1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

hop dong dan su vo hieu do gia tao

73 303 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 73
Dung lượng 500,24 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hợp đồng dân sự là loại giao dịch dân sự phổ biến trong đời sống xã hội hiện đại. Hầu hết pháp luật của các quốc gia trên thế giới đều coi chế định hợp đồng là một trong những chế định quan trọng bậc nhất. Khi xây dựng chế định về hợp đồng các nhà làm luật luôn quan tâm đến hệ thống các quy định về điều kiện để hợp đồng có hiệu lực và xử lý hậu quả của hợp đồng vô hiệu. Các quy định này góp phần bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các bên tham gia quan hệ hợp đồng nói riêng, của nhà nước và xã hội nói chung.Tại Việt Nam, kể từ thời điểm Bộ luật dân sự 2005 có hiệu lực đến nay đã gần 10 năm, hệ thống các quy định về hợp đồng vô hiệu vẫn còn nhiều vướng mắc. Một số quy định của pháp luật còn mang tính chung chung, chưa cụ thể, mang tính cứng nhắc dẫn đến cách hiểu không thống nhất. Vì lẽ đó mà quyền lợi của các chủ thể tham gia quan hệ dân sự chưa được bảo vệ, đặc biệt là khi hợp đồng bị tuyên bố vô hiệu. Trên thực tế, không ít trường hợp hợp đồng bị tuyên bố vô hiệu do các bên giao kết hợp đồng lợi dụng các quy định của pháp luật nhằm trốn tránh thực hiện nghĩa vụ của mình trước Nhà nước, pháp luật và bên thứ ba. Hợp đồng dân sự có yếu tố giả tạo là một trường hợp như thế. Hợp đồng dân sự vô hiệu do giả tạo là một loại hợp đồng vô hiệu vi phạm về ý chí của chủ thể gây nhiều tranh cãi và khó khăn trong quá trình áp dụng pháp luật. Pháp luật hiện hành không quy định riêng về hợp đồng dân sự vô hiệu có yếu tố giả tạo mà để giải quyết hậu quả pháp lý phát sinh về vấn đề này thì căn cứ vào các quy định của BLDS 2005 tại Chương VI, Phần thứ nhất, từ điều 121 đến điều 138 về giao dịch dân sự vô hiệu, trong đó quy định về giao dịch dân sự có yếu tố giả tạo được quy định tại Điều 129 BLDS 2005. Theo đó khi các bên xác lập giao dịch dân sự một cách giả tạo nhằm che giấu một giao dịch khác thì giao dịch giả tạo vô hiệu, còn giao dịch bị che giấu vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp giao dịch đó cũng vô hiệu theo quy định của pháp luật. Trong trường hợp xác lập giao dịch nhằm trốn tránh nghĩa vụ với người thứ ba thì giao dịch đó vô hiệu.Việc giải quyết hậu quả pháp lý của hợp đồng dân sự vô hiệu do giả tạo không đơn giản chỉ căn cứ vào quy định của pháp luật mà còn phải căn cứ vào ý chí của các chủ thể tham gia hợp đồng, thời điểm phát sinh hiệu lực của hợp đồng. Thực tiễn quá trình xét xử của các cấp Tòa án cũng cho thấy vấn đề xử lý hậu quả pháp lý của hợp đồng dân sự vô hiệu tương đối phức tạp, khó giải quyết triệt để, các vụ án thường tồn đọng, kéo dài chưa đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Nguyên nhân của thực trạng trên một phần là do một số quy định của pháp luật liên quan đến vấn đề này còn chưa chặt chẽ, đồng bộ dẫn đến cách áp dụng quy định của luật không thống nhất, nhiều bất cập và hạn chế.

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

NGUYỄN HẢI NGÂN

HỢP ĐỒNG DÂN SỰ VÔ HIỆU DO GIẢ TẠO

Trang 2

Tôi xin cam đoan: Những nội dung trong luận văn này là do tôi thực hiện dưới sự

hướng dẫn của TS Vũ Thị Hồng Yến

Mọi tham khảo dùng trong luận văn đều được trích dẫn rõ ràng tên tác giả, tên côngtrình, thời gian, địa điểm công bố

Mọi sao chép không hợp lệ, vi phạm quy chế đào tạo, hay gian dối,

tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm

Học viên Nguyễn Hải Ngân

Trang 3

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HỢP ĐỒNG DÂN SỰ

VÔ HIỆU DO GIẢ TẠO

6

1.1 Khái niệm và đặc điểm pháp lý của hợp đồng dân sự vô

hiệu do giả tạo

6

1.1.2 Đặc điểm của hợp đồng dân sự vô hiệu do giả tạo. 8

1.2 Các trường hợp hợp đồng dân sự vô hiệu do giả tạo 11

1.2.1 Hợp đồng dân sự giả tạo nhằm che giấu giao dịch khác. 11 1.2.2 Hợp đồng dân sự giả tạo nhằm trốn tránh nghĩa vụ với

1.4 Ý nghĩa pháp lý của quy định về hợp đồng dân sự vô hiệu do giả tạo. 20

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG DÂN SỰ

VÔ HIỆU DO GIẢ TẠO VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT

23

2.1 Định nghĩa về hợp đồng dân sự vô hiệu do giả tạo 23 2.2 Các điều kiện của hợp đồng dân sự vô hiệu do giả tạo 28 2.3 Hậu quả pháp lý của hợp đồng dân sự vô hiệu do giả tạo 35 2.4 Thời hiệu yêu cầu tuyên bố hợp đồng dân sự vô hiệu do giả tạo 44

CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG KÝ KẾT VÀ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ

HỢP ĐỒNG DÂN SỰ VÔ HIỆU DO GIẢ TẠO - CÁC GIÁI PHÁP KHẮC PHỤC

46

3.1 Thực trạng ký kết và áp dụng pháp luật về hợp đồng dân sự vô hiệu do giả tạo 46

3.1.1 Thực tiễn ký kết hợp đồng dân sự vô hiệu do giả tạo. 46

3.1.2 Thực trạng áp dụng pháp luật về hợp đồng dân sự do giả tạo. 54

Trang 4

3.2.1 Nguyên nhân của thực trạng ký kết và áp dụng pháp luật về hợp đồng dân sự do

giả tạo.

61

3.2.2 Giải pháp khắc phục những bất cập của thực trạng ký kết và áp dụng pháp luật về

hợp đồng dân sự do giả tạo.

64

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài.

Hợp đồng dân sự là loại giao dịch dân sự phổ biến trong đời sống xã hội hiệnđại Hầu hết pháp luật của các quốc gia trên thế giới đều coi chế định hợp đồng làmột trong những chế định quan trọng bậc nhất Khi xây dựng chế định về hợp đồngcác nhà làm luật luôn quan tâm đến hệ thống các quy định về điều kiện để hợp đồng

có hiệu lực và xử lý hậu quả của hợp đồng vô hiệu Các quy định này góp phần bảođảm quyền và lợi ích hợp pháp của các bên tham gia quan hệ hợp đồng nói riêng, củanhà nước và xã hội nói chung

Tại Việt Nam, kể từ thời điểm Bộ luật dân sự 2005 có hiệu lực đến nay đã gần

10 năm, hệ thống các quy định về hợp đồng vô hiệu vẫn còn nhiều vướng mắc Một

số quy định của pháp luật còn mang tính chung chung, chưa cụ thể, mang tính cứngnhắc dẫn đến cách hiểu không thống nhất Vì lẽ đó mà quyền lợi của các chủ thểtham gia quan hệ dân sự chưa được bảo vệ, đặc biệt là khi hợp đồng bị tuyên bố vôhiệu Trên thực tế, không ít trường hợp hợp đồng bị tuyên bố vô hiệu do các bên giaokết hợp đồng lợi dụng các quy định của pháp luật nhằm trốn tránh thực hiện nghĩa vụcủa mình trước Nhà nước, pháp luật và bên thứ ba Hợp đồng dân sự có yếu tố giảtạo là một trường hợp như thế Hợp đồng dân sự vô hiệu do giả tạo là một loại hợpđồng vô hiệu vi phạm về ý chí của chủ thể gây nhiều tranh cãi và khó khăn trong quátrình áp dụng pháp luật Pháp luật hiện hành không quy định riêng về hợp đồng dân

sự vô hiệu có yếu tố giả tạo mà để giải quyết hậu quả pháp lý phát sinh về vấn đề nàythì căn cứ vào các quy định của BLDS 2005 tại Chương VI, Phần thứ nhất, từ điều

121 đến điều 138 về giao dịch dân sự vô hiệu, trong đó quy định về giao dịch dân sự

có yếu tố giả tạo được quy định tại Điều 129 BLDS 2005 Theo đó khi các bên xáclập giao dịch dân sự một cách giả tạo nhằm che giấu một giao dịch khác thì giao dịchgiả tạo vô hiệu, còn giao dịch bị che giấu vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp giao dịch

đó cũng vô hiệu theo quy định của pháp luật Trong trường hợp xác lập giao dịch

Trang 7

Việc giải quyết hậu quả pháp lý của hợp đồng dân sự vô hiệu do giả tạo khôngđơn giản chỉ căn cứ vào quy định của pháp luật mà còn phải căn cứ vào ý chí của cácchủ thể tham gia hợp đồng, thời điểm phát sinh hiệu lực của hợp đồng Thực tiễn quátrình xét xử của các cấp Tòa án cũng cho thấy vấn đề xử lý hậu quả pháp lý của hợpđồng dân sự vô hiệu tương đối phức tạp, khó giải quyết triệt để, các vụ án thường tồnđọng, kéo dài chưa đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Nguyên nhâncủa thực trạng trên một phần là do một số quy định của pháp luật liên quan đến vấn

đề này còn chưa chặt chẽ, đồng bộ dẫn đến cách áp dụng quy định của luật khôngthống nhất, nhiều bất cập và hạn chế

Từ thực trạng đó, tôi nhận thấy việc nghiên cứu toàn diện vấn đề hợp đồngdân sự vô hiệu do giả tạo dưới các góc độ lý luận và thực tiễn để từ đó đưa ra cáckiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định pháp dân sự về vấn đề này nhằm đảm bảotính khả thi của pháp luật, bảo vệ tốt hơn các quyền và lợi ích chính đáng của ngườidân, tạo tiền để các cơ quan có thẩm quyền hoàn thành tốt chức năng, nhiệm vụ màNhà nước giao là yêu cầu tất yếu, khách quan Với ý nghĩa đó, tôi đã lựa chọn vấn

đề: “Hợp đồng dân sự vô hiệu do giả tạo” làm đề tài nghiên cứu.

2 Tình hình nghiên cứu đề tài.

Trước khi tác giả nghiên cứu đề tài này, đã có một số công trình nghiên cứu

và bài viết đề cập đến vấn đề này như sau:

- “Bình luận khoa học Bộ luật dân sự của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” do TS Nguyễn Minh Tuấn chủ biên, Nxb Tư pháp, năm 2014 trong đó đề

cập đến vấn đề hợp đồng dân sự vô hiệu giả tạo qua việc phân tích, bình luận kháiquát hệ thống các quy định về giao dịch dân sự vô hiệu nói chung và quy định cụ thể

về giao vô giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo tại Điều 129 BLDS 2005 Tuy nhiên,việc đánh giá những vấn đề lý luận và thực trạng của vấn đề còn nhiều hạn và chưa

có đánh giá chuyên sâu về hợp đồng dân sự giả tạo

- “Nghĩa vụ dân sự trong luật dân sự Việt Nam” của TS Nguyễn Mạnh Bách,

Nxb Chính trị quốc gia, năm 1998 Trong cuốn sách tác giả làm sáng tỏ các quy định

Trang 8

của luật về sự tạo lập nghĩa vụ dân sự, việc thi hành nghĩa vụ dân sự và trách nhiệmbồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong đó tác giả cũng có đề cập tới vấn đề hợpđồng dân sự vô hiệu do giả tạo dưới góc độ một khía cạnh trong quy định của phápluật dân sự về nghĩa vụ dân sự.

- “Hợp đồng dân sự và các tranh chấp thường gặp” của Ths LS Lê Kim

giang, Nxb Tư pháp, năm 2011 đã đề cập đến vấn đề loại hợp đồng và các tranh chấphợp đồng dân sự thường gặp Trong đó tác giả cũng đề cập đến quy định của luật về

vô hiệu do giả tạo nhưng không đi sâu phân tích về vấn đề này

- “Giao dịch dân sự vô hiệu tương đối và vô hiệu tuyệt đối” của TS Bùi

Đăng Hiếu, Tạp chí luật học, năm 2001 Trong đó tác giả phân tích, đánh giá, sosánh giữa giao dịch dân sự vô hiệu tuyệt đối - giao dịch dân sự vô hiệu tương đối vànhận định giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo là giao dịch dân sự vô hiệu tuyệt đối

- Luận án tiến sĩ luật học của tác giả Nguyễn Văn Cường “Giao dịch dân

sự vô hiệu và việc giải quyết hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu”.

Trong luận án, tác giả nghiên cứu và đánh giá một cách toàn diện về giao dịch dân sự

vô hiệu, làm rõ căn cứ pháp lý dẫn tới giao dịch dân sự vô hiệu và xử lý hậu quả của

nó qua đó đưa ra các kiến nghị, giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống các quy định củapháp luật

- Luận văn thạc sĩ luật học của tác giả Bùi Thị Thu Huyền “Hợp đồng dân

sự vô hiệu do vi phạm điều kiện về ý chí của chủ thể” trong công trình của mình tác

giả chủ yếu tập trung phân tích về các trường hợp hợp đồng dân sự vô hiệu do viphạm điều kiện về ý chí của các chủ thể do giả tạo, nhầm lẫn, bị de dọa và đưa ramột số kiến nghị giải pháp về vấn đề này

Ngoài ra thực tiễn các tranh chấp xuất phát từ hợp đồng dân sự vô hiệu do giảtạo cũng đã có nhiều bài nghiên cứu, bình luận khoa học về vấn đề này nhưng cũngchỉ dừng lại ở việc phân tích một số khía cạnh pháp lý, rủi ro trong việc áp dụngpháp luật dân sự về hợp đồng dân sự do giả tạo mà chưa đi sâu vào phân tích một

Trang 9

cách có hệ thống về hợp đồng dân sự vô hiệu do giả tạo Vì vậy rất cần có nhữngcông trình nghiên cứu toàn diện và chuyên sâu hơn.

3 Mục đích, nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài.

Mục đích nghiên cứu đề tài là làm rõ những vấn đề lý luận về hợp đồng dân

sự vô hiệu do giả tạo, thực trạng quy định của Bộ luật dân sự 2005 và thực tiễn ápdụng pháp luật từ đó đưa ra một số kiến nghị, giải pháp góp phần hoàn thiện các quyđịnh của pháp luật hiện hành về vấn đề này

Với mục đích trên, luận văn tập trung vào những nhiệm vụ cụ thể sau:

- Làm rõ một số vấn đề lý luận về hợp đồng dân sự vô hiệu do giả tạo như:khái niệm giả tạo và khái niệm hợp đồng dân sự vô hiệu do giả tạo; đặc điểm của hợpđồng giả tạo; điều kiện của hợp đồng dân sự giả tạo; xử lý hậu quả pháp lý của hợpđồng dân sự vô hiệu do giả tạo

- Phân tích, đánh giá thực trạng quy định của pháp luật dân sự về hợp đồngdân sự vô hiệu do giả tạo

- Đánh giá tình hình thực hiện, áp dụng pháp luật của các chủ thể tham gia kíkết hợp đồng dân sự giả tạo và của tòa án nhân dân trong quá trình xét xử vụ án cóliên quan đến vấn đề này

- Đưa ra phương án góp phần sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện các quy địnhhợp đồng dân sự vô hiệu do giả tạo của pháp luật dân sự hiện hành

4 Phạm vi và phương pháp nghiên cứu.

Chế định hợp đồng dân sự là một chế định lớn bao gồm nhiều nội dung: giaokết hợp đồng, thực hiện hợp đồng, nội dung, hình thức của hợp đồng Tuy nhiêntrong phạm vi nghiên cứu này luận văn chủ yếu tập trung phân tích, đánh giá nhữngvấn đề lý luận và thực tiễn của hợp đồng dân sự vô hiệu do giả tạo Tìm hiểu vànghiên cứu về thực trạng pháp luật, thực tiễn thi hành và áp dụng quy định của Bộluật dân sự 2005 về hợp đồng dân sự vô hiệu do giả tạo từ đó đưa ra các đề xuất, kiếnnghị góp phần hoàn thiện các quy định của pháp luật về vấn đề này

Trang 10

Trên cơ sở việc xác định phạm vi nghiên cứu như vậy nên tác giả sử dụngtổng hợp các phương pháp khoa học để tiến hành nghiên cứu, xây dựng và hoàn thiện

đề tài Cụ thể: Sử dụng phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử của chủnghĩa Mác - Lênin, phương pháp phân tích, tổng hợp, suy luận logic, so sánh, diễngiải, trích dẫn

5 Kết cấu của luận văn.

Luận văn được kết cấu thành 3 chương Cụ thể như sau:

Chương 1: Những vấn đề lý luận về hợp đồng dân sự vô hiệu do giả tạoChương 2: Thực trạng pháp luật về hợp đồng dân sự vô hiệu do giả tạo vànhững giải pháp hoàn thiện pháp luật

Chương 3: Thực trạng ký kết và áp dụng pháp luật về hợp đồng dân sự vôhiệu do giả tạo - các giải pháp khắc phục

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HỢP ĐỒNG DÂN SỰ

VÔ HIỆU DO GIẢ TẠO 1.1 Khái niệm và đặc điểm pháp lý của hợp đồng dân sự vô hiệu do giả tạo.

1.1.1 Khái niệm hợp đồng dân sự vô hiệu do giả tạo.

Hợp đồng dân sự là sự thỏa thuận ý chí tự nguyện của các bên chủ thể thamgia kí kết hợp đồng Vì thế nếu HĐ được thiết lập mà thiếu tính tự nguyện của cácbên hoặc một bên thì HĐ đó bị coi là vô hiệu và không thể làm phát sinh quyền vànghĩa vụ của các bên tham gia kí kết hợp đồng kể từ thời điểm hợp đồng được xáclập

“Vô hiệu” được hiểu là “không có hiệu lực, không mang lại kết quả” [8,

tr.1122] Theo đó, HĐDS vô hiệu được hiểu là HĐDS không có hiệu lực, khôngmang lại kết quả

Trang 11

Dưới góc độ pháp lý, HĐDS vô hiệu là HĐ không có hiệu lực pháp luật,

không làm phát sinh (hoặc không được pháp luật thừa nhận) quyền và nghĩa vụ dân

sự của các bên do vi phạm pháp luật [9]

Điều 410 Bộ luật dân sự 2005 quy định: “Các quy định về GDDS vô hiệu từ Điều 127 đến điều 138 cũng được áp dụng đối với hợp đồng vô hiệu” [4] Vì

thế, để hiểu được khái niệm HĐDS vô hiệu phải đặt chúng trong mối quan hệ vớiGDDS vô hiệu

Theo quy định tại Điều 122 BLDS 2005, thì một GDDS bị coi là vô hiệu khikhông đáp ứng được các điều kiện sau:

- Người tham gia giao dịch có năng lực hành vi dân sự;

- Mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp luật,không trái đạo đức xã hội;

- Người tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện;

- Hình thức của giao dịch là điều kiện có hiệu lực của giao dịch trong trườnghợp pháp luật có quy định

Căn cứ vào những điều kiện có hiệu lực của GDDS được BLDS 2005 quyđịnh thì có thể hiểu HĐDS vô hiệu là: Hợp đồng thể hiện ý chí của các bên tham gia

mà khi xác lập có sự vi phạm ít nhất một trong những điều kiện có hiệu lực của HĐtheo quy định của Bộ luật dân sự Tuy nhiên, chưa thể coi đây là một khái niệm hoànchỉnh về của HĐDS vô hiệu vì nó chưa nêu lên được bản chất, đặc trưng của HĐ vôhiệu

Qua những phân tích trên, có thể đưa ra khái niệm HĐDS vô hiệu như sau:

“Hợp đồng dân sự vô hiệu là hợp đồng không được pháp luật thừa nhận, không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên đã cam kết trong hợp đồng kể từ thời điểm xác lập hợp đồng”.

Về khái niệm “giả tạo”, theo Từ điển tiếng việt thì “giả tạo” được hiểu là

“không thật, vì được tạo ra một cách không tự nhiên” Trong đời sống hàng ngày

người ta thường nói nụ cười giả tạo, thương xót giả tạo [8]

Trang 12

Dưới góc độ pháp lý, chưa có định nghĩa khái quát về thuật ngữ giả tạo Bộluật dân sự 2005 quy định về giao dịch vô hiệu do giả tạo tại Điều 129, tại điều luậtnày các nhà làm luật chỉ nêu lên cách hiểu về GDDS vô hiệu do giả tạo và ghi nhậncác hình thức của sự giả tạo.

Theo từ điển giải thích Luật học:“Giao dịch dân sự do giả tạo là giao dịch được xác lập nhằm che giấu giao dịch có thật khác Trong giao dịch giả tạo các chủ thể không có ý định xác lập quyền và nghĩa vụ với nhau [9].

Hợp đồng dân sự là sự thỏa thuận và thống nhất ý chí của các bên tham giahợp đồng, ý chí đó phải là ý chí đích thực của các bên trong quan hệ đó Nếu như HĐđược giao kết một cách giả tạo nhằm che giấu ý chí thật của các chủ thể thì HĐ đó sẽ

vô hiệu Với cách hiểu giả tạo là không tự nhiên, không có thật thì có thể hiểu HĐDS

vô hiệu do giả tạo là HĐDS được xác lập không thật Trong HĐ giả tạo các chủ thểkhông có ý định xác lập quyền và nghĩa vụ với nhau Thông thường các chủ thể thiếtlập HĐ với mục đích trốn tránh nghĩa vụ với người thứ ba hoặc nhằm che giấu mộtgiao dịch khác Các bên có sự thông đồng với nhau từ trước khi tham gia giao kếthợp đồng

Dựa trên những phân tích này, có thể đưa ra khái niệm khoa học về HĐDS vô

hiệu do giả tạo như sau: “Hợp đồng dân sự vô hiệu do giả tạo là hợp đồng được xác lập không xuất phát từ ý chí đích thực của các bên tham gia hợp đồng, không nhằm làm phát sinh hậu quả pháp lý theo quy định của pháp luật mà nhằm che giấu một giao dịch khác hoặc trốn tránh nghĩa vụ với người thứ ba”.

1.1.2 Đặc điểm của hợp đồng dân sự vô hiệu do giả tạo.

Khi giao kết HĐDS các bên tham gia HĐ có nghĩa vụ tuân thủ các nguyêntắc, điều kiện luật định Nếu không tuân theo HĐ sẽ bị vô hiệu và không có giá trịpháp lý với các bên tham gia hợp đồng từ sự tuyên bố HĐ vô hiệu đó

HĐDS vô hiệu do giả tạo là HĐ được giao kết không đáp ứng được điều kiện

về tính tự nguyện của các bên chủ thể khi tham gia xác lập hợp đồng Và HĐDS vôhiệu do giả tạo mang đặc điểm chung của HĐDS vô hiệu đó là:

Trang 13

- Hợp đồng luôn vi phạm một trong những điều kiện có hiệu lực của hợpđồng dân sự do pháp luật quy định.

Các điều kiện có hiệu lực của HĐDS được quy định tại phần về GDDS vôhiệu - Bộ luật dân sự 2005 là một thể thống nhất, có quan hệ biện chứng với nhau

Hệ thống các điều kiện có hiệu lực của HĐDS được quy định cụ thể tại Điều 122,

134 và 410 Bộ luật dân sự 2005 Đó là các điều kiện: năng lực hành vi dân sự; ý chícủa chủ thể tham gia hợp đồng; mục đích và nội dung của HĐ không trái pháp luật,trái đạo đức xã hội; hình thức của HĐ phải phù hợp nếu pháp luật có quy định

- Các bên tham gia hợp đồng phải gánh chịu hậu quả pháp lý nhất định từviệc tuyên bố hợp đồng dân sự vô hiệu

Vấn đề hậu quả pháp lý của HĐDS bị tuyên bố vô hiệu không được quy địnhriêng mà để xử lý hậu quả pháp lý của HĐDS vô hiệu thì cần căn cứ vào quy địnhcủa Bộ luật dân sự 2005 về hậu quả pháp lý của GDDS vô hiệu vì HĐ là một loạiGDDS Một HĐDS được các bên giao kết mà không tuân thủ các điều kiện có hiệulực của HĐ sẽ không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự củacác bên từ thời điểm xác lập Các bên phải khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trảcho nhau những gì đã nhận, bên có lỗi gây thiệt hại thì phải bồi thường, tài sản vàhoa lợi, lợi tức có thể bị tịch thu [4, điều 137]

HĐDS vô hiệu do giả tạo là HĐ được giao kết không tuân thủ nguyên tắc tựnguyện của các bên chủ thể khi tham gia xác lập hợp đồng Các chủ thể tham giagiao kết HĐ không thể hiện ý chí thực của mình mà thiết lập quan hệ trên một ý chísai lệch Đôi khi các bên tham gia HĐDS vì những lý do khác nhau đã xác lập vớinhau một HĐ không phải với ý chí chủ quan đích thực của họ Mục đích của các bêngiao kết HĐ giả tạo nhằm che giấu một giao dịch khác hoặc trốn tránh nghĩa vụ vớingười thứ ba

Sự giao kết HĐDS giả tạo với mục đích nêu trên làm cho HĐ xác lập giả tạo

có những điểm riêng biệt với các trường hợp HĐDS vô hiệu khác Đó là những đặcđiểm sau:

Trang 14

Thứ nhất, về ý chí các bên tham gia hợp đồng xác lập hợp đồng trên cơ sở ý

chí không đích thực

Xét việc xác lập HĐDS giả tạo, ý chí được bày tỏ của các bên trong HĐDSgiả tạo là hoàn toàn không thật, không đúng với ý chí nội tâm của chủ thể Các bêncùng nhau bày tỏ gian ý của mình trong việc xác lập HĐ với nội dung hoàn toàn giảtạo khác với ý chí ban đầu Hợp đồng giả tạo bị xác định vô hiệu là do không đảmbảo được tính tự nguyện về ý chí giữa các bên tham gia Tính tự nguyện ở đây khôngphải do sự cưỡng ép, đe dọa mà bởi vì nó không đảm bảo giữa ý chí bên trong và sựbiểu hiện ý chí ra bên ngoài khi giao kết hợp đồng Sự tự nguyện ở đây không chỉ là

sự tự nguyện ở việc xác lập giao dịch mà tự nguyện trong chính bản thân các chủ thể.Các bên phải biểu hiện ý chí một cách thoải mái và trung thực với mong muốn của

họ Yếu tố tự nguyện phải được hiểu một cách rõ ràng và đúng đắn như vậy mới đảmbảo cho việc xác lập giao dịch giữa các bên không vi phạm pháp luật

Thứ hai, có sự thông đồng từ trước khi giao kết hợp đồng giả tạo giữa các bên

chủ thể

Điểm đặc biệt của HĐDS có yếu tố giả tạo là có sự thông đồng, nhất chí của

cả hai bên chủ thể từ trước khi xác lập HĐDS Để xác định một HĐDS là giả tạo cầncăn cứ vào ý chí giả tạo tồn tại ở các chủ thể Ý chí giả tạo đó không chỉ xuất phát từmột phía, không xuất hiện khi HĐ giả tạo đang được xác lập mà nó có từ trước khi

có sự xác lập HĐ giả tạo trên cơ sở sự thông đồng giữa các chủ thể Nếu không có sựthông đồng trước giữa các bên thì dù có bị tuyên vô hiệu cũng không thể khẳng định

HĐ đó vô hiệu do giả tạo

Thứ ba, luôn có ít nhất hai giao dịch cùng tồn tại khi các chủ thể xác lập hợp

đồng dân sự giả tạo

Hợp đồng dân sự giả tạo có một điểm nổi bật để phân biệt với các giao dịchkhác là các giao dịch bình thường chỉ giao kết dưới dạng một hợp đồng, các quyền

và nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng này Với HĐ giả tạo, các bên xác lập HĐ khôngnhằm mục đích phát sinh quyền và nghĩa vụ Trong việc xác lập HĐDS giả tạo luôn

Trang 15

tồn tại hai giao dịch song song Hợp đồng giả tạo được thể hiện ra bên ngoài nhưnglại không có giá trị trên thực tế Một giao dịch có thật, có giá trị trên thực tế lại bị chegiấu bởi HĐ giả tạo Theo quy định của pháp luật thì HĐ giả tạo sẽ bị tuyên vô hiệucòn giao dịch bị che giấu vẫn có giá trị pháp lý Trường hợp giao dịch bị che giấukhông đáp ứng những điều kiện để một giao dịch có hiệu lực theo quy định của phápluật thì khi đó cả HĐ giả tạo và giao dịch bị che giấu đều bị tuyên bố vô hiệu.

Việc xem xét đặc điểm của HĐDS vô hiệu do giả tạo là cơ sở cho việc phântích các quy định của pháp luật thực định về HĐDS vô hiệu do giả tạo Qua đó đưa racác đề xuất thích hợp trong quá trình xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luậtdân sự để đảm bảo an toàn pháp lý cho các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật dânsự

1.2 Các trường hợp hợp đồng dân sự vô hiệu do giả tạo.

1.2.1 Hợp đồng dân sự giả tạo nhằm che giấu giao dịch khác.

Điều 129 Bộ luật dân sự 2005 quy định: “Khi các bên xác lập GDDS một cách giả tạo nhằm che giấu một GDDS khác thì giao dịch giả tạo vô hiệu còn giao dịch bị che giấu vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp giao dịch đó cũng vô hiệu theo quy định của Bộ luật này Trong trường hợp xác lập giao dịch giả tạo nhằm trốn

tránh nghĩa vụ với người thứ ba thì giao dịch đó vô hiệu” [4].

Theo điều luật này, ta nhận thấy có hai hình thức của sự giả tạo

Hình thức thứ nhất, là HĐDS được xác lập một cách giả tạo nhằm che giấumột giao dịch khác trong đó ý chí của các đương sự hoàn toàn giả tạo Nói cách khác

là “hai bên giao kết lập một chứng thư mật (chứng thư che giấu) nhằm mục đích loại

bỏ hoặc thay đổi một chứng thư khác” [20, tr.64].

Với trường hợp này, luôn có một giao dịch bị che giấu song song tồn tại với

HĐ giả tạo, nó thể hiện ý chí thực của các bên giao kết Ví dụ: A cho con gái là Bmột mảnh đất với giá 300 triệu đồng nhưng do sợ mâu thuẫn, ghen tị giữa các connên A giao kết một HĐ mua bán đất Ở đây, hợp đồng tặng cho đất giữa A và B mới

là HĐ thể hiện ý chí thực Hợp đồng mua bán giữa A và B là HĐ giả tạo nhằm che

Trang 16

giấu HĐ tặng cho tài sản Việc giao kết HĐ trong trường hợp này để che giấu mộtgiao dịch khác vì những động cơ khác nhau Bản thân nội dung của HĐ giả tạo có thểhoàn toàn phù hợp với quy định của pháp luật nhưng vì nội dung của nó không đúngvới ý chí thực của các bên giao kết HĐ vì thế hợp đồng bị coi là vô hiệu.

Cũng có trường hợp các bên tham gia HĐ không muốn phủ nhận hoàn toànchứng thư giả tạo mà chỉ muốn thay đổi một vài chi tiết, nội dung trong HĐ đó Sựgiả tạo đôi khi đơn giản là sự mượn tên tuổi nhằm che giấu nhân thân của người thực

sự muốn giao kết hợp đồng Ví dụ: một người muốn mua một tài sản của người khácnhưng người này lại chính là người mà họ là người giám hộ Trong tình huống này,người đứng ra ký kết HĐ lại không phải là người thực sự muốn giao kết, không cóchủ ý đối với việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ phát sinh từ HĐ mà mọi quyền vànghĩa vụ phát sinh lại do người giám hộ tiếp nhận Nhưng về mặt hình thức thì ngườiđứng tên tham gia giao kết HĐ được coi là chủ thể của HĐ mà bản thân họ không hề

tránh nghĩa vụ với người thứ ba

Trang 17

Thỏa thuận ý chí vốn là nguyên tắc nền tảng để hình thành một hợp đồng dân

sự Hợp đồng có hiệu lực với các bên chấp nhận nó Nhưng ngoài các bên chủ thể

HĐ còn có những người được hưởng quyền lợi khác Hợp đồng tạo ra tình trạngpháp lý ảnh hưởng tới người ngoài Pháp luật gọi chung những chủ thể này

là “người thứ ba”.

Trong HĐDS giả tạo, việc trốn tránh nghĩa vụ với người thứ ba thể hiện ở haitrường hợp:

Thứ nhất, giao kết hợp đồng giả tạo để trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ khi

bản thân chủ thể tham gia HĐ đã tồn tại một nghĩa vụ với một chủ thể khác

Ví dụ: A nợ B số tiền 500 triệu đồng Nay đã đến hạn mà A không thể trả nợ

A có tài sản duy nhất là căn nhà 3 tầng trong thành phố T Với mục đích trốn tránhviệc trả nợ và để ngôi nhà của mình không bị xử lý cho việc bảo đảm nghĩa

vụ với B A bàn với M là em ruột của A về việc A sẽ kí một HĐ mua bán ngôi nhànày trên danh nghĩa với M M không phải thanh toán tiền mua nhà với A Và A thựcchất vẫn là chủ sở hữu nhà M chỉ là người đứng tên hộ A trong một thời gian Hợpđồng mua bán nhà giữa A và M được kí kết và công chứng theo quy định Trong tìnhhuống này, dù HĐ mua bán nhà đã qua công chứng nhưng vẫn bị coi là HĐ giả tạonhằm trốn tránh nghĩa vụ với người thứ ba theo quy định tại Điều 129 BLDS 2005

Thứ hai, giao kết hợp đồng giả tạo để không phải thực hiện một nghĩa vụ nhất

định đối với Nhà nước

Ví dụ: Để nhằm trốn tránh việc bị Nhà nước tịch thu tài sản do hành vi thamnhũng của mình, ông A đã thỏa thuận ký HĐ mua bán nhà đất cho B A và B chỉ thựchiện việc mua bán về mặt hình thức Họ không xác lập với nhau bất kỳ quyền vànghĩa vụ nào trong bản HĐ mua bán Trường hợp này, HĐ mua nhà đất

giữa ông A và B là một HĐ giả tạo nhằm trốn tránh nghĩa vụ với Nhà nước và do

đó sẽ bị tuyên vô hiệu tuyệt đối

Trên thực tế tình trạng xác lập giao dịch giả tạo để trốn tránh nghĩa vụ vớiNhà nước đang ngày càng phổ biến Đặc biệt là để trốn tránh nghĩa vụ nộp thuế.Các

Trang 18

chủ thể thường ký HĐ tặng cho tài sản giữa người thân trong gia đình thay cho HĐmua bán hoặc ký hợp đồng mua bán giữa các chủ thể nhưng giá cả thể hiện trong HĐthì thấp hơn rất nhiều so với giá thực tế.

Ví dụ: K có bán một căn nhà mặt tiền cho một người bạn Giá bán thỏa thuậntrên HĐ bằng giấy tay là 4,5 tỷ K đã nhận thanh toán đợt 1 là 1,5 tỷ Sau khi có giấychứng nhận quyền sử dụng đất, bên mua sẽ thanh toán phần còn lại là 3 tỷ Trong HĐmua bán đi công chứng K và bên mua thỏa thuận là 2,8 tỷ, nhằm giảm bớt đóng thuếthu nhập cá nhân và phí trước bạ Sau khi hồ sơ hoàn tất, K bàn giao sổ nhà cho bênmua, nhưng bên mua chỉ đồng ý trả phần còn lại là 1,3 tỷ (theo HĐ đã công chứng)

Lẽ ra phải trả phần còn lại là 3 tỷ ( theo HĐ viết tay thỏa thuận giữa các bên) Khi Kyêu cầu bên mua thực hiện đúng cam kết ban đầu thì bên mua cố tình phớt lờ và yêucầu thực hiện theo HĐ đã công chứng và chỉ chấp nhận trả phần còn lại là 1,3 tỷ Dokhông thể thỏa thuận được, K khởi kiện ra tòa yêu cầu giải quyết

Trong trường hợp này, HĐ mua bán trị giá 2,8 tỷ là HĐ giả tạo nên đươngnhiên vô hiệu HĐ mua bán trị giá 4,5 tỷ vẫn có giá trị nếu đáp ứng được điều kiện

có hiệu lực của HĐDS theo quy định của pháp luật Nếu không HĐ này cũng sẽ bịcoi là vô hiệu

Đối với loại HĐ giả tạo nhằm trốn tránh nghĩa vụ với người thứ ba thì giaodịch này xét về nội dung không có sự vi phạm pháp luật Tuy nhiên giữa ý chí và bày

tỏ ý chí không có sự thống nhất, mặt khác, mục đích xác lập giao dịch là có sự viphạm pháp luật, chủ thể HĐ không thực hiện nghĩa vụ đã tồn tại trước đó mặc dù cóđiều kiện thực hiện Trường hợp này được coi là vi phạm ý chí Nhà nước Theo đó,pháp luật quy định HĐ giả tạo sẽ đương nhiên vô hiệu mà không cần có yêu cầu củachủ thể có quyền lợi liên quan và thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố HĐ vô hiệu dogiả tạo không bị giới hạn như các trường hợp HĐ vô hiệu do vi phạm ý chí chủ thểkhác

Trang 19

1.2.3 Hợp đồng dân sự giả tạo có yếu tố tưởng tượng.

Bộ luật dân sự 2005 chỉ đề cập đến GDDS được xác lập giả tạo trong đó có ítnhất một giao dịch tồn tại đằng sau giao dịch giả tạo Đối với HĐDS giả tạo, cũnggiống các quy định về GDDS giả tạo, các nhà làm luật hiện tại vẫn xác định hai hìnhthức của sự giả tạo đó là: HĐ giả tạo nhằm che giấu giao dịch khác và HĐ giả tạonhằm trốn tránh nghĩa vụ với người thứ ba

Trên thực tế, tồn tại những HĐDS được giao kết và thể hiện ra bên ngoàinhưng hoàn toàn không có thực và cũng không nhằm che giấu bất kỳ một giao dịchnào HĐDS đó được xác lập bởi sự tưởng tượng

HĐDS giả tạo có yếu tố tưởng tượng là HĐ không có thật, các bên xác lập

HĐ không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ theo HĐ Các chủ thể thông đồng lập ra

HĐ để hợp thức hóa các thủ tục pháp lý hoặc để che đậy một sự thật khác, đó có thể

là một hành vi vi phạm pháp luật

Ví dụ: A ký hợp đồng bán nhà cho B, nhưng thực chất B không thanh toántiền và việc B đứng tên chỉ là danh nghĩa, tạm thời trong một thời gian Hợp đồngmua bán này không nhằm làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên trong HĐ mà

nó được các chủ thể lựa chọn để lách luật Đây chính là loại hợp đồng tưởng tượng,các bên hoàn toàn không có ý định tạo lập nên sự ràng buộc pháp lý với nhau dựatrên nội dung của hợp đồng Thường các bên xác lập HĐ đó để trốn tránh việc bị kêbiên nhà thi hành án hoặc tránh việc các cơ quan điều tra về tài sản để hòng thoát tộitham ô, tham nhũng

Có rất nhiều vụ việc như trên phát sinh trên thực tế, khi các bên phát sinhtranh chấp và tòa án giải quyết vụ việc thì các HĐDS mà các bên ký kết bị tuyên bố

là vô hiệu do không đáp ứng đủ điều kiện có hiệu lực của GDDS được quy định tạiĐiều 122 BLDS 2005 Nhưng việc chứng minh thực sự rất khó khăn và phức tạp

1.3 Phân biệt hợp đồng dân sự vô hiệu do giả tạo với hợp đồng dân sự

vô hiệu do vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội.

Trang 20

Tự do ý chí là một những nguyên tắc cơ bản và đặc trưng của pháp luật dân

sự Khi tham gia giao kết HĐDS các bên chủ thể có quyền tự do thỏa thuận các điềukhoản của hợp đồng Nhưng sự tự do đó không là vô hạn

Pháp luật của hầu hết các nước đều đưa ra những giới hạn nhất định đối với

việc thể hiện ý chí của các chủ thể Điều 134 Bộ luật dân sự Đức quy định: “Mọi giao dịch pháp lý vi phạm một điều cấm của pháp luật thì vô hiệu, trừ khi đạo luật

đó quy định khác”[12, tr.27] Bộ luật dân sự Nhật bản cũng quy định về điều kiện có hiệu lực của hợp đồng nghĩa vụ, theo đó “Muốn cho các quan hệ về nghĩa vụ phát sinh trên cơ sở hợp đồng, các nghĩa vụ đó phải hợp pháp, không trái đạo đức xã hội

và trật tự công cộng, đồng thời phải xác định được và có thể thực hiện được Ngoài

ra, hợp đồng không được vi phạm điều cấm của pháp luật” [13,

tr.499]

Trong pháp luật Việt Nam sự hạn chế đó được quy định như sau: “Mục đích

và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp luật và không trái đạo đức xã hội” [4, khoản 1 Điều 122] và “GDDS có mục đích và nội dung vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội thì vô hiệu” [4, Điều 128].

Theo Từ điển Tiếng Việt thì “Mục đích” là “Cái mà người ta cố gắng đạt cho được” [8] Trong Bộ luật dân sự Việt Nam thì “ mục đích của HĐDS được hiểu là lợi ích hợp pháp mà các bên mong muốn đạt được khi xác lập, thực hiện HĐDS” [4, Điều 123].

Mục đích khác với động cơ Động cơ được hiểu là cái có tác dụng chi phối,thúc đẩy các chủ thể suy nghĩ, hành động Động cơ xác lập HĐ không quyết định tớihiệu lực của HĐ trừ trường hợp các bên tham gia HĐ thỏa thuận về việc động cơ làđiều khoản bắt buộc quyết định tới hiệu lực của HĐ được giao kết

Cũng theo Từ điển Tiếng Việt, “Nội dung” là “Cái thể hiện bên trong của sự vật” [8] Theo khoa học pháp lý, nội dung được hiểu là tổng hợp các điều khoản mà

các thể tham gia giao kết HĐ đã thỏa thuận Các điều khoản đó xác định nhữngquyền và nghĩa vụ dân sự cụ thể của các bên trong hợp đồng [35, tr.120]

Trang 21

Mục đích và nội dung là hai yếu tố có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Khitham gia giao kết hợp đồng, các bên muốn đạt được mục đích của mình thì phải đạtđược sự thỏa thuận về mặt nội dung.

Trong giao kết hợp đồng, để HĐ có hiệu lực pháp luật thì mục đích và nộidung của HĐ không được vi phạm điều cấm của pháp luật và đạo đức xã hội Điềucấm ở đây không chỉ là pháp luật dân sự mà được hiểu là điều cấm được quy địnhtrong tất cả các văn bản pháp luật nói chung

“Đạo đức xã hội” được hiểu là “những chuẩn mực ứng xử chung giữa người với người trong đời dống xã hội, được cộng đồng thừa nhận và tôn trọng”[4, Điều

128] Không trái với đạo đức xã hội tức là mục đích và nội dung của HĐ không đượctrái với những quy tắc ứng xử chung giữa người với người đã được cộng đồng thừanhận và tôn trọng

Đạo đức xã hội khác với pháp luật Pháp luật do Nhà nước ban hành hoặcthừa nhận, mang tính giai cấp và được đảm bảo thực hiện bằng cưỡng chế nhà nước.Đạo đức xã hội là quy tắc ứng xử chung được cộng đồng thừa nhận, việc thực hiệndựa vào tính tự giác, tự nguyện của chủ thể Đạo đức xã hội không được biểu hiệndưới dạng văn bản cụ thể mà tồn tại dưới dạng truyền miệng

Có nhiều quan hệ xã hội vừa là đối tượng điều chỉnh của quy phạm pháp luật,vừa là đối tượng điều chỉnh của quy phạm đạo đức Vì lẽ đó mà pháp luật và đạo đức

có sự bổ sung, hỗ trợ nhau trong quá trình điều chỉnh các hành vi của con người

Mục đích và nội dung của HĐ là hai yếu tố quan trọng và không thể thiếutrong HĐDS Để HĐDS có hiệu lực thì mục đích và nội dung của hợp đồng phải đảmbảo là không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội Nếu khôngHĐDS sẽ bị coi là vô hiệu do vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội Ví

dụ : A và B giao kết HĐ mua bán chất ma túy Đây là HĐ vi phạm điều cấm củapháp luật vì ma túy là mặt hàng cấm lưu thông do tầm quan trọng của nó đối với anninh quốc gia

Trang 22

Trên thực tế, có những cách hiểu nhầm lẫn về HĐDS vô hiệu do giả tạo vớiHĐDS vô hiệu do vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội.

Ví dụ: A bán cho B một ngôi nhà trị giá 5 tỷ đồng A và B lập hợp đồng viếttay nhưng không làm thủ tục công chứng Với mục đích trốn thuế, A và B ký thêmmột hợp đồng mua bán chính căn nhà đó với giá 500 triệu đồng Hợp đồng này cócông chứng tại Phòng Công chứng Trong tình huống này, cần xác định hợp đồngmua bán nhà mà A và B ký kết là HĐDS vô hiệu do giả tạo hay HĐDS vi phạm điềucấm của pháp luật

Với những tình huống phát sinh như trên, còn tồn tại những quan điểm khácnhau:

Cách hiểu thứ nhất, là những quan điểm xác định hợp đồng mua bán nhà trị

giá 500 triệu được ký giữa A và B là HĐDS giả tạo do được ký kết nhằm che giấumột giao dịch khác là hợp đồng mua bán nhà với trị giá 5 tỷ Hợp đồng giả tạo sẽ bịtuyên bố vô hiệu còn hợp đồng mua bán nhà bị che giấu vẫn có hiệu lực pháp luật

Cách hiểu thứ hai Quan điểm thứ hai, là những quan điểm cho rằng HĐ mua

bán nhà được giao kết với giá 500 triệu là loại HĐ được ký do vi phạm điều cấm củapháp luật vì mục đích giao kết HĐ này là để trốn tránh việc đóng thuế với nhà nước

Như vậy, thực tế cho thấy đôi khi việc phân biệt giữa HĐDS vô hiệu do giảtạo và HĐDS vô hiệu do vi phạm điều cấm của pháp luật còn chưa thống nhất Việcphân biệt rõ hai loại HĐ này là cơ sở cho quá trình áp dụng pháp luật được thực hiệnchính xác Nói đến phân biệt người ta nghĩ ngay đến việc tìm ra các tiêu chí nhằm chỉ

ra sự khác biệt của từng loại HĐ vô hiệu này

Thứ nhất, về ý chí các bên tham gia hợp đồng.

- HĐDS vô hiệu do giả tạo: Các bên mong muốn xác lập HĐ trên cơ sở ý chíkhông đích thực

- HĐDS vô hiệu do vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội: Cácbên thiết lập quan hệ HĐ với ý chí thực của các chủ thể nhưng ý chí đó được thể hiệnvới mục đích, nội dụng vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội

Trang 23

Thứ hai, mục đích và nội dung của hợp đồng.

- HĐDS vô hiệu do giả tạo: Mục đích và nội dung của HĐ này không phùhợp với mong muốn đích thực của các bên, không nhằm làm phát sinh các quyền vànghĩa vụ pháp lý đích thực

- Hợp đồng vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội: Mục đích vànội dung phù hợp với mong muốn của các bên, nội dung và mục đích đó trái phápluật, trái đạo đức xã hội

Thứ ba, về cách thức xác lập hợp đồng.

- HĐDS vô hiệu giả tạo: việc xác lập HĐDS giả tạo luôn có ít nhất hai giaodịch cùng tồn tại là giao dịch che giấu và giao dịch bị che giấu

- Hợp đồng vi phạm điều cấm của pháp luật: chỉ có một HĐ tồn tại

Thứ tư, về hậu quả pháp lý khi tuyên bố hợp đồng vô hiệu.

- HĐDS vô hiệu do giả tạo: Hợp đồng giả tạo vô hiệu còn giao dịch bị chegiấu vẫn có hiệu lực pháp luật

- HĐDS vô hiệu do vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội: Hợpđồng vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội sẽ vô hiệu

Dựa vào những tiêu chí phân biệt nêu trên, quay trở lại tình huống mua bánnhà đã đề cập Theo tôi, HĐ mua bán nhà được ký giữa A và B với giá trị 500 triệuđồng nhằm che giấu HĐ mua bán nhà thực sự với giá bán 5 tỷ đồng nhằm mục đíchtrốn thuế Nhà nước là HĐ vô hiệu do giả tạo mà không phải là vô hiệu do vi phạmđiều cấm của pháp luật Lý do như sau: Hợp đồng mua bán nhà với giá 5 tỷ đượcgiao kết trên cơ sở sự thông đồng, nhất chí của A và B Hợp đồng này không phảnánh ý chí thực sự của các bên, không nhằm làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ theohợp đồng; Mục đích của việc ký kết hợp đồng này là nhằm che giấu hợp đồng muabán thật sự với giá 5 tỷ và nhằm trốn thuế; Có 2 hợp đồng cùng tồn tại song song là

HĐ mua bán nhà giá 5 tỷ (hợp đồng bị che giấu) và hợp đồng mua bán giá 500 triệu(hợp đồng giả tạo); Về hậu quả pháp lý thì HĐ mua bán giá 500 triệu sẽ bị tuyên bố

vô hiệu và HĐ mua bán thật sự vẫn có hiệu lực pháp luật Tuy nhiên, theo ví dụ thì

Trang 24

HĐ này không được các bên công chứng, chứng thực nên nó có thể sẽ bị tuyên bố vôhiệu nếu các bên không tuân thủ và hoàn thiện thủ tục đó theo yêu cầu của Tòa ántrong quá trình giải quyết vụ án.

1.4 Ý nghĩa pháp lý của quy định về hợp đồng dân sự vô hiệu do giả tạo.

Hệ thống các quy định của Bộ luật dân sự 2005 về HĐDS vô hiệu do giả tạo

là nền tảng pháp lý cơ bản giải quyết các vấn đề pháp lý phát sinh có liên quan Theo

đó, quyền lợi của các chủ thể tham gia vào quan hệ HĐDS được bảo vệ tốt hơn Gópphần to lớn trong việc duy trì ổn định trật tự xã hội, củng cố vai trò quản lý xã hộicủa Nhà nước

Các quy định về HĐDS vô hiệu do giả tạo có ý nghĩa như sau:

- Thứ nhất, các quy định về HĐDS vô hiệu do giả tạo góp phần định hướng,

tạo khuôn mẫu cho các chủ thể pháp luật dân sự

Khi tiến hành xác lập HĐDS, các chủ tham gia giao kết HĐ có quyền tự do,

tự nguyện giao kết nhưng sự tự do đó phải nằm trong khuôn khổ pháp luật Ký kếtmột HĐDS giả tạo nhằm che giấu một giao dịch khác hay trốn tránh nghĩa vụ vớingười thứ ba là sự vi phạm nguyên tắc tự nguyện mà pháp luật dân sự quy định Cácbên không bày tỏ ý chí thực của mình, không nhằm xác lập các quyền và nghĩa vụđích thực từ HĐ giao kết Sự thông đồng đó làm xâm phạm tới lợi ích của các chủthể khác trong xã hội, lợi ích của nhà nước Vì lẽ đó, pháp luật quy định HĐDS giảtạo sẽ vô hiệu

Quy định của pháp luật về HĐDS vô hiệu do giả tạo đóng vai trò quan trọngtrong nền kinh tế thị trường, đặc biệt trong việc ngăn chặn, phòng ngừa các HĐDS

mà pháp luật không cho phép giao kết là HĐDS vô hiệu do giả tạo, góp phần bảo vệtrật tự công, tạo hành lang pháp lý an toàn cho các chủ thể tham gia HĐDS

- Thứ hai, bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp các bên hợp đồng hoặc người thứ ba

ngay tình và bảo đảm tính công bằng khi giải quyết hậu quả của HĐDS vô hiệu dogiả tạo

Trang 25

Khi một HĐ giao kết có yếu tố giả tạo, hợp đồng đó sẽ bị vô hiệu Hợp đồng

vô hiệu sẽ không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự của cácbên kể từ thời điểm xác lập Các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả chonhau những gì đã nhận, nếu không hoàn trả được bằng hiện vật thì hoàn trả bằng tiền.Tài sản, hoa lợi, lợi tức thu được có thể bị tịch thu theo quy định của luật và bên cólỗi phải bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật

Bên cạnh đó, pháp luật cũng quy định về việc bảo vệ quyền lợi của người thứ

ba ngay tình khi một HĐ bị tuyên bố vô hiệu do giả tạo Theo đó, quyền lợi củangười thứ ba ngay tình được pháp luật bảo vệ khi tài sản là động sản không phảiđăng ký quyền sở hữu và người thứ ba có được tài sản thông qua một giao dịch cóđền bù Nếu người thứ ba có được tài sản là động sản không phải đăng ký quyền sởhữu qua một giao dịch không có đền bù hoặc tài sản đó là tài sản do trộm cắp mà cóhoặc bị mất thì người thứ ba phải trả lại tài sản [4, Điều 257] Các quy định của phápluật về việc giải quyết và bảo vệ quyền lợi của các chủ thể có liên quan khi một HĐ

bị tuyên bố là vô hiệu do giả tạo nhìn chung là đảm bảo tính khách quan góp phầnbảo vệ tốt hơn quyền lợi của các chủ thể khi tham gia vào quan hệ pháp luật này

- Thứ ba, bảo đảm sự kiểm tra, giám sát của các cơ quan nhà nước có thẩm

áp dụng thích đáng khi các bên thông đồng gian dối trong thỏa thuận đó nhằm chegiấu một sự thật khác Căn cứ vào các quy định của pháp luật về HĐ vô hiệu do giảtạo thì các cơ quan nhà nước có thẩm quyền sẽ kiểm tra, giám sát và xử lý các HĐgiả tạo phát sinh trên thực tế chính xác hơn

Trang 26

- Thứ tư, là căn cứ pháp lý để các bên có thể tự hòa giải với nhau hoặc Tòa án

giải quyết tranh chấp khi các bên chủ thể khởi kiện tại Tòa án khi xảy ra tranh chấp

Trang 27

cứ quan trọng để xác định có hay không cómột sự thông đồng trong việc giao kết một hợpđồng giả tạo, có tồn tại thực tế không một HĐ

đã được giao kết một cách giả tạo nhằm chegiấu một giao dịch khác hoặc trốn tránh nghĩa

vụ với người thứ ba Nếu HĐDS vô hiệu do giảtạo thì những thông đồng ý chí của các bênnhằm che giấu ý chí đích thực của mình trongviệc giao kết HĐ đó đóng vai trò quan trọngtrong việc xác định trách nhiệm của các bên cóliên quan đến HĐ giả tạo và tuyên bố HĐ giả

tạo vô hiệu.CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG DÂN SỰ

VÔ HIỆU DO GIẢ TẠO VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN

PHÁP LUẬT

Quy định của BLDS 2005 về HĐDS giả tạo là cơ sở pháp lý quan trọng để pháthuy hiệu quả áp dụng pháp luật, đáp ứng yêu cầu của xã hội và giải quyết các tranhchấp thực tế phát sinh Tuy nhiên, cùng với sự phát triển không ngừng của các quan

hệ dân sự thì đòi hỏi quy định của pháp luật về HĐDS giả tạo phải được sửa đổi, bổsung để phù hợp với tình hình mới

Để đưa ra được các giải pháp hoàn thiện pháp luật thì cần đi sâu tìm hiểu thựctrạng pháp luật về HĐDS vô hiệu do giả tạo Vì vậy, nội dung chương 2 của luận văntập trung phân tích, đánh giá cụ thể từng vấn đề của pháp luật hiện hành về HĐDS giảtạo và đưa ra các giải pháp thích hợp đối với từng vấn đề, đó là: Định nghĩa về HĐDSgiả tạo; HĐDS giả tạo nhằm trốn tránh nghĩa vụ với người thứ ba; HĐDS có yếu tốtưởng tượng; Các điều kiện của HĐDS giả tạo; Hậu quả pháp lý của HĐDS giả tạo;

Trang 28

khái niệm giả tạo chưa được đề cập cụ thể Chúng ta thường đem cách hiểu về giả tạođược định nghĩa trong Từ điển tiếng việt để đưa đến cách hiểu về HĐDS vô hiệu dogiả tạo Dưới góc độ pháp lý, chúng ta chủ yếu nhắc đến HĐ giả tạo căn cứ vào nhữngdấu hiệu của nó mà không đi từ bản chất Hiện tại, chúng ta chưa có một định nghĩakhái quát thế nào là giả tạo, HĐDS vô hiệu do giả tạo.

BLDS 2005 quy định về HĐDS vô hiệu do giả tạo tại Điều 129 về GDDS dogiả tạo Toàn bộ điều luật cũng không đưa ra khái niệm về GDDS có yếu tố giả tạo

Theo Từ điển giải thích luật học: “Giao dịch dân sự do giả tạo là giao dịch dân sự được xác lập nhằm che giấu giao dịch có thật khác Trong giao dịch dân sự giả tạo, các chủ thể không có ý định xác lập quyền và nghĩa vụ đối với nhau” [9].

Theo quy định của pháp luật dân sự, thì sự thống nhất ý chí và bày tỏ ý chí làmột trong những căn cứ quan trọng quyết định đến hiệu lực của hợp đồng Khi có sựthống nhất đó thì HĐ có thể được xác lập và làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của cácbên tham gia HĐ Tuy nhiên, không phải mọi sự tự nguyện đều được pháp luật ghinhận Khi các chủ thể kiểm soát được hành vi của mình, không bị chi phối bởi yếu tốkhách quan nào nhưng họ lại thông đồng trong việc bày tỏ một ý chí không thực rabên ngoài thì pháp luật không thừa nhận HĐ mà họ giao kết Đây chính là trường hợp

HĐ xác lập có yếu tố giả tạo

BLDS quy định: “Khi các bên xác lập giao dịch dân sự một cách giả tạo nhằm che giấu một giao dịch khác thì giao dịch giả tạo vô hiệu, còn giao dịch che giấu vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp giao dịch đó cũng vô hiệu theo quy định của

Bộ luật này Trong trường hợp xác lập giao dịch nhằm trốn tránh nghĩa vụ với người thứ ba thì giao dịch đó vô hiệu” [4, Điều 129] Như vậy, về bản chất HĐ giả tạo là

HĐ mang tính hình thức nhằm che giấu một giao dịch khác hoặc trốn tránh nghĩa vụvới người thứ ba Thực tế các bên không có ý định xác lập quyền và nghĩa vụ pháp lývới HĐ này

Trang 29

tuyên bố ý định cần được đưa ra với một người khác, với sự cho phép của người đó,

mà chỉ được đưa ra về hình thức, sẽ vô hiệu Nếu một giao dịch giả mạo ẩn

náu đằng sau một giao dịch hợp pháp khác, những quy định này có thể áp dụng với giao dịch ẩn” [12, Điều 117].

Đa số các quốc gia đều coi HĐDS được xác lập bởi sự giả tạo là vô hiệu bởi vìcác chủ thể hoàn toàn tự nguyện xác lập HĐ nhưng lại thông đồng bày tỏ ý chí khôngđích thực của họ Nếu không có sự thông đồng này, HĐ không thể bị tuyên là HĐ xáclập có yếu tố giả tạo

Việc pháp luật Việt Nam hiện hành chưa đưa ra khái niệm hoàn chỉnh vềHĐDS giả tạo đã dẫn tới những cách hiểu khác nhau về khái niệm cũng như cáctrường hợp giả tạo trên thực tế Luật dân sự chỉ liệt kê những thứ được coi là dấu hiệunhận biết một HĐ xác lập có yếu tố giả tạo Hiện nay, Dự thảo sửa đổi BLDS 2005cũng chưa quy định về vấn đề này Vì vậy, việc đưa ra một định nghĩa pháp lý về giảtạo, về HĐDS vô hiệu do giả tạo là tiền đề quan trọng cho việc áp dụng pháp luật

Đối với trường hợp HĐDS giả tạo nhằm trốn tránh nghĩa vụ với người thứ batrong quy định của BLDS 2005 Mục đích xác lập HĐDS giả tạo này là để một bênchủ thể không phải thực hiện một nghĩa vụ nào đó với người khác mặc dù họ có đủđiều kiện để thực hiện Với mục đích xác lập HĐDS giả tạo của các bên có thể xâmphạm tới lợi ích của các chủ thể khác, pháp luật có quy định nghiêm khắc về vấn đềnày Theo đó, HĐDS giả tạo sẽ đương nhiên vô hiệu mà không cần có sự yêu cầu củanhững người có quyền và lợi ích liên quan Thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố HĐDS

vô hiệu do giả tạo không bị giới hạn về mặt thời gian

Hiện nay, xung quanh quy định tại Điều 129 BLDS 2005 về HĐDS vô hiệu dogiả tạo còn nhiều tranh cãi Đặc biệt là quy định về HĐDS giả tạo nhằm trốn tránhnghĩa vụ với người thứ ba Nên hiểu như thế nào là giả tạo nhằm trốn tránh nghĩa vụ

với người thứ ba Điều 129 BLDS 2005 quy định: “Trong trường hợp

Trang 30

giả tạo nhằm trốn tránh nghĩa vụ với người thứ ba Đặc biệt là trong việc giải quyếtcác tranh chấp dân sự Khi nào được coi là HĐDS giả tạo nhằm trốn tránh nghĩa vụ

với người thứ ba: “giả tạo” và “trốn tránh” hay là “giả tạo” hoặc “trốn tránh”.

Đơn cử như vụ bà L mượn nợ gần 10 tỉ đồng mà TAND TP.HCM đã xử phúcthẩm Trước đó, do không trả được nợ, bà đã ký giấy xác nhận nợ và đồng ý bán đứt

ba căn nhà cho chủ nợ Việc mua bán này chưa được thực hiện thì bà L lại bán nhàcho người khác (một số hợp đồng đã qua công chứng ) Chủ nợ không đồng ý đãkhởi kiện ra tòa yêu cầu tuyên bố hủy các hợp đồng mua bán của bà L

Tòa cấp sơ thẩm và cấp phúc thẩm đều nhận định rằng cam kết đầu tiên giữa bà

L với chủ nợ chưa có một văn bản nào bãi bỏ Từ việc đã có cam kết nói trên, bà L.biết rõ phải trả nợ nhưng lại bán nhà cho người khác là vi phạm cam kết trả nợ Tòatuyên các hợp đồng mua bán của bà L và những người liên quan là vô hiệu

Một quan điểm đồng tình với phán quyết trên và cho rằng chỉ cần có dấu hiệugiả tạo hợp đồng để trốn tránh nghĩa vụ là đã có thể tuyên hợp đồng vô hiệu Tòa sẽkhông xem xét là việc trốn tránh nghĩa vụ đó có xảy ra trên thực tế hay không Ở đây,

dù sau khi bán nhà, bà L có tiền đủ để trả nợ nhưng chủ nợ vẫn không khởi kiện đòitiền nợ mà khởi kiện đòi thực hiện cam kết bán nhà cấn nợ thì tòa vẫn thụ lý Đồngthời tòa tuyên hợp đồng mua bán của bà L với những người khác là vô hiệu

Một quan điểm khác cho rằng hợp đồng vô hiệu chỉ xảy ra khi có dấu hiệu giảtạo và trốn tránh nghĩa vụ Hai vế này phải đi liền với nhau thì mới đảm bảo đúng quyđịnh

Theo quan điểm này, cam kết của bà L với chủ nợ không có giá trị cao hơnnhững cam kết của bà L bán nhà cho người khác Cam kết của bà L với chủ nợ cũngkhông thể được ưu tiên thực hiện trước so với những cam kết khác Và theo pháp luật,chỉ những giao dịch nào được bảo đảm thì mới có giá trị pháp lý cao hơn hoặc được

ưu tiên thực hiện Ví dụ: giao dịch được công chứng, chứng thực sẽ có giá trị pháp lý

Trang 31

đây là có sự giả tạo thì phải xem xét tiếp vế thứ hai.

Đó là tòa chỉ tuyên vô hiệu sau khi chủ nợ của bà L kiện đòi bà phải trả nợnhưng bà này nhất mực không trả Ở đây, sự kiện này cũng chưa xảy ra (chủ nợ bà

L chỉ đòi hủy hợp đồng) thì cũng chưa thể nói bà L đã trốn tránh nghĩa vụ trả nợ.Còn bảo bà L không thực hiện đúng cam kết cấn nhà trả nợ (trốn tránh) thì cũng chưahẳn đã hợp lý như phân tích ở trên về sự ưu tiên trong các cam kết của bà L

Qua tình huống trên, nhận thấy có hai cách hiểu khác nhau về HĐDS vô hiệu

do giả tạo nhằm trốn tránh nghĩa vụ với người thứ ba theo quy định tại Điều 129BLDS 2005

Cách hiểu thứ nhất, cho rằng hai yếu tố này nhất thiết phải đi đôi với nhau.

Tức là việc trốn tránh nghĩa vụ với người thứ ba mới chỉ là suy đoán thì không thể xácđịnh là HĐDS vô hiệu do giả tạo Chỉ khi yếu tố giả tạo và trốn tránh nghĩa vụ vớingười thứ xảy ra trên thực tế thì mới có thể xác định HĐDS vô hiệu do giả tạo

Cách hiểu thứ hai, cho rằng bản thân việc giao kết HĐ nhằm trốn tránh nghĩa

vụ với người thứ ba đã đủ coi là vô hiệu mà không cần xem xét tới yếu tố giả tạo

Hiện nay, Điều 140 Dự thảo sửa đổi BLDS có sửa đổi theo hướng “Trường hợp xác lập giao dịch dân sự giả tạo nhằm trốn tránh nghĩa vụ với người thứ ba thì đối với người thứ ba, giao dịch dân sự đó vô hiệu” Như vậy, cả Dự thảo và BLDS

2005 đều xử lý HĐDS nhằm trốn tránh nghĩa vụ với người thứ ba với điều kiện đó là

“HĐDS giả tạo” Tức là vẫn quy định HĐDS vô hiệu nhằm trốn tránh nghĩa vụ với

người thứ ba trong điều luật về giả tạo

Như vậy, quy định của Dự thảo cũng chưa thực sự giải quyết được các tranhchấp thực tế phát sinh liên quan đến HĐ giao kết nhằm trốn tránh nghĩa vụ với ngườithứ ba và HĐDS giả tạo Bản thân việc xác lập HĐ nhằm trốn tránh nghĩa vụ vớingười thứ ba là hành vi đáng lên án và đủ để vô hiệu hóa HĐDS mà không cần thêmyếu tố giả tạo

Trang 32

biệt quy định về GDDS xác lập nhằm trốn tránh nghĩa vụ với người thứ ba là: “Trong trường hợp xác lập giao dịch nhằm trốn tránh nghĩa vụ với người thứ ba

thì đối với người thứ ba, giao dịch đó vô hiệu” sẽ giúp hoàn thiện hơn quy định của

luật dân sự về vấn đề này

Cuối cùng là vấn đề HĐDS được xác lập có yếu tố tưởng tượng

Thực tế hiện nay có những trường hợp một HĐDS được thể hiện ra bên ngoàinhưng hoàn toàn không có thực, cũng không nhằm che giấu một giao dịch khác,không trốn tránh nghĩa vụ với người thứ ba Đây là HĐDS xác lập có yếu tố tưởngtượng Pháp luật hiện hành không có quy dịnh về trường hợp này Như vậy, đòi hỏipháp luật phải có những quy định rõ ràng hơn, dự liệu những trường hợp có thể xảy ratrên thực tế

2.2 Điều kiện của hợp đồng dân sự vô hiệu do giả tạo.

Căn cứ quy định tại Điều 122 và Điều 129 BLDS 2005, để xác định mộtHĐDS có vô hiệu do giả tạo hay không trước tiên phải xác định được HĐ đó có viphạm một trong các điều kiện có hiệu lực của HĐDS theo quy định của pháp luật Khi

HĐ bị tuyên bố là vô hiệu, HĐ đó không có giá trị pháp lý ngay từ thời điểm ký kết

Về hình thức, HĐDS xác lập giả tạo đáp ứng được quy định về các điều kiện

có hiệu lực của một HĐ theo Điều 122 BLDS 2005 Tuy nhiên, HĐDS giả tạo đượcxác định là vô hiệu do có sự mâu thuẫn giữa ý chí bên trong và sự thể hiện ý chí ra

bên ngoài Điều 129 BLDS 2005 quy định: “Khi các bên xác lập GDDS một

cách giả tạo nhằm che giấu một GDDS khác thì giao dịch giả tạo vô hiệu còn giao dịch bị che giấu vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp giao dịch đó cũng vô hiệu theo

quy định của Bộ luật này Trong trường hợp xác lập giao dịch giả tạo nhằm trốn tránh nghĩa vụ với người thứ ba thì giao dịch đó vô hiệu” [3] Như vậy, ngoài việc vi

phạm điều kiện về ý chí của chủ thể thì HĐDS giả tạo còn có mục đích che giấu mộtgiao dịch khác hoặc trốn tránh nghĩa vụ với người thứ ba Điều đó cũng có nghĩa là

Trang 33

Qua những phân tích trên, nhận thấy theo BLDS hiện hành một HĐDS bị coi

là giả tạo khi thỏa mãn các điều kiện sau:

- Không có sự thống nhất giữa ý chí thực sự bên trong và bày tỏ ý chí thực sự

Thứ nhất, điều kiện về không có sự thống nhất giữa ý chí thực sự bên trong và

bày tỏ ý chí thực sự ra bên ngoài

Điểm c khoản 1 Điều 122 BLDS 2005 nêu lên điều kiện về ý chí của chủ thể

tham gia HĐDS đó là: “người tham gia vào GDDS phải hoàn toàn tự

nguyện” Sự tự nguyện được thể hiện ở việc các bên tự mình xác lập, lựa chọn

hình thức, đối tượng của hợp đồng Mọi sự thỏa thuận thống nhất ý chí giữa các bênđều không có sự đe dọa, cưỡng ép hay nhầm lẫn nào Tức là, phải có sự thống nhấtgiữa ý chí bên trong và biểu hiện ý chí ra bên ngoài Nếu thiếu sự thống nhất ý chí nàyHĐDS bị coi là vô hiệu Nói cách khác, HĐ phải thỏa mãn các điều kiện về ý chí sau:

- Phải có sự thống nhất ý chí chung giữa các chủ thể

- Ý chí chung phải xuất phát từ sự tự nguyện, bình đẳng

- Ý chí chung phải được thể hiện đầy đủ, chính xác

Khi ý chí của các chủ thể đã được thống nhất thì việc thể hiện ra bên ngoài của

HĐ phải được thể hiện đầy đủ, chính xác qua đó lợi ích của các bên tham gia HĐ mới

Trang 34

Ý chí đích thực ở đây là sự thể hiện mong muốn của các chủ thể ra bên ngoàitrong khuôn khổ pháp luật cho phép Trong một số trường hợp, nếu các bên chủ thểkhông cố ý trong việc sử dụng ngôn từ khiến cho ý chí chung của các bên không đượchiểu một cách đúng đắn thì pháp luật cho phép các chủ thể giải thích ngôn từ đó.Ngược lại có những trường hợp mà các bên chủ thể cố ý không thể hiện ý chí đíchthực của họ thì pháp luật không ghi nhận và bảo vệ HĐ đó Đó chính là trường hợpxác lập HĐ dân sự giả tạo.

Theo Điều 129 Bộ luật dân sự 2005 thì:“Khi các bên xác lập GDDS một

cách giả tạo nhằm che giấu một GDDS khác thì giao dịch giả tạo vô hiệu còn giao dịch bị che giấu vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp giao dịch đó cũng vô hiệu theo quy định của Bộ luật này Trong trường hợp xác lập giao dịch giả tạo nhằm trốn

tránh nghĩa vụ với người thứ ba thì giao dịch đó vô hiệu”[4].

Hợp đồng dân sự giả tạo là HĐ được giao kết với ý chí không thật của các bêntham gia hợp đồng Ý chí của các bên trong HĐDS giả tạo không đúng với ý chí đíchthực của chủ thể Sự bày tỏ ý chí trong HĐ giả tạo khác với việc bày tỏ ý chí của chủthể trong trường hợp bị nhầm lẫn, lừa dối, đe dọa Không có một tác động thứ ba nào

mà chính chủ thể trong HĐ giả tạo chủ động thể hiện ý chí khác với ý chí thực để đạtđược động cơ, mục đích của mình Đó có thể là che giấu một sự thật khác hay trốntránh nghĩa vụ dân sự trước bên có quyền

Pháp luật Việt Nam và pháp luật của nhiều quốc gia khác trên thế giới đều quy

định HĐDS giả tạo sẽ bị coi là vô hiệu Bộ luật dân sự Đức quy định: “Nếu

một tuyên bố ý định cần được đưa ra với một người khác, với sự cho phép của người

đó, mà chỉ được đưa ra về hình thức, sẽ vô hiệu”[12, Điều 117] Hay BLDS Nhật Bản quy định: “Việc tuyên bố ý chí giả tạo được tiến hành với sự câu kết của bên kia là không có ý nghĩa và bị vô hiệu Tính vô hiệu của tuyên bố ý chí quy định tại đoạn trên không được sử dụng để chống lại người thứ ba ngay tình” [13, điều 108].

Trang 35

nguyên tắc “tự do, tự nguyện, cam kết, thỏa thuận”[4, Điều 4].Tự nguyện được hiểu là

“tự mình muốn làm, không phải bị thúc ép, bắt buộc” [8] Tính tự nguyện trong HĐ là

khả năng về ý chí và biểu lộ ý chí ra bên ngoài của các chủ thể khi tham giao HĐ Ýchí đó được biểu một cách trung thực, thoải mái theo đúng ý chí và mong muốn củacác bên

Đối với HĐDS xác lập có yếu tố giả tạo thì chủ thể tham gia HĐ không thểhiện ý chí đích thực của mình Các bên chủ thể khi tham gia HĐ đã không có sự thốngnhất giữa ý chí đích thực bên trong và sự biểu hiện bên ngoài, đồng nghĩa với việckhông có sự tự nguyện Như vậy, sự tự nguyện ở đây không chỉ là tự nguyện ở việcxác lập HĐ mà tự nguyện trong chính bản thân các chủ thể Đó là cơ sở đảm bảo choviệc xác lập HĐ giữa các bên không vi phạm pháp luật Khi HĐDS xác lập có yếu tốgiả tạo, nó có thể xâm phạm đến lợi ích của người thứ ba Do đó, HĐDS giả tạo mặcnhiên bị coi là vô hiệu kể từ thời điểm xác lập Pháp luật không hạn chế chủ thể cóquyền khởi kiện yêu cầu tòa án tuyên bố HĐ đã được xác lập bị vô hiệu nếu có đầy đủchứng cứ chứng minh.,

Thứ hai, điều kiện về sự thông đồng, thống nhất từ trước của các chủ thể tham

gia giao kết hợp đồng dân sự giả tạo

Hợp đồng dân sự giả tạo bị xác định vô hiệu là do không đảm bảo được tính tựnguyện về ý chí giữa các bên tham gia Về cơ bản, nó không đảm bảo giữa ý chí thực

và sự biểu hiện ý chí ra bên ngoài trong HĐ mặc dù chủ thể hoàn toàn có khả nănglàm điều đó Tuy nhiên, cần khẳng định rằng HĐDS chỉ được coi là giả tạo khi cả haibên chủ thể đều nhất trí với sự không thật của ý chí bên trong và biểu hiện ý chí ra bênngoài Và các bên phải có sự thông đồng từ trước khi giao kết HĐ thì mới dẫn đến sự

vô hiệu Khi xác lập HĐDS giả tạo, ý chí giả tạo được thể hiện ra ngoài không chỉ là ýchí của một bên chủ thể Hợp đồng dân sự giả tạo được xác lập khi mà đã có sự thôngđồng, nhất trí giữa các bên trước khi giao kết hợp đồng Nếu không chứng minh được

Trang 36

Điều 129 Bộ luật dân sự 2005 quy định: “Khi các bên xác lập GDDS một

cách giả tạo nhằm che giấu một GDDS khác thì giao dịch giả tạo vô hiệu còn giao

dịch bị che giấu vẫn có hiệu lực” [4] Như vậy, căn cứ vào quy định của luật hiện

hành nhận thấy thường tồn tại ít nhất hai GDDS, GDDS thứ nhất chính là HĐDS đượcxác lập một cách giả tạo và thứ hai là GDDS đích thực

Các GDDS thông thường, các bên chỉ giao kết dưới một dạng HĐ, các quyền

và nghĩa vụ phát sinh từ HĐ này Đối với HĐDS xác lập có yếu tố giả tạo thì luôn có

ít nhất hai giao dịch tồn tại song song Trong HĐ giả tạo,các bên không nhằm mụcđích phát sinh quyền và nghĩa vụ với nhau từ HĐ này mà nhằm che giấu một giaodịch khác Hợp đồng giả tạo thể hiện ra bên ngoài nhưng lại không có giá trị trên thực

tế, giao dịch ẩn giấu bên trong mới là giao dịch thực, phát sinh quyền và nghĩa vụ.Hợp đồng giả tạo chỉ mang tính hình thức còn giao dịch ẩn giấu mới chứa đựng nộidung thực sự Theo quy định của pháp luật, hợp đồng giả tạo bị vô hiệu còn giao dịch

ẩn giấu kia vẫn có hiệu lực nếu tuân thủ đầy đủ các điều kiện có hiệu lực của HĐDStheo quy định của pháp luật Nếu không thì cả giao dịch giả tạo và giao dịch bị chegiấu đều bị tuyên bố vô hiệu

Thứ tư, điều kiện về mục đích của việc xác lập hợp đồng là nhằm che giấu giao

dịch khác hoặc trốn tránh nghĩa vụ với người thứ ba

BLDS 2005 quy định như sau: “Khi các bên xác lập giao dịch dân sự một

cách giả tạo nhằm che giấu một giao dịch khác thì giao dịch giả tạo vô hiệu, còn giao dịch che giấu vẫn có hiệu lực” và “Trong trường hợp xác lập giao dịch nhằm

trốn tránh nghĩa vụ với người thứ ba thì giao dịch đó vô hiệu” [4, Điều 129].

Căn cứ vào quy định này, thì mục đích của việc xác lập HĐDS giả tạo của cácchủ thể là xâm phạm tới quyền lợi của người khác hoặc vi phạm ý chí của Nhà nênpháp luật quy định HĐDS giả tạo đương nhiên bị vô hiệu mà không cần có yêu cầucủa chủ thể có quyền lợi liên quan

Ngày đăng: 12/09/2019, 08:41

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w