đích và nội dung vi phạm điều cấm củaluật, trái đạo đức xã hội Pháp luật cùng với việc quy định cho các chủ thể nhữnghành vi được phép làm, cũng đã quy định những hành vi bị cấm Bên cạnh đó, đạođức xã hội cũng đặt ra những chuẩn mực ứng xử đòi hỏi các chủ thể phải tôn trọng
và pháp luật cũng ghi nhận điều đó Chính vì vậy, khi các chủ thể không tuân thủtheo các quy định của pháp luật về điều cấm và các chuẩn mực đạo đức xã hội thìhọp đồng trở nên vô hiệu
Thứ ba, họp đồng vô hiệu do chủ thể tham gia họp đồng không hoàn toàn tựnguyện Bản chất của họp đồng là sự thống nhất ý chí và bày tỏ ý chí Chính vì vậy,
tự do ý chí và bày tỏ ý chí là các yếu tố cấu thành sự tự nguyện Neu một trong haiyếu tố này không có hoặc không thống nhất thì không thể có sự tự nguyện Họp đồngthiếu sự tự nguyện đều bị coi là vô hiệu Mọi sự thỏa thuận không phản ánh đúng ýchí của các bên hoặc một bên ký kết sẽ không làm phát sinh hậu quả pháp lý
Thứ tư, họp đồng vô hiệu do hình thức không phù họp với quy định pháp luật.Pháp luật cho phép các bên chủ thể có quyền tự do lựa chọn hình thức của họp đồng.Tuy nhiên, trong một số trường họp pháp luật quy định họp đồng phải được lập theomột hình thức nhất định và hình thức của họp đồng trong trường họp này được coi làđiều kiện có hiệu lực của họp đồng Khi đó, nếu họp đồng không tuân thủ các quyđịnh về hình thức sẽ vô hiệu
Trang 201.1.2.4 Căn cứ vào mức độ vượt quá phạm vỉ đại diện của người đại điện
Một trong các điều kiện quan trọng để công nhận hợp đồng có hiệu lục là tucách đại diện hợp pháp (đại diện theo pháp luật hoặc ủy quyền) của hộ gia đình, tổhợp tác, tổ chức hoặc cá nhân Trong nhiều truờng hợp, khi việc tham gia xác lậphợp đồng thay cho nguời thứ ba không dựa trên các truờng hợp đại diện luật định thìhợp đồng đó có thể bị vô hiệu
-Hợp đồng vô hiệu do nguời đại diện xác lập vuợt quá phạm vi đại diện:
Thuờng thì đây là hợp đồng đuợc xác lập bởi nguời đại diện hợp pháp, nhung
do nguời đại diện đã xác lập hợp đồng trên thục tế vuợt quá phạm vi đại diện Nguờitrục tiếp tham gia hợp đồng tuy có tu cách đại diện hợp pháp nhung nội dung hợpđồng do họ xác lập có một phần giá trị, mức độ, phạm vi vuợt quá giới hạn đuợc ghitrong hợp đồng ủy quyền hoặc đuợc quy định trong loại đại diện tuong ứng
Hợp đồng đuợc xác lập vuợt quá phạm vi đại diện thì phần vuợt quá phạm viđại diện đó bị vô hiệu, trừ truờng hợp nguời đuợc đại diện biết mà không phản đối
-Hợp đồng vô hiệu do nguời giao kết không có quyền đại diện:
Hợp đồng vô hiệu do nguời trục tiếp giao kết không có tu cách đại diện hoặctuy có tu cách đại diện nhung đã giao kết, thục hiện hợp đồng không thuộc công việc
mà họ đuợc phép đại diện Cũng bị xem là không có tu cách đại diện nếu nguời đạidiện đua ra những tuyên bố ý chí trái với ý chí của nguời đuợc đại diện, làm nhữngviệc không thuộc đối tuợng của quan hệ đại diện
1.1.3. Hậu quả pháp lỷ của hợp đồng vô hiệu
Thuật ngữ “hậu quả pháp lý” đuợc sử dụng rất rộng rãi, nhung khoa học pháp
lý cũng nhu pháp luật hiện hành thuờng không đua ra một định nghĩa chính xác màchỉ đuợc tiếp cận theo huớng đua ra những nội dung của nó Theo cách hiểu thôngthuờng, hậu quả là kết quả không hay xảy ra từ một quá trình, một việc làm truớc đó.Nhu vậy, hậu quả truớc hết phải là một kết quả và kết quả đó phải đuợc xảy ra từ mộthành vi, một việc làm truớc đó và giữa chúng có mối liên hệ nhân quả Cách hiểunày cho thấy, không phải kết quả nào cũng có hậu quả, hậu quả chỉ là một bộ phậncủa kết quả không hay, kết quả xấu Tuy nhiên, trong khoa học pháp lý, thì kháiniệm “hậu quả pháp lý”có những ý nghĩa khác nhau, không phải lúc nào cũng có ýnghĩa là kết quả xấu, hậu quả pháp lý có thể là một kết quả tốt Ví dụ: Hậu quả pháp
lý của giao kết hợp đồng lại nhằm phát sinh, thay đổi, chấm quyền, nghĩa vụ của cácbên - đây là kết quả mà các bên mong đợi - một kết quả tốt Tiếp cận từ góc độ bảnchất của hợp đồng, thì: Hợp đồng vô hiệu là những hợp đồng không đuợc pháp luậtthừa nhận Do đó, hậu quả pháp lý của hợp đồng vô hiệu có 17
Trang 21thể hiểu theo nghĩa: Là một kết quả xấu về mặt pháp lý, phát sinh theo quy định củapháp luật trong truờng họp họp đồng vô hiệu, theo đó xác định:
- Tình trạng pháp lý của các bên (các quyền và nghĩa vụ);
- Phuong thức xử lý giữa các bên và từ phía Nhà nuớc;
- Các chế tài có thể áp dụng
Xuất phát từ đó, có thể nhận thấy, một số nội dung của hậu quả pháp lý khihọp đồng vô hiệu:
Thứ nhất, khi họp đồng vô hiệu không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của
các bên kể từ thời điểm giao kết Các bên có nghĩa vụ hoàn trả cho nhau những gì đãnhận
BLDS Pháp không có điều luật quy định cụ thể giải quyết hậu quả pháp lýcủa họp đồng vô hiệu Tuy nhiên, có thể thấy khi họp đồng vô hiệu không làm phátsinh quyền và nghĩa vụ pháp lý giữa các bên, việc hoàn trả tài sản theo quy định về:Quyền sở hữu - nghĩa là tài sản thuộc quyền sở hữu của ai thì truớc hết phải hoàn trảcho nguời đó Những truờng họp tài sản không còn giữ nguyên đuợc trạng thái banđầu, hoặc trong quá trình thục hiện họp đồng có hoa lợi, lợi tức phát sinh khi đó cóthể căn cứ thêm vào quy định “Nhận vật không có căn cứ pháp luật” để giải quyết, vídụ: Điều 1376 BLDS: “Nguời nào vì nhầm lẫn hoặc cố ý đã nhận vật không phải củamình thì buộc phải trả lại cho chủ sở hữu vật đã nhận không có căn cứ pháp luật đó”.Hoặc điều 1378 BLDS: “Neu có gian ý từ phía nguời nhận thì họ buộc phải hoàn trả
cả gốc lẫn lãi hoặc hoa lợi kể từ ngày thanh toán”
- Tính vô hiệu của một giao dịch là tính không phát sinh hậu quả pháp lý màcác bên mong muốn Ví dụ: Trong họp đồng mua bán giả tạo, hành vi đó không làmphát sinh quyền của nguời bán yêu cầu thanh toán tiền, nguời mua không có quyềnchuyển giao vật Giao dịch dân sụ vô hiệu thậm chí trong truờng họp các bên sau đócông nhận cũng không thể coi là có hiệu lục ngay từ khi giao kết
- Những họp đồng có thể bị xóa bỏ (vô hiệu tuong đối) do việc thể hiện ý chí
bị tỳ vết (các truờng họp bị lừa dối, bị ép buộc, hoặc do nguời chua thành niên xáclập, thục hiện) Neu những nguời có quyền xóa bỏ muốn xóa bỏ, họp đồng sẽ trởthành vô hiệu: Hậu quả pháp lý của việc xóa bỏ giao dịch là hành vi đó trở nên vôhiệu ngay từ thời điểm giao kết Ví dụ: Khi xóa bỏ họp đồng mua bán trong đó nguờichua thành niên bán một vật thuộc quyền sở hữu của mình, nếu vật đó chua đuợcchuyển giao thì sẽ không có nghĩa vụ chuyển giao, nếu vật đã chuyển giao thì cóquyền yêu cầu hoàn trả Điều dễ hiểu là trong truờng họp thứ nhất, nguời chua thànhniên đó không thể yêu cầu thanh toán, còn truờng họp thứ hai thì phải hoàn
Trang 22trả số tiền đã nhận được Tuy nhiên, trường hợp thứ hai này, nhằm bảo vệ có hiệuquả hon quyền lợi của người chưa thành niên, BLDS quy định người chưa thành niênchỉ phải hoàn trả tài sản đã nhận, nếu tại thời điểm yêu cầu hoàn trả, người chưathành niên còn chiếm giữ tài sản đó (Điều 121 BLDS) Điều đó có nghĩa là có thểhoàn trả toàn bộ hoặc một phần tài sản còn lại hoặc hoàn trả tài sản trong trạng thái
đã thay đổi Khi hợp đồng bị vô hiệu hoặc xóa bỏ, việc các quyền, nghĩa vụ thỏathuận trong hợp đồng nếu chưa thực hiện sẽ dừng không thực hiện, nếu đã thực hiện,các bên phải khôi phục lại tình trạng như ban đầu Việc khôi phục lại tình trạng banđầu có thể căn cứ vào chế định “thu lợi không có căn cứ”: “Thu lợi không có căn cứ”
để điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong trường hợp một người không có căn cứchính đáng mà thu được khoản lợi nhất định của người khác Điều đó làm phát sinhnghĩa vụ hoàn trả lại khoản lợi cho người đã mất Ví dụ: A trên cơ sở hợp đồng vay
đã đưa 100.000 yên cho B, tuy nhiên hợp đồng này ngay từ đầu là bất hợp pháp vàsau đó bị vô hiệu Khi không có sự cố ý hoặc vô ý của B thì việc đó không thể coi là
sự vi phạm (Điều 709 BLDS) Đồng thời, nếu để lại khoản tiền đó ở B thì trái vớinguyên tắc công bằng Chế định thu lợi không có căn cứ là nhằm để bảo đảm sựcông bằng bằng cách xác lập nghĩa vụ, trong nghĩa vụ nêu trên là nghĩa vụ của Bphải trả lại khoản tiền đã thu được cho A
BLDS và Thương mại Thái Lan, có những quan điểm tương đồng về vấn đềhoàn trả - một trong những hậu quả pháp lý của hợp đồng vô hiệu Theo đó, quyđịnh: Những hợp đồng vô hiệu (vô hiệu tuyệt đối) không thể được phê chuẩn (Điều134) đương nhiên không có hiệu lực, do đó không làm phát sinh quyền, nghĩa vụgiữa các bên Những hợp đồng có thể bị vô hiệu (vô hiệu tương đối) nếu bị xóa bỏcoi như vô hiệu từ khi mới bắt đầu (Điều 137) Khi hợp đồng vô hiệu, các bên phảikhôi phục lại điều kiện ban đầu, và nếu không thể khôi phục lại như vậy thì họ phảibồi thường tương ứng (Điều 138)
- Việc khôi phục lại điều kiện ban đầu trong Luật dân sự Thái Lan căn cứ vàochế định “Làm giàu không chính đáng” tại các quy định từ Điều 406 đến Điều 419BLDS, theo đó: Người nào qua một hành vi do người khác thực hiện hoặc theo bất
kỳ cách nào khác nhận được cái gì đó phương hại đến người khác nói trên, mà không
có cơ sở hợp pháp, thì phải hoàn lại vật nhận được cho người đó
+ Neu tài sản nhận được một cách không chính đáng là một khoản tiền, thìviệc hoàn trả được thực hiện toàn bộ Trong trường hợp người đó đã nhận tiền mộtcách thiện chí, họ chỉ có bổn phận hoàn trả phần đã làm giàu còn lại từ thời điểm cóyêu cầu hoàn trả
19
Trang 23+ Nếu tài sản phải hoàn trả là vật, xảy ra 2 trường họp: Nếu người nhận tàisản đó có thiện chí thì họ chỉ có bổn phận hoàn trả nó trong nguyên trạng mà nó có,
mà không phải chịu trách nhiệm về mất mát hoặc hư hỏng của vật đó Nhưng nếungười nhận tài sản đó không có thiện chí, phải chịu hoàn toàn trách nhiệm về mấtmát, hư hỏng ngay cả do lý do bất khả kháng gây ra
+ Neu việc hoàn trả là không thể thực hiện được, do tính chất của tài sản đãnhận hoặc lý do khác, thì phải hoàn trả đầy đủ giá trị tài sản bằng tiền
Thứ hai, khi họp đồng vô hiệu, các bên phải khôi phục tình trạng ban đầu,
hoàn trả cho nhau những gì đã nhận Việc hoàn trả được xem xét trước hết trên cáccăn cứ quyền sở hữu: Việc hoàn trả vật, tài sản khi họp đồng bị tuyên bố vô hiệu chỉ
có thể thực hiện khi một bên (đòi hỏi lại vật) là chủ sở hữu hoặc người chiếm hữuhọp pháp còn bên kia là người trên thực tế đang chiếm hữu vật; ngoài ra có thể căn
cứ thêm vào chế định “Được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật” hoặc tưongđương (pháp luật dân sự Pháp - Nhận vật không có căn cứ pháp luật, pháp luật dân
sự Thái Lan - Làm giàu không chính đáng )
Thứ ba, khi họp đồng vô hiệu không làm phát sinh hậu quả pháp lý mà các
bên mong muốn - có thể mang lại những thiệt hại nhất định cho các bên Do đó, bên
có lỗi bồi thường thiệt hại Ở đây, bồi thường thiệt hại sẽ căn cứ vào “bồi thườngthiệt hại ngoài họp đồng”
BLDS Pháp có quy định: Neu có hành vi gây thiệt hại cho người khác do lỗicủa mình, thì phải bồi thường thiệt hại (Điều 1382)
BLDS Nhật Bản quy định trách nhiệm bồi thường thiệt hại khi họp đồng vôhiệu căn cứ vào bồi thường thiệt hại ngoài họp đồng: “Giao dịch dân sự vô hiệu cóthể làm phát sinh trách nhiệm hình sự hoặc bồi thường thiệt hại ngoài họp đồng” [10,
tr 169] Đe xem xét mối liên quan giữa việc vô hiệu (hay hủy bỏ họp đồng) và bồithường thiệt hại, pháp luật căn cứ trên các yếu tố sau:
- Thiệt hại trong trường họp hủy bỏ họp đồng chuyển giao vật, nếu khôngthực hiện nghĩa vụ cần được tính theo giá vật đó tại thời điểm hủy họp đồng, chứkhông tính theo giá vật đó tại thời điểm thực hiện nghĩa vụ (Quyết định của Tòa ántối cao ngày 18.12.1953)
- Mức độ miễn trách nhiệm cho người thực hiện quyền hủy bỏ phải dựa vàomức bồi thường thiệt hại Ví dụ: Họp đồng mua bán vải với giá 100.000 yên Nhưngsau đó họp đồng bị hủy bỏ khi người bán còn chưa giao hàng, và người mua chưa trảtiền Neu tại thời điểm hủy bỏ mà giá vải tăng một mức đáng kể theo giá mới thì giátrị lô hàng đó là 150.000 yên Mức bồi thường thiệt hại sẽ là: 150.000 trừ đi
Trang 24100.000 yên là mức miễn nghĩa vụ Nếu người mua hủy bỏ hợp đồng vào thời điểmgiá vải hạ xuống 60.000 yên và người mua chưa trả tiền (100.000 yên) Trường họpnày mức bồi thường thiệt hại là 100.000 yên cộng với lãi suất do chậm thực hiện họpđồng Tuy nhiên, phải trừ đi mức miễn trách nhiệm cho người bán về việc cung cấphàng với giá 60.000 yên Nghĩa vụ khôi phục lại tình trạng ban đầu và bồi thườngthiệt hại có thể bắt buộc đối với 2 bên Trường họp này áp dụng những quy định đốivới việc thực hiện nghĩa vụ cùng một lúc (Điều 546 BLDS Nhật Bản) [10, tr.358-359].
1.2 Khái niệm hợp đồng vô hiệu do giả tạo
1.2.1. Khái niệm
\'ề khái niệm “giả tạo”, theo Từ điển tiếng Việt thì “giả tạo” được hiểu là
“không thật”, vì được tạo ra một cách không tự nhiên trong đời sống hàng ngàyngười ta thường nói nụ cười giả tạo, thương xót giả tạo [48, tr.384] Dưới góc độpháp lý, chưa có định nghĩa khái quát về thuật ngữ giả tạo Theo từ điển giải thíchLuật học: Giao dịch dân sự do giả tạo là giao dịch được xác lập nhằm che giấu giaodịch có thật khác Trong giao dịch giả tạo các chủ thể không có ý định xác lập quyền
và nghĩa vụ với nhau [30, tr.24]
BLDS năm 2015 quy định về giao dịch vô hiệu do giả tạo tại Điều 124, tạiđiều luật này các nhà làm luật chỉ nêu lên cách hiểu về giao dịch dân sự vô hiệu dogiả tạo và ghi nhận các hình thức của sự giả tạo Trong khi đó tại Điều 127 BLDSnăm 2015 lại định nghĩa cụ thể khái niệm “lừa dối” trong giao dịch dân sự vô hiệu do
bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép Theo đó, lừa dối trong giao dịch dân sự là “hành vi cố ýcủa một bên hoặc của người thứ ba nhằm làm cho bên kia hiểu sai lệch về chủ thể,tính chất của đối tượng hoặc nội dung của giao dịch dân sự nên đã xác lập giao dịchđó”
Giả tạo có tính chất quyết định đến một giao dịch, là yếu tố có thể đưa đến vôhiệu của giao dịch đó Tính chất quyết định làm cho giao dịch dân sự vô hiệu thểhiện ở chỗ các bên tham gia họp đồng có sự thỏa thuận và thống nhất ý chí, ý chí đóphải là ý chí đích thực của các bên trong quan hệ đó Neu như họp đồng được giaokết một cách giả tạo nhằm che giấu ý chí thật của các chủ thể thì họp đồng đó sẽ vôhiệu Với cách hiểu giả tạo là không "tự nhiên”, không có thật thì có thể hiểu họpđồng vô hiệu do giả tạo là họp đồng được xác lập không thật Trong họp đồng giả tạocác vấn đề hậu quả pháp lý của họp đồng bị tuyên bố vô hiệu không được quy địnhriêng mà để xử lý hậu quả pháp lý của họp đồng vô hiệu thì cần căn cứ vào quy địnhcủa BLDS 2015 về hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu vì họp 21
Trang 25đồng là một loại giao dịch dân sự Một hợp đồng được các bên giao kết mà khôngtuân thủ các điều kiện có hiệu lực của họp đồng sẽ không làm phát sinh, thay đổi,chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên từ thời điểm xác lập Các bên phảikhôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận, bên có lỗi gâythiệt hại thì phải bồi thường, tài sản và hoa lợi, lợi tức có thể bị tịch thu.
Như vậy, họp đồng vô hiệu do giả tạo là họp đồng được giao kết không tuânthủ nguyên tắc tự nguyện của các bên chủ thể khi tham gia xác lập họp đồng Cácchủ thể tham gia giao kết họp đồng không thể hiện ý chí thực của mình mà thiết lậpquan hệ trên một ý chí sai lệch Đôi khi các bên tham gia họp đồng vì những lý dokhác nhau đã xác lập với nhau một họp đồng không phải với ý chí chủ quan đíchthực của họ Mục đích của các bên giao kết họp đồng giả tạo nhằm che giấu một giaodịch khác hoặc trốn tránh nghĩa vụ với người thứ ba
1.2.2. Đặc điểm hợp đồng vô hiệu do giả tạo
Pháp luật Việt Nam cũng như pháp luật của hầu hết các nước trên thế giới đềuquy định họp đồng do giả tạo là họp đồng vô hiệu Vì vậy, họp đồng do giả tạo mangnhững đặc điểm chung của họp đồng vô hiệu
về phương diện lý luận cũng như thực tiễn, khi tham gia giao kết họp đồngcác bên chủ thể đều mong muốn đạt được mục đích nhất định và pháp luật bảo hộcũng như tạo điều kiện để mục đích này trở thành hiện thực Vì thế, để được phápluật bảo hộ, người tham gia giao kết họp đồng phải tuân theo những điều kiện màpháp luật quy định Điều này có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo vệ quyền, lợi íchcủa người tham gia giao kết họp đồng, cũng như bảo vệ lợi ích chung của xã hội
Sự giao kết họp đồng giả tạo với mục đích nêu trên làm cho họp đồng xác lậpgiả tạo có những điểm riêng biệt với các trường họp họp đồng vô hiệu khác Đó lànhững đặc điểm sau:
Thứ nhất, về ý chí các bên tham gia họp đồng xác lập họp đồng trên cơ sở ýchí không đích thực Xét việc xác lập họp đồng giả tạo, ý chí được bày tỏ gian ý củamình trong việc xác lập họp đồng với nội dung hoàn toàn giả tạo khác với ý chí banđầu Họp đồng giả tạo bị xác định vô hiệu là do không đảm bảo được tính tự nguyện
về ý chí giữa các bên tham gia Tính tự nguyện ở đây không phải do sự cưỡng ép, đedọa mà bởi vì nó không đảm bảo giữa ý chí bên trong và sự biểu hiện ý chí ra bênngoài khi giao kết họp đồng Sự tự nguyện ở đây không chỉ là sự tự nguyện trongchính bản thân các chủ thể Các bên phải biểu hiện ý chí một cách thoải mái và trungthực với mong muốn của họ Yeu tố tự nguyện phải được hiểu một cách rõ
Trang 26ràng và đúng đắn như vậy mới đảm bảo cho việc xác lập giao dịch giữa các bênkhông vi phạm pháp luật.
Thứ hai, có sự thông đồng từ trước khi giao kết họp đồng giả tạo giữa các bênchủ thể Điểm đặc biệt của họp đồng có yếu tố giả tạo là có sự thông đồng, nhất chícủa hai bên chủ thể từ trước khi xác lập họp đồng Đe xác định một họp đồng là giảtạo cần căn cứ vào ý chí giả tạo tồn tại ở các chủ thể Ý chí giả tạo đó không chỉ xuấtphát từ một phía, không xuất hiện khi họp đồng giả tạo đang được xác lập mà nó có
từ trước khi có sự xác lập họp đồng giả tạo trên cơ sở sự thông đồng giữa các chủthể Neu không có sự thông đồng trước giữa các bên thì dù có bị tuyên vô hiệu cũngkhông thể khẳng định họp đồng đó vô hiệu do giả tạo Mục đích của các bên khi xáclập giao dịch không nhằm làm phát sinh quyền và nghĩa vụ dân sự theo quy định củapháp luật mà nhằm che giấu một giao dịch khác hoặc trốn tránh nghĩa vụ đối vớingười thứ ba Qua đó ta hiểu là sự tự nguyện không đơn giản chỉ là tự nguyện xáclập giao dịch mà còn là sự tự nguyện ở chính bản thân chủ thể Các bên chủ thể phảibiểu lộ ý chí một cách thoải mái và trung thực theo đúng ý chí và mong muốn củamình
Thứ ba, luôn có ít nhất hai giao dịch cùng tồn tại khi các chủ thể xác lập họpđồng giả tạo Họp đồng giả tạo có điểm nổi bật để phân biệt với các giao dịch khác làcác giao dịch bình thường chỉ giao kết dưới dạng một họp đồng, các quyền và nghĩa
vụ phát sinh từ họp đồng này Với họp đồng giả tạo, các bên xác lập họp đồng khôngnhằm mục đích phát sinh quyền và nghĩa vụ Trong việc xác lập họp đồng giả tạoluôn tồn tại hai giao dịch song song Họp đồng giả tạo được thể hiện ra bên ngoàinhưng không có giá trị trên thực tế Một giao dịch có thật, có giá trị trên thực tế lại bịche giấu bởi họp đồng giả tạo Theo quy định của pháp luật thì họp đồng giả tạo sẽ bịtuyên vô hiệu còn giao dịch bị che giấu vẫn có giá trị pháp lý Trường họp giao dịch
bị che giấu không đáp ứng những điều kiện để một giao dịch có hiệu lực theo quyđịnh của luật thì khi đó cả họp đồng giả tạo và giao dịch bị che giấu đều bị tuyên bố
vô hiệu
Thứ tư, họp đồng vô hiệu do giả tạo là họp đồng vô hiệu tuyệt đối Như đãphân tích ở mục 1.1.2.1, họp đồng vô hiệu tuyệt đối thường được xác định trongtrường họp nó xâm hại đến lợi ích công cộng hoặc có nội dung vi phạm điều cấm củapháp luật, trái đạo đức xã hội, họp đồng giả tạo Trong họp đồng giả tạo, các bêngiao kết họp đồng không nhằm mục đích tạo lập quyền nghĩa vụ dân sự qua họpđồng này, mà nhằm che giấu một mục đích khác, có thể là hành vi vi phạm pháp luật.Trong khi đó, mục đích của họp đồng phải là lợi ích họp pháp mà các bên 23
Trang 27mong muốn đạt được khi xác lập họp đồng đó Do vậy, đối với trường họp cụ thểnày, có thể xếp họp đồng giả tạo vào họp đồng có mục đích trái pháp luật, xâm phạmđến trật tự công Chính vì vậy, họp đồng giả tạo được xếp vào họp đồng vô hiệutuyệt đối - đương nhiên vô hiệu - không phụ thuộc vào ý chí của các bên tham giagiao kết họp đồng mà phụ thuộc vào ý chí của Nhà nước.
Việc xem xét đặc điểm của họp đồng vô hiệu do giả tạo là cơ sở cho việcphân tích các quy định của pháp luật thực định về họp đồng vô hiệu do giả tạo Qua
đó đưa ra các đề xuất thích họp trong quá trình xây dựng và hoàn thiện hệ thốngpháp luật dân sự để đảm bảo an toàn pháp lý cho các chủ thể tham gia quan hệ phápluật dân sự
1.3 Các trường hợp hợp đồng vô hiệu do giả tạo
1.3.1. Hợp đồng giả tạo nhằm che giấu giao dịch khác
Điều 124 BLDS 2015 quy định: “Khi các bên xác lập giao dịch dân sự mộtcách giả tạo nhằm che giấu một giao dịch dân sự khác thì giao dịch dân sự giả tạo vôhiệu, còn giao dịch dân sự bị che giấu vẫn có hiệu lực, trừ trường họp giao dịch đócũng vô hiệu theo quy định của Bộ luật này hoặc luật khác có liên quan” [7,Điềul24] Nói cách khác là: “Hai bên giao kết lập một chứng thư mật (chứng thư chegiấu) nhằm mục đích loại bỏ hoặc thay đổi một chứng thư khác” [2, tr.64]
Với trường họp này luôn có một giao dịch bị che giấu song song tồn tại vớihọp đồng giả tạo, nó thể hiện ý chí thực của các bên giao kết Ví dụ: A cho con gái là
B một mảnh đất với giá 300 triệu đồng nhưng do sợ mâu thuẫn, ghen tị giữa các connên A giao kết một họp đồng mua bán đất Ở đây, họp đồng tặng cho đất giữa A và
B mới là họp đồng thể hiện ý chí thực Họp đồng mua bán giữa A và B là họp đồnggiả tạo nhằm che giấu họp đồng tặng cho tài sản Việc giao kết họp đồng trongtrường họp này để che giấu một giao dịch khác vì những động cơ khác nhau Bảnthân nội dung của họp đồng giả tạo có thể hoàn toàn phù họp với quy định của phápluật nhưng vì nội dung của nó không đúng với ý chí thực của các bên giao kết họpđồng vì thế họp đồng bị coi là vô hiệu
Một số trường họp các bên tham gia họp đồng không muốn phủ nhận hoàntoàn chứng thư giả tạo mà chỉ muốn thay đổi một vài chi tiết, nội dung trong họpđồng đó Sự giả tạo đôi khi đơn giản là sự mượn tên tuổi nhằm che giấu một tài sảncủa người thực sự muốn giao kết họp đồng Điều này xảy ra khi chủ thể có nhu cầuthực sự muốn giao kết họp đồng không đủ điều kiện ký họp đồng Trong họp đồngmua nhà ở xã hội hình thành trong tương lai, người có nhu cầu mua nhà không phải
là đối tượng được hưởng chính sách nhà ở xã hội đã nhờ người khác đứng ra ký họp
Trang 28đồng Người thay thế đó không phải là người thực sự muốn giao kết, không có chủ ýđối với việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ phát sinh từ họp đồng mà mọi quyền vànghĩa vụ phát sinh lại do người có nhu cầu thực sự thực hiện Nhưng về mặt hìnhthức người đứng tên tham gia giao kết họp đồng được coi là chủ thể của họp đồng
mà bản thân của họ không hề có chủ đích tham gia
Sự cho mượn có thể nhằm mục đích “người mượn người khác đứng tên muốnche giấu tông tích của mình trong việc ký kết họp đồng” [30, tr.65] Ở đây, có một sựlừa dối nhằm che giấu và trốn tránh quy định của pháp luật Neu các bên tham gia có
sự thông đồng thỏa thuận với nhau từ trước đó thì họp đồng giả tạo, còn nếu sự chegiấu kia xuất phát từ một phía thì đó là họp đồng bị lừa dối Theo quy định của phápluật, các họp đồng trên đều bị coi là vô hiệu nhưng phương thức vô hiệu của từnghọp đồng là khác nhau
1.3.2. Hợp đồng giả tạo nhằm trốn tránh nghĩa vụ với người thứ ba
Điều 124 BLDS 2015 của Việt Nam quy định: “Trường họp xác lập giao dịchdân sự giả tạo nhằm trốn tránh nghĩa vụ với người thứ ba thì giao dịch dân sự đó vôhiệu” Như vậy, hình thức thứ hai của sự giả tạo khi xác lập họp đồng là nhằm trốntránh nghĩa vụ với người thứ ba
Thỏa thuận ý chí vốn là nguyên tắc nền tảng để hình thành một họp đồng.Họp đồng có hiệu lực với các bên chấp nhận nó Nhưng ngoài các bên chủ thể họpđồng còn có những người được hưởng quyền lợi khác Họp đồng tạo ra tình trạngpháp lý ảnh hưởng tới người khác Pháp luật gọi chung những chủ thể này là ngườithứ ba
Trong họp đồng giả tạo, việc trốn tránh nghĩa vụ với người thứ ba thể hiện ởhai trường họp:
Thứ nhất, giao kết họp đồng giả tạo để trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ khibản thân chủ thể tham gia họp đồng đã tồn tại một nghĩa vụ với một chủ thể khác.Đây là tình huống xảy ra rất phổ biến đối với họp đồng vay Khi hết thời hạn vay,bên cho vay yêu cầu bên vay phải trả nợ và lãi suất nhưng bên vay tiền không đủ khảnăng thực hiện Mặc dù nhiều trường họp người vay vẫn còn tài sản là bất động sản,động sản nhưng vì muốn trốn tránh nghĩa vụ trả nợ đã làm thủ tục chuyển nhượng tàisản cho người khác Việc chuyển nhượng tài sản này là giả tạo vì thực chất tài sảnvẫn là của người vay tiền; hai bên đã thỏa thuận ý chí thực sự, theo đó người đượcchuyển nhượng chỉ tạm thời giữ tài sản của người vay tiền trong một thời gian nhấtđịnh Mặc dù họp đồng chuyển nhượng tài sản được ký kết và công
25
Trang 29chứng theo quy định của pháp luật thì họp đồng vẫn vô hiệu vì không thể hiện ý chíthục sụ của các bên và nhằm mục đích trốn tránh nghĩa vụ với nguời thứ ba.
Thứ hai, giao kết họp đồng giả tạo để không phải thục hiện một nghĩa vụ nhấtđịnh đối với Nhà nuớc Họp đồng là sụ thống nhất, thỏa thuận ý chí giữa hai bên vềviệc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sụ Nguyên tắc của phápluật dân sụ là bình đẳng, dựa trên sụ thỏa thuận, tụ nguyện thiện chí của các bên nênnếu không có sụ thống nhất ý chí thì không đuợc coi là họp đồng Tuy nhiên, sụ thỏathuận, thống nhất ý chí của các bên phải phù họp với ý chí của Nhà nuớc để Nhànuớc kiểm soát và cho phép họp đồng phát sinh trên thục tế Trong một số loại giaodịch đặc thù, cụ thể là giao dịch về chuyển nhuợng bất động sản, các bên không chỉthục hiện nghĩa vụ với nhau mà còn thục hiện nghĩa vụ với cơ quan Nhà nuớc Đetránh thục hiện nghĩa vụ với Nhà nuớc, các bên đã thông đồng, thống nhất ý chítrong việc xác lập họp đồng giả tạo để che giấu ý chí đích thục Ví dụ: Đe nhằm trốntránh việc bị Nhà nuớc tịch thu tài sản do hành vi tham nhũng của mình, ông A đãthỏa thuận ký họp đồng mua bán nhà đất cho B A và B chỉ thục hiện việc mua bán
về mặt hình thức Họ không xác lập với nhau bất kỳ quyền lợi và nghĩa vụ nào trongbản họp đồng mua bán Truờng họp này, họp đồng mua nhà đất giữa ông A và B làmột họp đồng giả tạo nhằm trốn tránh nghĩa vụ với Nhà nuớc và do đó sẽ bị vô hiệutuyệt đối
Trên thục tế, tình trạng xác lập giao dịch giả tạo để trốn tránh nghĩa vụ vớiNhà nuớc đang ngày càng phổ biến Đặc biệt là để trốn tránh nghĩa vụ nộp thuế Cácchủ thể thuờng ký họp đồng tặng cho tài sản giữa nguời thân trong gia đình thay chohọp đồng mua bán hoặc ký họp đồng mua bán giữa các chủ thể nhung giá cả thể hiệntrong họp đồng thì thấp hơn rất nhiều so với giá thục tế Ví dụ: A bán cho B căn nhàvới giá bán thỏa thuận trên họp đồng bằng giấy viết tay là 5 tỷ đồng Tuy nhiên, khi
ra văn phòng công chứng, họp đồng mua bán đó đuợc bên mua thỏa thuận là 2,8 tỷđồng, nhằm giảm bớt đóng thuế thu nhập cá nhân và lệ phí truớc bạ và đã đuợc bêncông chứng xác nhận Sau khi hồ sơ hoàn tất, A bàn giao nhà cho bên mua, nhungbên mua chỉ đồng ý trả 2,8 tỷ đồng (theo họp đồng đã ký có công chứng) Giá bánnày chênh lệch với thỏa thuận thục tế của hai bên ban đầu Khi A yêu cầu bên muathục hiện đúng cam kết đã thỏa thuận ban đầu thì bên mua cố tình phớt lờ và yêu cầuthục hiện theo họp đồng đã công chứng và giá trị nhà theo họp đồng là 2,8 tỷ đồng
Do không thể thỏa thuận đuợc, A khởi kiện ra tòa yêu cầu giải quyết Trong truờnghọp này, họp đồng mua bán trị giá 2,8 tỷ đồng là họp đồng giả tạo nên đuơng nhiên
vô hiệu Họp đồng mua bán trị giá 5 tỷ đồng vẫn có giá trị nếu
Trang 30đáp ứng được điều kiện có hiệu lực của họp đồng theo quy định của pháp luật Nếukhông họp đồng này cũng sẽ bị vô hiệu.
Đối với loại họp đồng giả tạo nhằm trốn tránh nghĩa vụ với người thứ ba thìgiao dịch này xét về nội dung không có sự vi phạm pháp luật Tuy nhiên giữa ý chí
và bày tỏ ý chí không có sự thống nhất, mặt khác, mục đích xác lập giao dịch là có
sự vi phạm pháp luật, chủ thể họp đồng không thực hiện nghĩa vụ đã tồn tại trước đómặc dù có điều kiện thực hiện Trường họp này được coi là vi phạm ý chí Nhà nước.Theo đó, pháp luật quy định họp đồng giả tạo sẽ đương nhiên vô hiệu mà không cần
có yêu cầu chủ thể có quyền lợi liên quan và thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố họpđồng vô hiệu dù giả tạo không bị giới hạn như các trường họp họp đồng vô hiệu do
vi phạm ý chí chủ thể khác
1.3.3. Hợp đồng giả tạo có yếu tố tưởng tượng
Đối với họp đồng giả tạo, cũng giống các quy định về giao dịch dân sự giảtạo, các nhà làm luật hiện tại vẫn xác định hai hình thức của sự giả tạo đó là: họpđồng giả tạo nhằm che giấu giao dịch khác và họp đồng giả tạo nhằm trốn tránhnghĩa vụ với người thứ ba
Trên thực tế, có những trường họp họp đồng được giao kết và thể hiện ra bênngoài nhưng hoàn toàn không có thực và cũng không nhằm che giấu bất kỳ một giaodịch nào Họp đồng đó được xác lập bởi sự tưởng tượng
Họp đồng giả tạo có yếu tố tưởng tượng là họp đồng không có thật, các bênxác lập không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ theo họp đồng Các chủ thể thôngđồng lập ra để họp thức hóa các thủ tục pháp lý hoặc để che đậy một sự thật khác, đó
có thể là một hành vi vi phạm pháp luật Khái niệm họp đồng tưởng tượng đã đượcpháp luật thế giới công nhận với tên gọi “íictitious contract” Ví dụ 1: A ký họp đồngbán nhà cho B, nhưng thực chất B không thanh toán tiền và việc B đứng tên chỉ làdanh nghĩa, tạm thời trong một thời gian Họp đồng mua bán này không nhằm làmphát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên trong họp đồng mà nó được các chủ thể lựachọn để lách luật Đây chính là loại họp đồng tưởng tượng, các bên hoàn toàn không
có ý định tạo lập nên sự ràng buộc pháp lý với nhau dựa trên nội dung của họp đồng.Thường các bên xác lập họp đồng đó để trốn tránh việc bị kê biên nhà thi hành ánhoặc tránh việc các cơ quan điều tra về tài sản để hòng thoát tội tham ô, tham nhũng
Ví dụ 2: Đe họp thực hóa thủ tục pháp lý, các bên đã thỏa thuận xác lập mộthọp đồng giả Thực tế việc này đã xảy ra trong hoạt động vay tín chấp ngân hàng.Vay tín chấp là dịch vụ dành cho đối tượng khách hàng có thu nhập ổn định hàng
27
Trang 31tháng, tuy nhiên lãi suất khá cao, thuờng gấp đôi so với hình thức vay thế chấp Vìngân hàng cho vay bằng niềm tin, nên việc xác minh thu nhập cũng nhu khả năng trả
nợ của khách hàng đuợc ngân hàng tiến hành rất chặt chẽ và thận trọng Đe đuợc vaytín chấp, khách hàng đã giao dịch với các công ty dịch vụ làm giả họp đồng lao độngnhằm hoàn tất đầy đủ hồ sơ cho Ngân hàng
Đối với những bộ hồ sơ giả các ngân hàng sẽ phát hiện ra ngay bởi các ngânhàng rất chặt chẽ và kỹ luỡng trong việc xác minh hồ sơ mà đối với những bộ hồ sơgiả việc phát hiện không phải là quá khó khăn đối với ngân hàng vì chỉ cần xác minhđịa chỉ công ty là có kết quả ngay
1.4 Hợp đồng vô hiệu do giả tạo theo quy định pháp luật của một số nước trên thế giói
Pháp luật của nhiều quốc gia khác trên thế giới đều quy định họp đồng giả tạo
sẽ bị coi là vô hiệu BLDS Đức quy định: "Neu một tuyên bố ý định cần được đưa ravới một người khác, sự cho phép của người đó, mà chỉ được đưa ra về hình thức, sẽ
vô hiệu Neu một giao dịch giả mạo ẩn náu đằng sau một giao dịch họp pháp khác,những quy định này có thể áp dụng với giao dịch ẩn” [44, tr 117] Còn BLDS NhậtBản tuyên bố ý chí giả tạo được tiến hành với sự câu kết của bên kia là không có ýnghĩa và bị vô hiệu Tính vô hiệu của tuyên bố ý chí quy định tại đoạn trên khôngđược sử dụng để chống lại người thứ ba ngay tình” [50]
BLDS và thương mại Thái Lan quy định: “Một tuyên bố ý định không thực,được làm với sự đồng tình của phía bên kia, thì vô hiệu ” [11]
Pháp luật Philippines cũng quy định về khái niệm “simulated contract” (họpđồng giả cách) và “íictitious contract” (họp đồng tưởng tượng) Theo đó, họp đồnggiả cách hoàn toàn hoặc họp đồng tưởng tượng là vô hiệu Một họp đồng giả cáchtương đối phải không gây trở ngại cho người thứ ba và không nhằm vào bất kỳ mụcđích nào trái pháp luật, đạo đức, phong tục tốt đẹp, trật tự công cộng hoặc chính sáchcông ràng buộc các bên tham gia thỏa thuận thực sự của họ Theo pháp luậtPhilippines, họp đồng giả cách là hành vi cố ý thực hiện một thỏa thuận hư cấu củacác bên đối với mục đích lừa dối, trong khi thực tế các hành động pháp lý xuất hiệntrên họp đồng không thực sự tồn tại hay là khác biệt so với những gì đang thực sựthoả thuận Họp đồng giả cách diễn ra khi các bên không thực sự muốn họp đồng mà
họ thực hiện để tạo ra các hiệu quả pháp lý được thể hiện bằng các từ ngữ của nó[62]
Trong từ điển của hệ thống pháp luật Civil Law cũng đề cập đến khái niệmhọp đồng giả cách là các thoả thuận ra bên ngoài không thể hiện ý đồ đích thực của
Trang 32các bên Một hợp đồng giả cách tuyệt đối khi các bên dự định giao dịch giả tạo sẽkhông ảnh hưởng đến giao dịch đích thực của họ Một hợp đồng giả cách tương đốikhi các bên dự định rằng giao dịch giả tạo sẽ ảnh hưởng đến giao dịch đích thực của
họ, mặc dù giao dịch giả tạo khác với các thỏa thuận mà các bên che giấu Neu ýđịnh thực sự của các bên được thể hiện bằng một văn bản riêng thì văn bản đó có giátrị pháp lý [60] Tuy nhiên, khi các bên đã kết luận một hợp đồng giả tạo vô hiệu cónghĩa là phải đồng ý với các điều khoản, thỏa thuận thực sự của họ sẽ chiếm ưu thế,mặc dù đã huỷ bỏ hợp đồng giả tạo Điều này khiến việc tuyên vô hiệu không cóhiệu quả trong các giao dịch với bên thứ ba ngay tình [61]
Có thể thấy, đa số các quốc gia đều coi hợp đồng được xác lập bởi sự giả tạo
là vô hiệu bởi vì các chủ thể hoàn toàn tự nguyện xác lập hợp đồng nhưng lại thôngđồng bày tỏ ý chí không đích thực của họ Neu không có sự thông đồng này, hợpđồng không thể bị tuyên là hợp đồng xác lập có yếu tố giả tạo
về hậu quả pháp lý của hợp đồng vô hiệu do giả tạo, hệ thống pháp luậtCommon Law (Anh) thì quy định khi không thể hoàn trả được bằng hiện vật, quyềnyêu cầu tuyên bố vô hiệu hợp đồng không còn nữa Tuy nhiên, theo pháp luật củacác nước châu Âu lục địa, trong trường hợp như vậy, hợp đồng vẫn có thể bị tuyên
bố vô hiệu và việc hoàn trả được thanh toán bằng giá trị tương đương Giải pháp nàycũng được thừa nhận trong Bộ nguyên tắc Unidroit về hợp đồng thương mại quốc tế
2004: “Việc hợp đồng vô hiệu cho phép mỗi bên yêu cầu hoàn lại những gì mà mình
đã cung cấp trong quá trình thực hiện hợp đồng hoặc các điều khoản bị vô hiệu, miễn là bên đó đồng thời hoàn lại những gì mà mình đã nhận Những gì không thể được hoàn lại bằng vật chất thì phải được hoàn lại bằng giá /Ạ”[49, Khoản 2 Điều
3.17] Tham khảo BLDS Pháp nhận thấy: Không có điều luật quy định cụ thể giảiquyết hậu quả pháp lý của hợp đồng vô hiệu Tuy nhiên, có thể thấy, khi hợp đồng
vô hiệu không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ pháp lý giữa các bên, việc hoàn trảtài sản theo quy định về: Quyền sở hữu - nghĩa là tài sản thuộc quyền sở hữu của aithì trước hết phải hoàn trả cho người đó Những trường hợp tài sản không còn giữnguyên được trạng thái ban đầu, hoặc trong quá trình thực hiện hợp đồng có hoa lợi,lợi tức phát sinh khi đó có thể căn cứ thêm vào quy định “Nhận vật không có căn cứpháp luật” để giải quyết, ví dụ: Điều 1376 BLDS: Người nào vì nhầm lẫn hoặc cố ý
đã nhận vật không phải của mình thì buộc phải trả lại cho chủ sở hữu vật đã nhậnkhông có căn cứ pháp luật đó” Hoặc Điều 1378 BLDS: “nếu có gian ý từ phía ngườinhận thì họ buộc phải hoàn trả cả gốc lẫn lãi hoặc hoa lợi kể từ ngày thanh toán” [9,Điều 1378]
29
Trang 33BLDS Nhật Bản cũng quy định, trong giao dịch dân sự vô hiệu nếu vật đóchua đuợc chuyển giao thì sẽ không có nghĩa vụ chuyển giao, nếu vật đã chuyển giaothì có quyền yêu cầu hoàn trả Việc hoàn trả có thể là toàn bộ hoặc một phần tài sảncòn lại hoặc hoàn trả tài sản trong trạng thái đã thay đổi [45, tr 171-172] Việc khôiphục lại tình trạng ban đầu có thể căn cứ vào chế định “thu lợi không có căn cứ” đểđiều chỉnh các quan hệ phát sinh trong truờng họp một nguời không có căn cứ chínhđáng mà thu đuợc khoản lợi nhất định của nguời khác Điều đó làm phát sinh nghĩa
vụ hoàn trả lại khoản lợi cho nguời đã mất BLDS và Thuơng mại Thái Lan cónhững quan điểm tuơng đồng về vấn đề hoàn trả - một trong những hậu quả pháp lýcủa họp đồng vô hiệu Theo đó, quy định: Những họp đồng vô hiệu (vô hiệu tuyệtđối) không thể đuợc phê chuẩn (Điều 134) đuơng nhiên không có hiệu lục, do đókhông làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa các bên Những họp đồng có thể bị vôhiệu (vô hiệu tuơng đối) nếu bị xóa bỏ coi nhu vô hiệu từ khi mới bắt đầu (Điều137) Khi họp đồng vô hiệu, các bên phải khôi phục lại điều kiện ban đầu, và nếukhông thể khôi phục lại nhu vậy thì họ phải bồi thuờng tuong ứng (Điều 138) Việckhôi phục lại điều kiện ban đầu trong Luật dân sụ Thái Lan căn cứ vào chế định
“Làm giàu không chính đáng” tại các quy định từ Điều 406 đến Điều 419 BLDS vàthuơng mại Thái Lan, theo đó: Nguời nào qua một hành vi do nguời khác thục hiệnhoặc theo bất kỳ cách nào khác nhận đuợc cái gì đó phuong hại đến nguời khác nóitrên, mà không có cơ sở họp pháp, thì phải hoàn lại vật nhận đuợc cho nguời đó
1.5 Ý nghĩa pháp lý của quy định về hợp đồng vô hiệu do giả tạo
Hệ thống các quy định của BLDS năm 2015 về họp đồng vô hiệu giả tạo lànền tảng pháp lý cơ bản giải quyết các vấn đề pháp lý phát sinh có liên quan Theo
đó, quyền lợi của các chủ thể tham gia vào quan hệ họp đồng đuợc bảo vệ tốt hơn.Góp phần to lớn trong việc duy trì ổn định trật tụ xã hội, củng cố vai trò quản lý xãhội của Nhà nuớc
Các quy định về họp đồng vô hiệu do giả tạo có ý nghĩa nhu sau:
Thứ nhất, các quy định về họp đồng vô hiệu do giả tạo góp phần định huớng,tạo khuôn mẫu cho các chủ thể pháp luật dân sụ
Khi tiến hành xác lập họp đồng, các chủ thể tham gia giao kết họp đồng cóquyền tụ do, tụ nguyện giao kết, nhung sụ tụ do đó phải nằm trong khuôn khổ phápluật Ký kết một họp đồng giả tạo nhằm che giấu một giao dịch khác hay trốn tránhnghĩa vụ với nguời thứ ba là sụ vi phạm nguyên tắc tụ nguyện mà pháp luật dân sụquy định Các bên không bày tỏ ý chí thục của mình, không nhằm xác lập các quyền30
Trang 34và nghĩa vụ đích thực từ hợp đồng giao kết Sự thông đồng đó làm xâm phạm tới lợiích của các chủ thể khác trong xã hội, lợi ích của nhà nước Vì lẽ đó, pháp luật quyđịnh họp đồng giả tạo sẽ vô hiệu.
Thứ hai, bảo vệ quyền lợi ích họp pháp các bên họp đồng hoặc người thứ bangay tình và bảo đảm tính công bằng khi giải quyết hậu quả của họp đồng vô hiệu
Khi một họp đồng giao kết có yếu tố giả tạo, họp đồng đó sẽ bị vô hiệu Họpđồng không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự của các bên
kể từ thời điểm xác lập Các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhaunhững gì đã nhận, nếu không hoàn trả được bằng hiện vật thì hoàn trả bằng tiền; bênngay tình trong việc thu hoa lợi, lợi tức không phải hoàn trả lại hoa lợi, lợi tức đó vàbên có lỗi phải bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật Bên cạnh đó, phápluật cũng quy định về việc bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình khi một họpđồng bị tuyên bố vô hiệu do giả tạo Theo đó, quyền lợi của người thứ ba ngay tìnhđược pháp luật bảo vệ khi tài sản là động sản không phải đăng ký quyền sở hữu vàngười thứ ba có được tài sản thông qua một giao dịch có đền bù Neu người thứ ba
có được tài sản là động sản không phải đăng ký quyền sở hữu qua một giao dịchkhông có đền bù hoặc tài sản đó là tài sản do trộm cắp mà có hoặc bị mất thì ngườithứ ba phải trả lại tài sản [8] Các quy định của pháp luật về việc giải quyết và bảo vệquyền lợi của các chủ thể có liên quan khi một họp đồng bị tuyên bố là vô hiệu dogiả tạo nhìn chung là đảm bảo tính khách quan góp phần bảo vệ tốt hơn quyền lợicủa các chủ thể khi tham gia vào quan hệ pháp luật này
Thứ ba, bảo đảm sự kiểm tra, giám sát của các cơ quan nhà nước có thẩmquyền Cam kết của các chủ thể trong họp đồng là cơ sở quan trọng để các cơ quan
có thẩm quyền kiểm tra xem các chủ thể có thể thực hiện đúng các quy định củapháp luật và áp dụng biện pháp chế tài thích họp Họp đồng là sự thỏa thuận và thốngnhất ý chí giữa các bên tham gia họp đồng Ý chí đó phải được bày tỏ một cách trungthực, thống nhất giữa ý chí bên trong và ý chí bày tỏ ra bên ngoài Mọi sự thỏa thuậncủa các chủ thể đều được pháp luật ghi nhận nhưng pháp luật cũng sẽ lập tức có chếtài áp dụng thích đáng khi các bên thông đồng gian dối trong thỏa thuận đó nhằm chegiấu một sự thật khác Căn cứ vào các quy định của pháp luật về họp đồng vô hiệu
do giả tạo thì các cơ quan nhà nước có thẩm quyền sẽ kiểm tra, giám sát và xử lý cáchọp đồng giả tạo phát sinh trên thực tế chính xác hơn
Thứ tư, là căn cứ pháp lý để các bên có thể tự hòa giải với nhau hoặc Tòa ángiải quyết tranh chấp khi các bên chủ thể khởi kiện tại Tòa án khi xảy ra tranh chấp
31
Trang 35Khi có tranh chấp thì chính các điều khoản mà các bên tham gia họp đồng đãthỏa thuận sẽ là chứng cứ quan trọng để xác định có hay không có một sụ thôngđồng trong việc giao kết một họp đồng giả tạo, có tồn tại thục tế không một họpđồng đã đuợc giao kết một cách giả tạo nhằm che giấu một giao dịch khác hoặc trốntránh nghĩa vụ với nguời thứ ba Neu họp đồng vô hiệu do giả tạo thì những thôngđồng ý chí của các bên nhằm che giấu ý chí đích thục của mình trong việc giao kếthọp đồng đó đóng vai trò quan trọng trong việc xác định trách nhiệm của các bên cóliên quan đến họp đồng giả tạo khi tuyên bố họp đồng giả tạo vô hiệu.
Kết luận chương 1
Có thể nói điều kiện có hiệu lực của họp đồng là tiền đề pháp lý để họp đồng
có hiệu lực Khi không đáp ứng được các điều kiện có hiệu lực của họp đồng thì họpđồng vô hiệu Theo đó họp đồng vô hiệu sẽ không được pháp luật thừa nhận, khônglàm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên đã cam kết trong họp đồng kể từ thờiđiểm xác lập họp đồng
Hiện nay, có nhiều cách để phân loại họp đồng vô hiệu, căn cứ vào thủ tục tốtụng để tuyên bố họp đồng vô hiệu, căn cứ vào mức độ vượt quá phạm vi đại diệncủa người đại diện, căn cứ vào điều kiện có hiệu lực của họp đồng, căn cứ vào mức
độ của sự vô hiệu
Cũng trong chưcmg 1, tác giả đã làm rõ được khái niệm họp đồng vô hiệu dogiả tạo bằng cách phân tích trên cơ sở giải thích từ ngữ và so sánh, đối chiếu với quyđịnh chung của họp đồng vô hiệu, từ đó đưa ra được các đặc trưng cơ bản của họpđồng vô hiệu do giả tạo Đồng thời căn cứ vào quy định của pháp luật để phân loạihọp đồng vô hiệu do giả tạo thành ba loại: họp đồng giả tạo nhằm trốn tránh giaodịch khác; nhằm trốn tránh nghĩa vụ với người thứ ba và họp đồng tưởng tượng
Từ những phân tích chung của họp đồng vô hiệu do giả tạo tại quy định củapháp luật Việt Nam, tác giả có những nghiên cứu và so sánh với pháp luật về họpđồng vô hiệu của một số quốc gia trên thế giới như: Pháp, Nhật Bản, Thái Lan,Đức Đây là những tiền đề quan trọng để phân tích thực trạng quy định pháp luật vàthực tiễn áp dụng quy định về họp đồng vô hiệu do giả tạo tại Việt Nam hiện nay
Trang 36Chương 2 HỢP ĐỒNG VÔ HIỆU DO GIẢ TẠO THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT
VIỆT NAM VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG
2.1 Thực tiễn áp dụng hợp đồng vô hiệu do giả tạo theo các quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam
Họp đồng giả tạo là họp đồng được các chủ thể xác lập nhằm che giấu mộtgiao dịch khác hoặc nhằm trốn tránh nghĩa vụ với người thứ ba Trong việc xác lậphọp đồng giả tạo, các bên không xác lập các quyền và nghĩa vụ thực mà quyền vànghĩa vụ đó ẩn sâu bên trong giao dịch bị che giấu Bản chất của họp đồng giả tạo làhọp đồng mang tính hình thức, không nhằm xác lập quyền và nghĩa vụ giữa các bên
Nó được xác lập không dựa trên ý chí đích thực của các bên Họp đồng này đượcthiết lập nhằm mục đích che giấu một giao dịch khác hoặc để nhằm trốn tránh nghĩa
vụ với người thứ ba
Thực tiễn cho thấy, số lượng họp đồng giả tạo chiếm số lượng không nhiềutrong số vụ án về họp đồng vô hiệu được đưa ra giải quyết tại Toà án Các bên có xuhướng thương lượng với nhau trong việc giải quyết quyền lợi Chỉ khi không đạtđược thỏa thuận thì họ mới yêu cầu Toà án giải quyết, số lượng vụ án về họp đồnggiả tạo thì ít nhưng đa số lại phức tạp, chủ yếu liên quan đến giao dịch về nhà ở, tàisản có giá trị lớn Các chủ thể tham gia giao kết họp đồng thường lựa chọn việc kýkết hai họp đồng song song để che giấu đi họp đồng đích thực như: Ký họp đồngtặng cho để che giấu họp đồng mua bán với mục đích trốn thuế hay giao kết họpđồng ủy quyền để che giấu họp đồng mua bán nhà vấn đề giải quyết hậu quả pháp lýcủa họp đồng vô hiệu do giả tạo không đơn giản Họp đồng xác lập có yếu tố giả tạo
là một trong những loại họp đồng vô hiệu vi phạm về ý chí của chủ thể gây nhiềutranh cãi trong áp dụng pháp luật hiện hành Thực tiễn cho thấy, việc giao kết họpđồng giả tạo thường được các chủ thể thực hiện chủ yếu trong lĩnh vực mua bán,chuyển nhượng, tặng cho nhà, quyền sử dụng đất hay vay vốn, tài sản để sản xuấtnhằm mục đích trốn thuế, trốn tránh nghĩa vụ với người thứ ba hoặc che giấu mộtgiao dịch có thực khác Việc lựa chọn giao kết họp đồng giả tạo là lựa chọn mangtính ưu tiên của các chủ thể khi các bên muốn che giấu ý chí đích thực Các bênthỏa thuận giao kết với nhau họp đồng giả tạo không nhằm ràng buộc các quyền lợi
và nghĩa vụ cho nhau Việc xác lập các quyền và nghĩa vụ dựa trên họp đồng đượcche giấu, nhưng khi tranh chấp xảy ra thì các bên lại dùng bản họp đồng giả tạo đểyêu cầu tòa án giải quyết
33
Trang 372.1.1. Hợp đồng vô hiệu do giả tạo nhằm che giấu giao dịch khác
Một hợp đồng giả tạo nhằm mục đích che giấu hoặc loại bỏ một giao dịchkhác Trong trường hợp này, có hai giao dịch cùng tồn tại, hợp đồng giả tạo là hợpđồng thứ nhất thể hiện ý chí không thật của các bên và hợp đồng bị che giấu xác lậpquyền và nghĩa vụ thực của các bên
về mặt ý chí chủ thể, bản chất của hợp đồng giả tạo là các bên mong muốnthực hiện một giao kết hợp đồng và đảm bảo cho hợp đồng được thực hiện Trongkhi đó các bên biểu lộ ý chí ra bên ngoài bằng một giao kết hợp đồng khác Sự thốngnhất ý chí được hình thành một cách hợp pháp khi đáp ứng được các yêu cầu củapháp luật, bao gồm sự thống nhất ý chí nội tại, tức là ý chí bên trong và sự thể hiện rabên ngoài của các chủ thể và ý chí của các bên gặp gỡ nhau Tuy nhiên, ý chí nội tại
và sự thể hiện ra bên ngoài của các chủ thể không có sự thống nhất Neu trong giaodịch bị che giấu có sự thống nhất giữa hai bên thì trong giao dịch ra bên ngoài chỉđược giao kết nhằm đảm bảo cho giao dịch bị che giấu
về hình thức giao dịch, hợp đồng vô hiệu do giả tạo chủ yếu là loại hợp đồngmua bán nhà đất và hợp đồng vay
Vì nhiều lý do như bên mua nhà chưa đủ điều kiện được sở hữu nhà tại ViệtNam hoặc ngôi nhà chưa đủ điều kiện để bán theo Điều 118 Luật Nhà ở 2014 (phải
có sổ hồng/sổ đỏ) hoặc để trốn thuế, nhu cầu mua bán “vượt qua pháp luật” đã thôithúc các bên tạo ra những giao dịch đường vòng mà phổ biến nhất là lập hợp đồng ủyquyền để che giấu giao dịch mua bán ngôi nhà hoặc khu đất Hợp đồng mua bán ghinhận ý chí đích thực của các bên trong giao dịch mua bán như đặc điểm bất độngsản, giá bán, đặt cọc, thanh toán [53] Đe hợp pháp hóa việc chuyển giao bất độngsản, các bên lập song song với hợp đồng mua bán và một hợp đồng ủy quyền, bênbán giữ vai bên ủy quyền, ủy quyền cho bên mua - giữ vai trò bên được ủy quyền -toàn quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt bất động sản Hợp đồng ủy quyền này
sẽ giúp các bên chuyển giao “quyền sở hữu” từ bên bán sang bên mua vì bằng hợpđồng ủy quyền bên được ủy quyền đã hưởng mọi quyền của một chủ sở hữu tài sảntheo pháp luật Việt Nam Đe ghi nhận việc “chuyển quyền sở hữu” này, các bên thựchiện công chứng hợp đồng ủy quyền tại phòng công chứng hoặc chứng thực tạiUBND xã, phường, về nghiệp vụ, các công chứng viên dễ dàng nhận biết các hồ sơcông chứng mua bán mà đằng sau đó là để ngụy tạo cho những giao dịch khác,nhưng xét theo góc độ quy định pháp luật thì với các giao dịch mua bán nhà, cả haibên đều tự nguyện, tự thỏa thuận, đủ năng lực hành vi dân sự, hồ sơ đầy đủ thì côngchứng viên không có lý do để từ chối công chứng
Trang 38Hình thức ký hợp đồng giả tạo này đang phổ biến với loại hình mua bán nhàchung cu, loại nhà ở hình thành trong tucrng lai Thục tế cho thấy, việc cấp giấychứng nhận đuợc cấp cho chủ sở hữu nhà chung cu Đặc biệt đối với nhà ở xã hội,đối tuợng đăng ký mua nhà phải đáp ứng điều kiện theo luật định, chịu sụ quản lýcủa cơ quan có thẩm quyền Vì vậy, việc ký họp đồng và cấp chứng nhận quyền sửdụng đất và sở hữu nhà chỉ thục hiện với đối tuợng đủ điều kiện mua nhà Nhà chung
cu không có hay chua đuợc cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu thì vẫn tiếp tục đuợcgiao dịch mua bán, trao đổi trên thị truờng Đe “lách” qua những quy định của phápluật, các giao dịch này đuợc họp thức hóa bằng họp đồng ủy quyền thay mặt quản lý,
sử dụng, mua bán nhà Sau khi hoàn tất họp đồng ủy quyền nói trên, các bên chorằng họp đồng ủy quyền mà mình lập đã “vuợt qua pháp luật” mà chuyển quyền sởhữu sang bên mua vì bên này đã đuợc cơ quan công chứng hoặc chứng thục xác thụcviệc huởng mọi quyền của một chủ sở hữu đối với bất động sản Khi giao dịch “muabán” đã hoàn tất, nhung vì lý do nhất định nhu giá bất động sản lên cao hoặc xuốngthấp, một bên vẫn có thể yêu cầu tòa án tuyên vô hiệu họp đồng ủy quyền trên cơ sởhọp đồng này đuợc xác lập nhằm che giấu giao dịch mua bán bất động sản, vốn làgiao dịch thuộc ý chí đích thục của các bên Bằng việc cung cấp họp đồng mua bánhoặc chứng cứ khác chứng minh với tòa án rằng đã tồn tại một họp đồng mua bánđích thục nhung đuợc che giấu bởi họp đồng ủy quyền thì tòa án có quyền xem xét
và tuyên vô hiệu họp đồng ủy quyền trên cơ sở họp đồng vô hiệu do giả tạo theo quyđịnh tại Điều 124 BLDS 2015
Trong lĩnh vục vay tài sản, khi việc vay vốn ngân hàng còn rất khó khăn, các
cá nhân, tổ chức thuờng chọn cách vay bên ngoài Tuy nhiên, để bảo đảm các nghĩa
vụ, bên cho vay thuờng đua ra những điều kiện dễ dàng nhung lại tiềm ẩn khá nhiềurủi ro bởi đôi khi những điều kiện ấy lại trái với quy định pháp luật Hình thứcthuờng là họp đồng vay tiền nhung núp bóng duới họp đồng mua bán nhà Vì nguờivay cần tiền nên nguời cho vay yêu cầu hai bên ký họp đồng bán nhà nhu là mộtbằng chứng để đảm bảo nghĩa vụ Tuy nhiên số tiền ghi trên họp đồng mua bán lạichỉ bằng khoản tiền vay nên thấp hơn giá trị thục của căn nhà khá nhiều Đen khinguời vay không thanh toán đuợc nợ thì nguời cho vay sử dụng họp đồng mua bánnhà để lấy luôn căn nhà
Vụ án sau đây là một ví dụ minh họa: Do quen biết, bà Lê Ngọc Châu nhiềulần vay tiền của Lành để kinh doanh Đầu tháng 5/2011, bà Châu có hỏi bà Lành chonguời quen là bà Trần Thị Mùi vay tiền Ngày 10/5/2011, bà Mùi nhận số tiền4.000.000.000 đồng của bà Lành do ông Bùi Trung Chiêu giao tại Phòng Côngchứng số 2, nhung thục tế chỉ nhận có 3.500.000.000 đồng và bà Lành trừ truớc tiền
35
Trang 39lãi (bà Mùi không có chứng cứ chứng minh cho việc này) Do bà Lành không biết bàMùi nên đã yêu cầu bà Châu viết giấy ngày 10/5/2011 để làm chứng cho việc vaytiền, thục tế bà Châu chỉ là nguời giới thiệu và làm chứng chứ không phải là nguờibảo lãnh trả số tiền vay này Văn bản bà Châu xác nhận với nội dung: “Chị Mùi nhận
4 tỷ đồng tiền bán căn nhà 4/4 ấp HL, xã BĐ, huyện HM, trong vòng 30 ngày chịMùi xin mua lại căn nhà trên với giá 4 tỷ đồng cùng lãi suất theo Ngân hàng Neukhông đúng 30 ngày tôi xin chịu trách nhiệm số tiền trên”
Việc bà Lành có yêu cầu bà Mùi ra Phòng Công chứng số 2 ký Họp đồngmua bán nhà ở và chuyển nhuợng quyền sử dụng đất ở số 014192/HĐ-MBCN kýgiữa bà Mùi và ông Chiêu ngày 10/5/2011 mục đích là hình thức để che đậy việc vaytiền giữa bà Mùi và bà Lành Tuy nhiên, truớc khi các bên ra Phòng công chứng kýhọp đồng mua bán, căn nhà này đã bị Chi cục Thi hành án dân sụ huyện HM, Thànhphố Hồ Chí Minh kê biên để bảo đảm thi hành án Do vậy, bà Châu phải chịu tráchnhiệm trả cho bà Lành 4.000.000.000 đồng [37]
Nhận xét: Trong vụ án trên, họp đồng mua bán nhà ở và chuyển nhuợngquyền sử dụng đất ở số 014192/HĐ-MBCN ký giữa bà Mùi và ông Chiêu về việcmua bán căn nhà số 4/4 ấp HL, xã BĐ, huyện HM, Thành phố Hồ Chí Minh đuợcchứng thục tại Phòng Công chứng số 2 ngày 10/5/2011 là để bảo đảm cho khoản vay4.000.000.000 đồng giữa bà Mùi và bà Lành Đây là họp đồng giả tạo nên bị vô hiệu,các bên hoàn trả cho nhau những gì đã nhận
Qua vụ án trên nhận thấy, việc lập họp đồng mua bán nhà, đất để che giấugiao dịch vay tiền lãi suất cao đã trở nên khá phổ biến Nguời vay cần tiền gấp nênchấp thuận những điều kiện bất lợi nhu ký họp đồng mua bán nhà, đất, ký nhận sốtiền gộp cả lãi suất, đua giấy tờ nhà, ủy quyền cho bên cho vay toàn quyền giao dịch.Khi có tranh chấp, nguời vay khó chứng minh rằng việc mua bán, ủy quyền chỉ là giảcách bởi bên cho vay nắm lợi thế giấy trắng mục đen Có những truờng họp, một bênđuong sụ bị ép làm họp đồng bán nhà, đất giả cách để che đậy việc cho vay nặng lãinhung bất lục bởi phía cho vay lập giấy tờ quá hoàn hảo, đúng luật, cung cấp chứng
cứ đầy đủ Có những truờng họp, tòa án chuyển hồ sơ đề nghị công an làm rõ dấuhiệu cho vay nặng lãi nhung sau đó công an thông báo là không có cơ sở xử lý hìnhsụ
Ngoài ra, còn có một hình thức cho vay có điều kiện, tức là bên cho vay yêucầu bên vay phải ký họp đồng bán nhà nhung thỏa thuận số tiền vay bằng với giá trịnhà, trong thời hạn vay thì vẫn đuợc sử dụng nhà Het thời hạn trên, nếu trả lại mộtkhoản tiền (tuơng ứng với số tiền vay và lãi suất) thì bên cho vay sẽ trả lại nhà, cònnếu không trả đuợc thì sẽ thuơng luợng để thanh lý giá trị còn lại của căn nhà
Trang 40Những hợp đồng dạng này không được công chứng nên các bên chỉ làm họp đồngvới nhau và nhờ UBND xã xác nhận chữ ký.
Xét về mặt pháp lý, những họp đồng này đều là những họp đồng “giả tạo”nhằm che giấu một giao dịch khác Đối với họp đồng này, tuy về hình thức là đúngpháp luật nhưng về nội dung nó không chứa đựng đầy đủ ý chí của các bên khi thamgia Đó là chưa kể việc các bên cố tình ngụy tạo để che giấu một giao dịch khác Nhưvậy, khi có tranh chấp xảy ra, về lý, người vay phải chứng minh rằng họp đồng ủyquyền/họp đồng mua bán nhà là giả còn họp đồng vay mới là thật
Bên cạnh đó, còn có những trường họp hình thức họp đồng cho vay, nhưngđược ký với tư cách tập thể nhằm mục đích đảm bảo nghĩa vụ thực hiện giao dịch cánhân Ví dụ: Ngày 29/5/2014, bà Dương Thị Bích và ông Vũ Duy Dũng, Trương ThịXuân có ký họp đồng vay tiền, số công chứng 14892 tại Phòng công chứng số 10,thành phố Hồ Chí Minh Theo họp đồng, bà Bích cho ông Dũng và bà Xuân vay sốtiền 450.000.000 đồng; thời hạn vay là 05 tháng kể từ ngày ký họp đồng, không tínhlãi Cùng ngày, ông Dũng, bà Xuân tiếp tục ký với bà Bích họp đồng vay tiền với tưcách là Chủ tịch Hội đồng quản trị của Trường trung học cơ sở trung học phổ thôngMinh Hải với số tiền vay là 450.000.000 đồng để đảm bảo cho khoản vay của cánhân ông Dũng có số công chứng 14897, lập tại Phòng công chứng số 10, Thành phố
Hồ Chí Minh ngày 29/5/2014 Hai bên lập cam kết nếu ông Dũng trả cho bà Bích450.000.000 đồng thì bà Bích hủy họp đồng vay tiền mà ông Dũng đã ký với tư cách
là Chủ tịch Hội đồng quản trị của Trường trung học cơ sở Minh Hải Trong họp đồngvay tiền số công chứng 14892 tại Phòng công chứng số 10, thành phố Hồ Chí Minh,ông Dũng và bà Xuân ký tên vay tiền nhưng không nhận số tiền 450.000.000 đồng,
số tiền 450.000.000 đồng, thực tế ông bà chỉ nợ bà Bích 100.000.000 đồng tiền gốc
số tiền còn lại bà Bích cộng tiền lãi của số nợ trước đây ông Dũng và bà Xuân vayvào tháng 7/2013 là 2.200.000.000 đồng, tiền lãi chồng tiền lãi Ông Dũng và bàXuân vay tiền của bà Bích nhiều lần, tiền lãi chỉ tính toán nói miệng với nhau, khônglập giấy tờ gì
Tại bản án sơ thẩm số 216/2015/DS-ST, Tòa án nhân dân quận Gò vấp, thànhphố Hồ Chí Minh tuyên ông Dũng và bà Xuân có nghĩa vụ trả cho bà Dương ThịBích số tiền 450.000.000 đồng theo họp đồng vay tiền số công chứng 14892 tạiPhòng công chứng số 10, Thành phố Hồ Chí Minh lập ngày 29/5/2014 giữa bà Bích,ông Dũng và bà Xuân Thời gian trả ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật Đồngthời hủy họp đồng vay tiền số công chứng 14897 tại Phòng công chứng số 10, thànhphố Hồ Chí Minh, lập ngày 29/5/2014 giữa bà Bích và Trường trung học cơ sở MinhHải [38]
37