1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

CƠ sở lý LUẬN và THỰC TIẾN tư TƯỞNG BIỆN CHỨNG hồ CHÍ MINH về GIÁO dục

66 63 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 66
Dung lượng 67,31 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ví dụ: Ảnh hưởng của các hoạt động đa dạng nội khóa, ngoại khóa củanhà trường; ảnh hưởng của lối dạy bảo, nếp sống trong giađình; ảnh hưởng của sách vở, tạp chí; ảnh hưởng của nhữngtấm l

Trang 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIẾN TƯ TƯỞNG BIỆN CHỨNG HỒ CHÍ MINH VỀ GIÁO DỤC

Trang 2

Các khái niệm cơ bản

Giáo dục

Trong tiếng Anh, từ “giáo dục” được biết đến với từ

“education”, đây là một từ gốc Latin được ghép bởi hai từ là

“Ex” và “Ducere” – “Ex-Ducere” Có nghĩa là dẫn (“Ducere”)con người vượt ra khỏi (“Ex”) hiện tại của họ để vươn tớinhững gì hoàn thiện, tốt lành hơn và hạnh phúc hơn

Theo ông John Dewey (1859 – 1952), nhà triết học, nhàtâm lí học và nhà cải cách giáo dục người Mỹ, ông cho rằng

cá nhân con người không bao giờ vượt qua được quy luật của

sự chết và cùng với sự chết thì những kiến thức, kinh nghiệm

mà cá nhân mang theo cũng sẽ biến mất Tuy nhiên, tồn tại xãhội lại đòi hỏi phải những kiến thức, kinh nghiệm của conngười phải vượt qua được sự khống chế của sự chết để duy trìtính liên tục của sự sống xã hội Giáo dục là “khả năng” củaloài người để đảm bảo tồn tại xã hội Ngoài ra, ông JohnDewey cũng cho rằng, xã hội không chỉ tồn tại nhờ truyềndạy, nhưng còn tồn tại chính trong quá trình truyền dạy ấy.Như vậy, theo quan điểm của ông John Dewey, ông cũng đề

Trang 3

cập đến việc truyền đạt, nhưng ông nói rõ hơn về mục tiêucuối cùng của việc giáo dục, là dạy dỗ.

Theo Từ điển Bách Khoa Việt Nam, giáo dục được hiểu

là quá trình đào tạo con người một cách có mục đích, nhằmchuẩn bị cho con người tham gia đời sống xã hội, tham gia laođộng sản xuất, nó được thực hiện bằng cách tổ chức việctruyền thụ và lĩnh hội những kinh nghiệm lịch sử - xã hội loàingười

Có nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm “giáo dục”:Thứ nhất, giáo dục được hiểu là quá trình hình thành vàphát triển nhân cách dưới ảnh hưởng của tất cả các hoạt động

từ bên ngoài, được thực hiện một cách có ý thức của con

người trong nhà trường, gia đình và ngoài xã hội Ví dụ: Ảnh

hưởng của các hoạt động đa dạng nội khóa, ngoại khóa củanhà trường; ảnh hưởng của lối dạy bảo, nếp sống trong giađình; ảnh hưởng của sách vở, tạp chí; ảnh hưởng của nhữngtấm lòng nhân từ của người khác;…

Thứ 2, giáo dục là hệ thống những tác động có mục đíchxác định được tổ chức một cách khoa học (có kế hoạch, cóphương pháp, có hệ thống) của các cơ quan giáo dục chuyên

Trang 4

biệt (nhà trường) nhằm phát triển toàn diện nhân cách Quanhững môn học trên trường, lớp cũng như qua những hoạtđộng như báo cáo thời sự, biểu diễn văn nghệ, cắm trại, thămquan,… được tổ chức ngoài giờ lên lớp, sẽ tạo ra những ảnhhưởng tích cực đến sự hình thành và phát triển nhân cách củangười được giáo dục, dưới tác động của giáo viên, của nhàgiáo dục.

Thứ 3, giáo dục là quá trình hình thành và phát triểnnhân cách người giáo dục dưới quan hệ của những tác động

sư phạm của nhà trường, chỉ liên quan đến các mặt giáo dụcnhư: trí học, đức học, mĩ dục, thể dục, giáo dục lao động

Ngoài ra, giáo dục còn được hiểu là quá trình hình thành

và phát triển nhân cách người được giáo dục chỉ liên quan đếngiáo dục đạo đức Sự ra đời và phát triển của giáo dục gắnliền với cự ra đời và phát triển của xã hội Một mặt, giáo dụcphục vụ cho sự phát triển xã hội, bởi lẽ, xã hội sẽ không pháttriển thêm một bước nào nếu như không có những điều kiệncần thiết cho giáo dục tạo ra Mặt khác, sự phát triển của giáodục luôn chịu sự quy định của xã hội thông qua những yêucầu ngày càng cao và những điều kiện ngày càng thuận lợi do

Trang 5

sự phát triển xã hội mang lại Chính vì vậy, trình độ phát triểncủa giáo dục phản ánh những đặc điểm phát triển của xã hội.

Trong thời đại ngày nay, nền giáo dục thế giới và củamỗi quốc gia đang không ngừng cái cách đổi mới nhằm thíchứng tốt hơn với những xu thế phát triển mới mẻ, năng độngcủa toàn nhân loại và có khả năng tạo ra được những nguồnlực mới để phát triển nhanh, bền vững

Như vậy,giáo dục hiểu theo nghĩa rộng nhất là sự truyền

thụ kinh nghiệm của người này cho người khác, của thế hệtrước cho thế hệ sau; “giáo dục” là sự hoàn thiện của mỗi cánhân; người giáo dục, hay có thể gọi là thế hệ trước, có nghĩa

vụ phải dẫn dắt, chỉ hướng, phải truyền tải lại cho thế hệ sautất cả những gì có thể để làm cho thế hệ sau trở nên phát triểnhơn, hoàn thiện hơn.Với ý nghĩa đó, giáo dục đã ra đời từ khi

xã hội loài người mới hình thành, do nhu cầu của xã hội và trởthành một yếu tố cơ bản để làm phát triển loài người, pháttriển xã hội Giáo dục là một hoạt động có ý thức của conngười nhằm vào mục đích phát triển con người và phát triển

xã hội

Trang 6

Nguồn gốc của giáo dục: Bắt nguồn từ lao động, sau laođộng và đồng thời với lao động và ngôn ngữ, giáo dục cũngbắt đầu manh nha Nguồn gốc của giáo dục bắt nguồn từ laođộng, vì trong quá trình tác động vào thế giới khách quan, conngười đã tiếp thu và tích lũy những kinh nghiệm và truyền lạicho người khác, cho thế hệ sau để ứng dụng vào trong quátrình lao động sau đó đạt hiệu quả cao hơn.

Cơ chế phát triển chủ yếu của động vật là cơ chế ditruyền, trong quá trình sống nó tích lũy thêm cả kinh nghiệm

cá thể, kinh nghiệm cá thể này không được truyền lại Ở conngười, cơ chế phát triển là lĩnh hội kinh nghiệm xã hội lịch sửloài người, những kinh nghiệm cá thể và kinh nghiệm xã hộilịch sử được truyền lại qua nhiều thế hệ Nhờ có giáo dục mà

xã hội loài người mới duy trì sự tồn tại, phát triển và đạt đượcnhững thành tựu ngày càng rực rỡ

Giáo dục ban đầu được thực hiện thông qua việc truyềnthụ kinh nghiệm của người này cho người khác, chưa có một

cơ quan chuyên trách đảm nhiệm việc giáo dục, nó có thểđược tiến hành một cách tự giác hoặc tự phát ở trong gia đìnhhoặc cộng đồng Cùng với sự phát triển của xã hội loài người,người ta nhận thấy cần phải có những cá nhân và những cơ

Trang 7

quan chuyên phụ trách việc giáo dục thế hệ trẻ đạt hiệu quảcao, đó là trường học và người thầy giáo Và như vậy, bêncạnh giáo dục của gia đình, giáo dục của xã hội thì còn cógiáo dục của cơ quan chuyên trách, đó là nhà trường Ngàynay việc giáo dục trong nhà trường đã được tổ chức ngày càngkhoa học và chặt chẽ với mục đích, nội dung, kế hoạch,chương trình, phương pháp, phương tiện, nhân lực cụ thể vàdựa trên cơ sở của các khoa học liên quan đến giáo dục conngười.

Từ những phân tích trên ta có thể đi đến kết luận: Giáodục là một hiện tượng chỉ có trong xã hội loài người, bản chấtcủa giáo dục là sự truyền đạt và lĩnh hội kinh nghiệm lịch sử -

xã hội của các thế hệ loài người, nhờ có giáo dục mà các thế

hệ nối tiếp nhau phát triển, tinh hoa văn hóa dân tộc và nhânloại được kế thừa, bổ sung và trên cơ sở đó xã hội loài ngườikhông ngừng tiến lên Hoạt động giáo dục ngày càng được tổchức chặt chẽ, bài bản, hiệu quả dựa trên những cơ sở khoahọc

Giáo dục mang tính phổ biến và vĩnh hằng Tính phổbiến nghĩa là giáo dục có mặt ở mọi nơi và mọi lúc Tính vĩnhhằng của giáo dục thể hiện giáo dục tồn tại và phát triển cùng

Trang 8

với sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người, chừng nàocòn xã hội loài người thì chừng đó giáo dục còn tồn tại

Để xã hội loài người có thể duy trì sự tồn tại và pháttriển ngày càng cao thì cần phải có quá trình giáo dục Nhữngkinh nghiệm, vốn hiểu biết của người này, của thế hệ trướccần phải được truyền lại cho người khác và cho thế hệ sau đểứng dụng vào trong quá trình lao động, cải tạo thế giới kháchquan đạt hiệu quả cao Những kinh nghiệm và vốn hiểu biết

đó lại được tích lũy và làm phong phú thêm và lại được tiếptục truyền qua các thế hệ tiếp sau Nhờ vậy mà xã hội loàingười, nền văn minh nhân loại phát triển và tiến bộ khôngngừng Bên cạnh việc giáo dục phục vụ cho sự phát triển xãhội thì giáo dục còn là phương tiện để phát triển cá nhân:

“Nhân bất học bất tri lí”, một người mà không có giáo dục thìkhông thể trở thành con người theo đúng nghĩa của nó, nhờ cógiáo dục mà cá nhân có thể phát triển về nhân cách và trởthành chủ thể trong các hoạt động Nhờ có giáo dục mà nhữngtiềm năng, tố chất của con người được khơi dậy, bộ lộ và pháttriển Giáo dục cũng làm cho con người phát triển toàn diện

về mọi mặt

Trang 9

Giáo dục học là một trong những hình thái ý thức xã hội,phản ánh tồn tại xã hội và chịu sự quy định của tồn tại xã hội.Trình độ sản xuất, tính chất quan hệ sản xuất, cấu trúc xã hội,

hệ tư tưởng, khoa học kĩ thuật, văn hóa, phong tục tập quán của một xã hội, trong mỗi giai đoạn nhất định sẽ quy định tínhchất, nhiệm vụ, nội dung, phương pháp, phương tiện giáo dụccủa xã hội đó Nói cách khác, giáo dục được tổ chức phù hợpvới xã hội và đáp ứng yêu cầu phát triển của xã hội

Ví dụ: Thời phong kiến Việt Nam, tư tưởng trọng namkhinh nữ nặng nề, chỉ nam nhi mới được đi học Hơn nữa nộidung giáo dục trong thời kì này chủ yếu là các kinh điển Nhogiáo, không chú trọng đến việc học khoa học kĩ thuật Cáctriều đình phong kiến không tổ chức trường học rộng rãi, đaphần vẫn chỉ con em quan lại, quý tộc Tuy không tổ chức họcnhưng triều đình vẫn cử chọn người tài thông qua các cuộcthi, người học chủ yếu học qua sách vở, các ông đồ Nhưngsau Cách mạng tháng Tám, chính quyền nhân dân được thànhlập, nhà nước khai mở trường học trên cả nước, dạy chữ, dạykhoa học kĩ thuật, có cơ quan chuyên trách phụ trách giáodục, giáo dục mang tính chất nhân dân, khoa học, hiện đại

Trang 10

Xét đến cùng, tính chất của xã hội quyết định tính chấtgiáo dục, nhưng đó không phải quan hệ một chiều, giữa giáodục và xã hội có mối quan hệ biện chứng với nhau Nếu giáodục phù hợp với xã hội, giáo dục đáp ứng được những yêucầu của xã hội thì nó góp phần quan trọng vào sự phát triểncủa xã hội Ngày nay, về cơ bản các quốc gia đều thống nhất

và nhấn mạnh vai trò của giáo dục trong đó có Việt Nam đãcoi việc phát triển giáo dục là một trong những quốc sáchhàng đầu

Tính quy định của xã hội đối với giáo dục thể hiện rõnhất ở tính lịch sử và tính giai cấp của giáo dục

Tính lịch sử thể hiện ở chỗ giáo dục phản ánh sự pháttriển của xã hội Mỗi thời kì lịch sử, mỗi phương thức sảnxuất đều có nền giáo dục tương ứng Tính lịch sử thể hiện rõnhất ở việc thay đổi mục đích, nội dung và cách thức tổ chứcgiáo dục qua mỗi thời kì lịch sử

Tính giai cấp của giáo dục thể hiện trong xã hội có giaicấp, giáo dục là đặc quyền, đặc lợi của giai cấp thống trị Giaicấp thống trị xã hội sử dụng giáo dục để duy trì và bảo vệquyền lợi của mình thông qua việc truyền bá và xây dựng ý

Trang 11

thức hệ của giai cấp Giáo dục là vũ khí của đấu tranh giaicấp.

Ngoài ra, giáo dục còn mang tính nhân văn, đại chúng,dân tộc và quốc tế Tính nhân văn là một nền giáo dục lấy conngười làm gốc, tôn trọng phẩm giá con người Giáo dụchướng vào duy trì và phát triển các giá trị chung của nhân loạiqua các thời kì, phát triển tất cả năng lực và phẩm chất caođẹp của con người Tính đại chúng của giáo dục thể hiện ởchỗ nó cung cấp cơ hội đồng đều cho mọi tầng lớp trong xãhội, hướng tới tất cả những đối tượng đặc biệt Ngày nay, giáodục được tiến hành suốt đời, giáo dục cho mọi người, giáodục được thực hiện một cách thường xuyên, liên tục trongsuốt cuộc đời con người Tính đại chúng của giáo dục còn thểhiện ở chỗ hướng tới sự đa dạng về văn hóa, tôn trọng sự khácbiệt văn hóa Tính dân tộc của giáo dục thể hiện ở chỗ nóphản ánh những đặc điểm và lợi ích dân tộc, bản sắc dân tộc.Mỗi dân tộc khác nhau có quan niệm khác nhau về giáo dụctruyền thống văn hóa

Đổi mới

Trang 12

Ngay từ năm 1949, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sử dụngkhái niệm “Đổi mới” trong sự vận dụng cụ thể vào Đổi mớiđất nước Người viết: “Công cuộc Đổi mới, xây dựng là tráchnhiệm của dân” Khi nhấn mạnh sự cần thiết phải khôngngừng Đổi mới nhận thức để phản ánh đúng tình hình thếgiới, tình hình trong nước vốn không ngừng biến đổi, Hồ ChíMinh viết: “thế giới ngày ngày Đổi mới, nhân dân ta ngàycàng tiến bộ cho nên chúng ta phải tiếp tục học và hành đểtiến bộ kịp nhân dân” [24, tr 215] Đổi mới, theo Hồ ChíMinh, còn là để thắng sức ỳ của thói quen, của tập quán cũ.

Dù đó là việc khó khăn, nhưng chẳng có việc gì là không thể

“Đổi mới”.Đổi mới còn là cách để thay đổi một phương thứcsống, tạo lập một phương thức sống mới, đáp ứng nhu cầu của

sự phát triển Về vấn đề này, Hồ Chí Minh viết: Khi trước nhànào lo làm nhà nấy, làm thế nào cũng được Nhưng bây giờkhông phải như thế Bây giờ mình phải Đổi mới nông

thôn.Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, Đổi mới và phát triển là

những khái niệm rất gần gũi, đôi khi được hiểu như nhau.Trong Báo cáo tại Hội nghị Chính trị đặc biệt năm 1964,Người viết: “Trong 10 năm qua, miền Bắc nước ta đã tiếnnhững bước dài chưa từng thấy trong lịch sử dân tộc Đất

Trang 13

nước, xã hội, con người đều Đổi mới” [27, tr 224].Vận dụngvào vấn đề mà chúng ta nghiên cứu “Đổi mới’ là thay cáchnghĩ, cách làm cũ lạc hậu, lỗi thời, không đáp ứng được nhucầu phát triển, bằng cách nghĩ, cách làm khác, tiến bộ hơn,hợp với quy luật của sự phát triển.

Phân tích tình hình đất nước trong những năm cuối thậpniên 70, đầu thập niên 80 thế kỷ XX, Đại hội VI của Đảng ta

đã nhấn mạnh: Đổi mới là vấn đề có ý nghĩa sống còn Saukhi nêu nội dung Đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, Đổi mớichính sách xã hội,… Đại hội tập trung làm nổi bật nội dungĐổi mới Đảng: Đổi mới tư duy, trước hết là tư duy kinh tế;Đổi mới tổ chức; Đổi mới đội ngũ cán bộ; Đổi mới phongcách lãnh đạo và công tác của Đảng Từ đây, “Đổi mới” được

sử dụng rộng rãi trong các văn kiện của Đảng, trong sách báocũng như trong ngôn ngữ hằng ngày của nhân dân ta.Trong 20năm qua, nhận thức về “Đổi mới ở Việt Nam” cũng không

ngừng phát triển Thời kỳ đầu, “Đổi mới” được hiểu như là

những suy nghĩ, những hành động riêng lẻ, cụ thể nhằm thay đổi một nhận thức, một cách làm nhất định nào đó; càng về

sau, càng nhận thức đầy đủ hơn về “Đổi mới” – đó là vấn đề

chiến lược lâu dài trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội;

Trang 14

nó bao quát toàn diện, không trừ lĩnh vực nào của quá trìnhđó.

Đổi mới là quá trình loại bỏ những gì kìm hãm và cản

trở sự phát triển, tổ chức lại xã hội, đưa vào cơ chế vận hànhcủa xã hội một hệ thống đồng bộ các yết tố vật chất và tinhthần, tạo nên lực lượng cho sự phát triển vượt bậc “Đổi mới”– đó là quá trình giải phóng mang ý nghĩa toàn diện của từ đó– giải phóng về tư tưởng, giải phóng lực lượng sản xuất, giảiphóng mọi tiềm năng sáng tạo của con người, giải phóng khảnăng trí tuệ của nhân dân,… để phục vụ cho sự phát triển conngười, bảo đảm tự do, sáng tạo của nhân dân.“Đổi mới’ còn làquá trình sửa lại những nhận thức không đúng về “cái cũ”,nhưng “cái cũ” ấy lại là cái đúng, để hiểu đúng nó hơn, vậndụng có hiệu quả hơn vào thực tiễn mới

Đổi mới còn là làm rõ cái gì là đúng của ngày hôm

qua, nhưng do hoàn cảnh đã thay đổi, ngày hôm nay khôngcòn thích hợp, cần từ tổng kết thực tiễn để khái quát lý luậnnhằm bổ sung, phát triển nhận thức, phát triển nền tảng tưtưởng của chúng ta Nhờ vậy, nền tảng tư tưởng đó thực hiện

có hiệu quả hơn chức năng là cơ sở hoạch định và triển khaiđường lối của Đảng, thúc đẩy đất nước phát triển

Trang 15

Như vậy, “Đổi mới” có mục tiêu lý luận và mục tiêuthực tiễn Về lý luận, Đổi mới nhằm xác lập hệ thống quanđiểm đúng đắn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủnghĩa xã hội ở nước ta Về thực tiễn, Đổi mới để xã hội xã hộichủ nghĩa từng bước được xác lập vững chắc Hai mục tiêu đó

có quan hệ biện chứng với nhau: Mục tiêu lý luận phục vụcho mục tiêu thực tiễn; mục tiêu thực tiễn vừa là yêu cầu, làđòi hỏi nâng cao chất lượng mục tiêu lý luận, vừa là phươngthức kiểm tra thành quả đạt được của mục tiêu lý luận Trong

sự tác động qua lại đó, mục tiêu thực tiễn là cơ quan quantrọng nhất

phươngphápgiảngdạy,cơchếtổchứcquảnlý,cáchthứcsảnxuất,…

Trang 16

BiểuhiệncụthểnhưphongtràoDuyTânởViệtNamđầuthếkỷ

phongtràoDuyTânđượckhởixướngbởiKhangHữuVi vàLươngKhải Siêu,MinhTrịDuyTânở NhậtBản,…TrongtiếngAnhdùngtừrenovationhay innovation,tiếngPhápdùngtừrénovation đềucónghĩalàđổimới.Ởmỗiđấtnước,tùyvàotừngthờiđiểmlịchsử,sựnghiệpđổimớicónộidung,biệnphápvà

nhiên,sovớicáchmạngvàcảicáchthìđổimới“phổbiếnhơn”,“nộidungtiến hànhrộngrãihơn”vàcóthểtiếnhànhlâudàihơn

Nóiđổimớilà“phổbiếnhơn”cảicáchvàcáchmạngvìđổimớiđượctiếnhành

bấtkỳởtrìnhđộkinhtế,xãhộinào,ởgiaiđoạnlịchsửnào,ởbấtkỳcán

Trang 17

hânhay dântộcnào,…Nóiđổimớicónộidungtiếnhành“rộngrãihơn”cảicáchvà cáchmạngvìnócóthểdiễnratrongtấtcảcáchoạtđộngsinhhoạtcủaconngười, khôngchỉquahànhđộngmàcảtưduy,tâmlý, tìnhcảm,…

cáchmạngthìkhôngcóđềratronglĩnhvựctưduy.Cụthểnhưđổimớicáchlàm

ăn,đổimớicôngnghệlàđưacôngnghệtiêntiếnvàothaythếcôngnghệlạchậu,

đổimớitưduylàcócáchnhìn,cáchnghĩmớitiếnbộphùhợpvớitìnhhìnhmới,

cótácdụngquyếtđịnhsựthayđổitronghànhđộng.Đổimớitưduycó

quantrọngtrongcôngcuộcđổimớitoàndiện,cụthểtrongcôngcuộcđổimớiở nướcta từĐạihộiĐảnglầnVI1986đã đềra.Nếuxétvềthờigiandiễnrathìcách

mạngthườngdiễnratrongthờigianngắn,phảikịpthời,thầntốcvàgiànhthắng

lợi.Cảicáchlàmộtquátrình,tùytừnghoàncảnhcụthểmàcóthểdiễnr

khoảngthờigianngắnhoặcdàihơn.Đổimớiđôikhicầnnhanhgọnn

Trang 18

cóthểcầntiếnhànhtrongmộtquátrìnhtươngđốilâudài.Nếusovớicáchmạng

thìđổimớicóthểtiếnhànhlâudàihơn.ChâuÂunhữngnăm1848 1849nổra

-nhiềucuộccáchmạngtưsản.CụthểcáchmạngtưsảnPhápdiễnratừnăm1848 đếnnăm1851thìkếtthúc,ở Đứcdiễnratừnăm1848đếnnăm1849thìchấmdứt

Cònđốivớicôngcuộcđổimớiở

nướctabắtđầutừnăm1986,trảiquanhiềugiai

đoạn,đạtđượcnhiềuthànhtựunhưngchúngtakhôngngừngđổimớimàvẫntiếp

tụcthựchiệnchođếnngàynaynhằmmụctiêupháttriểnđấtnướcvềmọimặt

nàomuốntồntạivàthíchnghivớimôitrườngsốngthìphảiđổimới.Đ

Trang 19

làmộtcôngviệcdiễnrahàngngày,nhưlàbảnnăngcủamỗicáthểvàtậpthểtrongcuộcsốngnàyđểthíchnghivớisựthayđổicủamôitrườngsống

Tư tưởng

Tư tưởng là sự phản ánh hiện thực trong ý thức, là biểuhiện quan hệ của con người với thế giới chung quanh Trongthuật ngữ “tư tưởng Hồ Chí Minh”, khái niệm “tư tưởng” có ýnghĩa ở tầm khái quát triết học “Tư tưởng” ở đây không phảidùng với nghĩa tinh thần - tư tưởng, ý thức tư tưởng của một

cá nhân, một cộng đồng, mà với nghĩa là một hệ thống nhữngquan điểm, quan niệm, luận điểm được xây dựng trên một nềntảng triết học (thế giới quan và phương pháp luận) nhất quán,đại biểu cho ý chí, nguyện vọng của một giai cấp, một dân tộcđược hình thành trên cơ sở thực tiễn nhất định và trở lại chỉđạo hoạt động thực tiễn, cải tạo hiện thực

Khái niệm "tư tưởng" liên quan trực tiếp đến khái niệm

"nhà tư tưởng" Một người xứng đáng là nhà tư tưởng, theoV.I.Lênin khi người đó biết giải quyết trước người khác tất cảnhững vấn đề chính trị - sách lược, các vấn đề về tổ chức, về

Trang 20

những yếu tố vật chất của phong trào không phải một cách tựphát.

Biện chứng

Thuật ngữ biện chứng xuất hiện từ thời cổ đại có nguồngốc từ tiếng Hi Lạp cổ đại “dialecktica” : tranh luận, đàmthoại Theo nghĩa này, biện chứng có nghĩa là nghệ thuậttranh luận nhằm tìm ra chân lí bằng cách phát hiện ra mâuthuẫn trong lập luận của đối phương và nghệ thuật bảo vệ lậpluận của mình

Người Hi Lạp cổ đại cho rằng đã là tri thức đúng thìtrong tri thức đó không thể chứa đựng mâu thuẫn và quá trình

đi đến chân lí chính là quá trình giải quyết những mâu thuẫntrong lập luận

Ngay từ thời cổ đại, vạn vật trong thế giới đều có quátrình hình thành và tiêu vong chứ không phải trường tồ và bấtbiến Điều này đã được Thích Ca Mâu Ni và Khổng Tử khẳngđịnh Như Arixtốt: “Phép biện chứng là khoa học về những ýkiến có tính xác xuất và khác khoa học về chứng minh”.Platon cho rằng: “Nghệ thuật kích thích linh hồn suy tư chính

là nghệ thuật biện chứng” Nhưng nói chung, tư tưởng biện

Trang 21

chứng thời cổ đại mang tính tự phát, chất phác Đến Heghen,thuật ngữ biện chứng phát triển khá toàn diện đã khái quátđược một số quy luật , phạm trù cơ bản nhưng chúng chưaphải những quy luật chung nhất của lĩnh vực tự nhiên, xã hội,

tư duy mà chỉ trong lĩnh vực tinh thần

C Mác, Ph Ănghen, Lênin đã kế thừa và phát triển trêntinh thần phê phán và sáng tạo những giá trị trong lịch sử tưtưởng biện chứng của nhân loại làm cho phép biện chứngthành phép biện chứng duy vật, trở thành những khoa họcnghiên cứu những quy luật chung nhất và mối liên hệ, sự vậnđộng, phát triển của các sự vật, hiện tượng trong cả tự nhiên,

xã hội và tư duy

Khái niệm biện chứng trong Triết học Mác dùng để chỉnhững mối liên hệ, tương tác, chuyển hoá và vận động, pháttriển theo quy luật của các sự vật, hiện tượng, quá trình tronggiới tự nhiên, xã hội và tư duy Biện chứng gồm biện chứngkhách quan và biện chứng chủ quan Biện chứng khách quan

là biện chứng của thế giới vật chất Biện chứng chủ quan là sựphản ánh biện chứng khách quan vào trong đời sống ý thứccủa con người

Trang 22

Phép biện chứng là học thuyết nghiên cứu, khái quátbiện chứng của thế giới thành hệ thống các nguyên lý, quyluật khoa học nhằm xây dựng hệ thống các nguyên tắcphương pháp luận của nhận thức và thực tiễn Phép biệnchứng đã trải qua những hình thức phát triển cơ bản:

Phép biện chứng chất phác thời cổ đại: là hình thức đầutiên của phép biện chứng trong lịch sử Triết học Nó nhậnthức đúng về tính biện chứng của thế giới nhưng bằng trựckiến thiên tài, bằng trực quan chất phác, ngây thơ, không phảidựa trên những thành tựu phát triển của khoa học tự nhiên

Phép biện chứng duy tâm cổ điển Đức: được khởi đầu từCantơ và hoàn thiện ở Hêghen Họ đã trình bày những tưtưởng cơ bản nhất của phép biện chứng duy tâm một cách có

hệ thống, coi biện chứng là quá trình phát triển khởi đầu của

“ý niệm tuyệt đối”, coi biện chứng chủ quan là cơ sở của biệnchứng khách quan Như vậy họ đã xây dựng phép biện chứngduy tâm với hệ thống phạm trù, quy luật chung, có lôgic chặtchẽ của ý thức, tinh thần

Phép biện chứng duy vật: C Mác và Ph Ăngghen đãkhắc phục những hạn chế trong phép biện chứng cổ điển Đức

Trang 23

để sáng tạo nên phép biện chứng duy vật Đây là giai đoạnphát triển cao nhất của phép biện chứng trong lịch sử Triếthọc, là sự kế thừa trên tinh thần phê phán đối với phép biệnchứng cổ điển Đức.

Nội dung tư tưởng biện chứng Hồ Chí Minh về giáo dục

Giáo dục suốt đời

Dân tộc Việt Nam ta vốn có truyền thống hiếu học Từngàn đời xưa đã hình thành những triết lí vô cùng sâu sắc nóiđến vai trò quan trọng của giáo dục “lấy việc học làm gốc”,

“nhân bất học bất tri lí”, “học ăn, học nói, học gói, học mở”,

“đi một ngày đàng học một sàng khôn”, “nên thợ, nên thầynhờ có học” (Nguyễn Trãi) Khổng Tử là người được mệnhdanh là Vạn thế sư biểu, cuộc đời của ông là tấm gương sángcủa việc “Học không biết chán, dạy không biết mỏi” Hay nhưLênin với câu nói nổi tiếng: “Học, học nữa, học mãi”

Với mục đích: “phải làm cho dân tộc Việt Nam trở thànhmột dân tộc thông thái”, Chủ tịch Hồ Chí Minh không nhữngchỉ kêu gọi mọi người, cả cán bộ và nhân dân đều phải “họctập suốt đời” Người nói: học hành là vô cùng, học càng

Trang 24

nhiều, biết càng nhiều càng tốt Trong thư gửi nam nữ chiến sĩbình dân học vụ nhân ngày Quốc khánh 2.9.1948, Người viết:

“Vùng nào đã hết nạn mù chữ thì các bạn thi đua để tiến lênmột bước nữa bằng cách dạy cho đồng bào:

Thường thức vệ sinh để dân bớt đau ốm

Thường thức khoa học, để bớt mê tín nhảm

Trong bài Thư gửi Quân nhân học báo, Bác Hồ căn dặn:

“Quân dân phải biết võ, phải biết văn, võ là như tay phải, văn

Trang 25

là như tay trái của quân nhân Biết võ, biết văn mới là quân

nhân hoàn toàn Muốn biết thì phải thi đua học Học không

bao giờ cùng Học mãi để tiến bộ mãi Càng tiến bộ, càngthấy phải học thêm” [21, tr 588] “Thi đua học”, “học mãi”,

“học thêm”, những tư tưởng đó xuyên suốt trong các bài nóicủa Hồ Chí Minh Cuộc đời Hồ Chí Minh là minh chứng sángnhất, suốt đời phấn đấu cho “cần kiệm liêm chính, chí công

vô tư”, là tấm gương tự học, tự rèn luyện, phấn đấu khôngngừng Ở Hồ Chí Minh chỉ có một thứ ham đó là ham học,ham làm, ham tiến bộ, “tôi xin ở ngoài vòng danh lợi, tuyệtđối tôi không màng danh lợi”

Tại Đại hội Quôc tế Cộng sản lần thứ VII (năm 1935),trong lí lịch với bí danh là Lin, trả lời các câu hỏi về trình độvăn hóa (đại học, trung học, tiểu học), Người ghi: “Tự học”;tiếp theo là câu hỏi: “Đồng chí biết ngoại ngữ gì?”, trả lời:

“Anh, Pháp, Trung Quốc, Ý, Đức, Nga” Khi bắt đầu đi tìmđường cứu nước, trình độ học vấn mà Người được đào tạo ởnhà trường chẳng được là bao Thế mà chỉ bằng việc tự học,

tự học suốt đời, học ở trường, học sách vở, học lẫn nhau vàhọc nhân dân Bác đã có vốn lí luận sâu sắc với một trí nhớtuyệt vời, khả năng học và sử dụng ngoại ngữ phi thường

Trang 26

Học mọi lúc, mọi nơi là phương châm học quý báu mà ngàynay chúng ta cần phải giáo dục cho học sinh, không chỉ học ởtrường là đủ, học giờ trên lớp là xong mà phải học và tích lũyvốn sống hằng ngày, hàng giờ Tại Hội nghĩ Huấn luyện toànquốc lần thứ nhất tháng 5.1950, Bác căn dặn mọi người “phảibiết tự động học tập”.

Khi Người đến dự khai mạc lớp nghiên cứu chính trị ởTrường Đại học Nhân dân, ngày 21.7.1956, Người nói: “Họchỏi là một công việc phải tiếp tục suốt đời Không ai có thể

tự cho mình là đã biết đủ rồi, biết hết rồi Thế giới ngày ngàyđổi mới, nhân dân ta ngày càng tiến bộ, cho nên chúng ta phảitiếp tục học và hành để tiến kịp nhân dân” [24, tr 215] Hoặc:

“Chúng ta phải học và hoạt động suốt đời Còn sống thì cònphải học, còn phải hoạt động nhân dân” [26, tr 465] Thế giớivận động, phát triển không ngừng, xã hội ngày càng đổi mới,nhân dân ngày càng tiến bộ, vì vậy mỗi con người muốn bắtkịp xã hội, tránh những thứ lạc hậu, nghèo nàn thì càng phảihọc Nhất là trong thời đại bùng nổ thông tin và sự phát triểnchóng mặt của công nghệ như hiện nay Không ngừng rènluyện, không ngừng học tập, không ngừng tiến bộ sẽ là chiếc

Trang 27

chìa khóa mở cửa thoát khỏi sự nghèo nàn, lạc hậu, đưa chúng

ta đến bến bờ hạnh phúc

Bác Hồ là một tấm gương học tập suốt đời bền bỉ vàkhiêm tốn Có người thấy tuổi mình đã cao, rồi đâm ra tiêucực, không thiết học hoặc không tin ở sức học của mình,Người đã ân cần chỉ bảo: Tôi năm nay 71 tuổi, ngày nào cũngphải học… Bác nghe nói có đồng chí mới 40 tuổi mà đã chomình là già, nên ít chịu học tập Nghĩ như vậy là không đúng,

40 tuổi chưa phải là già Bác đã 76 tuổi nhưng vẫn cố gắnghọc thêm Chúng ta phải học và hoạt động cách mạng suốtđời Còn sống thì còn phải học, còn phải hoạt động cáchmạng Trong suốt quá trình từ năm 1954-1969, Chủ tịch HồChí Minh đã đi thăm các cơ sở ở Trung ương và địa phươngkhoảng 700 lần và ở bất kỳ đâu, gặp bất cứ đối tượng nào,Người cũng căn dặn phải học tập để nâng cao trình độ, biếtđược nhiều và phục vụ được tốt Đối với học sinh, thanh niên,Người luôn căn dặn chỉ có không ngừng học tập thì mới tiến

bộ mãi Đối với các thầy cô giáo, Người không quên nhắc nhởphải không ngừng học tập để bồi bổ kiến thức mà dạy cho họcsinh ngày một tốt hơn Bác nhắn nhủ: “Người huấn luyện phảihọc thêm mãi thì mới làm được công tác huấn luyện của

Trang 28

mình Lênin khuyên chúng ta: “Học, học nữa, học mãi” Mỗingười đều phải ghi nhớ và thực hành điều đó Những ngườihuấn luyện càng phải nhớ hơn ai hết” [21, tr 46] Tiếp đó,Người kịch liệt chỉ trích những ông thầy tự phụ, tự thỏa mãnvới vốn hiểu biết của mình: “Người huấn luyện nào tự chomình là đã biết đủ cả rồi, thì người đó dốt nhất” [21, tr 46]

Tiếp thu những tư tưởng vĩ đại của Người, những nămgần đây, Đảng và Nhà nước ta đã luôn chú trọng đến việc giáodục, nâng cao nhận thức cho toàn Đảng, toàn dân là phải thựchiện một nền giáo dục cho mọi người, học tập thường xuyên,học tập suốt đời như Nghị quyết Trung ương 4 (khóa VII) đãchỉ ra: “cần phải thực hiện một nền giáo dục thường xuyêncho mọi người, xác định học tập suốt đời là quyền lợi và tráchnhiệm của mỗi công dân”, Nghị quyết lần thứ II Ban chấphành Trung ương khóa VII Đảng Cộng sản Việt Nam(12.1996) nêu rõ: “Giáo dục – đào tạo là sự nghiệp của toàn

Đảng, toàn dân Mọi người đi học, học thường xuyên, học

suốt đời”; “Phát triển mạnh phong trào tự học, tự đào tạo

thường xuyên và rộng khắp trong toàn dân, nhất là thanhniên” Trong điều kiện hiện nay, xu thế toàn cầu hóa đang tácđộng to lớn lên tất cả các quốc gia trên thế giới trên tất cả các

Trang 29

lĩnh vực của đời sống xã hội, đặc biệt là kinh tế và chính trị.Giáo dục phải tạo ra được những nguồn lực con người chấtlượng cao và toàn diện đáp ứng những đòi hỏi cao của thờiđại Hơn nữa, điều quan trọng chính là nằm ở sự nhận thứccủa mỗi con người trước bối cảnh thời đại, một nền văn minhmới “văn minh tri thức” ra đời đòi hỏi mỗi con người khôngngừng nỗ lực học tập, nghiên cứu để bắt kịp với xu thế chung

đó, để tồn tại và phát triển Đó cũng chính là điều mà Chủ tịch

Hồ Chí Minh hằng mong mỏi trong lời Di chúc cuối cùng để

lại cho toàn thể nhân dân Việt Nam

Nền giáo dục hiện đại trên thế giới, hướng vào thế kỉ 21,vào nền văn minh tri thức đã đặt việc học, người học vàotrung tâm của nền giáo dục, với yêu cầu học tập thườngxuyên, học tập suốt đời, xây dựng “một xã hội học tập”

Giáo dục toàn diện

Tư tưởng về xây dựng một nền giáo dục toàn diện đượcthể hiện qua nhiều bài viết, trang báo, bài phát biểu, quanhững chính sách, pháp lệnh về giáo dục Tư tưởng đó trước

hết được thể hiện ở quan điểm “Ai cũng được học hành”.

Trang 30

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, một nền giáo dục toàn diệnphải là nền giáo dục mang tính nhân dân sâu sắc, nền giáo dụckhông phải chỉ dành riêng cho một số người hoặc một giai cấp

mà cho toàn thể quốc dân Việt Nam

Tư tưởng này được hình thành ở Hồ Chí Minh từ rấtsớm, không ngừng được tiến triển qua từng chặng đường cáchmạng của Người

Bản “Yêu sách của nhân dân An Nam” gửi tới Hội nghị

Vecxây (1919) gồm 8 điểm, trong đó Người đòi Pháp phảicho nước ta “Quyền tự do học tập, thành lập các trường kĩthuật và chuyên nghiệp ở tất cả các tỉnh cho người bản xứ”

[17, tr 453] Trong tác phẩm Đường kách mệnh, Người chỉ rõ:

Hết sức mở mang giáo dục như lập trường, tổ chức các nhà xem sách Khi vạch ra Chánh cương vắn tắt của Đảng, Người

cũng nhấn mạnh “Phổ thông giáo dục theo công nông hóa”[19, tr 1] và ngay trong lời kêu gọi nhân ngày thành lập Đảng,

Người đã đề ra “Thực hành giáo dục toàn dân” Trong Mười

chính sách của Việt Minh (1941) Người chỉ rõ “Thanh niên cótrường học nhiều, Chính phủ trợ cấp trò nghèo, bần nho” [19,

tr 206]

Trang 31

Khi trả lời các nhà báo nước ngoài, Báo Cứu quốc ngày

21.1.1946, Bác đã nói: “Tôi chỉ có một ham muốn, ham muốntột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta

được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai

cũng được học hành” [20, tr 161] Và ham muốn đó được bác

hiện thực hóa, ngay trong phiên họp đầu tiên của Chính phủlâm thời, trên cương vị Chủ tịch nước, Người đã kí 3 sắc lệnhquan trọng: Sắc lệnh số 17/SL thành lập Nha bình dân học vụ,

lo việc học cho dân; Sắc lệnh số 19/SL quy định hạn trong 8tháng làng nào, thị trấn nào cũng phải có lớp học, ít nhất 30người theo học; Sắc lệnh số 20/SL cưỡng bức học chữ quốcngữ (không mất tiền) và kêu gọi toàn dân tham gia chiến dịchxóa mù chữ

Có thể nói, tư tưởng “Ai cũng được học hành” là mộtbiểu hiện cao cả của chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh màxuất phát điểm của nó là từ lòng thương yêu con người rộnglớn, đặc biệt là những con người nghèo khổ, bị áp bức, bóclột Ở tư tưởng này, dường như người ta còn có cả tư tưởng

“Hữu giáo vô loại” trong triết học phương Đông mà đại diện

là Khổng Tử, lại có cả bóng dáng của triết học phương Tây

(thế kỉ 18) “Giáo dục bình đẳng cho mọi trẻ em”, đặc biệt là

Trang 32

tư tưởng nhân văn cao cả của Mác – Lênin về giáo dục phổ

cập con người.

Nếu như trong lời kêu gọi toàn quốc kháng kiến mọi đốitượng trong xã hội từ người già, người trẻ đến phụ nữ, trẻem, hễ là người Việt Nam thì đứng lên đánh Pháp thì saukhi giành độc lập, tự do thì thành quả đó không thuộc về aikhác đó chính là nhân dân “đồng bào ai cũng có áo mặc, aicũng được học hành” Điều đó không chỉ thể hiện tính nhândân, nhân văn, dân chủ, bình đẳng trong giáo dục mà còn thểhiện rõ tính ưu việt của chế độ mới, chế độ xã hội chủ nghĩa,một Nhà nước của dân, do dân và vì dân Tư tưởng ấy là sự kếthừa những tinh hoa di sản lí luận của các bậc tiền bối, củacác nhà văn hóa, giáo dục và được phát triển trong điều kiệnhiện đại, hoàn toàn phù hợp với phương hướng phấn đấu vìmột nền giáo dục tiến bộ của UNESCO hiện nay

Theo quan điểm Hồ Chí Minh, nền giáo dục – đào tạotoàn diện trước hết phải là nền giáo dục – đào tạo kết hợpchặt chẽ văn hóa, khoa học với chính trị Trong nhiều trườnghợp Hồ Chí Minh nhấn mạnh “phải ra sức học tập chính trị,văn hóa, khoa học kĩ thuật” Ở đây, điều cần chú ý không phảitrật tự trước sau của 3 thành tố chính trị, văn hóa, khoa học kĩ

Trang 33

thuật, mà là mối liên hệ giữa ba thành tố đấy Chúng có mốiquan hệ biện chứng với nhau, tác động, hỗ trợ lẫn nhau HồChí Minh chỉ rõ: nếu không học tập văn hóa, không có trình

độ văn hóa thì không thể tiếp thu khoa học kĩ thuật và chuyênmôn nghiệp vụ, nếu chỉ học văn hóa, khoa học kĩ thuật màkhông học tập chính trị thì “như nhắm mắt mà đi” Hồ ChíMinh đòi hỏi mọi người “cần nhớ và thực hiện đủ ba điểmấy”

Hồ Chí Minh cho rằng trong việc học tập chính trị cầnđặc biệt coi trọng bộ môn Mác – Lênin là đỉnh cao của trí tuệ

và văn hóa khoa học Trong suốt cuộc đời hoạt động cáchmạng của mình Hồ Chí Minh luôn quan tâm tới công tác giáodục chính trị nói chung và giáo dục lý luận Mác – Lênin nóiriêng Theo Người, công tác giáo dục lý luận có ý nghĩa quyết

sự định thành công của sự nghiệp cách mạng xuyên suốt mọigiai đoạn lịch sử Đây là tư tưởng xuyên suốt nhất quán củaNgười Trong giai đoạn cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân,Bác dạy “Cách mệnh phải giảng giải lý luận và chủ nghĩa chodân hiểu” Ba mươi năm sau, năm 1957 khi miền Bắc xâydựng chủ nghĩa xã hội, Người chỉ rõ: “vì chủ nghĩa xã hội chỉ

có thể xây dựng được với sự giác ngộ đầy đủ và lao động sáng

Ngày đăng: 30/04/2019, 14:51

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w