CƠ sở lý LUẬN về QUẢN lý QUÁ TRÌNH dạy học môn NGỮ văn ở các TRƯỜNG TRUNG học cơ sơ THEO HƯỚNG dạy học TÍCH hợp CƠ sở lý LUẬN về QUẢN lý QUÁ TRÌNH dạy học môn NGỮ văn ở các TRƯỜNG TRUNG học cơ sơ THEO HƯỚNG dạy học TÍCH hợp CƠ sở lý LUẬN về QUẢN lý QUÁ TRÌNH dạy học môn NGỮ văn ở các TRƯỜNG TRUNG học cơ sơ THEO HƯỚNG dạy học TÍCH hợp
Trang 1CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ QUÁ TRÌNH DẠY HỌC MÔN NGỮ VĂN Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SƠ THEO HƯỚNG DẠY HỌC TÍCH HỢP
Trang 2Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan đến
đề tài
Các công trình nghiên cứu về dạy học tích hợp
Trên thế giới, giáo dục tích hợp đã được nghiên cứu vàvận dụng trong thực tiễn từ những năm 60 của thế kỷ XX Tuynhiên, tích hợp mới được vận dụng ở mức đơn giản bằng cáchsắp xếp các phân môn “đứng cạnh nhau” mà chưa tích hợp nộidung giữa các môn học Từ những năm 70 của thế kỷ XX, đãxuất hiện những công trình nghiên cứu chuyên sâu về dạy họctích hợp Giai đoạn này, dạy học tích hợp bắt đầu phát triểnrộng trên nhiều quốc gia và xuất hiện nhiều công trình nghiêncứu tiêu biểu Các công trình nghiên cứu khá đa dạng, nhưng cóthể khái quát theo các hướng như sau:
Một là: Bàn về vai trò, hiệu quả của dạy học tích hợp.
Các tác giả tiêu biểu như: Wraga, W.G (1996), Acentury of
interdisciplinary curricula in American schools, In P.S [70];
Vars, G.F (1991), “Integrated curriculum in historical
perspective”, Educationa Leadership, 49(2), 14-15 [71]; Hopkins, L.T (1937), Integration: Its meaning and application,
New York: Appleton Century Crofts [62]; Hurd, P.D (1991),
“Why we must transform science education”, Educationa
Leadership, 49(2), 33-35 [63] Các tác giả cho rằng, dạy học
Trang 3tích hợp có khả năng gây hứng thú học tập cho học sinh caohơn cách dạy truyền thống, Thay vì học tập các chuyên đề đơn
lẻ, rời rạc của một lĩnh vực khoa học, không gây hứng thú họctập cho học sinh thì dạy học tích hợp các kiến thức, các vấn đềthực tiễn sẽ gây hứng thú học tập cho học sinh
Ciccorico, E.A [59] và Hayes Jacobs, H [61] cùng chorằng dạy học theo quan điểm tích hợp các nội dung kiến thức làmột nhu cầu giáo dục cần thiết và quan trọng để giáo dục thànhcông trong tương lai
Nghiên cứu về tích hợp chương trình giảng dạy về kiếnthức tổng hợp, các tác giả: Braunger, J.E & Hart-Landsberg, S.[58]; Tchudi, S.L [68]; Oberholzer, E.E [64] Các tác giả đã đềcập đến các kỹ năng tư duy và kiến thức bậc cao cần thiết củacông dân để hiểu một cách tổng quan các vấn đề khoa học vàcác vấn đề về thế giới liên quan đến nhau Các tác giả đã mô tảtích hợp chương trình giảng dạy là cách riêng của mình để biết
và hiểu thế giới, xem các kiến thức tích hợp như các khái niệm
và quá trình tư duy cần thiết cho sinh viên
Hai là: Bàn về nội dung, phương pháp, hình thức tích hợp Theo Xaviers Roegirs “Khoa sư phạm tích hợp là một quan niệm về quá trình học tập trong đó toàn thể các quá trình học tập góp phần hình thành ở học sinh những năng
Trang 4lực rõ ràng, có dự tính trước những điều cần thiết cho học sinh nhằm phục vụ cho quá trình học tập tương lai, hoặc hoà nhập học sinh vào cuộc sống lao động Khoa sư phạm tích hợp làm cho quá trình học tập có ý nghĩa” [72,tr.24]
Ở Việt Nam, tác giả Dương Tiến Sỹ (2003), trong côngtrình nghiên cứu về giáo dục môi trường theo quan điểm tíchhợp, đã xác định “một số phương pháp tích hợp và logic tổchức hoạt động dạy học tích hợp trong giáo dục môi trường”[83]
Tác giả Trịnh Anh Cường trong công trình “Giáo dụchướng nghiệp cho học sinh ở trường trung học phổ thông” Tácgiả đã chỉ ra vai trò của dạy học tích hợp, những ưu điểm củadạy học tích hợp, từ đó đề xuất các nguyên tắc tích hợp giáodục hướng nghiệp cho học sinh Tác giả cho rằng, “dạy học tíchhợp sẽ tạo hứng thú trong học tập của học sinh giúp các em giatăng sự hiểu biết về các ngành nghề trong xã hội, tiết kiệm đượcthời gian và kinh phí cho công tác hướng nghiệp, tránh chồngchéo, trùng lặp giữa các nội dung dạy học hướng nghiệp Trong
7 biện pháp mà tác giả đề xuất có 4 biện pháp đề cập đến vấn
đề dạy học tích hợp” [11]
Tác giả Trần Bá Hoành (2006), “dạy học tích hợp”, Tạpchí Khoa học giáo dục, số 12 đã khẳng định, “dạy học tích hợp
Trang 5ở các trường phổ thông không chỉ liên quan tới việc thiết kế nộidung, chương trình mà còn đòi hỏi sự thay đổi đồng bộ về cách
tổ chức dạy học, đổi mới phương pháp dạy và học, thay đổiviệc kiểm tra, đánh giá” [24] Trong dạy học, giáo viên cần tăngcường những mối liên hệ liên môn, thực hiện tích hợp trong nội
bộ môn học và tích hợp các mặt giáo dục khác trong các mônhọc phù hợp
Bùi Văn Hồng (2015), “Dạy học tích hợp trong giáo dụcnghề nghiệp theo lý thuyết học tập trải nghiệm của Davida A.Kolb”, Tạp chí khoa học số 6, Đại học Sư phạm Hà Nội [26] Tácgiả cho rằng, trong dạy học kỹ thuật và dạy nghề, khi mục tiêudạy học đã được tích hợp kiến thức, kỹ năng và thái độ thì cấutrúc của nội dung dạy học cũng phải được thể hiện sự tích hợp đó.Việc thiết kế và triển khai hoạt động dạy học cần thiết phải đượcdựa trên một quy trình dạy học tích hợp phù hợp để nâng cao hiệuquả dạy học Tích hợp trong mô hình của Kolb được thể hiệnthông qua tiến trình thực hiện các giai đoạn học tập
Theo Nguyễn Văn Khải “Dạy học tích hợp tạo ra các
tình huống liên kết tri thức các môn học, đó là cơ hội phát triển các năng lực của học sinh Khi xây dựng các tình huống vận dụng kiến thức, học sinh sẽ phát huy được năng lực tự lực, phát triển tư duy sáng tạo” Theo định nghĩa trên,
tác giả đã xác định mục đích của dạy học tích hợp là hình
Trang 6thành và phát triển năng lực của người học Như thế có thểhiểu dạy học tích hợp là “quá trình dạy học mà ở đó cácthành phần năng lực được tích hợp với nhau trên cơ sở cáctình huống cụ thể trong đời sống để hình thành năng lực củangười học” [5].
- Các công trình nghiên cứu về dạy học môn Ngữ văn
Môn Ngữ văn là môn học cơ bản ở tất cả các cấp học phổthông Từ trước đến nay, có nhiều tác giả, nhiều công trìnhnghiên cứu về dạy học môn Ngữ văn với nhiều hướng tiếp cậnkhác nhau Có thể kể tên một số tác giả và các tác phẩm nhưsau: Trần Đình Sử (Chủ biên, 2008), “Giáo trình Lý luận Vănhọc”, tập 1, Nxb Đại học Sư phạm, Hà Nội Nguyễn Viết Chữ(2004), “Phương pháp dạy học tác phẩm văn chương”, Nxb.Đại học quốc gia Hà Nội Phan Trọng Luận (Chủ biên, 2008),
“Phương pháp dạy học văn”, Nxb Đại học Sư phạm, Hà Nội.Nguyễn Thanh Hùng (2007), “Phương pháp dạy Ngữ văn ởtrung học cơ sở”, Nxb Đại học Sư phạm, Hà Nội
Các công trình nghiên cứu trên đây chủ yếu nghiên cứu cơbản về phương pháp dạy học môn Ngữ văn Các tác giả đãkhẳng định vai trò, vị trí của môn văn và phương pháp dạy họcmôn văn trong nhà trường Các nghiên cứu đã gợi mở các vấn
đề đặt ra trong dạy học môn Ngữ văn Các tác giả Trần Đình
Trang 7Sử, Phan Trọng Luận, Nguyễn Thanh Hùng đã nghiên cứunhững vấn đề lý luận cơ bản về dạy học môn Ngữ văn Các tácgiả đều đặt ra vấn đề về khả năng giáo dục nhân cách cho họcsinh thông qua dạy học môn Ngữ văn.
Các tác giả như: Nguyễn Thúy Hồng, Nguyễn QuangNinh, Trần Thị Sáu đã đi sâu nghiên cứu về phương pháp đặcthù trong dạy học môn Ngữ văn Khi bàn về đổi mới phươngpháp dạy học môn Ngữ văn trong nhà trường hiện nay, các tácgiả đã hướng tới vấn đề dạy học tích hợp để hình thành nănglực tổng hợp cho học sinh
- Các công trình nghiên cứu về quản lý dạy học môn Ngữ văn
Trần Thị Sáu (2006), trong luận văn Thạc sĩ với đề tài
“Các biện pháp chỉ đạo đổi mới phương pháp giảng dạy bộ mônTiếng Việt bậc Tiểu học ở quận Thủ Đức, thành phố Hồ ChíMinh” Tác giả đã chỉ ra các biện pháp như sau: “Xây dựng kếhoạch thực hiện chương trình tiểu học mới; Nâng cao năng lựcđội ngũ cán bộ quản lý Tiểu học; Chỉ đạo thực hiện một sốphương pháp mới trong giảng dạy tiếng Việt Trong đó đã chỉ
ra các biện pháp cụ thể như: Dạy tiếng Việt theo định hướnggiao tiếp; phương pháp tổ chức trò chơi học tập tiếng Việt;Phương pháp học tập hợp tác theo nhóm; Ứng dụng công nghệ
Trang 8thông tin để giảng dạy môn tiếng Việt.; Tăng cường kiểm tra,đánh giá trong dạy học môn tiếng Việt” [43].
La Thị Phương Thảo (2015), “Quản lý hoạt động dạy họcmôn Ngữ văn ở các trường trung học cơ sở huyện Mỹ Hào, tỉnhHưng Yên”, Luận văn Thạc sĩ Quản lý Giáo dục, Học việnChính trị, Hà Nội Tác giả đã phân tích cơ sở lý luận, cơ sở thựctiễn và đề xuất hệ thống 5 biện pháp quản lý như sau: “Giáodục nâng cao nhận thức trách nhiệm cho các chủ thể trong quản
lý hoạt động giảng dạy môn Ngữ văn; Quản lý tốt việc thựchiện chương trình, nội dung, kế hoạch giảng dạy môn Ngữ văn;Xây dựng và hoàn thiện hệ thống các văn bản quản lý hoạtđộng giảng dạy của giáo viên; Quản lý tốt hoạt động giảng dạy
và đổi mới phương pháp quản lý hoạt động giảng dạy môn Ngữvăn của giáo viên; Thực hiện tốt hoạt động kiểm tra, đánh giákết quả hoạt động giảng dạy môn Ngữ văn của đội ngũ giáoviên” [47]
Nguyễn Thị Khoa (2017), “Quản lý hoạt động dạy họcmôn Ngữ văn ở các trường trung học phổ thông quận Bắc TừLiêm, thành phố Hà Nội”, Luận văn Thạc sĩ Quản lý Giáo dục,Học viện Chính trị, Hà Nội Tác giả đã đề xuất hệ thống 6 biệnpháp như sau: “Tổ chức giáo dục nâng cao nhận thức tráchnhiệm cho các lực lượng sư phạm của các trường THPT về dạyhọc Ngữ văn; Tổ chức bồi dưỡng nâng cao trình độ cho giáo
Trang 9viên môn Ngữ văn theo hướng chuẩn hóa; Chỉ đạo đổi mớichương trình, nội dung dạy học Ngữ văn theo hướng phát triểnnăng lực cảm thụ; Chỉ đạo đổi mới phương pháp dạy học Ngữvăn theo hướng phát huy tinh thần sáng tạo của học sinh; Bồidưỡng nâng cao trình độ tin học cho giáo viên, tăng cường ứngdụng công nghệ thông tin trong dạy học môn Ngữ văn; Tăngcường kiểm tra, đánh giá kết quả dạy học môn Ngữ văn cho họcsinh” [32].
Cũng nghiên cứu về quản lý dạy học môn Ngữ văn, tácgiả Nguyễn Thúy Hồng (2007) đã công bố công trình nghiêncứu với tên là “Đổi mới đánh giá kết quả học tập môn Ngữ văncủa học sinh Trung học cơ sở, Trung học phổ thông”, Nxb.Giáo dục, Hà Nội [29] Tác giả cho rằng, kết quả học tập mônNgữ văn của học sinh không chỉ đánh giá bằng trình độ nắm nộidung mà cần phải đánh giá về sự phát triển cảm xúc, tình cảm
và thái độ, hành vi trong ứng xử, trong giao tiếp của học sinh
Nhìn chung, các tác giả với các công trình nghiên cứukhác nhau, đã đề xuất được nhiều biện pháp góp phần nâng caochất lượng dạy học môn Ngữ văn và các biện pháp quản lý dạyhọc môn Ngữ văn ở các nhà trường Tuy nhiên, các công tìnhnghiên cứu thường bàn về dạy học tích hợp hoặc bàn về dạyhọc môn Ngữ văn theo hai mãng tách rới nhau Các công trìnhnghiên cứu về dạy học môn Ngữ văn thường được tiếp cận dưới
Trang 10góc độ của chuyên ngành văn học Những công trình nghiêncứu về dạy học tích hợp thường được tiếp cận dưới góc độ củaphương pháp dạy học Các công trình bàn về quản lý dạy họcmôn Ngữ văn theo hướng dạy tích hợp còn ít và chưa có cáccông trình nghiên cứu chuyên sâu về vấn đề này
Hiện nay, chương trình THPT, môn Ngữ văn, năm 2002
do Bộ GD&ĐT dự thảo đã ghi rõ: “Lấy quan điểm tích hợp làmnguyên tắc chỉ đạo để tổ chức nội dung chương trình, biên soạnsách giáo khoa và lựa chọn các phương pháp giảng dạy”
“Nguyên tắc tích hợp phải được quán triệt trong toàn bộ mônhọc, từ Đọc văn, Tiếng Việt đến Làm văn; quán triệt trong mọikhâu của quá trình dạy học; quán triệt trong mọi yếu tố của hoạtđộng học tập; tích hợp trong chương trình; tích hợp trong sáchgiáo khoa; tích hợp trong phương pháp dạy học của giáo viên
và tích hợp trong hoạt động học tập của học sinh; tích hợp trongcác sách đọc thêm, tham khảo.”
Trên các diễn đàn khoa học, các bài phỏng vấn và các ýkiến phát biểu trên báo viết, báo hình, các trang web của các tổchức giáo dục, các nhà trường đã đăng tải nhiều ý kiến khácnhau về tích hợp trong dạy học môn Ngữ văn Các ý kiến nàykhá tản mạn, chưa theo một chủ đề, một ý tưởng khoa học vàmang nặng ý nghĩa thăm dò dư luận, chưa mang tính pháp lý
Dù vậy, đây là những kênh thông tin rất quan trọng cho việc
Trang 11nghiên cứu chung quanh chủ đề quản lý quá trình dạy học mônNgữ văn ở các trường THCS theo hướng dạy học tích hợp.
- Các khái niệm cơ bản của đề tài
- Khái niệm quá trình dạy học môn Ngữ văn
Dạy học là một quá trình bộ phận thuộc quá trình sư phạmtổng thể Gọi là quá trình bởi vì dạy học diễn ra trong một giaiđoạn với một quãng thời gian, không gian xác định, có khởiđầu, có diễn biến, có kết thúc Quá trình dạy học bao gồm nhiềuthành tố được cấu trúc theo hệ thống có các mối liên hệ rằngbuộc lẫn nhau, tác động qua lại lẫn nhau, chi phối lẫn nhau.Trong các mối quan hệ đó hoạt động của người dạy và hoạtđộng của người học luôn phối hợp thống nhất với nhau, chiphối, điều khiển các thành tố khác, liên kết và thúc đẩy cácthành tố khác cùng vận động, phát triển Quá trình dạy họcđược thực hiện trong môi trường sư phạm có mục đích, có tổchức, có kế hoạch và chương trình, nội dung cụ thể
Môn Ngữ văn là một môn học bắt buộc trong chươngtrình các môn học ở nhà trường THCS Cấu trúc môn Ngữ văn
ở trường THCS bao gồm các phân môn như Văn – Tiếng Việt –Làm văn Môn Ngữ văn thuộc nhóm các môn khoa học xã hội,
có liên quan đến những môn học khác trong chương trình Môn
Trang 12Ngữ văn thường chiếm tỷ trọng thời gian lớn trong chươngtrình.
Dựa theo lý luận về quá trình dạy học nói chung, quá trìnhdạy học môn Ngữ văn được hiểu như sau:
Dạy học môn Ngữ văn là quá trình có mục đích, có tổ chức, phối hợp thống nhất hoạt động dạy của giáo viên và hoạt động học của học sinh, được thực hiện trong điều kiện sư phạm xác định, nhằm thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ dạy học môn học này trong nhà trường.
Bản chất của dạy học môn Ngữ văn là dạy học bộ môn,một môn học cụ thể trong nhà trường Quá trình dạy học mônNgữ văn về cơ bản tuân theo lý luận dạy học bộ môn Quá trìnhdạy học môn Ngữ văn gồm các giai đoạn khởi đầu, diễn biến vàkết thúc của các hoạt động dạy và học Quá trình dạy học mônNgữ văn có thể xem xét gồm các khâu, các bước, các quy trìnhvận hành của các thành tố trong hệ thống dạy học Tuy nhiên,mỗi môn học, ngoài những tính chất chung của dạy học lại cónhững tính chất riêng mang nét độc lập tương đối Quá trìnhdạy học bộ môn Ngữ văn có những nét đặc thù riêng do tínhchất đặc thù của môn học quy định
Chủ thể giảng dạy môn Ngữ văn là các giáo viên đượcđào tạo chuyên sâu về chuyên ngành văn học Giáo viên được
Trang 13đào tạo về chuyên ngành sư phạm văn học mới giảng dạy đượcmôn Ngữ văn Giáo viên văn không những phải có kiến thứchiểu biết chuyên sâu về văn học, mà còn phải được trang bị vềphương pháp giảng dạy môn học này Ngoài những kiến thứchiểu biết về văn học, giáo viên giảng dạy môn Ngữ văn phải cókiến thức hiểu biết về xã hội, hiểu biết về các môn học cơ bản
và cơ sở khác có liên quan
Học sinh học tập môn Ngữ văn ở các trường bao gồmnhiều đối tượng khác nhau Mỗi bậc học, mỗi lớp có chươngtrình, nội dung dạy học môn Ngữ văn khác nhau, có đối tượnghọc sinh khác nhau Hoạt động của học sinh là hoạt động họctập, dưới sự tổ chức, điều khiển của giáo viên Mặt khác, hoạtđộng của học sinh với tư cách là chủ thể của hoạt động nhậnthức luôn mang những dấu ấn chủ quan cá nhân Tức là mức độtích cực, chủ động, sáng tạo của mỗi cá nhân học sinh trong quátrình học tập môn Ngữ văn rất khác nhau
Sự phối hợp hoạt động của giáo viên với học sinh là sựtác động hai chiều Giáo viên giảng dạy môn Ngữ văn với tưcách là chủ thể của hoạt động giảng dạy, vừa tác động vào quátrình nhận thức của học sinh, tổ chức điều khiển hoạt động nhậnthức của học sinh, vừa tác động vào chương trình, nội dungmôn học Giáo viên phải xử lý, chế biến nội dung môn Ngữ vănthành các vấn đề học tập phù hợp với mục đích dạy học, phù
Trang 14hợp hình thức tổ chức dạy học và phù hộ với đối tượng họcsinh Học sinh vừa là chủ thể, vừa là khách thể trong quá trìnhhọc tập Học sinh lĩnh hội, tiếp thu sự tác động của giáo viênvới động cơ, thái độ học tập khác nhau.
- Khái niệm dạy học môn Ngữ văn theo hướng tích hợp
* Dạy học tích hợp
Khái niệm dạy học tích hợp đã được nhiều tác giả nghiêncứu và đưa ra với những định nghĩa khác nhau Mặc dù cónhững cách định nghĩa khác nhau như vậy, nhưng trong cáchhiểu thì hầu như đều thống nhất với nhau
Dạy học tích hợp là tổng hợp các nội dung tương đồng của các môn học, hoặc trong các hợp phần của một môn học vào một chủ đề bài giảng, nhằm tạo ra sự nhất quán về nhận thức của học sinh, khắc phục tình trạng trùng lặp trong nội dung dạy học, góp phần hình thành, phát triển tư duy tổng hợp cho học sinh.
Bản chất của dạy học tích hợp là lựa chọn những kiếnthức tương đồng trong chương trình của từng khối lớp tổng hợpthành một nội dung dạy học chung với một hoặc một số chủ đề.Những kiến thức tương đồng đó thuộc các môn học khác nhau
Trang 15được gọi là tích hợp liên môn Kiến thức tương đồng đó nằmtrong cùng một môn học gọi là tích hợp đơn môn.
Nội dung dạy học tích hợp liên môn được thực hiện trongmột môn học cụ thể Khi đã tổng hợp kiến thức liên môn vàomột môn học cụ thể thì các môn học khác không giảng dạyphần kiến thức đã tích hợp đó nữa Thí dụ: khi tích hợp kiếnthức của các môn Lịch sử, Địa lý, hay Giáo dục công dân vàomôn Ngữ văn thì giáo viên môn Ngữ văn có trách nhiệm giảngdạy nội dung tích hợp đó Trong chương trình của các môn Lịch
sử, Địa lý, Giáo dục công dân sẽ cắt các nội dung đã tích hợp,không giảng dạy nữa Như vậy, nội dung dạy học sẽ khắc phụcđược tình trạng trùng lặp và phân tán, chia cắt
Phương pháp dạy học tích hợp được thực hiện tổng hợpcác phương pháp dạy học của các môn được tích hợp Nội dungdạy học từ các môn khác nhau được tích hợp vào môn nào thìmôn học đó được gọi là môn học chính Giáo viên của môn họcchính đó chịu trách nhiệm giảng dạy về nội dung và lựa chọnphương pháp, hình thức tổ chức dạy học Phương pháp dạy họccác nội dung tích hợp là tổng hợp phương pháp của các môntích hợp Trong đó, phương pháp chủ đạo là phương pháp củamôn học chính mà nội dung của các môn học khác được tíchhợp vào
Trang 16Mục tiêu dạy học tích hợp nhằm khắc phục tình trạngtrùng lặp, chia cắt kiến thức giữa các môn học đơn lẻ, góp phầnhình thành tư duy tổng hợp cho học sinh Dạy học tích hợp làphương thức dạy học tốt nhất nhằm phát triển năng lực tư duysáng tạo của học sinh Dạy học tích hợp là yêu cầu của thực tiễn
xã hội hiện đại, thực tiễn đó đòi hỏi học sinh phải biết vận dụngkiến thức tổng hợp vào giải quyết các vấn đề trong thực tiễn
* Dạy học môn Ngữ văn theo hướng tích hợp
Dạy học môn Ngữ văn theo hướng tích hợp là dạy học tíchhợp trong một môn học cụ thể, vừa phải tuân thủ theo lý thuyết dạyhọc tích hợp, vừa phải đáp ứng yêu cầu đặc điểm riêng của mônNgư văn ở một bậc học cụ thể
Dạy học môn Ngữ văn theo hướng tích hợp là tổng hợp các nội dung tương đồng trong các hợp phần của môn học này, hoặc các môn học khác vào một chủ đề bài giảng của môn Ngữ văn, nhằm tạo cơ sở cho sự phát triển tư duy tổng hợp của học sinh, khắc phục tình trạng chia cắt, phân tán và trùng lặp trong nội dung dạy học môn học.
Bản chất của dạy học môn Ngữ văn theo hướng tích hợp
là sự phối hợp các tri thức gần gũi, có quan hệ mật thiết vớinhau trong chương trình môn học, để chúng hỗ trợ và tác động
Trang 17vào nhau, phối hợp với nhau nhằm tạo nên kiến thức tổng hợpcho học sinh.
Nội dung, phương pháp dạy học tích hợp môn Ngữ văn làtích hợp đơn môn và tích hợp liên môn Tích hợp đơn môn làphối hợp các nội dung gần gủi nhau trong các hợp phần củamôn Ngữ văn như Văn - Tiếng Việt - Làm văn vào một bài học.Việc tích hợp đơn môn được thực hiện trong nội bộ do tổchuyên môn chủ trì và báo cáo với Hiệu trưởng nhà trường
Tích hợp liên môn là phối hợp các nội dung gần gủi nhaucủa môn Ngữ văn với các môn Lịch sử, Địa lý, Đạo đức và cácmôn khác vào một bài học của môn Ngữ văn, giúp học sinh biết
sử dụng tổng hợp kiến thức vào giải quyết các vấn đề trongthực tiễn Để tích hợp đa môn hay còn gọi là tíc hợp liên mônphải có sự phối hợp của các tổ chuyên môn trong nhà trường
Vì vậy, Hiệu trưởng nhà trường phải chủ trì
Mục tiêu của dạy học môn Ngữ văn theo hướng tích hợpnhằm tạo cho học sinh có kiến thức tổng hợp và biết tư duytổng hợp trong xử lý các vấn đề thực tiễn phức tạp của cuộcsống Chẳng hạn để đọc một tác phẩm văn học về biển đảo,hoặc đọc một cuốn truyện tranh về Gạc Ma học sinh cần phải
có kiến thức địa lý về biển Đông và phải có hiểu biết lịch sử vềchiến tranh biển đảo Tương tự như vậy, để cảm thụ và hiểu sâu
Trang 18sắc các tác phẩm văn học về Trọng Thủy - Mỵ Châu, về Bài thơthần của Lý Thường Kiệt, về Hịch Tướng sĩ của Đại vươngTrần Quốc Tuấn, hay tác phẩm Đại cáo Bình Ngô của NguyễnTrãi thì học sinh cần phải có hiểu biết về địa lý và lịch sử dântộc Như vậy, học Ngữ văn không phải chỉ để có kiến thức vănhọc thuần túy, mà với cách dạy tích hợp sẽ giúp cho học sinh cócái nhìn tổng quát về địa lý, lịch sử và văn hóa trong văn học.Với cách học tích hợp, học sinh sẽ có thêm hiểu biết lịch sử vănhọc với lịch sử đấu tranh bảo vệ chủ quyền đất nước của dântộc, từ đó hình thành cho các em tinh thần yêu nước, sẵn sàngbảo vệ Tổ quốc.
- Khái niệm quản lý quá trình dạy học môn Ngữ văn ở trường Trung học cơ sở theo hướng dạy học tích hợp
Quản lý và quản lý quá trình dạy học là một khái niệmkhá phổ biến đã được nhiều sách giáo trình, giáo khoa đề cậpđến Tuy nhiên, quản lý mỗi môn học khác nhau có những yêucầu riêng do đặc điểm của môn học đó quy định Đặc biệt, quản
lý quá trình dạy học môn học cụ thể theo hướng dạy học tíchhợp là một khái niệm mới Quản lý quá trình dạy học là cáchthức mà chủ thể quản lý sử dụng các chức năng quản lý để tácđộng vào các thành tố cấu trúc của quá trình dạy học, tổ chức,điều khiển các thành tố đó vận động trong một hệ thống đồng
Trang 19bộ nhằm thực hiện các mục tiêu dạy học đã xác định đạt đượcchất lượng, hiệu quả cao nhất
Dựa trên trục lý luận về quản lý giáo dục, quản lý nhàtrường và quản lý quá trình dạy học nói chung, chúng ta có thể
đi tới khái niệm về quản lý quá trình dạy học môn Ngữ văn nhưsau:
Quản lý quá trình dạy học môn Ngữ văn ở trường Trung học cơ sở theo hướng dạy học tích hợp là tác động có mục đích, có tổ chức của các chủ thể quản lý nhà trường đến quá trình dạy học môn Ngữ văn, nhằm tổ chức, điều khiển các thành tố cấu trúc của quá trình đó vận hành theo hướng dạy học tích hợp, phù hợp với chương trình, kế hoạch đã xác định, góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn Ngữ văn đáp ứng yêu cầu mới.
Bản chất của quản lý quá trình dạy học môn Ngữ văn ở
trường Trung học cơ sở theo hướng dạy học tích hợp là chủ thể
quản lý sử dụng các chức năng quản lý để tổ chức, điều khiểnquá trình dạy học môn Ngữ văn theo lý thuyết dạy học tích hợp.Đảm bảo cho các thành tố cấu trúc quá trình dạy học môn họcnày vận động trong một hệ thống đồng bộ, thống nhất theochương trình, nội dung dạy học đã xác định, phù hợp với lý