1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

MỘT số lý LUẬN CHUNG về VAI TRÒ của đầu tư nước NGOÀI và KINH tế VÙNG

72 71 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 72
Dung lượng 83,52 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tổng quan tình hình nghiên cứu và khoảng trống cần tiếp tục nghiên cứuTổng quan tình hình nghiên cứu Có rất nhiều công trình nghiên cứu trong và ngoài nước đã được thực hiện theo các cá

Trang 1

MỘT SỐ LÝ LUẬN CHUNG VỀ VAI TRÒ CỦA ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI VÀ KINH TẾ

VÙNG

Trang 2

Tổng quan tình hình nghiên cứu và khoảng trống cần tiếp tục nghiên cứu

Tổng quan tình hình nghiên cứu

Có rất nhiều công trình nghiên cứu trong và ngoài nước

đã được thực hiện theo các cách tiếp cận khác nhau về FDI.Một số công trình tập trung vào những vấn đề lý luận chung

về FDI như bản chất, đặc điểm, vai trò, các hình thức, tácđộng của FDI; một số nghiên cứu thực trạng FDI vào và ramột nước, một khu vực cũng như trên quy mô toàn cầu; một

số khác bàn sâu về môi trường thu hút FDI nói chung cũngnhư tập trung phân tích một số yếu tố riêng biệt của môitrường thu hút FDI nói riêng (môi trường luật pháp, môitrường chính sách, thậm chí chỉ bàn riêng về chính sách tàichính trong thu hút FDI,…)

Các công trình nghiên cứu trong nước

Hiện nay, có thể liệt kê một số công trình tiêu biểu

nghiên cứu về FDI trong nước như sau:

Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ (Bộ Kế hoạch và

Đầu tư) năm 2012 “Liên kết giữa đầu tư trực tiếp nước ngoài

với đầu tư trong nước tại Việt Nam”, Ths Lê Thị Hải Vân

Trang 3

làm chủ nhiệm đề tài được đánh giá nghiệm thu là xuất sắc.

Đề tài đã đánh giá thực trạng liên kết giữa khu vực FDI vớikhu vực trong nước từ đó rút ra những tồn tại và hạn chế vềliên kết giữa hai khu vực, đề xuất một số cơ chế chính sáchtăng cường mối liên kết giữa hai khu vực đầu tư trong nước

và nước ngoài nhằm hỗ trợ cho cơ quan lập chính sách vềchính sách nâng cao vai trò của FDI tại Việt Nam

Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ (Bộ Kế hoạch và

Đầu tư) “Đầu tư trực tiếp nước ngoài trong quá trình đổi mới

kinh tế tại Việt Nam”, TS Đỗ Nhất Hoàng làm chủ nhiệm đề

tài Đề tài đã đánh giá và khẳng định vai trò to lớn của khuvực FDI trong quá trình đổi mới kinh tế của Việt Nam

Kỷ yếu hội thảo tổng kết 25 năm đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Kế hoạch và Đầu tư).

Kỷ yếu đã đề cập đến những đánh giá của các cơ quan quản lýnhà nước và nhận định của các chuyên gia kinh tế về tình hìnhthu hút và sử dụng vốn FDI trong thời gian qua, kiến nghị một

số giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn FDI trong việcphát triển kinh tế tại các địa phương trong thời gian tới

Về nghiên cứu của các Tổ chức, Viện nghiên cứu trong nước, các Trường Đại học:

Trang 4

Bài tham luận “Mối quan hệ giữa đầu tư trực tiếp nước

ngoài với tăng trưởng kinh tế của Việt Nam” của Nguyễn Phú

Tụ và Huỳnh Công Minh tại Hội nghị Khoa học và Côngnghệ lần thứ nhất (15/4/2010) đã đánh giá mối quan hệ tươngtác giữa đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và tăng trưởng kinh

tế Việt Nam thời gian 1988 - 2009

Bài viết “Các giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế - xã

hội về sử dụng vốn đầu tư nước ngoài tại thành phố Hồ Chí Minh” của GS.TS Dương Thị Bình Minh và Phùng Thị Cẩm

Tú đăng trên tạp chí Phát triển kinh tế số tháng 8 năm 2009 đãđánh giá tình hình thu hút FDI và tác động của FDI đến pháttriển kinh tế - xã hội của thành phố Hồ Chí Minh trong thời

kỳ 2001-2008, từ đó đưa ra những giải pháp kiến nghị về cơchế chính sách nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn FDI tạithành phố Hồ Chí Minh

“Báo cáo đầu tư công nghiệp Việt Nam (VIIR)”, Bộ Kế

hoạch và Đầu tư kết hợp với Tổ chức phát triển công nghiệpLiên hợp quốc (UNIDO), 2011 Báo cáo dựa trên kết quảkhảo sát đầu tư công nghiệp Việt Nam thực hiện trong năm

2011 Báo cáo đề cập đến các vấn đề chính sách quan trọng làvai trò và tác động của FDI trong nền kinh tế trong bối cảnh

Trang 5

Việt Nam đang đứng ở ngã rẽ quan trọng trên con đường pháttriển công nghiệp

“Chính sách thu hút đầu tư nước ngoài của một số thị trường cạnh tranh và bài học với Việt Nam”, Nguyễn Việt

Cường, Đề tài khoa học cấp Bộ, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, HàNội, 2013 Đề tài đã nghiên cứu, phân tích những chính sáchthu hút đầu tư nước ngoài của một số thị trường cạnh tranhchủ yếu của Việt Nam trong khu vực, nhìn nhận lại các yếu tốcạnh tranh FDI nội tại của nền kinh tế từ đó đưa ra các bàihọc, các giải pháp, đối sách thích hợp về chính sách đầu tưcủa Việt Nam để cải thiện tình hình thu hút FDI vào ViệtNam trong thời gian tiếp theo Nghiên cứu này đã có nhữnggợi ý quan trọng trong lĩnh vực đầu tư nước ngoài cho nhữngnhà hoạch định chính sách trong việc xây dựng và thực thi các

cơ chế, chính sách nhằm cải thiện môi trường đầu tư, thúc đẩy

sự phát triển kinh tế của đất nước nói chung và của các địaphương nói riêng

Chuyên đề "Tình hình đầu tư ngước ngoài vùng đồng

bằng sông Hồng thời kỳ 1996 - 2007, phương hướng đến năm 2020" của tác giả Lê Thị Hải Vân nằm trong đề án "Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bằng sông

Trang 6

Hồng đến năm 2020" của Bộ Kế hoạch và Đầu tư Chuyên đề

đã đề cập đến rất nhiều vấn đề liên quan đến những thành quả

đã đạt được của FDI trong giai đoạn 1996 - 2007 và đề ra cácgiải pháp thu hút tối đa các nguồn vốn đầu tư cho vùng, đặcbiệt là nguồn vốn FDI Bên cạnh đó, chuyên đề đã tổng kết vàđánh giá chi tiết những đóng góp của FDI đối với phát triểnkinh tế vùng đồng bằng sông Hồng và đề xuất những giảipháp nhằm sử dụng FDI một cách hiệu quả Tuy nhiên,chuyên đề mới chỉ dừng lại ở việc tổng kết những kết quả củaFDI đối với phát triển kinh tế vùng ĐBSH trong giai đoạn

1996 - 2007, chưa có sự cập nhật số liệu mới Hơn nữa, một

số giải pháp nhằm nâng cao vai trò của FDI đối với phát triểnkinh tế vùng trong chuyên đề đã không còn hợp lý trong giaiđoạn hiện nay

Các công trình nghiên cứu nước ngoài

Có rất nhiều công trình nghiên cứu nước ngoài bàn vềFDI nói chung cũng như FDI vào các nước đang phát triển nóiriêng theo nhiều cách tiếp cận khác nhau, đặc biệt là bàn vềcác nguyên nhân, tác động của FDI đối với phát triển kinh tếtại những quốc gia này, cụ thể như:

Trang 7

Raymond Vernon trong bài viết “Internationalinvestment and International trade in the product cycle”

Quarterly journal of economics, 1966, pp.190-207, đã giảithích hiện tượng thương mại và đầu tư quốc tế từ chu kỳ pháttriển của sản phẩm, từ quyết định của công ty trên cơ sở chiphí và lợi nhuận và giải thích hiện tượng đầu tư quốc tế trongmối liên hệ chặt chẽ với đặc điểm của kết cấu thị trường,chuyển giao công nghệ và kiến thức quản lý

John Dunning, trong công trình nghiên cứu “Theeclective paradigm of international production: a restatement

and some extension”, Journal of International Business

Studies, Spring 1988, đã khẳng định lại những quan điểm chủ

yếu của ông về mô hình lý thuyết triết chung, được ông trìnhbày lần đầu tiên tại lễ trao giải Nobel năm 1976, đó là nỗ lựcnhằm đưa ra một khung khổ toàn diện cho việc xác định vàđánh giá tầm quan trọng của các yếu tố ảnh hưởng tới quyếtđịnh đầu tư sản xuất ra nước ngoài của các doanh nghiệp và

sự tăng trưởng của hoạt động sản xuất này Theo lý thuyếttriết chung, động lực thúc đẩy công ty đầu tư ra nước ngoàibao gồm ba điều kiện chủ yếu: lợi thế về sở hữu (O), lợi thếcủa nước chủ nhà (L) và lợi thế nội vi hóa (I) Sau khi đề cập

Trang 8

đến một số khả năng mở rộng mô hình, tác giả khẳng địnhrằng mô hình OLI vẫn là một khung khổ phổ biến thiết thựccho việc giải thích và đánh giá không chỉ lý do căn bản củasản xuất mà còn rất nhiều vấn đề tổ chức và tác động liênquan đến hoạt động của các MNCs.

Trong công trình nghiên cứu “Why Investment Matters:

The Political Economy of International Investments”, FERN,

The Corner House, CRBM, and Madhyam Books, KavaljitSingh (2007) đã đề cập đến những vấn đề cơ bản về FDI nhưkhái niệm, tác động, khung khổ điều tiết Ông đã giải thíchvai trò trung tâm của các TNC trong đầu tư quốc tế, chỉ ra sựthay đổi của mô thức đầu tư trong hai thập kỷ gần đây, vạchtrần một số huyền thoại xung quanh dòng chảy vốn đầu tư.Đặc biệt công trình đã làm rõ các TNC đã kiếm được nhữngkhoản lợi nhuận khổng lồ thông qua hoạt động chuyển giánhư thế nào

“Báo cáo đầu tư thế giới (WIR)” phát hành hàng năm

của Tổ chức Thương mại và phát triển Liên hợp quốc(UNCTAD) Báo cáo phân tích thực trạng, xu hướng và triểnvọng của dòng vốn FDI trên toàn cầu, nhằm giúp các quốc giathấy được vị trí, vai trò của mình trong bức tranh toàn cảnh về

Trang 9

đầu tư thế giới, từ đó xác định được mục tiêu, chính sách phùhợp của quốc gia mình trong các giai đoạn tiếp theo

“Báo cáo Đầu tư công nghiệp Việt Nam 2011”, Tổ chức

Phát triển công nghiệp Liên hợp quốc (UNIDO) Báo cáo này

đã tìm hiểu về tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài trongphát triển công nghiệp của Việt Nam, đánh giá và đưa ra nhậnđịnh mối quan hệ liên kết giữa các doanh nghiệp công nghiệpFDI với các doanh nghiệp trong nước thông qua điều tra khảosát 1493 doanh nghiệp trong nước và nước ngoài hoạt độngtrong lĩnh vực chế biến, chế tạo; xây dựng và dịch vụ công íchtại 9 tỉnh, thành phố là Bà Rịa – Vũng Tàu, Bắc Ninh, BìnhDương, Đồng Nai, Vĩnh Phúc, Đà Nẵng, Hà Nội, Hải Phòng

và Hồ Chí Minh Báo cáo đã đưa ra một số kiến nghị nhằmthúc đẩy mối liên kết giữa các doanh nghiệp FDI với các

doanh nghiệp trong nước trong lĩnh vực công nghiệp

- Những khoảng trống cần tiếp tục nghiên cứu

Trên thế giới và Việt Nam đã có rất nhiều nghiên cứu vềđầu tư trực tiếp nước ngoài theo nhiều khía cạnh khác nhau.Nhưng nhìn chung, các nghiên cứu về đầu tư trực tiếp nướcngoài chủ yếu phân tích đánh giá về đầu tư trực tiếp nướcngoài vào Việt Nam nói chung, hoặc các địa phương, đối tác

Trang 10

riêng biệt,… Riêng việc nghiên cứu đầu tư trực tiếp nướcngoài vào các vùng kinh tế của Việt Nam, tác giả chưa thấynhiều công trình nghiên cứu mang tính chuyên sâu, nội dungnghiên cứu chỉ mang tính chất gợi mở, cung cấp thông tin vàmột số giải pháp chung chung Chưa có các công trình nghiêncứu chuyên sâu về sự đóng góp của nguồn vốn đầu tư trựctiếp trong quá trình phát triển kinh tế của các vùng trong cảnước và vùng đồng bằng sông Hồng Đồng thời, cần tiếp tụcnghiên cứu trong điều kiện thời gian mới, không gian mới vớinhiều yếu tố tác động đan xen nhiều chiều cạnh.

Thứ hai, trên cơ sở thu thập ý kiến phản hồi của cơ quanquản lý tại các địa phương và một số nhà đầu tư nước ngoàitại các tỉnh đồng bằng sông Hồng, tác giả đề xuất một số địnhhướng và giải pháp cơ bản nhằm nâng cao vai trò của FDI đốivới phát triển kinh tế các tỉnh vùng đồng bằng sông Hồng

- Khái niệm, đặc điểm và các nhân tố tác động đến đầu tư trực tiếp nước ngoài

-Tính tất yếu khách quan của vốn đầu tư nước ngoài

Đối với bất kỳ một quốc gia nào, dù là nước phát triểnhay đang phát triển thì để phát triển đều cần có vốn để tiến

Trang 11

hành các hoạt động đầu tư tạo ra tài sản mới cho nền kinh tế.Nguồn vốn để phát triển kinh tế có thể được huy động ở trongnước hoặc từ nước ngoài tuy nhiên nguồn vốn trong nướcthường có hạn, nhất là đối với những nước đang phát triển (có

tỷ lệ tích luỹ thấp, nhu cầu đầu tư cao nên cần có một số vốnlớn để phát triển kinh tế) Vì vậy, nguồn vốn đầu tư nướcngoài ngày càng giữ vai trò quan trọng đối với sự phát triểncủa mỗi quốc gia Hoạt động đầu tư nước ngoài là kênh huyđộng vốn lớn cho phát triển kinh tế, trên cả góc độ vĩ mô và vi

mô Trên góc độ vĩ mô, FDI tác động trực tiếp đến quá trìnhtăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và phúc lợi xãhội cho con người, là 3 khía cạnh để đánh giá sự phát triểnkinh tế của một quốc gia Trên góc độ vi mô, FDI có tác độngmạnh mẽ đến năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp trongnước, vấn đề lưu chuyển lao động giữa doanh nghiệp FDI vàdoanh nghiệp trong nước Đầu tư nước ngoài là nhân tố quantrọng và khẳng định rõ vai trò của mình trong việc đóng gópvào sự phát triển kinh tế của Việt Nam Nguồn vốn này baogồm đầu tư trực tiếp (FDI) và đầu tư gián tiếp (FII) Trongkhi FII có tác động kích thích thị trường tài chính phát triểnthì FDI có vai trò trực tiếp thúc đẩy sản xuất, bổ sung vốn

Trang 12

trong nước, tiếp thu công nghệ và bí quyết quản lý, tham giamạng lưới sản xuất toàn cầu, tăng số lượng việc làm và đàotạo nhân công, tăng nguồn thu cho ngân sách

Khoa học kinh tế đã chỉ ra rằng, đầu tư nước ngoài làmột hiện tượng kinh tế mang tính tất yếu khách quan Khi quátrình tích tụ và tập trung tư bản đạt đến một mức độ nhất định,

sẽ xuất hiện nhu cầu đầu tư ra nước ngoài [21,tr.7]

Một khó khăn lớn của hầu hết các nước đang phát triểntrong đó có nước ta là thiếu vốn đầu tư Có thể nói, vốn đầu tư

là yếu tố quyết định để các nước đang phát triển đẩy nhanhtốc độ phát triển kinh tế, cải thiện đời sống vật chất của nhândân Ở các quốc gia này, nguồn lao động và tài nguyên thiênnhiên thường chưa được sử dụng hết hoặc không được sửdụng vì thiếu các điều kiện vật chất cho quá trình lao động,sản xuất Bản thân các nước đang phát triển lại ít có khả năng

tự tích lũy vì năng suất lao động thấp, sản xuất hầu như không

đủ đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước Trong hoàn cảnhnhư vậy, nguồn vốn từ bên ngoài sẽ có ý nghĩa quan trọng đốivới bước phát triển ban đầu của các nước này

Ngoài các đặc điểm chung của một quốc gia đang pháttriển, Việt Nam còn có những đặc thù riêng của một đất nước

Trang 13

đã phải trải qua nhiều năm chiến tranh ác liệt Nền kinh tế sauchiến tranh đã bị tàn phá nặng nề, lại vấp phải những sai lầmtrong quản lý và điều hành cả trên tầm vĩ mô và vi mô củathời kỳ tập trung, quan liêu, bao cấp, nên đã rơi vào khủnghoảng nghiêm trọng Trong thời gian dài trước năm 1990,Việt Nam không có tích lũy từ trong nội bộ nền kinh tế Mộtphần lớn tích lũy phải dựa vào vay nợ và viện trợ chủ yếu củaLiên Xô, các nước XHCN Đông Âu trước đây, sau này là từnhiều chính phủ và các tổ chức trên thế giới.

Để đẩy mạnh tăng trưởng kinh tế, Việt Nam phải tranhthủ vốn, kỹ thuật, kinh nghiệm quản lý tiên tiến của nướcngoài Đây là điểm nút để nước ta thoát ra khỏi cái vòng luẩnquẩn của sự nghèo đói Thực tiễn và kinh nghiệm của nhiềunước cho thấy, quốc gia nào thực hiện chiến lược kinh tế mởcửa với bên ngoài, biết tranh thủ và phát huy tác dụng củanhân tố bên ngoài, biến nó thành nhân tố bên trong, thì quốcgia đó tạo được tốc độ tăng trưởng kinh tế cao Có thể nóirằng, ở đâu và nước nào sử dụng hiệu quả được nguồn vốnđầu tư trực tiếp nước ngoài, thì ở nước đó, nền kinh tế đạtđược tốc độ phát triển nhanh chóng Vì vậy, các quốc gia trênthế giới đang từng bước hoàn thiện thể chế, chính sách nhằm

Trang 14

sử dụng hiệu quả tối đa nguồn vốn đầu tư trực tiếp nướcngoài.

Trong điều kiện cụ thể của nước ta, nơi có những tiềmnăng to lớn về lao động, tài nguyên nhưng không có điềukiện khai thác và sử dụng, thì việc thu hút và sử dụng nguồnvốn đầu tư trực tiếp nước ngoài lại càng mang tính tất yếukhách quan và có ý nghĩa vô cùng quan trọng Muốn đạt đượcmục đích sử dụng hiều quả vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài,kinh nghiệm quý báu của nhiều nước cho thấy, Việt Nam cầnphải tạo lập môi trường đầu tư hấp dẫn, tạo điều kiện thuậnlợi cho các nhà đầu tư nước ngoài, giữ vững ổn định kinh tế vĩ

mô, ổn định chính trị và thực hiện cải cách nền kinh tế đểtừng bước hội nhập vào quỹ đạo phát triển kinh tế thế giới

Thực tế trong những năm qua cũng như dự báo cho giaiđoạn tới đã khẳng định tầm quan trọng của FDI với phát triểnkinh tế ở nước ta hiện nay Đánh giá đúng vị trí, vai trò củađầu tư nước ngoài, Đại hội lần thứ IX của Đảng ta đã coi kinh

tế có vốn đầu tư nước ngoài là một thành phần kinh tế, là một

bộ phận cấu thành của nền kinh tế thị trường định hướngXHCN, được khuyến khích phát triển, hướng vào xuất khẩu,xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế- xã hội, gắn với thu hút công

Trang 15

nghệ hiện đại, tạo thêm nhiều việc làm và đề ra nhiệm vụ cảithiện nhanh môi trường kinh tế và pháp lý để thu hút mạnhnguồn vốn đầu tư nước ngoài (chủ yếu là FDI) đối với chiếnlược phát triển KT-XH của cả nước.

- Khái niệm, đặc điểm của đầu tư trực tiếp nước ngoài

- Khái niệm chung

Nhìn chung, đầu tư (investment) là việc sử dụng vốn vàoquá trình tái sản xuất xã hội nhằm tạo ra năng lực sản xuất lớnhơn Dưới góc độ của doanh nhân hoặc doanh nghiệp, đầu tư

là việc đưa vốn vào một hoạt động nào đó nhằm mục đích thulợi nhuận Vốn đầu tư bao gồm tiền và các tài sản khác nhưđộng sản, bất động sản, tài sản hữu hình, tài sản vô hình…

Theo khái niệm và cách phân loại tài khoản quốc tếtrong Cẩm nang về Cán cân Thanh toán của Quỹ Tiền tệ Quốctế-IMF (2009), đầu tư nước ngoài được phân thành những loạisau: (i) đầu tư trực tiếp; (ii) đầu tư theo danh mục; và (iii) cáchình thức đầu tư khác

Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là một loại hình đầu

tư quốc tế trong đó một tổ chức cư trú tại một nền kinh tế thuđược lợi ích lâu dài từ một doanh nghiệp đặt tại một nền kinh

Trang 16

tế khác Lợi ích lâu dài ở đây hàm ý sự tồn tại trong thời giandài của một mối quan hệ giữa nhà đầu tư trực tiếp và doanhnghiệp này và mức độ ảnh hưởng đáng kể của nhà đầu tư đốivới doanh nghiệp này.

Khái niệm về FDI của Tổ chức phát triển hợp tác kinhtế-OECD (2008) chỉ rõ rằng một doanh nghiệp đầu tư trựctiếp là việc một doanh nghiệp có tư cách pháp nhân hoặckhông có tư cách pháp nhân trong đó một nhà đầu tư trực tiếp

sở hữu ít nhất 10% cổ phiếu thường hoặc quyền biểu quyết[30] Đặc điểm mấu chốt của đầu tư trực tiếp là chủ định thựchiện quyền kiểm soát công ty Tuy nhiên, không phải tất cảcác quốc gia sử dụng mức 10% để làm mốc xác định FDI Dovậy, các thống kê về FDI do các tổ chức khác nhau đưa racũng có thể khác nhau

Có ba yếu tố cấu thành đầu tư trực tiếp:

Vốn chủ sở hữu, trong đó có cả vốn pháp định của cácchi nhánh, công ty con và các loại vốn góp khác

Thu nhập được tái đầu tư dưới hình thức vốn chủ sở hữuhoặc giao dịch nợ liên công ty

Vốn liên quan đến giao dịch nợ liên công ty

Có hai loại hình FDI cơ bản:

Trang 17

Thành lập công ty mới hoặc đầu tư mới (có nghĩa là việcthành lập một doanh nghiệp liên doanh mới hoặc một doanhnghiệp 100% vốn nước ngoài).

Sáp nhập và thâu tóm (M&A) một doanh nghiệp nội địađang tồn tại - mua cổ phần của các công ty cổ phần và cổphần hoá

Ở nước ta, ngay từ năm 1977, khái niệm đầu tư nướcngoài đã chính thức được ghi nhận trong Điều lệ Đầu tư củanước ngoài ở nước Cộng hòa XHCN Việt Nam được banhành kèm theo Nghị định số 115/CP ngày 18/4/1977 (sau đâygọi tắt là Điều lệ Đầu tư nước ngoài năm 1977): Được coi làđầu tư của nước ngoài ở Việt Nam việc đưa vào sử dụng ởViệt Nam những tài sản và vốn sau đây, nhằm xây dựngnhững cơ sở mới hoặc đổi mới trang bị kỹ thuật, mở rộng các

cơ sở hiện có:

Các loại thiết bị, máy móc, dụng cụ (gồm cả những thứdùng cho việc thí nghiệm), phương tiện vận tải, vật tư kỹthuật… cần thiết cho mục đích nói trên;

Các quyền sở hữu công nghiệp, bằng sáng chế, phátminh, phương pháp công nghệ, bí mật kỹ thuật (know - how),nhãn hiệu chế tạo…

Trang 18

Vốn bằng ngoại tệ hoặc vật tư có giá trị ngoại tệ, nếuphía Việt Nam thấy cần thiết;

Vốn bằng ngoại tệ để chi lương cho nhân viên và côngnhân làm việc ở các cơ sở hoặc tiến hành những dịch vụ theoquy định của Điều lệ này

Như vậy, trong khái niệm trên, không phải bất cứ sự vậnđộng vốn (tư bản) nào từ nước ngoài vào Việt Nam đều là đầu

tư nước ngoài, mà chỉ việc đưa vào sử dụng ở Việt Namnhững tài sản và vốn đã được quy định tại Điều 2 Điều lệ đầu

tư nước ngoài ở Việt Nam mới được coi là đầu tư nước ngoài

Theo Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam hiện nay,khái niệm đầu tư nước ngoài được hiểu là việc nhà đầu tưnước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền hoặc bất kỳ tàisản nào để tiến hành các hoạt động đầu tư [13]

Trong các Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tưcũng như trong Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ,khái niệm đầu tư được hiểu một cách rộng hơn: "là mọi hìnhthức đầu tư trên lãnh thổ của một Bên do các công dân hoặccông ty của Bên kia sở hữu hoặc kiểm soát trực tiếp hay giántiếp, bao gồm các hình thức: một công ty hoặc một doanhnghiệp; cổ phần, cổ phiếu và các hình thức góp vốn khác, trái

Trang 19

phiếu, giấy ghi nợ và các quyền lợi đối với các khoản nợ dướicác hình thức khác trong công ty; các quyền theo hợp đồngnhư quyền theo các hợp đồng chìa khóa trao tay, hợp đồngxây dựng hoặc hợp đồng quản lý, các hợp đồng sản xuất hoặchợp đồng phân chia doanh thu, tô nhượng hoặc các hợp đồngtương tự khác; tài sản hữu hình, gồm cả bất động sản và tàisản vô hình, gồm cả các quyền như giao dịch thuê, thế chấp,cầm cố và quyền lưu giữ tài sản; quyền sở hữu trí tuệ, gồmquyền tác giả và các quyền có liên quan, nhãn hiệu hàng hóa,sáng chế, thiết kế bố trí, mạch tích hợp, tín hiệu vệ tinh mangchương trình đã được mã hóa, thông tin bí mật (bí mật thươngmại, kiểu dáng công nghiệp và quyền với giống cây trồng vàcác quyền theo quy định của pháp luật như các giấy phép và

sự cho phép"

Như vậy, ngoài những khái niệm về đầu tư nước ngoài

đã được trình bày ở trên, về mặt lý luận, có thể đưa ra khái

niệm tổng hợp về đầu tư nước ngoài như sau: Đầu tư nước

ngoài là việc nhà đầu tư của nước này đưa vốn bằng tiền hoặc tài sản khác vào nước khác để thực hiện các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ nhằm thu lợi nhuận

Trang 20

Trong khái niệm này, yếu tố nước ngoài trong đầu tưnước ngoài được thể hiện ở hai dấu hiệu đặc trưng chính, mộtlà: có sự tham gia của chủ thể nước ngoài và hai là: có sự dichuyển vốn từ nước này sang nước khác

Đầu tư nước ngoài được phân làm hai loại: đầu tư nướcngoài trực tiếp và đầu tư nước ngoài gián tiếp Đầu tư trựctiếp nước ngoài là loại hình kinh doanh, trong đó nhà đầu tưnước ngoài tự bỏ vốn thiết lập ra cơ sở sản xuất, kinh doanhcho riêng mình, tự đứng ra làm chủ sở hữu, tự quản lý hoặcthuê người quản lý cơ sở này (đầu tư 100% vốn), hoặc hợp tácvới một hay nhiều doanh nghiệp của nước sở tại thành lập mộtdoanh nghiệp liên doanh hoặc hợp đồng hợp tác kinh doanh,cùng làm chủ sở hữu, cùng quản lý cơ sở sản xuất, kinh doanhnày Đầu tư gián tiếp nước ngoài là loại hình đầu tư, trong đónhà đầu tư nước ngoài bỏ vốn vào hoạt động sản xuất, kinhdoanh của cơ sở kinh tế, nhưng không tham gia điều hành cơ

sở kinh tế đó

Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) chỉ là một trongbốn nguồn tài chính nước ngoài đổ vào một quốc gia, đó là: 1.Viện trợ phát triển chính thức (ODA) và phi chính phủ(NGO); 2 Tín dụng thương mại; 3 Tín phiếu, trái phiếu, cổ

Trang 21

phiếu; 4 Vốn đầu tư trực tiếp Viện trợ phát triển chính thứcthường do các Chính phủ cấp không hoặc cho vay ưu đãinhằm tạo dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội cần thiết chohoạt động thương mại, đầu tư Tín dụng thương mại là nguồnvốn chủ yếu nhằm hỗ trợ cho các hoạt động thương mại, xuấtnhập khẩu và xét đến cùng cũng là hỗ trợ cho đầu tư Tínphiếu là nguồn vốn mà Chính phủ các nước muốn thu về bằngcách bán cổ phiếu, trái phiếu, công trái cho người nước ngoài.Vốn đầu tư trực tiếp chủ yếu là nguồn vốn tư nhân đầu tư vàoquốc gia khác nhằm tìm kiếm lợi nhuận Bốn nguồn vốn này

có mối quan hệ hữu cơ, tác động qua lại lẫn nhau Nếu mộtnước kém phát triển không nhận được vốn ODA đủ mức cầnthiết để hiện đại hóa kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, thì khó

có thể thu hút được nguồn vốn FDI và các nguồn vốn tín dụngkhác Nhưng nếu chỉ chú trọng nguồn vốn ODA, mà khôngtìm cách thu hút nguồn vốn FDI và các nguồn vốn tín dụngkhác, thì Chính phủ sẽ không thể có thu nhập để trả nợ chovốn ODA [21,tr.11-13]

- Đặc điểm của FDI

Thứ nhất: Đây là hình thức đầu tư chủ yếu bằng vốn của

tư nhân, do các chủ đầu tư tự quyết định đầu tư, tự quyết định

Trang 22

sản xuất kinh doanh và tự chịu trách nhiệm về lỗ lãi Đầu tưtheo hình thức này không có những ràng buộc về chính trị,không để lại gánh nặng nợ nần về kinh tế cho nước tiếp nhậnvốn đầu tư, hơn nữa còn đem lại tính khả thi và hiệu quả kinh

tế cao

Thứ hai: Chủ đầu tư nước ngoài có quyền điều hành toàn

bộ hoạt động đầu tư nếu là doanh nghiệp 100% vốn nướcngoài hoặc tham gia điều hành doanh nghiệp liên doanh tuỳtheo tỷ lệ góp vốn của mình, chính tỷ lệ góp vốn pháp định sẽquy định việc phân chia quyền lợi và trách nhiệm cũng nhưphân chia lợi nhuận và rủi ro giữa các chủ đầu tư

Thứ ba: Thông qua FDI, nước chủ nhà có thể tiếp nhận

được công nghệ, kỹ thuật tiên tiến, học hỏi được kinh nghiệmquản lý mà các hình thức đầu tư khác không đáp ứng được

Thứ tư: Nguồn vốn đầu tư này ngoài nguồn vốn đầu tư

ban đầu của chủ đầu tư dưới hình thức vốn pháp định còn baogồm cả vốn vay của doanh nghiệp để triển khai hoặc mở rộngsản xuất kinh doanh, cũng như vốn đầu tư từ nguồn lợi nhuậnthu được trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp

- Các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài

Trang 23

Hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh: Là một văn bản

được kí kết giữa một chủ đầu tư nước ngoài và một chủ đầu tưnước chủ nhà để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh ởnước chủ nhà, trên cơ sở quy định về trách nhiệm và phânphối kết quả kinh doanh mà không thành lập pháp nhân mới

Hình thức doanh nghiệp liên doanh: là một tổ chức kinh

doanh quốc tế của các bên tham gia có quốc tịch khác nhau,trên cơ sở cùng góp vốn, cùng kinh doanh nhằm thực hiện cáccam kết trong hợp đồng liên doanh và điều lệ doanh nghiệpliên doanh, phù hợp với khuôn khổ luật pháp nước nhận đầutư

Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài: là một thực thể

kinh doanh quốc tế, có tư cách pháp nhân, trong đó, nhà đầu

tư nước ngoài góp 100% vốn pháp định, tự chịu trách nhiệmhoàn toàn về kết quả kinh doanh của doanh nghiệp

Hợp đồng xây dựng – kinh doanh – chuyển giao (BOT):

là hình thức đầu tư được ký giữa cơ quan nhà nước có thẩmquyền nước chủ nhà và nhà đầu tư nước ngoài để đầu tư xâydựng Sau khi công trình hoàn thành sẽ tiến hành hoạt độngkinh doanh khai thác trong một thời gian nhất định, đảm bảothu hồi được vốn và có lợi nhuận hợp lí Hết thời hạn, nhà đầu

Trang 24

tư chuyển giao không bồi hoàn công trình đó cho nhà nước sởtại.

Ngoài ra, tùy theo từng quốc gia có thể có các hình thứcđầu tư trực tiếp khác như hình thức BTO, BT, hình thức chothuê – bán thiết bị, công ty cổ phần, công ty quản lí vốn

-Các nhân tố chủ yếu tác động đến FDI

-Nhóm nhân tố về kinh tế

+ Nhân tố thị trường

Quy mô và tiềm năng thị trường là một trong nhữngnhân tố quan trọng trong việc thu hút đầu tư trực tiếp nướcngoài, đây là cơ sở quan trọng trong việc thu hút FDI của tất

cả các quốc gia và nền kinh tế Một thị trường với quy mô lớn

sẽ thu hút các nhà đầu tư, đặc biệt là các công ty đa quốc giavới động lực duy trì và mở rộng thị phần Các công ty đa quốcgia sẽ thiết lập các nhà máy sản xuất ở các nước dựa theochiến lược thay thế nhập khẩu của các nước này Các nướcdân số đông, tốc độ tăng trưởng GDP ổn định, nhanh là địađiểm đầy hứa hẹn với các nhà đầu tư Bên cạnh đó, nhiều nhàđầu tư với chiến lược “đi tắt đón đầu” cũng sẽ mạnh dạn đầu

Trang 25

tư vào nơi có nhiều kì vọng tăng trưởng trong tương lai và có

cơ hội mở rộng ra các thị trường lân cận

+ Nhân tố lợi nhuận

Lợi nhuận chính là động cơ và mục tiêu cuối cùng củanhà đầu tư Trong bối cảnh hội nhập, toàn cầu hóa, việc mởrộng hoạt động sản xuất kinh doanh, thành lập doanh nghiệp,chi nhánh ở nước ngoài của các công ty là phương tiện hữuhiệu để tối đa hóa lợi nhuận Đầu tư ra nước ngoài giúp cáccông ty mở rộng thị phần, tăng doanh thu, chia rủi ro trongkinh doanh và tránh được các rào cản thương mại Tuy vậy,trong ngắn hạn, không phải lúc nào lợi nhuận cũng được đặtlên hàng đầu để cân nhắc Nhìn chung, một quốc gia với cáctiềm năng hứa hẹn mang lại lợi nhuận cao hơn cho nhà đầu tư

là yếu tố quan trọng cơ bản để thu hút FDI

là cơ hội để thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài trong các thập

Trang 26

kỉ qua Khi giá nhân công tăng lên, đầu tư nước ngoài cókhuynh hướng giảm rõ rệt.

Hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài cho phép cáccông ty tránh được hoặc giảm thiểu các chi phí vận chuyển và

do vậy có thể nâng cao năng lực cạnh tranh, kiểm soát đượctrực tiếp các nguồn cung cấp nguyên vật liệu với giá rẻ; nhậnđược các ưu đãi về đầu tư và thuế, chi phí sử dụng đất…Ngoài ra các công ty có thể tránh được ảnh hưởng của hàngrào thuế quan và phi thuế quan, cũng như giảm thiểu đáng kểchi phí xuất nhập khẩu

- Nhóm nhân tố về tài nguyên

+ Tài nguyên thiên nhiên

Sự dồi dào về nguyên vật liệu với giá rẻ là nhân tố tíchcực thúc đẩy thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài Nhu cầu sảnxuất tăng cao đòi hỏi nguyên liệu đầu vào ngày càng nhiều,nhưng nguyên vật liệu lại có hạn; do đó, các nhà đầu tưthường nhắm đến các nước có nguồn tài nguyên dồi dào, đặcbiệt là dầu mỏ, khí đốt, cao su, gỗ,…Tại các quốc gia ĐôngNam Á, khai thác tài nguyên thiên nhiên là mục tiêu quantrọng hàng đầu của nhiều công ty nước ngoài trong các thập kỉqua

Trang 27

+ Vị trí địa lí

Với lợi thế về vị trí địa lí, sẽ giúp tiết kiệm đáng kể chiphí vận chuyển, dễ dàng mở rộng ra các thị trường lân cận,khai thác có hiệu quả nguồn nhân lực và thúc đẩy các doanhnghiệp tập trung hóa

+ Nguồn nhân lực

Khi ra quyết định đầu tư, nguồn nhân lực là vấn đề nhàđầu tư nước ngoài rất quan tâm Các nhà đầu tư thường chú ýđến các nước lực lượng lao động trẻ, dồi dào, có thái độ làmviệc tốt, tố chất cần cù, sáng tạo Thông thường, nguồn laođộng phổ thông luôn đáp ứng và thỏa mãn yêu cầu của cáccông ty Tuy nhiên, trong một số lĩnh vực đòi hỏi tay nghề,kiến thức chuyên môn cao, các nhà tuyển dụng cũng rất cânnhắc về chất lượng, trình độ lao động của địa phương trướckhi ra quyết định đầu tư

-Nhóm nhân tố về cơ sở hạ tầng

+ Cơ sở hạ tầng kĩ thuật

Chất lượng của cơ sở hạ tầng kĩ thuật và trình độ côngnghiệp hóa có ảnh hưởng rất quan trọng đến dòng vốn đầu tưnước ngoài vào một nước hoặc một địa phương Hệ thống cơ

sở hạ tầng kỹ thuật hoàn chỉnh, bao gồm cả hệ thống đường

Trang 28

bộ, đường sắt, đường hàng không, mạng lưới cung cấp điện,nước, bưu chính viễn thông và các dịch vụ tiện ích khác…sẽhấp dẫn nhà đầu tư Để tăng cường thu hút đầu tư, nhiều nước

đã xây dựng các khu chế xuất với cơ sở hạ tầng kĩ thuật hiệnđại bên trong

Bên cạnh đó, còn phải nhắc đến các dịch vụ hỗ trợ khácnhư hệ thống ngân hàng, các công ty kiểm toán, tư vấn,…Thiếu sự hỗ trợ cần thiết của các hoạt động này, môi trườngđầu tư sẽ bị ảnh hưởng, kém hấp dẫn Ngoài ra, sự có mặt củacác ngành công nghiệp hỗ trợ, sự tồn tại của các đối tác tincậy để các công ty nước ngoài có thể liên doanh liên kết cũng

là những yêu cầu rất quan trọng, cần được xem xét đến

Trang 29

nhờ vào tính kỉ luật của lực lượng lao động cũng như sự ổnđịnh về chính trị và kinh tế của nhiều quốc gia trong khu vựcnày.

-Nhóm nhân tố cơ chế chính sách

Bên cạnh các yếu tố về kinh tế, tài nguyên và cơ sở hạtầng thì cơ chế chính sách cũng chi phối không nhỏ đến việcthu hút dòng vốn FDI Các nhà đầu tư sẽ mạnh dạn đầu tư vàothị trường của một nước có nền chính trị ổn định, hệ thốngchính sách cởi mở, thông thoáng Các chính sách khuyếnkhích, ưu đãi đầu tư góp phần quan trọng trong việc nâng caotính hấp dẫn của môi trường đầu tư

+ Về chủ trương, quy định trong thu hút FDI

Việc mở cửa, kêu gọi thu hút FDI từ tất cả các quốc giatrên thế giới đầu tư vào với nhiều hình thức đa dạng (100%vốn nước ngoài, liên doanh, BCC, BTO, mua lại và sát nhập,

…) là nền tảng căn bản tạo điều kiện cho các đối tác nướcngoài đầu tư vào trong nước Bên cạnh đó, mở rộng ngànhnghề, lĩnh vực được phép đầu tư cho các dự án FDI cùng quyđịnh về quy mô dự án cũng ảnh hưởng trực tiếp đến việc thuhút FDI, với nhiều ngành nghề được phép kinh doanh và quy

mô không hạn chế sẽ giúp nhà đầu tư có nhiều cơ hội hơn

Trang 30

+ Về thủ tục hành chính

Thủ tục hành chính rườm rà, chồng chéo là một rào cảnlớn đối với việc thu hút FDI Tăng cường rà soát, cải cách,đơn giản hóa thủ tục hành chính; thực hiện cơ chế “một cửa”,giảm các đầu mối trung gian trong bộ máy quản lý sẽ giúpnhà đầu tư thuận tiện trong việc xin cấp phép và hoạt độngsản xuất kinh doanh

Thêm vào đó, việc ứng dụng công nghệ thông tin hiệnđại trong quản lý thủ tục hành chính cũng rất quan trọng, thựchiện công khai quy trình đăng ký trên mạng và đăng ký trựctiếp qua mạng Internet có thể giúp tiết kiệm thời gian, chi phí

và đáp ứng được nhu cầu tìm hiểu thông tin của nhà đầu tư

+ Chính sách quy hoạch đất đai, giải phóng mặt bằngQuy hoạch cụ thể rõ ràng về đất đai, vùng xây dựng cáckhu công nghiệp, khu chế xuất là cơ sở để thu hút nhà đầu tư

bỏ vốn vào hoạt động sản xuất kinh doanh Các khu côngnghiệp tập trung có cơ sở hạ tầng tốt, được xây dựng ở vị tríthuận lợi cho vận chuyển nguyên liệu và hàng hóa sẽ hấp dẫnđược các nhà đầu tư

Ngoài ra, công tác giải phóng mặt bằng cũng gây trởngại không nhỏ với việc thực hiện dự án Nếu chính quyền

Trang 31

Trung ương và địa phương chủ động thực hiện giải phóng mặtbằng và bàn giao cho nhà đầu tư đúng tiến độ cùng với việcmiễn giảm tiền thuê đất sẽ tạo được niềm tin và thúc đẩy cácnhà đầu tư rót vốn thực hiện dự án.

+ Chính sách đào tạo nguồn nhân lực

Nguồn lao động có chất lượng là nhân tố quan trọngtrong thu hút FDI Với chính sách phổ cập giáo dục phổthông, đẩy mạnh nâng cao dân trí, giáo dục đào tạo chuyênnghiệp, chuẩn bị cho lực lượng lao động có chuyên môn trongtương lai Tăng cường hỗ trợ, phối hợp liên kết với doanhnghiệp nước ngoài trong đào tạo nghề, chủ động trong cungứng nguồn nhân lực cũng là việc làm cần thiết để thu hút nhàđầu tư nước ngoài

+ Chính sách tiền tệ

Trang 32

Hỗ trợ tài chính với dự án FDI; cho vay ưu đãi, cho vayluân chuyển ở các dự án khuyến khích đầu tư; bảo lãnh vayvốn trong những trường hợp cấp bách và cần thiết đối với đầu

tư tạo điều kiện thuận lợi các đối tác nước ngoài trong việcthu xếp nguồn vốn đầu tư…

-Nhóm nhân tố về chính trị và văn hóa, xã hội

và đặc biệt là những chính sách kinh tế đối ngoại của chínhphủ tiền nhiệm Còn nếu như chính quyền ổn định không cóxáo trộn nhưng chính sách lại hay thay đổi thì đó vẫn là mộtmôi trường bất ổn định và có nhiều rủi ro

+ Môi trường văn hóa, xã hội

Trang 33

Văn hóa có thể góp phần nâng cao hay hạn chế sức cạnhtranh của doanh nghiệp Hệ thống giá trị, chuẩn mực của mộtnền văn hóa có ảnh hưởng đến chi phí kinh doanh Nhìn vàođặc điểm của một nền văn hóa có thể dự đoán quốc gia nào sẽsản sinh ra nhiều đối thủ cạnh tranh tiềm năng nhất Khi mọiđiều kiện như nhau, đặc điểm văn hóa còn là một tiêu chí giúpdoanh nghiệp lựa chọn địa điểm đặt cơ sở sản xuất.

- Quản lý nhà nước với đầu tư trực tiếp nước ngoài

- Khái niệm quản lý nhà nước với đầu tư trực tiếp nước ngoài

Quản lý là một chức năng xã hội bắt nguồn từ tính xã hộicủa lao động Sự phát triển không ngừng sản xuất xã hội vềquy mô trình độ khoa học và công nghệ, về các quan hệ phâncông và hợp tác trên phạm vi quốc tế, sự phát triển rất cao củanền kinh tế thị trường được quốc tế hoá nhanh chóng đã thúcđẩy mạnh mẽ xu hướng nâng cao vai trò quản lý với tư cách

là một chức năng xã hội đặc biệt

Từ khi xuất hiện Nhà nước thì bộ phận quan hệ quản lýnhanh chóng nhất - tức là phần quản lý xã hội quan trọng nhất

- do Nhà nước đảm nhận Tất nhiên, chúng ta cũng cần thấy

Trang 34

rằng, quản lý xã hội nói chung và quản lý kinh tế nói riêngkhông chỉ do nhà nước với tư cách là tổ chức chính trị quyềnlực đặc biệt thực hiện mà còn do các bộ phận cấu thành kháccủa hệ thống chính trị thực hiện như giai cấp, chính đảng, cơquan xã hội và ở dưới góc độ khác là hộ gia đình, tổ chứchay doanh nghiệp tư nhân.

Quản lý Nhà nước ở đây không phải là quản lý các tổchức chính trị gọi là Nhà nước, mà là sự quản lý có tính chấtNhà nước, do Nhà nước thực hiện thông qua bộ máy các cơquan Nhà nước, trên cơ sở quyền lực Nhà nước nhằm thựchiện các chức năng và nhiệm vụ của mình

Nghiên cứu về quản lý nhà nước đối với các hoạt độngđầu tư trực tiếp, luận văn này chỉ giới hạn ở khía cạnh quản lýNhà nước theo nghĩa hẹp đó là hoạt động chấp hành và điềuhành do hệ thống cơ quan hành chính Nhà nước thực hiện

Dưới trạng thái tĩnh, cơ cấu của quản lý Nhà nước gồmcác yếu tố: Chủ thể, khách thể, và quan hệ giữa chúng Trongquá trình quản lý Nhà nước về đầu tư trực tiếp nước ngoàigiữa chủ thể quản lý và khách thể quản lý có mối liên hệ qualại, gắn bó hữu cơ Hoàn toàn sai lầm khi cho rằng quan hệ

Trang 35

quản lý chỉ đơn thuần là tác động một chiều từ chủ thể quản lýlên khách thể quản lý Quản lý Nhà nước về đầu tư trực tiếpnước ngoài là sự tác đông của chủ thể quản lý (các cơ quanquản lý Nhà nước) vào khách thể quản lý (các hoạt động đầu

tư trực tiếp) nhằm đạt được những mục tiêp đã định

Từ những phân tích trên đây có thể đưa ra khái niệm:Quản lý Nhà nước về đầu tư trực tiếp nước ngoài là hoạt độngchấp hành và điều hành của cơ quan hành chính Nhà nướcViệt Nam được tiến hành trên cơ sở pháp luật và để thi hànhpháp luật về đầu tư trực tiếp nước ngoài nhằm khuyến khích

và đảm bảo cho các nhà đầu tư nước ngoài tiến hành các hoạtđộng đầu tư tại Việt Nam trên cơ sở tuân thủ pháp luật và haibên cùng có lợi

Mặt chấp hành của hoạt động này thể hiện ở sự thực hiệncác quy định của pháp luật về đầu tư trực tiếp Mặt điều hành

là sự chỉ đạo trực tiếp hoạt động của đối tượng bị quản lý nhà đầu tư nước ngoài, các bên hợp doanh và doanh nghiệp cóvốn đầu tư trực tiếp nước ngoài Một đặc trưng của hoạt độngđiều hành là ra các văn bản dưới luật mang tính chất pháp lý -quyền lực được đảm bảo bởi khả năng áp dụng cưỡng chế.Hoạt động chấp hành thường bao hàm hoạt động điều hành

Trang 36

-bởi trong đa số các trường hợp, nếu thiếu các hoạt động điềuhành thì không thể chấp hành pháp luật một cách nghiêmchỉnh.

Quản lý Nhà nước về đầu tư trực tiếp nước ngoài cónhững đặc trưng chủ yếu của hoạt động quản lý Nhà nước đólà: hoạt động mang tính tổ chức là chủ yếu Hoạt động bảo vệpháp luật - tài phán trong quản lý Nhà nước là cần thiết vàquan trọng nhưng chỉ chiếm phần nhỏ

Là hoạt động mang tính chất chủ quan của con ngườinhưng quản lý Nhà nước về đầu tư trực tiếp nước ngoài cònmang tính tổ chức và sáng tạo cao Đặc trưng này xuất phát từtrực tiếp từ bản chất mặt điều hành của quản lý Nhà nước.Tính chủ động sáng tạo thể hiện ở hoạt động xây dựng phápluật theo thẩm quyền, đặc biệt có thể cả những văn bản chứađựng các quy phạm điều chỉnh quan hệ mới phát sinh chưa ổnđịnh và chưa được luật điều chỉnh Tính chủ động sáng tạođược quy định bởi chính sách sự phức tạp, phong phú và đadạng của các hoạt động đầu tư trực tiếp Đầu tư trực tiếp luônbiến động và phát triển không ngừng, đòi hỏi phải có sự phốihợp kịp thời giữa các cơ quan chức năng trong việc vận dụngpháp luật một cách sáng tạo để giải quyết kịp thời các vấn đề

Ngày đăng: 15/04/2019, 21:25

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w