1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn thạc sĩ vai trò của đầu tư nước ngoài đối với thị trường chứng khoán việt nam

107 503 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 107
Dung lượng 817,79 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hiện nay, thời đại của chúng ta là thời đại mang xu hướng toàn cầu hóa và khu vực hóa. Việt Nam gia nhập và là thành viên của tổ chức thương mại thế giới WTO. Kinh tế Việt Nam đang trong quá trình hội nhập dần với kinh tế thế giới và thị trường chứng khoán cũng không nằm ngoài quá trình đó. Để thực hiện mục tiêu đến năm 2020 phấn đấu đưa Việt Nam trở thành một nước công nghiệp phát triển theo Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần X, mỗi năm Việt Nam cần khoảng 15 tỷ USD vốn đầu tư nhằm phát triển cơ sở hạ tầng trong giai đoạn 20102020. Vì vậy, Việt Nam cần phải có chính sách huy động tối đa mọi nguồn lực tài chính trong và ngoài nước để chuyển các nguồn vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế thành nguồn vốn đầu tư và TTCK giữ vai trò qua trọng đối với việc huy động vốn trung và dài hạn cho nền kinh tế. Sau hơn 10 năm hoạt động và phát triển, TTCK Việt Nam đã có những giai đoạn tăng trưởng nhanh chóng (1.170 điểm) và cùng với đó là những giai đoạn khó khăn (235 điểm). Có nhiều yếu tố tác động đến hoạt động của TTCK như tình hình kinh tế xã hội, quy luật cung cầu, trình độ và tâm lý nhà đầu tư, các quy định chính sách liên quan, tác động của các thị trường khác như thị trường bất độn sản, thị trường vàng, thị trường ngoại tệ… trong đó tác động của dòng vốn đầu tư nước ngoài đóng vai trò quan trọng, là một tác động chủ yếu, dẫn dắt thị trường chứng khoán Việt Nam trong suốt những năm gần đây. Tính đến thời điểm quý 2 năm 2013, hiện ở Việt Nam đang có 31 văn phòng đại diện của tổ chức kinh doanh chứng khoán nước ngoài, tổng số 35 CTCK có vốn góp của đối tác nước ngoài đang hoạt động tại Việt Nam trong đó có 10 công ty mà nhà ĐTNN sở hữu đến 49% vốn góp. Đối với công ty quản lý quỹ, hiện có 9 công ty có vốn góp của nước ngoài, trong đó có 2 công ty quản lý quỹ có mức vốn góp của nhà ĐTNN là 100%. Có thể thấy, nhà đầu tư nước ngoài đã và đang tham gia nghiêm túc vào thị trường chứng khoán Việt Nam. Mặc dù TTCK Việt Nam đã hoạt động được hơn 10 năm, nhưng cho đến nay, sự chi phối và những tác động của dòng vốn đầu tư nước ngoài trên TTCK vẫn còn là một ẩn số. Thành tựu quan trọng mà TTCK Việt Nam đạt được kể từ khi tham gia WTO chính là sự gia tăng đáng kể của dòng vốn gián tiếp vào thị trường trong nước. Thực tế cho thấy, sự tham gia của nhà đầu tư nước, các quỹ đầu tư chứng khoán, các tập đoàn tài chính lớn sẽ góp phần chuyên nghiệp hóa TTCK Việt Nam, từ đó tăng cường kinh nghiệm và nâng cao tiêu chuẩn về quản trị công ty, khả năng phân tích, đầu tư cho các doanh nghiệp trong nước. Cùng với đó, quy mô của TTCK cũng tăng lên đáng kể. TTCK tiếp tục phát triển trở thành kênh huy động vốn của doanh nghiệp, cũng là kênh đầu tư quan trọng của nền kinh tế. Bên cạnh đó, việc đơn giản hóa thủ tục đầu tư cho nhà ĐTNN theo Thông tư số 2132012TTBTC được Bộ Tài chính ban hành ngày 6122012 sẽ tạo điều kiện thuận lợi hơn cho nhà ĐTNN khi tham gia TTCK, đồng thời góp phần tăng tính cạnh tranh và minh bạch cho TTCK Việt Nam. Sự hội nhập của TTCK là tất yếu, và vai trò của nhà đầu tư nước ngoài sẽ ngày càng quan trọng, tuy nhiên, việc tham gia của nhà ĐTNN sẽ mang lại nhiều cơ hội nhưng cũng không ít thách thức. Có thể nói, việc thống kê, phân tích nghiên cứu hoạt động của dòng vốn đầu tư nước ngoài trên TTCK Việt Nam là sự cần thiết để hiểu hơn về tầm ảnh hưởng của hoạt động đầu tư nước ngoài đến TTCK, từ đó có những biện pháp thích hợp nhằm khai thác, phát huy các tác động tích cực đồng thời phòng tránh và giảm thiểu các tác động tiêu cực. Chính vì vậy, việc nhìn nhận ra các cơ hội và thách thức sẽ là điều rất quan trọng để xác định các giải pháp cho sự hội nhập của TTCK Việt Nam, mang lại hiệu quả cao nhất cho tất cả các nhà đầu tư, cho TTCK Việt Nam và cho mỗi ngành, mỗi lĩnh vực của nền kinh tế. Vậy thì hoạt động đầu tư của dòng vốn đầu tư nước ngoài trên thị trường chứng khoán Việt Nam thời gian qua đã diễn ra như thế nào? Hoạt động đầu tư đó đã ảnh hưởng đến thị trường chứng khoán Việt Nam ra sao? Liệu có thể thu hút thêm vốn đầu tư nước ngoài vào thị trường chứng khoán Việt Nam? Việt Nam cần phải làm gì để tận dụng nguồn vốn đầu tư nước ngoài để phát triển thị trường chứng khoán trong xu thế hội nhập kinh tế? Để tìm lời giải đáp cho những câu hỏi này, việc nghiên cứu một cách toàn diện và sâu sắc hoạt động đầu tư của nhà đầu tư nước ngoài trên thị trường chứng khoán Việt Nam là vô cùng cần thiết và có ý nghĩa về lý luận và thực tiễn. Xuất phát từ lý do trên tôi chọn đề tài: Vai trò của đầu tư nước ngoài đối với thị trường chứng khoán Việt Nam

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Hiện nay, thời đại của chúng ta là thời đại mang xu hướng toàn cầu hóa vàkhu vực hóa Việt Nam gia nhập và là thành viên của tổ chức thương mại thế giớiWTO Kinh tế Việt Nam đang trong quá trình hội nhập dần với kinh tế thế giới

và thị trường chứng khoán cũng không nằm ngoài quá trình đó

Để thực hiện mục tiêu đến năm 2020 phấn đấu đưa Việt Nam trở thành mộtnước công nghiệp phát triển theo Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần X, mỗinăm Việt Nam cần khoảng 15 tỷ USD vốn đầu tư nhằm phát triển cơ sở hạ tầngtrong giai đoạn 2010-2020 Vì vậy, Việt Nam cần phải có chính sách huy độngtối đa mọi nguồn lực tài chính trong và ngoài nước để chuyển các nguồn vốnnhàn rỗi trong nền kinh tế thành nguồn vốn đầu tư và TTCK giữ vai trò qua trọngđối với việc huy động vốn trung và dài hạn cho nền kinh tế

Sau hơn 10 năm hoạt động và phát triển, TTCK Việt Nam đã có những giaiđoạn tăng trưởng nhanh chóng (1.170 điểm) và cùng với đó là những giai đoạnkhó khăn (235 điểm) Có nhiều yếu tố tác động đến hoạt động của TTCK nhưtình hình kinh tế xã hội, quy luật cung cầu, trình độ và tâm lý nhà đầu tư, các quyđịnh chính sách liên quan, tác động của các thị trường khác như thị trường bấtđộn sản, thị trường vàng, thị trường ngoại tệ… trong đó tác động của dòng vốnđầu tư nước ngoài đóng vai trò quan trọng, là một tác động chủ yếu, dẫn dắt thịtrường chứng khoán Việt Nam trong suốt những năm gần đây

Tính đến thời điểm quý 2 năm 2013, hiện ở Việt Nam đang có 31 văn phòngđại diện của tổ chức kinh doanh chứng khoán nước ngoài, tổng số 35 CTCK cóvốn góp của đối tác nước ngoài đang hoạt động tại Việt Nam trong đó có 10 công

ty mà nhà ĐTNN sở hữu đến 49% vốn góp Đối với công ty quản lý quỹ, hiện có

9 công ty có vốn góp của nước ngoài, trong đó có 2 công ty quản lý quỹ có mứcvốn góp của nhà ĐTNN là 100% Có thể thấy, nhà đầu tư nước ngoài đã và đang

Trang 2

Nam đã hoạt động được hơn 10 năm, nhưng cho đến nay, sự chi phối và nhữngtác động của dòng vốn đầu tư nước ngoài trên TTCK vẫn còn là một ẩn số Thành tựu quan trọng mà TTCK Việt Nam đạt được kể từ khi tham gia WTOchính là sự gia tăng đáng kể của dòng vốn gián tiếp vào thị trường trong nước.Thực tế cho thấy, sự tham gia của nhà đầu tư nước, các quỹ đầu tư chứng khoán,các tập đoàn tài chính lớn sẽ góp phần chuyên nghiệp hóa TTCK Việt Nam, từ đótăng cường kinh nghiệm và nâng cao tiêu chuẩn về quản trị công ty, khả năngphân tích, đầu tư cho các doanh nghiệp trong nước Cùng với đó, quy mô củaTTCK cũng tăng lên đáng kể TTCK tiếp tục phát triển trở thành kênh huy độngvốn của doanh nghiệp, cũng là kênh đầu tư quan trọng của nền kinh tế Bên cạnh

đó, việc đơn giản hóa thủ tục đầu tư cho nhà ĐTNN theo Thông tư số 213/2012/TT-BTC được Bộ Tài chính ban hành ngày 6/12/2012 sẽ tạo điều kiện thuận lợihơn cho nhà ĐTNN khi tham gia TTCK, đồng thời góp phần tăng tính cạnh tranh

và minh bạch cho TTCK Việt Nam

Sự hội nhập của TTCK là tất yếu, và vai trò của nhà đầu tư nước ngoài sẽngày càng quan trọng, tuy nhiên, việc tham gia của nhà ĐTNN sẽ mang lại nhiều

cơ hội nhưng cũng không ít thách thức Có thể nói, việc thống kê, phân tíchnghiên cứu hoạt động của dòng vốn đầu tư nước ngoài trên TTCK Việt Nam là

sự cần thiết để hiểu hơn về tầm ảnh hưởng của hoạt động đầu tư nước ngoài đếnTTCK, từ đó có những biện pháp thích hợp nhằm khai thác, phát huy các tácđộng tích cực đồng thời phòng tránh và giảm thiểu các tác động tiêu cực Chính

vì vậy, việc nhìn nhận ra các cơ hội và thách thức sẽ là điều rất quan trọng để xácđịnh các giải pháp cho sự hội nhập của TTCK Việt Nam, mang lại hiệu quả caonhất cho tất cả các nhà đầu tư, cho TTCK Việt Nam và cho mỗi ngành, mỗi lĩnhvực của nền kinh tế Vậy thì hoạt động đầu tư của dòng vốn đầu tư nước ngoàitrên thị trường chứng khoán Việt Nam thời gian qua đã diễn ra như thế nào? Hoạtđộng đầu tư đó đã ảnh hưởng đến thị trường chứng khoán Việt Nam ra sao? Liệu

có thể thu hút thêm vốn đầu tư nước ngoài vào thị trường chứng khoán ViệtNam? Việt Nam cần phải làm gì để tận dụng nguồn vốn đầu tư nước ngoài để

Trang 3

phát triển thị trường chứng khoán trong xu thế hội nhập kinh tế? Để tìm lời giảiđáp cho những câu hỏi này, việc nghiên cứu một cách toàn diện và sâu sắc hoạtđộng đầu tư của nhà đầu tư nước ngoài trên thị trường chứng khoán Việt Nam là

vô cùng cần thiết và có ý nghĩa về lý luận và thực tiễn

Xuất phát từ lý do trên tôi chọn đề tài: Vai trò của đầu tư nước ngoài đối với thị trường chứng khoán Việt Nam

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu

2.1Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài

Trên thế giới những kết quả thực nghiệm về ảnh hưởng hoạt động củadòng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài đến TTCK một số nước cũng cho thấy việcnghiên cứu đã và đang được tiến hành Bài nghiên cứu mối quan hệ giữa giá trịđầu tư ròng của nhà đầu tư nước ngoài có tổ chức và chỉ số chứng khoán Nifty(Ấn Độ) trong giai đoạn từ tháng 1/1999 đến tháng 2/2009 của các đồng tác giảMohd.Aamir Khan, Rohit, Siddharth Goyal, Vinit Ranjan và Gaurav Agrawal.Các tác giả đã phân chia thời gian nghiên cứu thành 4 giai đoạn nhỏ theo thứ tự

sự kiện kinh tế thế giới đã xảy ra là vụ khủng bố tòa tháp đôi WTC tại Mỹ ngày11/9/2001, dịch SARS toàn cầu tháng 5/2003 và khủng hoảng tài chính thế giớibắt đầu từ tháng 1/2008 Với phương pháp phân tích chuỗi dữ liệu, xem xét phânphối chuẩn của các chuỗi dữ liệu, kiểm định nhân quả Granger và Phương phápphân tích phương sai, các tác giả đưa ra được kết luận: Giai đoạn 3 là giai đoạntăng của TTCK Ấn Độ tuy nhiên ảnh hưởng của chỉ số Nifty lên các tổ chức đầu

tư nước ngoài lại mạnh hơn trong giai đoạn 4, nguyên nhân là do các nhà tạo lậpthị trường khác đã gia tăng vai trò của họ nhằm làm giảm mức ảnh hưởng của các

tổ chức nước ngoài lên TTCK Ấn Độ

Bài nghiên cứu mối quan hệ giữa tỷ lệ sở hữu cổ phiếu của các tổ chứcnước ngoài (FIO) với tính thanh khoản TTCK Indonesia của hai tác giả S.GhonRhee và Jianxin Wang đã sử dụng dữ liệu về tỷ lệ sở hữu từng loại cổ phiếu của

Trang 4

lường qua ba yếu tố là chênh lệch giá đặt Mua/bán, độ sâu của thị trường và mức

độ nhạy cảm của giá chứng khoán Qua nghiên cứu này các tác giả đã cung cấpbằng chứng trực tiếp về mối quan hệ giữa tính thanh khoản của TTCK và dòngvốn ĐTNN đó là từ khi TTCK Indonesia mở cửu thu hút ĐTNN thì tính thanhkhoản thị trường tăng hàng năm trong suốt thời gian nghiên cứu

Tại Trung Quốc, tác giả Chau Kit Yi đã thực hiện việc phân tích mức độảnh hưởng này trên TTCK Thượng Hải, được xem là một thị trường năng độngnhất ở Trung Quốc

Thời gian nghiên cứu bao gồm hai giai đoạn từ tháng 1/2001 đến tháng12/2002 và từ tháng 1/2004 đến tháng 12/2005, tương ứng với hai thời kỳ trước

và sau khi ban hành Hệ thống các NDDT tổ chức nước ngoài đủ tiêu chuẩn(QFII), có sự gián đoạn giữa hai giai đoạn nghiên cứu là do QFII được hình thànhvào tháng 12/2002 nhưng cho đến cuối năm 2003 phần lớn các tổ chức nướcngoài được cấp phép vẫn không thực hiện việc đầu tư vào TTCK

Dữ liệu nghiên cứu bao gồm: Thu thập hàng tuần của 68 cổ phiếu loại A(chủ yếu là cổ phiếu tập trung trong các ngành thép, nhập khẩu, năng lượng, tàichính, nguyên liệu thô, vận tải, thông tin và kỹ thuật theo sự nghiên cứu của SSE)giao dịch trên Sở giao dịch Chứng khoán Thượng Hải (SSE), giá cổ phiếu, chỉ sốchứng khoán Thượng Hải được xem là đại diện của TTCK, lãi tiền gửi 3 thángcủa các tổ chức tín dụng được sử dụng như lãi suất phi rủi ro, khối lượng giaodịch hàng tuần, số lượng cổ phiếu đang lưu hành, tốc độ luân chuyển và dữ liệuEPS hàng năm của 68 cổ phiếu loại A trên Kết quả, tác giả đã cho thấy việc tự

do hóa thị trường tài chính thu hút các tổ chức đầu tư nước ngoài (FII) đem lạikhông chỉ tác động tích cực mà cũng có tác động tiêu cực, đó là làm giảm tính ổnđịnh của thị trường chứng khoán Theo quan điểm của tác giả, để ổn định TTCK,điều cần thiết là nâng cao kiến thức NĐT cá nhân, cung cấp cho họ một nền tảngvững chắc trong việc thực hiện quyết định đầu tư mà không bị chi phối bởi cácFII

Trang 5

Qua các công trình nghiên cứu về thị trường chứng khoán Việt Nam vàdòng vốn đầu tư nước ngoài cũng như các kết quả thực nghiệm tại 3 TTCK Ấn

Độ, Indonesia và Thượng Hải, cần thực hiện nghiên cứu định lượng về mức độảnh hưởng của hoạt động đầu tư nước ngoài vào TTCK Việt Nam, xác định mức

độ ảnh hưởng ít hay nhiều trong từng giai đoạn

2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước

Về khía cạnh phân tích vai trò của hoạt động đầu tư nước ngoài trên thịtrường chứng khoán Việt Nam, hầu hết các đề tài nghiên cứu trong nước đều tiếpcận trên yếu tố vĩ mô, nghiên cứu chung về thị trường chứng khoán mà trong đóvốn đầu tư nước ngoài là một bộ phận, cũng có những công trình, bài báo nghiêncứu về từng mảng của thị trường chứng khoán liên quan đến các hoạt động đầu

tư của nhà đầu tư nước ngoài

Đối với những công trình nghiên cứu chung về thị trường chứng khoán,

thị trường tài chính, điển hình có các công trình: “Toàn cầu hóa thị trường tiền

tệ, tài chính thế giới”, năm 2000, Luận án tiến sĩ kinh tế của Nguyễn Văn

Phương, Đại học Kinh tế quốc dân; “Phát triển và hoàn thiện thị trường vốn và

thị trường tiền tệ Việt Nam”, năm 2003, “Phát triển thị trường tài chính Việt Nam trong xu thế hội nhập thị trường tài chính quốc tế”, năm 2005, Luận án tiến

sĩ của Đặng Thị Nhàn Những đề tài nghiên cứu trên đã cho thấy được những nétkhái quát cơ bản về thị trường này với vị trí là bộ phận của thị trường tài chính,trên cơ sở đó đã cung cấp những thông tin tham khảo quan trọng, định hướng gợi

mở nhiều ý tưởng trong quá trình nghiên cứu về thị trường Tuy nhiên do mụctiêu nghiên cứu về thị trường tiền tệ và thị trường tài chính, do lĩnh vực nghiêncứu rộng và phức tạp nên các công trình này phần lớn tập trung vào mảng thịtrường tín dụng, thị trường ngoại tệ hoặc tổng quan thị trường chứng khoán màchưa dành nhiều sự quan tâm về dòng vốn đầu tư nước ngoài trên TTCK

Các công trình liên quan đến từng mảng, từng bộ phận của thị trường

Trang 6

này hoặc những xu hướng ngắn hạn của NĐTNN, trên cơ sở đó đã cung cấpnhững thông tin tham khảo quan trọng, định hướng gợi mở nhiều ý tưởng trongquá trình nghiên cứu về dòng vốn ĐTNN trên TTCK Các bài báo, nghiên cứucũng chủ yếu phục vụ cho việc nâng cao năng lực quản lý, điều hành của Ngânhàng Nhà nước, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, các Sở giao dịch Chứng khoántrong việc kiểm soát và thu hút dòng vốn ĐTNN trên TTCK Các công trình liên

quan như: Báo cáo dự án điều tra, đánh giá các điều kiện tổ chức và vận hành

thị trường chứng khoán ở Việt Nam (giai đoạn II), Hà Nội, 2002, Ủy ban Chứng

khoán Nhà nước ; Kênh huy động vốn trên thị trường chứng khoán Việt Nam

được gì?, 2006,Trần Thị Thùy Linh, Tạp chí phát triển kinh tế 185 Trong bài

báo : Tác động của các cam kết WTO tới thị trường chứng khoán Việt Nam,

2010, Ths Nguyễn Ngọc Cảnh, Tạp chí Chứng khoán Việt Nam 140, tác giả đãnêu lên những chuyển biến tích cực đối với TTCK trong bối cảnh gia nhập WTO.Trước ngưỡng cửa của một giai đoạn mới, trong bối cảnh hội nhập quốc tế ở mức

độ cao, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước dưới sự lãnh đạo của Bộ Tài chính chịutrách nhiệm đảm bảo đạt được mức độ phát triển và tự do hóa thị trường màkhông phải đánh đổi bằng sự an toàn và niềm tin của nhà đầu tư và các thànhviên thị trường

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu mối quan hệ tích cực cũng như tiêu cực giữa việc tham giacủa nhà ĐTNN vào thị trường chứng khoán Việt Nam đối với thị trường tàichính, cung cầu chứng khoán, cộng đồng các nhà đầu tư trong nước, nhất là việcnâng cao tính chuyên nghiệp – bền vững cho thị trường chứng khoán

Trang 7

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích nêu trên, đề tài có nhiệm vụ :

- Nghiên cứu những lý luận cơ bản về chứng khoán và thị trường chứngkhoán Các khái niệm về đầu tư nước ngoài và đầu tư nước ngoài vào thịtrường chứng khoán Các đặc trưng của dòng vốn nước ngoài và nhà đầu tưnước ngoài khi đầu tư vào thị trường chứng khoán

- Nghiên cứu ảnh hưởng của hoạt động đầu tư nước ngoài đến TTCK ViệtNam qua 3 giai đoạn: Giai đoạn 2005-2006, 2007-2008 và 2008-2012.Thông qua các kết quả phân tích cho thấy mức độ ảnh hưởng của dòng vốnđầu tư nước ngoài trên thị trường chứng khoán Việt Nam thay đổi theo từnggiai đoạn

- Đề xuất các giải pháp nhằm khai thác, phát huy các tác động tích cực đồngthời phòng tránh và giảm thiểu các tác động tiêu cực của hoạt động đầu tưnước ngoài trên TTCK Việt Nam, giúp cho TTCK hoạt động thực sự chủ yếudựa trên quy luật cung cầu của thị trường

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Thị trường chứng khoán Việt Nam trong đó bao gồm hoạt động đầu tư củadòng vốn đầu tư nước ngoài và của các tổ chức, cá nhân Việt Nam tham gia vàoTTCK Việt Nam là đối tượng mà đề tài tập trung nghiên cứu Các hoạt động đầu

tư của dòng vốn đầu tư nước ngoài gián tiếp trên thị trường chứng khoán vô cùng

đa dạng và dàn trải trên nhiều loại hình như thông qua việc mua cổ phần, cổphiếu, trái phiếu, các giấy tờ có giá khác, thông qua các quỹ đầu tư chứng khoán

và thông qua các định chế tài chính trung gian khác mà nhà đầu tư không trực

tiếp tham gia quản lý hoạt động đầu tư (Định nghĩa về đầu tư gián tiếp – Luật

Đầu tư 2005).

Luận văn nghiên cứu hoạt động đầu tư của 31 tổ chức kinh doanh chứng

khoán nước ngoài (Ủy ban chứng khoán nhà nước), 35 công ty chứng khoán có

vốn góp của đối tác đầu tư nước ngoài đang hoạt động trên thị trường chứng

Trang 8

khoán Việt Nam (Theo Chứng khoán Việt Nam) đang đầu tư vào các chứng

khoán niêm yết trên 3 sàn chứng khoán HNX, HSX và OTC

Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, tác giảphân tích TTCK Việt Nam tậptrung giai đoạn từ2005 đến tháng 2011

- Giai đoạn trước khi Việt Nam gia nhập WTO vào tháng 11/2006

- Giai đoạn từ sau khi Việt Nam gia nhập WTO đến trước khủng hoảng tàichính thế giới năm 2008

- Giai đoạn khủng hoảng tài chính thế giới năm 2008 đến cuối năm 2011Tóm lại, diễn biến hoạt động của dòng vốn ĐTNN trên TTCK Việt Namtrong thời gian qua cho thấy, vai trò của nhà ĐTNN trên TTCK Việt Nam thayđổi theo từng giai đoạn Giai đoạn trước khi Việt Nam gia nhập WTO, vai trò củadòng vốn ĐTNN chưa nổi bật trên TTCK Việt Nam mặc dù năm 2006 được đánhgiá là năm “bản lề” với nhà ĐTNN khi dòng vốn đầu tư nước ngoài vào TTCKViệt Nam bắt đầu tăng đột biến, chủ yếu ở dạng ủy thác đầu tư từ các tập đoàn tàichính nước ngoài Giai đoạn từ sau khi Việt Nam gia nhập WTO tới trước khixảy ra cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008, với tính chuyên nghiệp trong đầu

tư và tiềm lực vốn, nhà ĐTNN đã và đang trở thành một cấu thành quan trọngtrên TTCK Việt Nam Đã có nhiều ý kiến của các chuyên gia, các nhà phân tíchxem xét và đánh giá về vai trò “dẫn dắt” TTCK của dòng vốn ĐTNN trên cácdiễn đàn, trên các báo chuyên ngành trong giai đoạn này Sau cuộc khủng hoảngtoàn cầu năm 2008, các nhà đầu tư trong nước đã thay thế vai trò của dòng vốnnước ngoài thúc đẩy sự tăng trưởng trở lại của TTCK

Trong giai đoạn nghiên cứu, TTCK Việt Nam hình thành và phát triển mạnh

mẽ về hàng hóa, giá trị giao dịch cũng như số lượng nhà ĐTNN chủ yếu trên sànHOSE Hai sàn còn lại là Hastc trong giai đoạn sơ khai và chủ yếu tập trung nhàđầu tư cá nhân Việt Nam, sàn OTC giá trị giao dịch thấp và dữ liệu nghiên cứurời rạc Do đó để tiện cho việc nghiên cứu và xây dựng mô hình định lượng ảnhhưởng, tác động của giá trị giao dịch chứng khoán của nhà ĐTNN đến tổng giá

Trang 9

trị giao dịch trên TTCK Việt Nam, tác giả chỉ tiến hành thu thập dữ liệu trên sànHOSE.

5 Phương pháp nghiên cứu

Luận án sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu như:

- Phương pháp thu thập các số liệu lịch sử được công bố trên các phươngtiện điện tử, số liệu từ các cơ quan chuyên môn, các báo cáo chuyên môn

- Phương pháp thống kê mô tả

- Phương pháp phân tích dữ liệu chuỗi thời gian

- Công cụ thống kê mô tả, phân tích tương quan: chương trình phân tích dữliệu EVIEWS (Econometrics Views) cung cấp các công cụ phân tích dữliệu phức tạp, hồi quy và dự báo

Phạm vi dữ liệu nghiên cứu: Do thời gian nghiên cứu và khả năng thuthập dữ liệu có hạn, nên đề tài chỉ nghiên cứu ảnh hưởng của hoạt động đầu

tư nước ngoài lên TTCK Việt Nam, bỏ qua tác động của các nhân tố khác cóảnh hưởng đến TTCK Việt Nam

Để đánh giá ảnh hưởng của hoạt động đầu tư nước ngoài lên TTCKViệt Nam, đề tài thực hiện phân tích ảnh hưởng giá trị chứng khoán giao dịchcủa nhà đầu tư nước ngoài đến giá trị chứng khoán giao dịch toàn thị trườngtại HOSE bao gồm cả giá trị giao dịch thỏa thuận và giá trị giao dịch khớplệnh

Các chuỗi dữ liệu được thu thập trong giai đoạn từ đầu năm 2005 đếncuối năm 2011 (dữ liệu được quan sát theo tuần)

6 Những đóng góp mới của đề tài

Nghiên cứu lý thuyết về ảnh hưởng của hoạt động nhà đầu tư nước ngoài đếnthị trường chứng khoán Việt Nam Đánh giá thực trạng hoạt động của nhà đầu tưnước ngoài từ năm 2006 đến 2011 và phân tích định tính về ảnh hưởng của nhàđầu tư nước ngoài đến thị trường chứng khoán Việt Nam

Trang 10

Thực hiện các bước phân tích định lượng về ảnh hưởng của hoạt động nhàđầu tư nước ngoài đến thị trường chứng khoán Việt Nam trong từng giai đoạn.

Đề xuất một số giải pháp nhằm khai thác, phát huy các tác động tích cực đồngthời phòng tránh, giảm thiểu các tác động tiêu cực của hoạt động nhà đầu tư nướcngoài trên thị trường chứng khoán Việt Nam để thị trường phát triển bền vững

7 Kết cấu của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận và các danh mục tham khảo, khóa luận được kếtcấu thành 3 chương sau đây:

Chương 1 : Khái quát chung về thị trường chứng khoán và nhà đầu tư nướcngoài trên thị trường chứng khoán

Chương 2 Thực trạng và vai trò của đầu tư nước ngoài trên thị trường chứngkhoán Việt Nam

Chương 3: Các giải pháp nhằm thúc đẩy hoạt động của các nhà đầu tư nướcngoài vào thị trường chứng khoán Việt Nam

Trang 11

CHƯƠNG 1:KHÁI QUÁT CHUNG VỀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN

VÀ NHÀ ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG

KHOÁN 1.1 Lý luận chung về chứng khoán và thị trường chứng khoán :

1.1.1 Khái niệm:

1.1.1.1 Chứng khoán

Chứng khoán là chứng chỉ hoặc bút toán ghi sổ, xác nhận quyền và lợi ích hợppháp của người sở hữu chứng khoán đối với tài sản hoặc vốn của tổ chức pháthành Chứng khoán bao gồm cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ đầu tư và cácloại chứng khoán khác

1.1.1.2Thị trường chứng khoán

Khái niệm

Thị trường chứng khoán trong điều kiện của nền kinh tế hiện đại, được quanniệm là nơi diễn ra các hoạt động giao dịch mua bán chứng khoán trung và dàihạn Việc mua bán này được tiến hành ở thị trường sơ cấp khi người mua muađược chứng khoán lần đầu từ những người phát hành, và ở những thị trường thứcấp khi có sự mua đi bán lại các chứng khoán đã được phát hành ở thị trường sơcấp Như vậy, xét về mặt hình thức, thị trường chứng khoán chỉ là nơi diễn ra cáchoạt động trao đổi, mua bán, chuyển nhượng các loại chứng khoán, qua đó thayđổi chủ thể nắm giữ chứng khoán Thị trường chứng khoán có những chức năng

cơ bản sau:

- Huy động vốn đầu tư cho nền kinh tế

- Cung cấp môi trường đầu tư cho công chúng

- Tạo tính thanh khoản cho các chứng khoán

- Đánh giá hoạt động của doanh nghiệp

- Tạo môi trường giúp Chính phủ thực hiện các chính sách vĩ mô

Trang 12

Phân loại

Thị trường chứng khoán là nơi diễn ra các giao dịch, mua bán những sản phẩmtài chính (cổ phiếu, trái phiếu, các khoản vay ngân hàng ) có kỳ hạn trên 1 năm.Sau đây là một số cách phân loại thị trường chứng khoán cơ bản:

Căn cứ vào sự luân chuyển các nguồn vốn: Thị trường chứng khoán được chia

thành thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp

-Thị trường sơ cấp: Thị trường sơ cấp là thị trường mua bán các chứngkhoán mới phát hành Trên thị trường này, vốn từ nhà đầu tư sẽ được chuyểnsang nhà phát hành thông qua việc nhà đầu tư mua các chứng khoán mới pháthành

- Thị trường thứ cấp: Thị trường thứ cấp là nơi giao dịch các chứng khoán

đã được phát hành trên thị trường sơ cấp, đảm bảo tính thanh khoản cho cácchứng khoán đã phát hành

Căn cứ vào phương thức hoạt động của thị trường: Thị trường chứng khoán

được phân thành thị trường tập trung (Sở giao dịch chứng khoán) và phi tập trung(thị trường OTC)

Căn cứ vào hàng hoá trên thị trường: Thị trường chứng khoán cũng có thể được

phân thành các thị trường: thị trường cổ phiếu, thị trường trái phiếu, thị trườngcác công cụ chứng khoán phái sinh

− Thị trường cổ phiếu: Thị trường cổ phiếu là thị trường giao dịch và mua báncác loại cổ phiếu, bao gồm cổ phiếu thường, cổ phiếu ưu đãi

− Thị trường trái phiếu: Thị trường trái phiếu là thị trường giao dịch và muabán các trái phiếu đã được phát hành, các trái phiếu này bao gồm các trái phiếucông ty, trái phiếu đô thị và trái phiếu chính phủ

− Thị trường các công cụ chứng khoán phái sinh: Thị trường các chứng khoánphái sinh là thị trường phát hành và mua đi bán lại các chứng từ tài chính khác

Trang 13

như: quyền mua cổ phiếu, chứng quyền, hợp đồng quyền chọn, hợp đồng tươnglai, hợp đồng kỳ hạn, hoán đổi

Hàng hóa trên thị trường chứng khoán: Đối tượng giao dịch chính trên thị

trường chứng khoán là chứng khoán Chứng khoán là chứng chỉ hoặc bút toánghi sổ, xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu chứng khoán đốivới tài sản hoặc vốn của tổ chức phát hành Chứng khoán bao gồm cổ phiếu, tráiphiếu, chứng khoán phái sinh

− Cổ phiếu: là một loại chứng từ, dưới hình thức chứng từ hay ghi trên hệ thốngđiện tử, nó xác nhận quyền sở hữu hợp pháp của người có cổ phiếu hợp pháp đốivới tài sản của người phát hành

− Trái phiếu: là một loại chứng từ chứng nhận quyền đòi nợ gốc lẫn lãi của tráichủ đối với các cá nhân hay tổ chức phát hành trái phiếu đó

− Chứng khoán phái sinh: là những công cụ được phát hành trên cơ sở nhữngcông cụ đã có như cổ phiếu, trái phiếu, nhằm nhiều mục tiêu khác nhau như phântán rủi ro, bảo vệ lợi nhuận hoặc tạo lợi nhuận Các chứng khoán phái sinh sẽ làđòn bẩy, làm tăng nhiều lần giá trị các đối tượng đầu tư như cổ phiếu, trái phiếu,

để đảm bảo rằng nếu giá của cổ phiếu, trái phiếu có thay đổi bao nhiêu thì giá củacác công cụ phái sinh vẫn sẽ được duy trì ở mức ban đầu Các công cụ phái sinhrất phong phú và đa dạng, nhưng nhìn chung có bốn công cụ chính là Hợp đồng

kỳ hạn (forwards), Hợp đồng tương lai (futures), Quyền chọn (options) và Hợpđồng hoán đổi (swaps)

Hoạt động đầu tư trên thị trường chứng khoán

Đầu tư là một quá trình làm cho nguồn tài chính hiện tại vận động nhằmmục tiêu thu lợi nhuận trong tương lai Nhà đầu tư mong muốn được bồi hoàn do

sự chậm trễ trong tiêu dùng, do ảnh hưởng của lạm phát và có thể xảy ra rủi ro

Vốn đầu tư trên thị trường chứng khoán, hiểu theo nghĩa hẹp là tiềm lựctài chính của mỗi cá nhân, mỗi tổ chức Nếu hiểu theo nghĩa rộng, vốn đầu tưtrên thị trường chứng khoán bao gồm nguồn nhân lực, nguồn tài lực,… đã tích

Trang 14

Các hình thức đầu tư trên thị trường chứng khoán

- Huy động gián tiếp: Phương thức này được thực hiện thông qua các địnhchế tài chính trung gian Do vậy, sự xuất hiện của ngân hàng là một bước tiếnquan trọng trong quá trình giao lưu vốn, ngân hàng làm vai trò trung gian giữangười có vốn và người cần vốn bằng cách huy động tiền gửi rồi cho vay Trongquá trình đó, ngân hàng cùng các tổ chức tín dụng khác đã làm cho quá trình giaolưu vốn được phát triển nhanh chóng Tuy nhiên do tốc độ phát triển của thịtrường phương thức huy động vốn gián tiếp thông qua ngân hàng bộc lộ nhiềuhạn chế về các điều kiện, thủ tục, hạn mức tín dụng,…

- Huy động trực tiếp: Qua kết quả của các quá trình huy động vốn đã hìnhthành một phương thức huy động vốn được mọi người ưa chuộng hơn, đó làphương thức huy động vốn trực tiếp Nguyên tắc cơ bản của phương thức này làngười cần vốn (Chính phủ hay doanh nghiệp) sẽ phát hành các loại giấy tờ có giáchứng nhận chủ quyền về các khoản vốn được sử dụng gắn liền với những đặcquyền mà người mua nó được hưởng thụ Các hình thức và kỳ hạn của các giấy

tờ có giá này đa dạng tùy thuộc vào mục đích huy động của người sử dụng vốn.Chứng khoán là những giấy tờ có giá đại diện cho những khoản vốn trung và dàihạn được mua và bán trên thị trường chứng khoán

Phân nhóm nhà đầu tư dựa trên mục đích đầu tư

Có thể phân nhóm các nhà đầu tư như sau:

Thứ nhất, đó là những nhà đầu tư phân tích rất kỹ mọi thông tin về công ty phát

hành cổ phiếu, về công nghệ, về thị trường đầu vào và đầu ra, về các đối thủ cạnhtranh Họ quyết định đầu tư dựa trên tình hình thực tế và tiềm năng của công ty.Đây là những nhà đầu tư khôn ngoan, họ chọn những công ty có triển vọng tốt đểđầu tư, vì vậy họ giúp cho nền kinh tế phát triển tốt hơn

Loại thứ hai nghiên cứu rất kỹ thông tin về chứng khoán để tìm ra giá bình quân

trong một thời gian dài Khi giá tăng lên trên bình quân, họ tin là giá sẽ xuống,

Trang 15

nên họ bán ra, nhiều người cùng bán ra làm giá giảm xuống Ngược lại, khi giáxuống dưới mức bình quân, họ tin là giá sẽ lên, vậy là họ đi mua vào, nhiềungười cùng hành động như vậy đẩy giá lên Nhóm các nhà đầu tư này góp phầnlàm ổn định thị trường.

Loại thứ ba lại có tâm lý ngược lại Khi thấy giá một cổ phiếu tăng, họ giả định

là ngày mai sẽ tăng hơn nữa, nên họ tranh nhau mua, chính vì vậy mà giá càngtăng Một khi giá giảm, họ lại giả định ngày mai sẽ giảm nữa, vậy là họ vội vàngbán làm cho giá càng giảm hơn nữa Nhóm thứ ba này là nguyên nhân gây nên sựbất ổn định của thị trường

Loại thứ tư là những người đầu tư theo bình quân thị trường Họ mua một tập

hợp rất nhiều loại chứng khoán khác nhau để giảm thiểu rủi ro có thể xảy ra Vịthế của họ tùy thuộc vào biến động chung của thị trường mà ít phụ thuộc vào mộtvài cổ phiếu cụ thể nào

Loại thứ năm là những nhà đầu tư tập trung vào cổ phiếu của một công ty nhằm

mục tiêu nắm được quyền kiểm soát công ty Họ gần như “chung thủy” dài hạnvới công ty đó và ít quan tâm đến những biến động nhất thời theo tâm lý thịtrường

Loại thứ sáu là những nhà đầu cơ rất ngắn hạn Họ mua vào bán ra liên tục hàng

ngày theo tin đồn nhanh, có khi sáng mua trưa bán Thị trường gọi nhóm này là

“gây nhiễu”

Tất nhiên không phải nhà đầu tư nào cũng kiên định theo một cách hành xử đãchọn Và ranh giới giữa các loại trên không phải bao giờ cũng rõ ràng Theo quansát hoạt động của các nhà đầu tư Việt Nam trên thị trường khoán trong thời gianqua thì có nhiều nhà đầu tư thuộc loại thứ ba và loại thứ sáu Tuy nhiên cùng với

sự phát triển của thị trường chứng khoán nhận thức và trình độ của các nhà đầu

tư ngày càng cao hơn góp phần đưa hoạt động đầu tư trên thị trường đi vào đúngquỹ đạo của nó

Trang 16

1.1.2 Đặc trưng của thị trường chứng khoán:

1.1.2.1Hình thức tài chính trực tiếp

Đây là đặc trưng cơ bản nhất của thị trường chứng khoán Trên thị trườngchứng khoán người cần vốn và người có khả năng cung ứng vốn trực tiếp thamgia vào thị trường, không có trung gian tài chính

Với kênh huy động vốn truyền thống qua các ngân hàng như trước đây,các chủ thể đầu tư không thể theo dõi, kiểm tra, quản lí vốn đầu tư của họ, do đólàm cho quyền sử dụng và quyền sở hữu vốn tách rời nhau, làm giảm động lựctiềm năng trong quản lí Trái lại, với việc đầu tư qua thị trường chứng khoán,kênh dẫn vốn trực tiếp, các chủ thể đầu tư đã gắn quyền sử dụng và quyền sở hữu

về vốn, nâng cao tiềm năng quản lí vốn

1.1.2.2Tính cạnh tranh

Thị trường chứng khoán là thị trường gần với thị trường cạnh tranh hoànhảo, tất cả mọi người đều tự do tham gia vào thị trường, không có sự áp đặt vềgiá cả, giá cả được xác định dựa trên quan hệ cung cầu của thị trường và phảnánh các thông tin liên quan về chứng khoán Thông qua giá chứng khoán, hoạtđộng của các doanh nghiệp được phản ánh một cách tổng hợp và chính xác giúpcho việc đánh giá và so sánh hoạt động của doanh nghiệp được nhanh chóng vàthuận tiện, từ đó tạo ra môi trường cạnh tranh lành mạnh nhằm nâng cao hiệu quả

sử dụng vốn, kích thích áp dụng công nghệ mới, cải tiến sản phẩm

1.1.2.3Tính liên tục

Sau khi chứng khoán được phát hành trên thị trường sơ cấp nó có thể đượcmua bán nhiều lần trên thị trường thứ cấp, đảm bảo cho nhà đầu tư có thể chuyểncác chứng khoán họ nắm giữ thành tiền bất cứ lúc nào họ muốn Việc mua bánnày được tiến hành ở thị trường sơ cấp khi người mua mua được chứng khoán lầnđầu từ những người phát hành, và ở thị trường thứ cấp khi có sự mua đi bán lạicác chứng khoán đã được phát hành ở thị trường sơ cấp Quá trình mua đi bán lạinày có thể mang lại lợi nhuận cho các nhà đầu tư và tạo nên tính liên tục của thịtrường chứng khoán

Trang 17

1.1.3 Chức năng của thị trường chứng khoán

Huy động vốn đầu tư cho nền kinh tế

Khi các nhà đầu tư mua chứng khoán do các công ty phát hành, số tiềnnhàn rỗi được họ đưa vào hoạt động sản xuất kinh doanh và qua đó góp phần mởrộng sản xuất xã hội Bằng cách hỗ trợ các hoạt động đầu tư của công ty, TTCK

đã có những tác động quan trọng đối sự phát triển của nền kinh tế quốc dân.Thông qua TTCK, chính phủ và chính quyền ở các địa phương cũng huy độngđược các nguồn vốn cho mục đích sử dụng và đầu tư phát triển hạ tầng kinh tế,phục vụ các nhu cầu chung của xã hội

Hình 1.1: Nguồn huy động vốn dự kiến của doanh nghiệp năm 2013

Nguồn: Khảo sát doanh nghiệp do VietNam Report thực hiện, tháng 12/2012

Theo khảo sát gần đây nhất vào cuối năm 2012 được thực hiện bởiVietnam Report, thì đa phần đại diện của các DN lớn và DN tăng trưởng(VNR500, FAST500) cho rằng, nguồn huy động vốn của họ chủ yếu vẫn là từngân hàng (76,04% số DN được hỏi) Tuy nhiên, với tốc độ tăng trưởng tín dụng

Trang 18

tăng trưởng tín dụng vẫn chưa có sự cải thiện đáng kể cho thấy dường như ngânhàng vẫn chưa sẵn sàng giải ngân cho Doanh nghiệp Chỉ có 5/21 doanh nghiệpđược hỏi cho biết nguồn huy động vốn là qua thị trường chứng khoán, điều nàycho thấy các doanh nghiệp Việt Nam vẫn xếp kênh huy động này vào cuối cùngsau khi đã tìm đủ cách để huy động vốn

Hình 1.2: Tổng giá trị huy động cộng dồn (Tỷ đồng)

Nguồn số liệu: Ủy ban chứng khoán nhà nước

Thống kê của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (UBCKNN), huy động vốncủa thị trường chứng khoán (TTCK) qua 14 năm được 135.795 tỷ đồng Với con

số này, TTCK đã và đang được xem là kênh huy động vốn trung và dài hạn chínhcho nền kinh tế, nhất là trong bối cảnh ngân hàng khó khăn

Tuy nhiên, để có được con số huy động vốn trên, TTCK Việt Nam đãkhông ít lần biến động mạnh Năm 2007, khi TTCK đạt đỉnh cao của sự hoàngkim, nhiều nhà đầu tư đã xem TTCK như một “canh bạc” lớn, đổ xô đầu tưchứng khoán Từ doanh nghiệp (DN), công chức, viên chức đến chị đầu bếp đềutham gia thị trường nhằm kiếm lời Bước sang 2008, TTCK đã bắt đầu có dấuhiệu đi xuống Thế nhưng, nhiều nhà đầu tư vẫn kỳ vọng, sự đi xuống chỉ là nhất

Trang 19

thời, TTCK sẽ sớm trở lại thời hoàng kim Vì thế, số lượng nhà đầu tư và cácCTCK vẫn tiếp tục tăng Tuy nhiên, từ năm 2009 đến nay, TTCK tuột dốc khôngphanh, bất chấp các nhận định: thị trường sẽ sớm khởi sắc.

Cung cấp môi trường đầu tư cho công chúng

TTCK cung cấp cho công chúng một môi trường đầu tư lành mạnh với các

cơ hội lựa chọn phong phú Các loại chứng khoán trên thị trường rất khác nhau

về tính chất, thời hạn rủi ro, cho phép các nhà đầu tư có thể lựa chọn cho loạihàng hóa phù hợp với khả năng, mục tiêu và sở thích của mình Chính vì vậy,TTCK góp phần đáng kể làm tăng mức tiết kiệm quốc gia

Tạo tính thanh khoản cho các chứng khoán

Nhờ có TTCK mà các nhà đầu tư có thể chuyển đổi các chứng khoán mà

họ sở hữu thành tiền mặt hoặc các loại chứng khoán khác khi họ muốn Khả năngthanh khoản (khả năng chuyển đổi thành tiền mặt) là một trong những đặc tínhhấp dẫn của chứng khoán đối với người đầu tư Đây là một yếu tố cho thấy tínhlinh hoạt, an toàn của vốn đầu tư TTCK hoạt động càng năng động và có hiệuquả thì càng có khả năng nâng cao tính thanh khoản của các chứng khoán giaodịch trên thị trường

Đánh giá hoạt động của doanh nghiệp

Thông qua giá chứng khoán, hoạt động của các doanh nghiệp được phảnánh một cách tổng hợp chính xác, giúp cho việc đánh giá và so sánh hoạt độngcủa các doanh nghiệp được nhanh chóng và thuận tiện, từ đó cũng tạo ra đượcmôi trường cạnh tranh lành mạnh nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, kíchthích áp dụng công nghệ mới, cải tiến sản phẩm

Tạo môi trường giúp Chính phủ thực hiện các chính sách kinh tế vĩ mô

Các chỉ báo của TTCK phản ảnh động thái của nền kinh tế một cách nhạybén và chính xác Giá các chứng khoán tăng lên cho thấy đầu tư đang mở rộng,nền kinh tế tăng trưởng; và ngược lại giá chứng khoán giảm sẽ cho thấy các dấu

Trang 20

kinh tế và là một công cụ quan trọng giúp Chính phủ thực hiện các chính sáchkinh tế vĩ mô Thông qua TTCK, Chính phủ có thể mua và bán trái phiếu Chínhphủ để tạo ra nguồn thu bù đắp thâm hụt ngân sách và quản lý lạm phát Ngoài

ra, Chính phủ cũng có thể sử dụng một số chính sách, biện pháp tác động vàoTTCK nhằm định hướng đầu tư đảm bảo cho sự phát triển cân đối của nền kinhtế

1.2 Lý luận chung về thu hút đầu tư nước ngoài vào thị trường chứng khoán

1.2.1 Lý thuyết chung về đầu tư và đầu tư nước ngoài vào thị trường chứng khoán

Đầu tư nước ngoài (đầu tư quốc tế) là một quá trình kinh tế trong đó cácnhà đầu tư nước ngoài (tổ chức, cá nhân) đưa vốn hoặc bất kỳ hình thức giá trịnào vào nước tiếp nhận đầu tư để thực hiện các hoạt động sản xuất và kinhdoanh, dịch vụ nhằm thu lợi nhuận vào đạt được các hiệu quả xã hội.Về bản chất,đầu tư quốc tế là những hình thức xuất khẩu tư bản, một hình thức cao hơn củaxuất khẩu hàng hoá Đây là hai hình thức xuất khẩu luôn bổ sung và hỗ trợ nhautrong chiến lược thâm nhập chiếm lĩnh thị trường của các công ty, tập đoàn nướcngoài hiện nay Cùng với hoạt động thương mại quốc tế, hoạt động đầu tư quốc

tế ngày càng phát triển mạnh mẽ, hợp thành những dòng chính trong trào lưu cótính quy luật trong liên kết hợp kinh tế toàn cầu hiện nay Nếu căn cứ vào mốiquan hệ giữa nhà đầu tư và đơn vị tiếp nhận đầu tư thì đầu tư quốc tế thườngđược chia làm ba hình thức chủ yếu là đầu tư gián tiếp, tín dụng quốc tế và đầu tưtrực tiếp.Trong khuôn khổ của đề tài, ta sẽ chỉ đề cập tới lĩnh vực đầu tư nướcngoài vào thị trường chứng khoán

Khi đó nếu chủ đầu tư nước ngoài mua cổ phiếu (ở mức tối đa nào đó),trái phiếu (không giới hạn mức tối đa) của các doanh nghiệp và chính phủ nước

sở tại mà không tham gia điều hành trực tiếp đối tượng mà họ bỏ vốn đầu tư thìđược gọi là đầu tư gián tiếp dưới dạng FPI- Foreign Portfolio Investment ở đâyquyền sở hữu và quyền sử dụng vốn tách rời nhau Còn khi chủ đầu tư nướcngoài đóng góp một số vốn đủ lớn vào lĩnh vực sản xuất hoặc dịch vụ, cho phép

Trang 21

họ trực tiếp tham gia điều hành đối tượng họ bỏ vốn đầu tư thì được gọi là đầu tưtrực tiếp FDI – Foreign Direct Investment Trong trường hợp này quyền sở hữuvốn thống nhất với quyền sử dụng vốn.

1.2.2 Đặc điểm của các nhà đầu tư nước ngoài

Đầu tư gián tiếp dưới dạng FPI: Đây là hình thức đầu tư quốc tế quantrọng, trong đó chủ đầu tư nước ngoài đầu tư bằng hình thức mua cổ phần củacác công ty ở nước sở tại (ở mức khống chế nhất định) để thu lợi nhuận màkhông tham gia điều hành trực tiếp đối tượng mà họ bỏ vốn đầu tư, và có một sốđặc điểm sau:

- Phạm vi đầu tư có giới hạn vì các chủ đầu tư nước ngoài chỉ quyết địnhmua cổ phần của những doanh nghiệp làm ăn có lãi hoặc có triển vọng phát triểntrong tương lai

- Số lượng cổ phần của các công ty nước ngoài được mua bị khống chế ởmức độ nhất định tuỳ theo từng nước

- Chủ đầu tư nước ngoài không tham gia điều hành hoạt động doanh nghiệp,

do đó bên tiếp nhận đầu tư có quyền chủ động hoàn toàn trong kinh doanh

- Tuy doanh nghiệp đầu tư không có khả năng, cơ hội tiếp thu công nghệ,

kỹ thuật hiện đại, kinh nghiệm quản lý nhưng thay vào đó, doanh nghiệp có khảnăng phân tán rủi ro kinh doanh trong những người mua cổ phiếu, trái phiếudoanh nghiệp

Ranh giới phân biệt giữa FPI và các nguồn vốn khác không rõ rệt Xét vềbản chất, điều khác nhau cơ bản giữa FDI và FPI chính là ở chỗ có hay không sựtham gia quản lý doanh nghiệp và chuyển giao công nghệ Tuy nhiên khi lượngFPI đạt đến một mức độ nhất định thì sẽ có sự chuyển hoá về chất, nghĩa là khi

đã nắm trong tay một số lượng cổ phiếu đủ lớn, nhà đầu tư có thể tham gia vàoquá trình quản lí doanh nghiệp, chuyển giao công nghệ và FPI sẽ trở nên ổn địnhhơn Hình thức này có ưu điểm là khi có sự cố trong kinh doanh xảy ra với xí

Trang 22

được phân tán trong số đông những người mua cổ phiếu, trái phiếu Mặt khác bêntiếp nhận vốn đầu tư hoàn toàn chủ động vốn kinh doanh theo ý đồ của mình mộtcách tập trung Tuy nhiên, hình thức này có nhược điểm lớn là hạn chế khả năngthu hút vốn kỹ thuật, công nghệ của chủ đầu tư nước ngoài vì họ khống chế mức

độ đóng góp vốn tối đa Hơn nữa do bên nước ngoài không trực tiếp tham giađiều hành đối tượng mà họ bỏ vốn đầu tư nên hiệu quả sử dụng vốn thườngkhông cao

1.2.3 Kinh nghiệm của các nước về sự tham gia của các nhà đầu tư nước ngoài vào thị trường chứng khoán

Trong giai đoạn đầu của quá trình xây dựng và vận hành thị trường chứngkhoán, phần lớn các nước trên thế giới đều đưa ra những chính sách cho phépnhà đầu tư nước ngoài tham gia vào thị trường chứng khoán với hình thức và quy

mô phù hợp với đặc điểm riêng của từng quốc gia Vấn đề đặt ra không phải cócho phép người nước ngoài đầu tư hay không mà là chính sách đối với các nhàđầu tư nước ngoài ra sao? Quản lý các nhà đầu tư nước ngoài như thế nào để pháthuy được những mặt tích cực và hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực đối với mộtthị trường mới bắt đầu hoạt động Hiện nay có hai xu hướng mâu thuẫn nhautrong việc cho phép người đầu tư nước ngoài tham gia thị trường chứng khoán:

có nước muốn mở cửa thị trường chứng khoán để thu hút nhiều vốn đầu tư nướcngoài nhằm thúc đẩy nền kinh tế trong nước phát triển; có nước lại lo ngại về sựlấn át, thâu tóm hay chi phối của nước ngoài trong hoạt động phát triển thị trườngchứng khoán đối với nền kinh tế của nước mình Ví dụ tại Hồng Kông, thị trườngchứng khoán là một thị trường mở, người nước ngoài không bị hạn chế trongnhững hoạt động trên thị trường chứng khoán Người nước ngoài có thể sở hữu100% số cổ phiếu của các công ty niêm yết (trừ một trường hợp của công tytruyền hình TVB, ở đó người nước ngoài được sở hữu giới hạn đến 10% cho một

cá nhân và 49% tổng vốn niêm yết) Trong giao dịch chứng khoán, không phânbiệt là người cư trú hay không cư trú ở Hồng Kông, không yêu cầu dự trữ và

Trang 23

không kiểm soát ngoại hối, cho phép các Ngân hàng buôn bán chứng khoán.Ngoài ra ở hầu hết các nước Châu á khác đều bị hạn chế bởi những luật trongnước như Luật đầu tư nước ngoài, Luật ngân hàng Do đó, người đầu tư nướcngoài chỉ có khả năng được sở hữu với những tỷ lệ nhất định đối với cổ phiếuphát hành của một công ty, ở mỗi nước tuỳ vào đặc điểm riêng của nền kinh tế vàphương thức hoạt động của thị trường chứng khoán mà có những qui định riêngcủa mình Do vậy, ban đầu chính sách của các quốc gia đối với các nhà đầu tưnước ngoài thường là hạn chế mức độ sở hữu chứng khoán của họ và hạn chế cáchình thức đầu tư nước ngoài, sau đó nâng dần tỷ lệ sở hữu cũng như hình thứcđầu tư của họ vào thị trường chứng khoán trong nước.

Quản lý đầu tư nước ngoài trên thị trường chứng khoán là quản lý cáchình thức đầu tư của nhà đầu tư trên thị trường, gồm cả đầu tư trực tiếp và đầu tưgián tiếp Đầu tư gián tiếp là việc sở hữu của các nhà đầu tư nước ngoài đối vớicác tổ chức phát hành Đầu tư trực tiếp là việc các cá nhân hay tổ chức nướcngoài bỏ vốn thành lập công ty hay liên doanh, liên kết với các đối tác trong nước

để kinh doanh chứng khoán

Quy định tỷ lệ sở hữu cổ phần.

Tại Hàn Quốc, thời gian đầu chỉ cho phép nhà đầu tư nước ngoài đầu tưgián tiếp thông qua các quỹ đầu tư, quỹ tín thác; qui định mức trần cho đầu tưtrực tiếp và tăng dần lên theo sự phát triển của thị trường, nhưng vẫn giữ nguyên

sự hạn chế đối với một số ngành quan trọng như quân sự, bưu chính viễn thông,điện lực Các qui định về quản lý đầu tư nước ngoài ở Hàn Quốc thay đổi gắnliền với sự phát triển của thị trường và thông qua các quyết sách mới của Chínhphủ theo từng giai đoạn

- Từ năm 1985 - 1987: Chính phủ cho phép người nước ngoài đầu tư gián tiếpvào chứng khoán Quỹ tín thác

Trang 24

- Tháng 12 - 1988, hoàn chỉnh kế hoạch về mở cửa thị trường vốn Theo kếhoạch này, bắt đầu từ tháng 12-1992, người nước ngoài được phép sở hữu 10%

số cổ phiếu của một Công ty chứng khoán trong nước

- Năm 1992: Cho phép người nước ngoài đầu tư trực tiếp với mức trần là 10% vàsau đó tỷ lệ này được nâng lên 55% số cổ phiếu của một công ty

- Năm 1998: Bỏ mức trần này (lý do của việc xoá bỏ mức trần này là Chính phủHàn Quốc muốn tăng cường thu hút đầu tư nước ngoài sau khủng hoảng tài chínhChâu á năm 1997)

Tại Thái Lan, Chính phủ cũng qui định một tỷ lệ khống chế sở hữu công

ty niêm yết Trong những trường hợp nhất định, người nước ngoài chỉ có thể sởhữu đến 49% số cổ phiếu của một công ty hay 25% số cổ phiếu của các tổ chứctài chính Một số công ty có thể có mức giới hạn thấp hơn được qui định cụ thểtrong điều lệ công ty Nói chung người đầu tư nước ngoài đầu tư vào thị trườngchứng khoán Thái Lan phải qua những thủ tục khá phức tạp và thất vọng vì chínhcác công ty thường hay hạn chế những cổ đông người nước ngoài Sau khủnghoảng Tài chính khu vực, Thái Lan đã mở rộng tỷ lệ sở hữu cổ phiếu tại các công

ty niêm yết của người nước ngoài lên 100%

Tại Đài Loan, Chính phủ ban hành tỷ lệ hạn chế sở hữu công ty niêm yếtcùng với một số qui định chặt chẽ trong việc cho phép người đầu tư nước ngoàitham gia thị trường chứng khoán: các cá nhân không được đầu tư vào nhữngcông ty đã đăng ký Nếu như những người này có giấy phép cư trú thì có thể sởhữu những chứng khoán thuộc Quĩ đầu tư Công ty đầu tư nước ngoài nếu có ítnhất 5 năm kinh nghiệm về đầu tư và có vốn thấp nhất 500 triệu USD, sẽ cóquyền sở hữu chứng khoán ở thị trường chứng khoán Đài Loan Tuy nhiên họ chỉ

có quyền sở hữu không quá 10% chứng khoán của một công ty đã được đăng ký.Nếu một công ty đã đăng ký, lại là một công ty liên doanh, có sở hữu của người

Trang 25

nước ngoài thì có thể sở hữu hơn 10% số chứng khoán của công ty đó, nhưngkhông vượt quá 40% tổng số chứng khoán của một công ty.

Phát hành cổ phiếu riêng cho nhà đầu tư nước ngoài giao dịch

Tại Trung Quốc, vào đầu những năm 90 Chính phủ Trung Quốc với mụcđích thúc đẩy đầu tư nước ngoài, thúc đẩy việc cổ phần hoá các Doanh nghiệpNhà nước, một cổ phiếu mới dành riêng cho những nhà đầu tư nước ngoài đượcphát hành gọi là cổ phiếu B Cổ phiếu B là cổ phiếu được niêm yết tại Sở giaodịch chứng khoán Thượng Hải và Thâm Quyến chỉ cho người đầu tư nước ngoàigiao dịch Bên cạnh đó một số loại cổ phiếu khác dành cho người đầu tư nướcngoài cũng được phát hành như cổ phiếu H được niêm yết tại thị trường chứngkhoán Hồng Kông, cổ phiếu N được niêm yết tại thị trường chứng khoán NewYork Rõ ràng, việc phát hành riêng một loại cổ phiếu cho người đầu tư nướcngoài đã giúp Chính Phủ Trung Quốc kiểm soát chặt chẽ hơn việc đầu tư nướcngoài trên thị trường chứng khoán, bên cạnh đó một phần cũng đã trao quyền tựchủ cho các doanh nghiệp trong việc tự cơ cấu nguồn vốn cho nhu cầu phát triểnsản xuất kinh doanh của mình bằng cách phát hành một tỷ lệ cổ phiếu B thíchhợp trong tổng lượng cổ phiếu phát hành trên thị trường, nhằm thu hút đượcnguồn vốn cần thiết mà không bị sự kiểm soát của nước ngoài

Đối với các cổ phiếu N và H việc được niêm yết trên thị trường quốc tếkhông chỉ thu hút nguồn vốn nước ngoài mà ở đây sự xuất hiện các cổ phiếu củacác công ty Trung Quốc đã tạo nên sự quan tâm của các nhà đầu tư nước ngoàivào cơ hội làm ăn tại Trung Quốc, tạo nên danh tiếng, quốc tế hoá các công tyTrung Quốc, và thúc đẩy mạnh mẽ khả năng cạnh tranh của các công ty TrungQuốc trên thị trường thế giới

Hạn chế đầu tư 100% vốn vào một số ngành nghề đặc biệt quan trọng

Trong xu thế toàn cầu hoá và mở cửa thì hầu hết các nước luôn cho phép

Trang 26

các nhà đầu tư nước ngoài sở hữu 100% số cổ phiếu của các công ty niêm yếttrên thị trường chứng khoán Tuy nhiên, đối với một số ngành nghề, lĩnh vựcquan trọng có ảnh hưởng đến an ninh, chính trị, kinh tế của đất nước thì một mặtvẫn thu hút nguồn vốn đầu tư nước ngoài, mặt khác, vẫn duy trì một tỷ lệ sở hữulớn của Nhà nước hay các cá nhân trong nước.

Tại Australia, nói chung, các nhà đầu tư nước ngoài, các cá nhân hay tổchức có thể mua tới 100% tổng cộng hoặc riêng lẻ cổ phiếu của bất kỳ công tyniêm yết nào Ngoại trừ các công ty trong lĩnh vực truyền thông: một người đầu

tư nước ngoài được sở hữu tối đa đến 15% tổng số cổ phiếu, giới hạn tổng cộngcho các nhà đầu tư nước ngoài là 20% (tỷ lệ này tương ứng là 25% và 30% đốivới các công ty trong lĩnh vực in ấn), Chính phủ nước ngoài không được sở hữu

cổ phiếu truyền thông Trong lĩnh vực ngân hàng, người đầu tư nước ngoài được

sở hữu tối đa là 10% tổng số cổ phiếu có quyền biểu quyết Đối với các công tysản xuất và phân phối gas: tất cả các cổ đông riêng lẻ được giới hạn nắm giữ tối

đa từ 5% đến 15% (*)

Tại Singapore, cá nhân và tổ chức đầu tư nước ngoài có thể mua 100%tổng số cổ phiếu của bất kỳ công ty niêm yết nào, tuy nhiên trong lĩnh vực ngânhàng và báo chí thì người đầu tư nước ngoài bị hạn chế sở hữu với mức là 40% -49% tổng số cổ phiếu Sở hữu nước ngoài là cá nhân bị hạn chế đến 3% cho mộtnhà đầu tư đối với cổ phiếu công ty Singapore Press Holdings Trước khi muamột lượng cổ phần lớn của một Ngân hàng hoặc công ty tài chính phải được sựchấp thuận của cơ quan quản lý ngoại tệ Singapore (MAS)

Ban hành tỷ lệ mua chứng khoán ban đầu của các nhà đầu tư nước ngoài cho đợt phát hành IPO

Tại Bangladesh, các cá nhân và tổ chức đầu tư nước ngoài được phép mua100% tổng số cổ phiếu của bất kỳ công ty niêm yết nào Tuy nhiên, các NĐTNN

Trang 27

chỉ có thể đăng ký mua tối đa là một phần ba khối lượng phát hành của một đợtIPO Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam:

Có thể thấy quá trình vận động thu hút vốn đầu tư vào TTCK của cácnước khác nhau đều theo một xu hướng là mức độ mở cửa cho các nhà đầu tưnước ngoài tham gia vào TTCK phụ thuộc vào nhu cầu vốn của nền kinh tế nóichung cũng như tình hình phát triển của thị trường chứng khoán nói riêng

Trong quá trình xây dựng TTCK, các nước đang phát triển không nênngăn cản đầu tư nước ngoài mà phải tạo ra một khuôn khổ để TTCK hoạt độngtrong tầm kiểm soát, phải chuẩn bị các công cụ của kinh tế thị trường để hoạtđộng của TTCK đi vào quỹ đạo Khi xây dựng TTCK, vấn đề an ninh kinh tếphải được đặt lên hàng đầu Nếu nền kinh tế còn non trẻ thì Nhà nước cần phảibảo hộ để tránh những cơn bão “vốn” xuất xứ từ bên ngoài nước ập đến nhanh vàthao túng cả thị trường vốn trong nước Khi TTCK đã phát triển ổn định, hệthống pháp luật tương đối đầy đủ, thị trường đồng bộ thì quy chế dành cho ngườinước ngoài sẽ được nới lỏng, khi đó, thị trường trở nên hấp dẫn và sôi động hơnhẳn, số lượng nhà đầu tư nước ngoài sẽ ngày càng gia tăng Cuối cùng, xu hướng

mở cửa hoàn toàn thị trường, tức các NĐTNN có thể sở hữu 100% vốn của cáccông ty niêm yết, là điều không thể tránh khỏi Tuy nhiên, cần quy định rõ ràngdanh mục các ngành nghề mà NĐTNN không được phép đầu tư

Qua việc nghiên cứu kinh nghiệm của một số nước trong thu hút vốn đầu

tư nước ngoài, chúng ta có thể rút ra được một số bài học sau:

- Trong tiến trình chung của quá trình phát triển, TTCK đóng vai trò quantrọng trong việc huy động vốn cho nền kinh tế Bên cạnh việc phát huy nội lực,Việt Nam cần khuyến khích sự tham gia của các NĐTNN nhằm thu hút nhữngnguồn vốn lớn mà trong nước chưa đáp ứng được, trình độ công nghệ và kinhnghiệm cho sự phát triển kinh tế nói chung và TTCK nói riêng

Trang 28

- Cần quản lý hoạt động của NĐTNN nhằm vừa khuyến khích các nhà đầu

tư, vừa đảm bảo sự phát triển ổn định của thị trường, tránh việc rút vốn ồ ạt, gâyxáo trộn thị trường

Trang 29

- Đối với việc sở hữu cổ phiếu của các công ty niêm yết: ban đầu cho phépNĐTNN sở hữu hạn chế cổ phiếu của các công ty niêm yết, sau đó mở rộng dần

tỷ lệ sở hữu đáp ứng nhu cầu phát triển của thị trường

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VÀ VAI TRÒ CỦA ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI

TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM

2.1 Tổng quan về ảnh hưởng của hoạt động đầu tư nước ngoài đến thị trường chứng khoán

2.1.1Cơ sở pháp lý cho hoạt động của nhà đầu tư nước ngoài trên thị trường chứng khoán Việt Nam

2.1.1.1Quy định về tỷ lệ tham gia của nhà đầu tư nước ngoài vào các doanh nghiệp niêm yết, đăng kí giao dịch trên thị trường chứng khoán Việt Nam

Trong giai đoạn đầu thị trường chứng khoán mới đi vào hoạt động tỷ lệtham gia của bên nước ngoài được quyết định tại quyết định số 139/1999/QĐ-TTG ngày 10/6/1999 là 20% trên tổng số cổ phiếu niêm yết nhằm phòng ngừatác động tiêu cực có thể xẩy ra khi nhà ĐTNN rút vốn đầu tư Năm 2003, tỷ lệ sởhữu cổ phần đối với nhà đầu tư nước ngoài trên thị trường chứng khoán đã đượcnâng lên từ 20% lên 30% tại quyết định số 146/2003/QĐ-TTg ngày 17/7/2003 về

tỉ lệ tham gia của ĐTNN vào TTCK VN Tuy nhiên tại thời điểm đó số lượng cáccông ty niêm yết còn quá ít và phần lớn đều không hấp dẫn đối với các nhàĐTNN nên việc nâng tỉ lệ tham gia của bên nước ngoài đã không có tác động lớnđến thị trường

Đầu năm 2014, Chính phủban hành Nghị định 01/2014/NĐ-CP về việcnhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần của tổ chức tín dụng Việt Nam.Theo đó, tỷ lệ

sở hữu cổ phần của một nhà đầu tư chiến lược nước ngoài không được vượt quá20% vốn điều lệ của một tổ chức tín dụng Việt Nam (theo quy định hiện hành tạiNghị định 69/2007/ NĐ-CP, mức sở này không vượt quá 15% vốn điều lệ củamột ngân hàng Việt Nam)

Trang 30

Tổng mức sở hữu cổ phần của các nhà đầu tư nước ngoài không vượt quá30% vốn điều lệ của một ngân hàng thương mại Việt Nam Trong trường hợp đặcbiệt để thực hiện cơ cấu lại tổ chức tín dụng yếu kém, gặp khó khăn, bảo đảm antoàn hệ thống tổ chức tín dụng, Thủ tướng Chính phủ quyết định tỷ lệ sở hữu cổphần của một tổ chức nước ngoài, một nhà đầu tư chiến lược nước ngoài, tổngmức sở hữu cổ phần của các nhà đầu tư nước ngoài tại một tổ chức tín dụng cổphần yếu kém được cơ cấu lại vượt quá giới hạn quy định đối với từng trườnghợp cụ thể.

Quyết định số 55/2009/QĐ-TTG của Thủ tướng Chính phủ : Về tỷ lệ thamgia của nhà đầu tư nước ngoài trên thị trường chứng khoán Việt Nam quy định:

Nhà đầu tư nước ngoài mua, bán chứng khoán trên thị trường chứngkhoán Việt Nam được nắm giữ:

- Đối với cổ phiếu: tối đa 49% tổng số cổ phiếu của công ty cổ phần đạichúng

- Đối với chứng chỉ quỹ đầu tư đại chúng: tối đa 49% tổng số chứng chỉ quỹđầu tư của một quỹ đầu tư chứng khoán đại chúng

- Đối với công ty đầu tư chứng khoán đại chúng: tối đa 49% vốn điều lệ củamột công ty đầu tư chứng khoán đại chúng

- Đối với trái phiếu: tổ chức phát hành có thể quy định giới hạn tỷ lệ nắmgiữ đối với trái phiếu lưu hành của tổ chức phát hành

2.1.1.2 Quy định về tham gia của nhà đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực kinh doanh chứng khoán

Hình thức tham gia

Điều 101 Nghị định 144/2003/NĐ-CP ngày 28/11/2003 của Chính phủ vềchứng khoán và TTCK qui định: “Tổ chức kinh doanh chứng khoán nước ngoàiđược tham gia góp vốn, mua cổ phần, giúp vốn liên doanh thành lập công tychứng khoán hoặc công ty quản lý Quỹ với đối tác Việt Nam Việc thành lậpcông ty kinh doanh phải được UBCKNN cấp giấy phép”

Tỷ lệ góp vốn

Trang 31

Tổ chức kinh doanh chứng khoán nước ngoài được tham gia thành lập công

ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ tại Việt Nam như sau:

- Chỉ có tổ chức kinh doanh chứng khoán nước ngoài được góp vốn, mua cổphần thành lập công ty chứng khoán Tỷ lệ tham gia góp vốn của bên nước ngoàitối đa là 49% vốn điều lệ của công ty chứng khoán

- Chỉ có tổ chức kinh doanh chứng khoán nước ngoài có nghiệp vụ quản lýquỹ đầu tư chứng khoán, tổ chức kinh doanh bảo hiểm nước ngoài được góp vốn,mua cổ phần thành lập công ty quản lý quỹ Tỷ lệ tham gia góp vốn của bên nướcngoài tối đa là 49% vốn điều lệ của công ty quản lý quỹ

Mở tài khoản giao dịch, tham gia giao dịch với tư cách là người mua, bán chứng khoán trên thị trường

Trước đây, bên nước ngoài được phép liên doanh với đối tác Việt nam đểthành lập công ty chứng khoán liên doanh - trong đó tỷ lệ góp vốn tối đa của phíanước ngoài là 30% vốn điều lệ của công ty chứng khoán liên doanh Hiện nay, tỉ

lệ này đã được nâng lên 49% Việc nâng tỉ lệ góp vốn của nhà đầu tư nước ngoài

từ 30% lên 49% chứng tỏ chính sách mở của thu hút vốn đầu tư nước ngoài củaViệt Nam ngày càng thông thoáng, phù hợp với nhu cầu về vốn để phát triển kinh

tế của Việt Nam hiện nay

Việc đối tác nước ngoài tham gia kinh doanh chứng khoán với hình thức liêndoanh có tác dụng tốt đối với phía Việt nam ở chỗ:

Trang 32

- Chúng ta tranh thủ được kinh nghiệm, kỹ năng kinh doanh của họ - cái màchúng ta chưa có và rất cần học hỏi

- Mức độ tham gia của bên nước ngoài như vậy đảm bảo cho phía Việt Namtrong liên doanh nắm quyền quản lý, chi phối, tránh sự thao túng của đối tácnước ngoài khi chúng ta chưa có kinh nghiệm, thực tế trong kinh doanh chứngkhoán

Các quy định đối với nhà ĐTNN tham gia mua, bán chứng khoán trên TTCK:

Tỷ lệ nắm giữ:

Tổ chức, cá nhân nước ngoài mua, bán cổ phiếu, chứng chỉ quỹ đầu tưtrên TTGDCK được nắm giữ tối đa 49% tổng số cổ phiếu, chứng chỉ quỹ đầu tưcủa một tổ chức niêm yết, đăng ký giao dịch hoặc một quỹ đầu tư chứng khoán;được nắm giữ tối đa 100% trái phiếu niêm yết, đăng ký giao dịch trên TTGDCK

Quản lý giao dịch của nhà ĐTNN:

Tổ chức, cá nhân nước ngoài mua, bán chứng khoán trên thị trường giaodịch tập trung phải đăng ký mã số kinh doanh chứng khoán với Trung tâm giaodịch chứng khoán, Sở giao dịch chứng khoán thông qua thành viên lưu ký theoquy định của UBCKNN

Quy trình thực hiện giao dịch của nhà đầu tư nước ngoài:

Nếu nhà đầu tư nước ngoài mở tài khoản giao dịch chứng khoán (bao gồm

cả tài khoản tiền mặt và tài khoản lưu ký chứng khoán) tại công ty chứng khoánphải tuân thủ theo trình tự sau:

Trang 33

Hình 2.1: Trình tự mở tài khoản giao dịch chứng khoán cho NĐTNN

Nguồn: Sở giao dịch chứng khoán Tp.HCM Bước 1: nộp hồ sơ đăng ký mã số kinh doanh chứng khoán tại công ty chứng

khoán Công ty chứng khoán sẽ giúp khách hàng hoàn tất hồ sơ và đại diện chokhách hàng nộp hồ sơ cho TTGDCK Chậm nhất sau 5 ngày làm việc, TTGDCK

sẽ trả lời về việc cấp mã số kinh doanh chứng khoán

Bước 2: Mở tài khoản tiền gửi thanh toán bằng ngoại tệ tại các ngân hàng thương

mại (trong nước hoặc chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt nam) có chứcnăng kinh doanh ngoại hối

Bước 3: Mở tài khoản giao dịch chứng khoán (bao gồm tài khoản thanh toán

bằng tiền đồng Việt nam và tài khoản lưu ký chứng khoán) tại công ty chứngkhoán

Bước 4: Đặt lệnh giao dịch tại công ty chứng khoán.

Bước 5: Thanh toán giao dịch, thời gian thanh toán là T+3.

Trong trường hợp nhà đầu tư nước ngoài mở tài khoản lưu ký chứngkhoán tại thành viên lưu ký là các Ngân hàng thương mại được UBCKNN cấpgiấy phép hoạt động lưu ký chứng khoán (trong nước hoặc chi nhánh Ngân hàngnước ngoài), nhà đầu tư làm thủ tục đăng ký mã số kinh doanh chứng khoánthông qua ngân hàng lưu ký Sau đó nhà đầu tư mở tài khoản tiền gửi thanh toán

Trang 34

toán bằng tiền Đồng Việt nam và tài khoản lưu ký chứng khoán) tại ngân hànglưu ký Ngân hàng lưu ký sẽ ký một thoả thuận giao dịch chứng khoán với mộtcông ty chứng khoán và nhà đầu tư nước ngoài đặt lệnh giao dịch như bìnhthường Nhà đầu tư nước ngoài phải trả phí lưu ký chứng khoán và phí môi giớicho mỗi giao dịch được thực hiện theo biểu phí của từng công ty chứng khoán.

Từ ngày 1/1/2007, Luật Chứng khoán bắt đầu có hiệu lực Theo Nghị địnhhướng dẫn thi hành, mức vốn điều lệ tối thiểu để niêm yết cổ phiếu đã tăng lêntới 80 tỷ đồng, cao gấp nhiều lần quy định của Nghị định 144

Một văn bản khác là Dự thảo Quyết định về việc tham gia của các tổ chức,

cá nhân nước ngoài trên thị trường chứng khoán Việt Nam (thay thế Quyết định55/2009/QĐ-TTg) đã hoàn tất và trình lên Thủ tướng Có nhiều thay đổi trong dựthảo lần này so với trước đây Dự thảo mới nhất có 5 nội dung quan trọng liênquan đến tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài trong các công ty đại chúng nóichung và công ty niêm yết nói riêng, đã được Ủy ban Chứng khoán và các thànhviên thị trường thảo luận và nhất trí cao

Thay đổi đáng chú ý nhất là trong một số trường hợp, nhà đầu tư nướcngoài có thể sở hữu lên tới 60% tổng số cổ phiếu có quyền biểu quyết của mộtcông ty niêm yết Các dự thảo trước đây chỉ quy định mức sở hữu này đối với đốitác chiến lược của doanh nghiệp

Điểm mới thứ hai của dự thảo là quy định nhà đầu tư nước ngoài sẽ đượcnắm giữ tối đa 49% tổng số cổ phiếu có quyền biểu quyết trong công ty đạichúng Nội dung này trước đây quy định là 49% trên vốn điều lệ

Thứ ba, đối với cổ phiếu không có quyền biểu quyết, nhà đầu tư nướcngoài không bị giới hạn khi nắm giữ cổ phiếu không có quyền biểu quyết, miễn

là nhà đầu tư nước ngoài có nhu cầu mua và không cần biểu quyết

Thứ tư, với chứng chỉ quỹ, nhà đầu tư nước ngoài được sở hữu sở hữu100% Trước đây đối với quỹ đóng, quy định tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước

Trang 35

ngoài tối đa là 49% Trong dự thảo lần này, không chỉ áp dụng với chứng chỉ quỹđóng mà mở rộng đối với cả chứng chỉ quỹ mở, quỹ ETF Trong trường hợp cácquỹ có tỉ lệ sở hữu của nước ngoài trên 49% thì được hiểu là nhà đầu tư nướcngoài và phải chịu sự điều chỉnh của luật

Thứ năm, tổ chức kinh doanh chứng khoán nước ngoài được mua nắm giữcông ty chứng khoán tại Việt Nam đến 100% vốn điều lệ, thay vì quy định hiệnnay là tối đa 49% và 100% Như vậy, nếu dự thảo được thông qua, điều này đượchiểu là tổ chức kinh doanh chứng khoán nước ngoài được mua nắm giữ công tychứng khoán tại Việt Nam đến 100% vốn điều lệ, nghĩa là được phép sở hữu cảtrên 49% và dưới 100% vốn điều lệ

2.1.2 Các chủ thể tham gia thị trường chứng khoán và nhà đầu tư nước

ngoài tại thị trường chứng khoán Việt Nam

2.1.2.1Các chủ thể tham gia thị trường chứng khoán Việt Nam

Các tổ chức phát hành và nhà đầu tư là các chủ thể tham gia vào TTCK ViệtNam

Trang 36

liền với rủi ro Rủi ro càng cao thì lợi nhuận càng lớn Do vậy, các nhà đầu tưphải lựa chọn các hình thức đầu tư phù hợp với mình

Các nhà đầu tư có tổ chức

Các tổ chức này thường xuyên mua bán chứng khoán với số lượng lớn và cócác bộ phận chức năng bao gồm nhiều chuyên gia có kinh nghiệm để nghiên cứuthị trường và đưa ra các quyết định đầu tư Đầu tư thông qua các tổ chức này có

ưu điểm là đa dạng hoá danh mục đầu tư và các quyết định đầu tư được thực hiệnbởi các chuyên gia có kinh nghiệm

Một bộ phận quan trọng của các tổ chức đầu tư là các công ty tài chính Bêncạnh đó, các công ty chứng khoán, các ngân hàng thương mại cũng có thể trởthành những nhà đầu tư chuyên nghiệp khi họ mua chứng khoán cho mình

Các tổ chức kinh doanh chứng khoán

Công ty chứng khoán

Các công ty này hoạt động với nghiệp vụ chính là bảo lãnh phát hành, tựdoanh, môi giới, quản lý danh mục đầu tư và tư vấn đầu tư chứng khoán

Các ngân hàng thương mại

Các ngân hàng thương mại có thể sử dụng vốn để đầu tư chứng khoánnhưng chỉ được trong giới hạn rất định để bảo vệ ngân hàng trước những biếnđộng của giá chứng khoán

Các tổ chức có liên quan đến thị trường chứng khoán

Cơ quan quản lý nhà nước

Cơ quan này được thành lập để thực hiện chức năng quản lý nhà nước đốivới thị trường chứng khoán cơ quan này có những tên gọi khác nhau tuỳ từngnước Tại Anh có Uỷ ban đầu tư chứng khoán (SIB- Securities InvestmentBoard), tại Mỹ có Uỷ ban chứng khoán và Giao dịch chứng khoán (SEC -Securities And Exchange Comission) hay ở Nhật Bản có Uỷ ban giám sát chứngkhoán và Giao dịch chứng khoán (ESC - Exchange Surveillance Comission)được thành lập vào năm 1992 và đến năm 1998 đổi tên thành FSA - FinancialSupervision Agency Và ở Việt Nam có Uỷ ban chứng khoán nhà nước đượcthành lập theo Nghị địng số 75/CP ngày 28/11/1996

Sở giao dịch chứng khoán

Trang 37

Hiện nay trên thế giới có ba hình thức tổ chức SGDCK: Thứ nhất: SGDCKđược tổ chức dưới hình thức “câu lạc bộ mini” hay được tổ chức theo chế độ hộiviên Đây là hình thức tổ chức SGDCK có tính chất tự phát Trong hình thức này,các hội viên của SGDCK tự tổ chức và tự quản lý SGDCK theo pháp luật không

có sự can thiệp của nhà nước Các thành viên của SGDCK bầu ra hội đồng quảntrị để quản lý và hội đồng quản trị bầu ra ban điều hành Thứ hai: SGDCK được

tổ chức dưới hình thức công ty cổ phần có cổ đông là công ty chứng khoán thànhviên SGDCK tổ chức dưới hình thức này hoạt động theo luật công ty cổ phần vàchịu sự giám sát của một cơ quan chuyên môn về chứng khoán và thị trườngchứng chứng khoán do chính phủ lập ra Thứ ba: SGDCK được tổ chức dướidạng một công ty cổ phần nhưng có sự tham gia quản lý và điều hành của Nhànước Cơ cấu tổ chức, điều hành và quản lý cũng giống như hình thức công ty cổphần nhưng trong thành phần hội đồng quản trị có một số thành viên do Uỷ banchứng khoán quốc gia đưa vào, giám đốc điều hành SGDCK do ủy ban chứngkhoán bổ nhiệm

Hiệp hội các nhà kinh doanh chứng khoán

Hiệp hội các nhà kinh doanh chứng khoán hoạt động với mục đích bảo vệlợi ích cho các công ty thành viên nói riêng và cho toàn ngành chứng khoán nóichung Hiệp hội này có một số các chức năng chính sau: - Khuyến khích hoạtđộng đầu tư và kinh doanh chứng khoán - Ban hành và thực hiện các quy tắc tựđiều hành trên cơ sở các quy định pháp luật về chứng khoán - Điều tra và giảiquyết tranh chấp giữa các thành viên - Tiêu chuẩn hoá các nguyên tắc và thông

lệ trong ngành chứng khoán

Tổ chức ký gửi và thanh toán chứng khoán

Tổ chức ký gửi và thanh toán chứng khoán là các tổ chức nhận lưu giữ cácchứng khoán và tiến hành nghiệp vụ thanh toán bù trừ

Các tổ chức đánh giá hệ số tín nhiệm

Các tổ chức đánh giá hệ số tín nhiệm là các công ty chuyên đưa ra các đánhgiá về tình hình và triển vọng của các công ty khác dưới dạng các hệ số tínnhiệm

2.1.2.2 Nhà đầu tư nước ngoài tại thị trường chứng khoán Việt Nam

NĐTNN tuy chưa giữ vai trò là yếu tố quyết định nhưng cũng đã được coi

Trang 38

là khối lượng và tỉ trọng các loại hình giao dịch của ĐTNN trong những năm vừaqua.

TỶ TRỌNG KHỐI LƯỢNG VÀ GIÁ TRỊ GIAO DỊCH CỦA

NHÀ ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI

Hình 2.2: Tỷ trọng khối lượng và giá trị giao dịch của NĐTNN

Nguồn: Ủy ban chứng khoán Nhà nước

Trong thời gian 14 năm kể từ khi thị trường chứng khoán đi vào hoạtđộng, khối lượng giao dịch bình quân/ngày của Nhà đầu tư nước ngoài đã tăng từ10.000 cổ phiếu lên 7.130.000 cổ phiếu, tăng gấp 713 lần sau 11 năm đi vào hoạtđộng, giá trị giao dịch của NĐTNN tăng từ 41.000.000 VNĐ lên con số250.596.000.000 VNĐ tương đương 6112 lần trong vòng 11 năm Đây thực sự lànhững con số đáng kể tới, mặc dù trong những năm đầu thị trường chứng khoánmới chỉ bước những bước tiến mang tính chất thăm dò, và cho tận tới năm 2006đến nay tốc độ phát triển của thị trường mới thực sự bước vào giai đoạn vũ bão

Trang 39

Quy mô và cơ cầu đầu tư chứng khoán của các nhà đầu tư nước ngoài

Quy mô của các nhà đầu tư nước ngoài mở rộng qua các năm và liên tục tăng trưởng.

- Từ năm 2001 – 2005 có 13 quỹ đầu tư nước ngoài được thành lập với tổng

số vốn gần 1 tỷ USD Đến tháng 6/2006, đã có 19 quỹ đầu tư nước ngoài vớitổng số vốn 1.9 tỷ USD đang hoạt động ở Việt Nam Trong giai đoạn này các nhàđầu tư thường tập trung vào thị trường chứng khoán và bất động sản mà ít đầu tưvào các doanh nghiệp Việt Nam Lý do là các ngành nghề đòi hỏi công nghệ caochưa được phép gọi vốn từ NĐT nước ngoài

- Năm 2006-2007 có 23 quỹ đầu tư nước ngoài được thành lập mới Tínhđến tháng 11/2009, tại Việt Nam có 46 công ty quản lý quỹ, 382 quỹ đầu tư nướcngoài hoạt động đầu tư thông qua 2 hình thức: qua văn phòng đại diện và đầu tư

ủy thác thông qua các đại diện giao dịch ủy quyền Phần lớn các quỹ đầu tưkhông cho vay tiền mà chỉ mua cổ phần và hạn chế đầu tư vào các Doanh nghiệpmới thành lập

- Tính đến tháng 6/2011 đã có 105 Công ty chứng khoán được cấp giấyphép thành lập và có 9 công ty có 49 vốn của nước ngoài Giá trị danh mục đầu

tư năm 2010 của các nhà đầu tư nước ngoài khoảng 6.5 tỷ USD, trong đó:

o Cổ phiếu và chứng chỉ quỹ chiếm 78%

o Trái phiếu chiếm 10%

o Số dư tiền gửi 5,3

Trang 40

Bảng 2.1: Các công ty chứng khoán đã được NĐT nước ngoài mua cổ phần

VĐL (tỷ đồng) Woori

Nguồn: Ủy ban chứng khoán NN

Xu hướng vốn ngoại vào các CTCK đang dần trở thành chủ đề nóng trênthị trường chứng khoán Việt Nam, bởi TTCK Việt Nam đang có mức tăng trưởngđáng kể, cộng thêm việc NĐT nước ngoài hiện đã được phép sở hữu đến 49%

Ngày đăng: 04/12/2014, 06:30

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đinh Xuân Trình và Nguyễn Thị Quy (1998),Thị trường Chứng khoán, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thị trường Chứng khoán
Tác giả: Đinh Xuân Trình và Nguyễn Thị Quy
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1998
3. Vũ Minh Châu (2005),“Khả năng dự báo giá chứng khoán: Một cách đánh giá tính hiệu quả của thị trường chứng khoán Việt Nam”, Tạp chí Phát triển Kinh tế,số 175 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khả năng dự báo giá chứng khoán: Một cách đánh giá tính hiệu quả của thị trường chứng khoán Việt Nam”, "Tạp chí Phát triển Kinh tế
Tác giả: Vũ Minh Châu
Năm: 2005
4. Nguyễn Thị Liên Hoa (2005), “5 năm hoạt động thị trường chứng khoán và lộ trình phát triển thị trường chứng khoán giai đoạn 2006-2010”, Tọa đàm thị trường chứng khoán Việt Nam 5 năm hoạt động và phát triển, Ủy ban chứng khoán Nhà nước Sách, tạp chí
Tiêu đề: 5 năm hoạt động thị trường chứng khoán và lộ trình phát triển thị trường chứng khoán giai đoạn 2006-2010”, "Tọa đàm thị trường chứng khoán Việt Nam 5 năm hoạt động và phát triển
Tác giả: Nguyễn Thị Liên Hoa
Năm: 2005
5. Trần Thị Thùy Linh (2006), “Kênh huy động vốn trên thị trường chứng khoán Việt Nam được gì ?”, Tạp chí Phát triển Kinh tế,số 185 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kênh huy động vốn trên thị trường chứng khoán Việt Nam được gì ?”, "Tạp chí Phát triển Kinh tế
Tác giả: Trần Thị Thùy Linh
Năm: 2006
6. Hồ Viết Tiến (2005), “Vị thế của thị trường cổ phiếu Việt Nam trên thế giới”, Tạp chí Phát triển Kinh tế,số 179 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vị thế của thị trường cổ phiếu Việt Nam trên thế giới”, "Tạp chí Phát triển Kinh tế
Tác giả: Hồ Viết Tiến
Năm: 2005
7.Phúc Lân (2006), “TTCK hậu WTO : Diện mạo nhiều nét mới”, Tạp chí đầu tư chứng khoán,số 45 Sách, tạp chí
Tiêu đề: TTCK hậu WTO : Diện mạo nhiều nét mới”, "Tạp chí đầu tư chứng khoán
Tác giả: Phúc Lân
Năm: 2006
8. Ths. Nguyễn Ngọc Cảnh (2010), “Tác động của các cam kết WTO tới thị trường chứng khoán Việt nam”, Tạp chí Chứng khoán Việt nam,số 140 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác động của các cam kết WTO tới thị trường chứng khoán Việt nam”, "Tạp chí Chứng khoán Việt nam
Tác giả: Ths. Nguyễn Ngọc Cảnh
Năm: 2010
9. Ban hợp tác Quốc tế (2006), “Thị trương chứng khoán Việt Nam : Nhận diện trong xu thế hội nhập”, Tạp chí chứng khoán Việt Nam,số 7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thị trương chứng khoán Việt Nam : Nhận diện trong xu thế hội nhập”, "Tạp chí chứng khoán Việt Nam
Tác giả: Ban hợp tác Quốc tế
Năm: 2006
11. Nguyễn Quang Đông (2007),Kinh tế lượng nâng cao, Nxb Khoa học và kỹ thuật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế lượng nâng cao
Tác giả: Nguyễn Quang Đông
Nhà XB: Nxb Khoa học và kỹ thuật
Năm: 2007
12. Trần Ngọc Thơ (2005), Tài chính doanh nghiệp hiện đại, Nxb Thống kê 13.Nguyễn Đình Tự (2008), “Thị trường chứng khoán Việt Nam trước những thách thức của việc gia nhập WTO”, Tạp chí Cộng sản,số 12 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài chính doanh nghiệp hiện đại", Nxb Thống kê13.Nguyễn Đình Tự (2008), “Thị trường chứng khoán Việt Nam trước những thách thức của việc gia nhập WTO”, "Tạp chí Cộng sản
Tác giả: Trần Ngọc Thơ (2005), Tài chính doanh nghiệp hiện đại, Nxb Thống kê 13.Nguyễn Đình Tự
Nhà XB: Nxb Thống kê13.Nguyễn Đình Tự (2008)
Năm: 2008
15. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Vụ chiến lược phát triển ngân hàng (2007), Thị trường chứng khoán và tác động của nó tới Thị trường Tài chính Việt Nam trong bối cảnh hội nhập WTO, Kỷ yếu hội thảo khao học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thị trường chứng khoán và tác động của nó tới Thị trường Tài chính Việt Nam trong bối cảnh hội nhập WTO
Tác giả: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Vụ chiến lược phát triển ngân hàng
Năm: 2007
16.Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam (2003), Nghị định số 144/2003/NĐ-CP ngày 28/11/2003 về chứng khoán và thị trường chứng khoán, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 144/2003/NĐ-CP ngày 28/11/2003 về chứng khoán và thị trường chứng khoán
Tác giả: Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam
Năm: 2003
17. Thủ tướng Chính phủ (2005),Quyết định số 238/2005/QĐ-TTg ngày 29/9/2005 của về tỷ lệ tham gia của bên nước ngoài vào thị trường chứng khoán Việt Nam, Hà NộiTiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 238/2005/QĐ-TTg ngày 29/9/2005 của về tỷ lệ tham gia của bên nước ngoài vào thị trường chứng khoán Việt Nam
Tác giả: Thủ tướng Chính phủ
Năm: 2005
18. J. Benson Durham (2003), “Foreign Portfolio Investment, Foreign Bank Lending, and Economic Growth”, FRB International Finance Discussion Paper,No. 757 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Foreign Portfolio Investment, Foreign Bank Lending, and Economic Growth”, "FRB International Finance Discussion Paper
Tác giả: J. Benson Durham
Năm: 2003
19. Burton, G. W. (2011), “How Different are FDI and FPI Flows?: Distance and Capital Market Integration”, Asian Development Bank, pp.499-525 Sách, tạp chí
Tiêu đề: How Different are FDI and FPI Flows?: Distance and Capital Market Integration”, "Asian Development Bank
Tác giả: Burton, G. W
Năm: 2011
2. Ban phát triển thị trường - Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (2005-2012), Báo cáo thường niên,Kế hoạch phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam giai đoạn 2010-2015 Khác
10. Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (2002), Báo cáo dự án điều tra, đánh giá các điều kiện tổ chức và vận hành thị trường chứng khoán ở Việt Nam (giai đoạn II) Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1: Nguồn huy động vốn dự kiến của doanh nghiệp năm 2013 - Luận văn thạc sĩ vai trò của đầu tư nước ngoài đối với thị trường chứng khoán việt nam
Hình 1.1 Nguồn huy động vốn dự kiến của doanh nghiệp năm 2013 (Trang 17)
Hình 1.2: Tổng giá trị huy động cộng dồn (Tỷ đồng) - Luận văn thạc sĩ vai trò của đầu tư nước ngoài đối với thị trường chứng khoán việt nam
Hình 1.2 Tổng giá trị huy động cộng dồn (Tỷ đồng) (Trang 18)
Hình 2.1: Trình tự mở tài khoản giao dịch chứng khoán cho NĐTNN - Luận văn thạc sĩ vai trò của đầu tư nước ngoài đối với thị trường chứng khoán việt nam
Hình 2.1 Trình tự mở tài khoản giao dịch chứng khoán cho NĐTNN (Trang 31)
Hình 2.2: Tỷ trọng khối lượng và giá trị giao dịch của NĐTNN - Luận văn thạc sĩ vai trò của đầu tư nước ngoài đối với thị trường chứng khoán việt nam
Hình 2.2 Tỷ trọng khối lượng và giá trị giao dịch của NĐTNN (Trang 37)
Bảng 2.1: Các công ty chứng khoán đã được NĐT nước ngoài mua cổ phần - Luận văn thạc sĩ vai trò của đầu tư nước ngoài đối với thị trường chứng khoán việt nam
Bảng 2.1 Các công ty chứng khoán đã được NĐT nước ngoài mua cổ phần (Trang 39)
Bảng 2.2: Tỷ trọng quy mô giao dịch của NĐTNN tại Sở GDCK TP.HCM - Luận văn thạc sĩ vai trò của đầu tư nước ngoài đối với thị trường chứng khoán việt nam
Bảng 2.2 Tỷ trọng quy mô giao dịch của NĐTNN tại Sở GDCK TP.HCM (Trang 47)
Bảng 2.3: Tỷ trọng quy mô giao dịch của NĐTNN tại Sở GDCK TP.HCM - Luận văn thạc sĩ vai trò của đầu tư nước ngoài đối với thị trường chứng khoán việt nam
Bảng 2.3 Tỷ trọng quy mô giao dịch của NĐTNN tại Sở GDCK TP.HCM (Trang 49)
Bảng 2.4: Tỷ trọng quy mô giao dịch của NĐTNN tại Sở GDCK TP.HCM - Luận văn thạc sĩ vai trò của đầu tư nước ngoài đối với thị trường chứng khoán việt nam
Bảng 2.4 Tỷ trọng quy mô giao dịch của NĐTNN tại Sở GDCK TP.HCM (Trang 51)
Hình 2.3: Tình hình cấp mã số giao dịch cho NĐTNN từ 2006- - Luận văn thạc sĩ vai trò của đầu tư nước ngoài đối với thị trường chứng khoán việt nam
Hình 2.3 Tình hình cấp mã số giao dịch cho NĐTNN từ 2006- (Trang 53)
Bảng 2.5: Danh mục cổ phiếu Việt Nam của một số quỹ ETF (cập nhật đến - Luận văn thạc sĩ vai trò của đầu tư nước ngoài đối với thị trường chứng khoán việt nam
Bảng 2.5 Danh mục cổ phiếu Việt Nam của một số quỹ ETF (cập nhật đến (Trang 54)
Hình 2.5: Tổng kết giá trị giao dịch NĐTNN từ 2006-2012 - Luận văn thạc sĩ vai trò của đầu tư nước ngoài đối với thị trường chứng khoán việt nam
Hình 2.5 Tổng kết giá trị giao dịch NĐTNN từ 2006-2012 (Trang 55)
Bảng số liệu trên cho thấy: các quỹ ETF nắm giữ danh mục chủ yếu là các  cổ phiếu có vốn hóa lớn và tác động lớn đến chỉ số Vnindex như VIC, BVH,  PVD, MSN, HAG, VCB…qua đó triển vọng của NĐTNN là ổn định - Luận văn thạc sĩ vai trò của đầu tư nước ngoài đối với thị trường chứng khoán việt nam
Bảng s ố liệu trên cho thấy: các quỹ ETF nắm giữ danh mục chủ yếu là các cổ phiếu có vốn hóa lớn và tác động lớn đến chỉ số Vnindex như VIC, BVH, PVD, MSN, HAG, VCB…qua đó triển vọng của NĐTNN là ổn định (Trang 55)
Bảng 2.6: Khối lượng giao dịch trung bình mua và bán của NĐTNN  theo - Luận văn thạc sĩ vai trò của đầu tư nước ngoài đối với thị trường chứng khoán việt nam
Bảng 2.6 Khối lượng giao dịch trung bình mua và bán của NĐTNN theo (Trang 56)
Hình 2.6: Vnindex và Giao dịch NĐTNN năm 2009 - Luận văn thạc sĩ vai trò của đầu tư nước ngoài đối với thị trường chứng khoán việt nam
Hình 2.6 Vnindex và Giao dịch NĐTNN năm 2009 (Trang 60)
Hình 2.7: Vnindex và Giao dịch NĐTNN năm 2010 - Luận văn thạc sĩ vai trò của đầu tư nước ngoài đối với thị trường chứng khoán việt nam
Hình 2.7 Vnindex và Giao dịch NĐTNN năm 2010 (Trang 61)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w