MỘT số vấn đề lý LUẬN về QUYỀN CON NGƯỜI và VAI TRÒ của tòa án TRONG VIỆC bảo vệ QUYỀN CON NGƯỜI MỘT số vấn đề lý LUẬN về QUYỀN CON NGƯỜI và VAI TRÒ của tòa án TRONG VIỆC bảo vệ QUYỀN CON NGƯỜI MỘT số vấn đề lý LUẬN về QUYỀN CON NGƯỜI và VAI TRÒ của tòa án TRONG VIỆC bảo vệ QUYỀN CON NGƯỜI
Trang 1GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO VAI TRÒ CỦA LUẬT
SƯ TRONG HOẠT ĐỘNG TRỢ GIÚP PHÁP LÝ Ở
VIỆT NAM
Trang 2- Các yêu cầu về bảo đảm và tăng cường hoạt động trợ giúp pháp lý của luật sư ở việt nam
Quan điểm về tăng cường hoạt động trợ giúp pháp lý củaluật sư ở Việt nam là những chủ trương, tư tưởng chỉ đạo củaĐảng, Nhà nước mang tính định hướng đối với việc tăng cường vànâng cao chất lượng hoạt động trợ giúp pháp lý của đội ngũ luật
sư nhằm nâng cao vị trí, vai trò, hiệu quả của hoạt động trợ giúppháp lý Nền tảng của các quan điểm chỉ đạo thực hiện hoạt độngtrợ giúp pháp lý cho người nghèo và đối tượng chính sách là tưtưởng Hồ Chí Minh và cương lĩnh, đường lối và chính sách củaĐảng Cộng sản Việt Nam
Từ những vấn đề lý luận và thực tiễn đã lý giải ở phần trên,
có thể khẳng định việc bảo đảm và tăng cường hoạt động trợ giúppháp lý của luật sư ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay cũng như
về lâu dài là yêu cầu quan trọng Để định hướng bảo đảm và tăngcường hoạt động trợ giúp pháp lý của luật sư cần quán triệt nhữngquan điểm cơ bản sau đây
- Bảo đảm và tăng cường hoạt động trợ giúp pháp lý của luật sư phải dựa trên quan điểm xây dựng Nhà nước Pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa
Trang 3Trong quá trình xây dựng và củng cố nhà nước kiểu mới ởViệt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minhluôn luôn xuất phát từ thực tiễn lịch sử cách mạng Việt Nam, vậndụng sáng tạo các quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, đồngthời nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc những giá trị tinh hoa củanhân loại, trong đó có tư tưởng về nhà nước pháp quyền Trongquá trình phát triển lâu dài, gắn liền với cuộc đấu tranh trường kỳgiải phóng dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội, quan điểm củaĐảng về nhà nước pháp quyền từng bước được hình thành và pháttriển Sau khi giải phóng hoàn toàn miền nam, đất nước đượcthống nhất về nhà nước và pháp luật (1976), Đại hội đại biểu toànquốc lần thứ IV (1976), Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V(1982) và Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI (1986) đều khẳngđịnh Nhà nước ta là Nhà nước chuyên chính vô sản của nhân dânlao động, thực hiện dân chủ xã hội chủ nghĩa Luận điểm này phùhợp với lý luận Mác - Lênin về xây dựng Nhà nước, các bản Hiếnpháp của nước ta trong thời kỳ trên, nhiều nội dung quan trọngcủa nhà nước pháp quyền Việt Nam đã được thể hiện Tuy nhiên,phải đến Hội nghị đại biểu giã nhiệm kỳ (khóa VII) của Đảng(1994), khái niệm nhà nước pháp quyền Việt Nam mới được chínhthức thừa nhận và được ghi nhận và đến Đại hội đại biểu toànquốc lần thứ IX của Đảng, nhận thức về nhà nước pháp quyền đã
Trang 4được khẳng định, được coi là một chủ trương có chính chiến lược,lâu dài
Nhà nước ta là cộng cụ chủ yếu để thực hiện quyền làm chủcủa nhân dân, là nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân.Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công phối hợp giữacác cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp
và tư pháp Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật Mọi cơ quan,
tổ chức, cán bộ, công chức, mọi công dân có nghĩa vụ chấp hànhHiến pháp, pháp luật [17]
Quan điểm của Đảng ta về xây dựng nhà nước pháp quyền
xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân và vì nhân dân là quanđiểm nhất quán, xuyên suốt và mang tính chiến lược lâu dài Vìvậy, cần phải quán triệt và thực hiện nghiêm túc quan điểm này đểkhẳng định, thể hiện đầy đủ bản chất của nhà nước dân chủ, củadân, do dân, vì dân, tạo điều kiện cho người nghèo và đối tượngchính sách có thể thực hiện đầy đủ các quyền, nghĩa vụ của mìnhtheo đúng pháp luật, tham gia rộng rãi và tích cực vào các côngviệc của Nhà nước Mục tiêu của Nhà nước pháp quyền xã hộichủ nghĩa là bảo đảm phát triển quyền công dân, quyền con người,nghĩa là sứ mệnh lịch sử của Nhà nước này là xây dựng một xãhội, trong đó phát triển được sự tự do tối đa và sự phát triển toàn
Trang 5diện của con người theo năng lực của họ.
Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa đòi hỏi phải tuânthủ nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa, pháp luật phải đượcchấp hành, thực hiện nghiêm minh và thống nhất trong toàn quốc
Vì vậy, bảo đảm và tăng cường hoạt động trợ giúp pháp lý củaluật sư là điều kiện không thể thiếu để đánh giá mức độ đạt củamục tiêu nêu trên, đồng thời sẽ góp phần tích cực nâng cao nhậnthức pháp luật của nhân dân, từ đó họ sử dụng pháp luật để bảo vệquyền và lợi ích hợp pháp của mình hoặc thông qua tổ chức trợgiúp pháp lý để bảo vệ các quyền và lợi ích đó khi bị xâm hại.Đồng thời, giúp họ có những ứng xử phù hợp với pháp luật, tránhcác vi phạm pháp luật do thiếu hiểu biết
- Bảo đảm và tăng cường hoạt động trợ giúp pháp lý của luật sư phải quán triệt quan điểm của Đảng về cải cách tư pháp
Nghị quyết Đại hội VIII khẳng định cải cách nền hànhchính nhà nước là trọng tâm của việc xây dựng và hoàn thiện nhànước trong những năm trước mắt, công cuộc cải cách hành chínhphải dựa trên cơ sở pháp luật và tiến hành đồng bộ trên các mặt:cải cách thể chế hành chính, tổ chức bộ máy và xây dựng, kiệntoàn đội ngũ cán bộ, công chức hành chính Tại Đại hội đại biểu
Trang 6toàn quốc lần thứ XI, Đảng ta tiếp tục khẳng định "Tập trung xâydựng nền hành chính nhà nước trong sạch, vững mạnh, bảo đảmquản lý thống nhất, thông suốt, hiệu lực, hiệu quả Thực hiệnchương trình tổng thể cải cách hành chính và hiện đại hóa nềnhành chính quốc gia" [17]
Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị(khóa IX) về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống phápluật Việt Nam đến năm 2010 định hướng đến năm 2020: "Khuyếnkhích các tổ chức cá nhân phát triển dịch vụ thông tin, tư vấn hỗtrợ pháp luật đáp ứng các yêu cầu đa dạng của nhân dân và phùhợp với pháp luật Đẩy mạnh hoạt động trợ giúp pháp lý chongười nghèo và các đối tượng chính sách theo hướng xã hội hóa
…" [18] Tiếp theo đó, Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005của Bộ Chính trị (khóa IX) về chiến lược cải cách tư pháp đếnnăm 2020 đã chủ trương "Nâng cao vai trò của pháp luật trong đờisống xã hội, sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật là ứng
xử thiết thân của công dân, cơ quan nhà nước và các tổ chức xãhội" [19] Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ X tiếp tục khẳng định:
"Xây dựng hệ thống cơ quan tư pháp trong sạch, vững mạnh, dânchủ, nghiêm minh, bảo vệ công lý, quyền con người Đẩy mạnhthực hiện chiến lược cải cách Tư pháp đến năm 2020" [20, tr.127]
Trang 7Để đáp ứng được các mục tiêu trên, đòi hỏi phải tăng cườnghơn nữa hoạt động trợ giúp pháp lý của luật sư như thế nào để cóthể huy động được nguồn lực xã hội, nguồn lực con người để phục
vụ cho người nghèo, đối tượng chính sách ngay tại cơ sở Việc cảicách hành chính sẽ giúp cho luật sư thực hiện nhanh chóng, đơngiản các thủ tục để thực hiện trợ giúp pháp lý cho người dân đặcbiệt là người được trợ giúp pháp lý Đồng thời, trợ giúp pháp lýcũng cần có sự đổi mới, điều chỉnh, rút gọn các thủ tục, giấy tờ đểngười được trợ giúp pháp lý dễ dàng tiếp cận hoặc tăng tính chủđộng tiếp cận của người được trợ giúp pháp lý
- Bảo đảm và tăng cường hoạt động trợ giúp pháp lý của luật sư ở Việt Nam phải gắn liền với quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước về phát triển trợ giúp pháp lý
Phát triển bền vững là mục tiêu chung của toàn thế giới, trởthành trung tâm của sự phát triển trong mọi lĩnh vực khi xã hộibước vào thế kỷ 21 Hoạt động trợ giúp pháp lý cũng không nằmngoài quy luật này, sự phát triển này phải bảo đảm sự ổn định, lâubền, luôn có tính kế thừa và tính dự báo tương lai nhằm cung cấpdịch vụ trợ giúp pháp lý kịp thời, đầy đủ, có chất lượng cho ngườidân thuộc diện trợ giúp pháp lý, bảo vệ tốt nhất quyền và lợi íchhợp pháp của công dân khi có vướng mắc pháp luật, bảo vệ công
Trang 8lý, công bằng xã hội, tăng hiệu quả thực thi công vụ và ý thứctuân thủ pháp luật, chấp hành pháp luật, đưa pháp luật vào đờisống Theo đó, sẽ bảo đảm huy động và sử dụng có hiệu quả cácnguồn lực xã hội, đẩy mạnh tiến trình thực hiện chủ trương xã hộihóa hoạt động trợ giúp pháp lý; xác định lộ trình để tiến dần đếnviệc bảo đảm tất cả những người thuộc diện yếu thế gặp khó khăntrong việc sử dụng dịch vụ pháp lý của thị trường đều được trợgiúp pháp lý Ngoài ra, có định hướng bảo đảm dịch vụ trợ giúppháp lý có chất lượng, có tính chuyên nghiệp cao, có vai trò trongviệc bảo vệ công lý và thu hút sự tham gia tích cực của chínhngười được trợ giúp pháp lý và xã hội vào quá trình trợ giúp pháplý.
Vì vậy, bảo đảm và tăng cường hoạt động trợ giúp pháp lýcủa luật sư là một trong những yếu tố quan trọng và quyết địnhcho sự phát triển bền vững của hoạt động này Việc tăng cường vaitrò của luật sư trong hoạt động trợ giúp pháp lý phải được tiếnhành ngay trong từng giai đoạn phát triển và phải có lộ trình pháttriển, hoàn thiện cụ thể, phù hợp với tình hình phát triển kinh tế -
xã hội của đất nước Bên cạnh việc tăng cường số lượng luật sưtham gia trợ giúp pháp lý còn cần quan tâm và chú trọng đến chấtlượng của đội ngũ luật sư này Có như vậy, mới đáp ứng được nhucầu của người dân cũng như yêu cầu phát triển của xã hội đối với
Trang 9hoạt động trợ giúp pháp lý.
- Bảo đảm và tăng cường hoạt động trợ giúp pháp lý của luật sư ở Việt Nam gắn liền với chủ trương của Đảng và Nhà nước về xã hội hóa hoạt động trợ giúp pháp lý
Xã hội hóa một lĩnh vực là chủ trương lớn của Đảng và Nhànước, đặc biệt là lĩnh vực liên quan đến việc chăm lo đời sống conngười, theo hướng "Nhà nước và nhân dân cùng làm"; trong đóNhà nước giữ vai trò nòng cốt Đối với lĩnh vực trợ giúp pháp lý,Đảng đã khẳng định chủ trương "đẩy mạnh hoạt động trợ giúppháp lý cho người nghèo và các đối tượng chính sách theo hướng
xã hội hóa" [18] Ngoài ra, quan điểm xã hội hóa nói chung và xãhội hóa hoạt động trợ giúp pháp lý nói riêng đã được Đảng và Nhànước ta thể hiện nhất quán trong các Văn kiện Đại hội Đảng toànquốc lần thứ VIII, lần thứ IX, lần thứ X và Nghị quyết số 49-NQ/TW đều đã chỉ rõ cần phải giải quyết các vấn đề xã hội theotinh thần xã hội hóa, trong đó nhà nước giữ vai trò nòng cốt ĐếnĐại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, quan điểm xã hội hóa dịch
vụ công tiếp tục được khẳng định: "Tổ chức cung ứng các sảnphẩm hàng hóa và dịch vụ thiết yếu mà khu vực kinh tế tư nhânchưa làm được không muốn làm" [21, tr 140]
Với các chủ trương trên, ngay từ khi mới ra đời hoạt động
Trang 10trợ giúp pháp lý đã được coi là trách nhiệm của Nhà nước trongviệc bảo đảm các quyền Hiến định của công dân như: Nhà nướcbảo đảm các quyền của công dân, quyền bình đẳng trước phápluật, quyền bào chữa của bị cáo được bảo đảm, bị cáo có thể tựbào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa cho mình, không ai bị coi
là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Tòa
án đã có hiệu lực pháp luật…
Trợ giúp pháp lý là trách nhiệm của Nhà nước đối với côngdân trong lĩnh vực pháp luật, nhưng đây là hoạt động có ý nghĩa
về mặt xã hội, phù hợp với truyền thống "lá lành đùm lá rách",
"uống nước nhớ nguồn" của Việt Nam, thể hiện tinh thần tươngthân tương ái của con người trong đời sống xã hội, giúp đỡ ngườiyếu thế trong xã hội, phù hợp với xu thế tiến bộ của cả nhân loại.Chính vì vậy, Nhà nước không chỉ thực hiện một mình mà cònkhuyến khích sự tham gia của cả cộng đồng, sự đóng góp nguồnlực tài chính đến các nguồn lực hỗ trợ khác như: bồi dưỡng cán
bộ, thông tin, truyền thông…) từ cá nhân, cơ quan, tổ chức trong
và ngoài nước Trong bối cảnh hiện nay, xã hội hóa một số hoạtđộng dịch vụ công là một trong những chủ trương lớn của Đảng
và Nhà nước để huy động sự tham gia của xã hội vào thực hiệncác dịch vụ này, đáp ứng nhu cầu ngày càng lớn của đông đảongười dân Như vậy, xã hội hóa là tạo sự tham gia rộng rãi của các
Trang 11chủ thể theo điều kiện, khả năng của họ và mặt khác, tính xã hộicũng thể hiện ở các hình thức, lĩnh vực và phương thức hoạt động.
Việc xã hội hóa công tác trợ giúp pháp lý tạo cơ chế, giảipháp để khuyến khích phát triển đội ngũ luật sư, những ngườicông tác trong ngành Tư pháp đã nghỉ hưu, các tổ chức chính trị -
xã hội, tổ chức chính trị - xã hội nghề nghiệp…, tổ chức hànhnghề luật sư tham gia cùng Nhà nước thực hiện trợ giúp pháp lýcho người nghèo và người có hoàn cảnh đặc biệt Xã hội hóa đồngnghĩa với việc Nhà nước tạo môi trường pháp lý cho các lựclượng xã h ội cùng tham gia hoạt động trong lĩnh vực trợ giúppháp lý
Như vậy, xã hội hóa trợ giúp pháp lý không phải là Nhànước chuyển giao toàn bộ nhiệm vụ trợ giúp pháp lý cho xã hội
mà xã hội hóa trợ giúp pháp lý phải được hiểu là việc Nhà nướctạo cơ chế cho việc đa dạng hóa chủ thể (cơ quan, tổ chức, cánhân) tham gia vào việc thực hiện các hoạt động trợ giúp pháp lý.Đối với các tổ chức xã hội, Nhà nước khuyến khích tham gia trợgiúp pháp lý để tổ chức xã hội thực hiện trách nhiệm đối với thànhviên, hội viên của tổ chức mình; đối với luật sư và tổ chức hànhnghề luật sư có nghĩa vụ xã hội của nghề nghiệp đối với ngườinghèo, nhóm người yếu thế Nhà nước còn khuyến khích các tổ
Trang 12chức từ thiện… tham gia hỗ trợ hoạt động trợ giúp pháp lý bằng cáchình thức phù hợp (nghiên cứu, tư vấn, thông tin…) Tại các vùng,miền còn nhiều khó khăn về kinh tế, xã hội và những vùng đồngbào chịu nhiều ảnh hưởng của nhiều phong tục, tập quán lạc hậunhư vùng núi, biên giới…, việc thu hút các nguồn lực xã hội khácngoài Nhà nước là công việc không có tính khả thi cao Vì vậy, tạicác vùng này, vai trò của Nhà nước là cực kỳ quan trọng, Nhànước phải là chủ thể chủ yếu trong việc bảo đảm cung cấp dịch vụpháp lý miễn phí cho người dân thuộc diện được trợ giúp pháp lý.
Hiện nay, các tổ chức trợ giúp pháp lý đã được hình thành
và phát triển, trong 17 năm qua đã đạt được những kết quả đáng
kể, mạng lưới trợ giúp pháp lý phát triển rộng khắp trong cả nước.Đây là thành tựu của xã hội hóa công tác trợ giúp pháp lý cũngnhư đặt ra yêu cầu tiếp tục xã hội hóa công tác này đề huy động
sự tham gia của các cá nhân, tổ chức xã hội, tổ chức hành nghềluật sư, cơ quan, tổ chức khác có khả năng phối hợp trong côngtác trợ giúp pháp lý để phát huy tác dụng tích cực, đáp ứng nhucầu trợ giúp pháp lý của người dân
Luật Trợ giúp pháp lý đã thể hiện rõ quan điểm của Đảng vàNhà nước về việc xã hội hóa hoạt động trợ giúp pháp lý để bảođảm quyền được giúp đỡ về mặt pháp lý của người nghèo, đối
Trang 13tượng chính sách khi họ có vướng mắc hoặc có khiếu kiện LuậtTrợ giúp pháp lý đã quy định đa dạng hóa các chủ thể trợ giúppháp lý, ngoài Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước làm nòng cốt,Luật cũng tạo cơ chế thu hút các tổ chức khác tham gia trợ giúppháp lý, đó là tổ chức hành nghề luật sư và tổ chức tư vấn phápluật thuộc các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị - xã hộinghề nghiệp tham gia hoạt động này.
Chiến lược phát triển trợ giúp pháp lý ở Việt Nam đến năm
2020, định hướng đến năm 2030 (Quyết định số 678/QĐ-TTgngày 10/5/2011 của Thủ tướng Chính phủ) đã cụ thể hóa chủtrương xã hội hóa công tác này của Đảng; Nhà nước đóng vai trònòng cốt trong việc tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý, phát huytính chủ động, tự giác, tích cực tham gia thực hiện của người thựchiện trợ giúp pháp lý, tiến tới giai đoạn Nhà nước đóng vai trò thuhút, điều phối nguồn lực để ô hình tổ chức tham gia trợ giúp phápcủa xã hội ngày càng phát triển… Mục tiêu giai đoạn 2010 - 2015:Nhà nước huy động, khuyến khích mọi nguồn lực hiện có, các tổchức đoàn thể xã hội và cộng đồng tham gia trợ giúp pháp lý, nhất
là các luật sư, luật gia, các chuyên gia ở các lĩnh vực và các lựclượng xã hội khác; nghiên cứu chính sách hỗ trợ các tổ chức, cánhân khi thực hiện trợ giúp pháp lý; mục tiêu giai đoạn 2016-2020: Huy động, khuyến khích tối đa các tổ chức hành nghề luật
Trang 14sư, tư vấn pháp luật đăng ký tham gia trợ giúp pháp lý, bảo đảm
có đủ nguồn lực để thực hiện trợ giúp pháp lý đáp ứng nhu cầu đadạng của nhân dân
Vì vậy, việc bảo đảm và tăng cường hoạt động trợ giúppháp lý của luật sư không tách rời khỏi chủ trương xã hội hóacông tác trợ giúp pháp lý
- Bảo đảm, tăng cường hoạt động trợ giúp pháp lý của luật sư ở Việt Nam phải tương thích với hoạt động trợ giúp pháp lý của các luật sư trong khu vực và trên thế giới
Trong bối cảnh Việt Nam đang hội nhập mạnh mẽ về nhiềumặt với các quốc gia khu vực và trên thế giới thì hoạt động trợgiúp pháp lý nói chung và hoạt động trợ giúp pháp lý của luật sưnói riêng không nằm ngoài chủ trương này Thực tiễn trong thờigian qua đã cho thấy, những thành tựu đã đạt được của hoạt độngtrợ giúp pháp lý có sự đóng góp không nhỏ của sự giao lưu, hợptác quốc tế với các nước trong khu vực và trên thế giới Việctương thích giữa hoạt động trợ giúp pháp lý ở Việt Nam với cácnước trên thế giới có xuất phát từ nhu cầu hội nhập Muốn tạodựng, thiết lập quan hệ hợp tác quốc tế có hiệu quả thì cơ chế thuhút luật sư tham gia trợ giúp pháp lý cần tương thích với nướcngoài, đồng thời việc tương thích cũng là điều kiện để tăng cường
Trang 15quan hệ hợp tác quốc tế Bên cạnh đó, hiện nay Việt Nam đã kýkết nhiều thỏa thuận hợp tác quốc tế trong lĩnh vực tư pháp, trong
đó có hoạt động trợ giúp pháp lý, theo đó người Việt Nam sẽ đượchưởng sự trợ giúp pháp lý của các nước đã ký kết với Việt Nam vàngược lại Vì vậy, chất lượng trợ giúp pháp lý viên pháp lý cũngnhư chất lượng luật sư tham gia trợ giúp pháp lý, đối tượng đượchưởng dịch vụ trợ giúp pháp lý miễn phí ở nước ta cũng cần có sựtương thích với các nước với các nước trong khu vực và thế giới,
có như vậy mới tạo được sự gắn kết chặt chẽ mối quan hệ hợp tácquốc tế trong lĩnh vực này
- Những giải pháp nâng cao vai trò của luật sư trong hoạt động trợ giúp pháp lý ở việt nam
- Hoàn thiện chính sách, pháp luật về trợ giúp pháp lý
Trong những năm gần đây, thực hiện Nghị quyết số NQ/TW của Bộ Chính trị (khóa IX) hệ thống pháp luật Việt Namkhông ngừng được hoàn thiện: các văn bản luật, dưới luật đượcban hành với số lượng lớn, cơ bản bảo đảm mỗi lĩnh vực của đờisống xã hội đều được điều chỉnh bằng một đạo luật tương ứng;chất lượng văn bản ngày càng được nâng lên Những thành tựu đó
48-đã đáp ứng ngày một tốt hơn yêu cầu quản lý nhà nước, quản lý
xã hội bằng pháp luật; tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa Bên
Trang 16cạnh những ưu điểm đó, hệ thống pháp luật hiện nay cũng bộ lộnhiều bất cập, đó là tình trạng các văn bản pháp luật còn bị chồngchéo, nội dung của các quy phạm pháp luật xa rời thực tiễn, thiếutính khả thi Vì vậy, để tăng cường hoạt động trợ giúp pháp lý củaluật sư cũng như nâng cao chất lượng vụ việc trợ giúp pháp lý củaluật sư cần phải tiếp tục tổng kết thực tiễn để sửa đổi, bổ sunghoặc xây dựng mới các văn bản quy phạm pháp luật, bảo đảm cho
hệ thống pháp luật được đồng bộ, hoàn chỉnh và có tính khả thicao
Hiện nay, số lượng văn bản pháp luật quy định về trợ giúppháp lý trong đó có văn bản chuyên ngành về trợ giúp pháp lý vàvăn bản pháp luật có liên quan đến hoạt động trợ giúp pháp lý củaluật sư chưa có sự thống nhất Vì vậy, cần tiến hành tổng kết, đánhgiá toàn diện về thực tiễn triển khai hoạt động trợ giúp pháp lý vàđặc biệt là hoạt động trợ giúp pháp lý của luật sư sau 07 năm thihành Luật Trợ giúp pháp lý và Luật Luật sư vì từ thực tiễn có thểthấy hoạt động cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí của Trợ giúpviên pháp lý và hoạt động cung cấp dịch vụ pháp lý của luật sư về
cơ bản là tương đồng vì vậy cần có sự thống nhất các chức danhnày theo hướng chỉ có luật sư mới được hành nghề cung cấp dịch
vụ pháp lý (bao gồm cả miễn phí và có thu phí), để từ đó khẳngđịnh trách nhiệm cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí cho người
Trang 17nghèo, đối tượng chính sách và các đối tượng yếu thế khác trong
xã hội là của Nhà nước nhưng việc thực hiện dịch vụ này phải docác luật sư thực hiện, tạo tiền đề đẩy mạnh xã hội hóa hoạt độngtrợ giúp pháp lý Đồng thời, cần nghiên cứu để hợp nhất Luật Trợgiúp pháp lý và Luật Luật sư thành một đạo luật duy nhất điềuchỉnh toàn diện các hoạt động cung cấp dịch vụ pháp lý Có nhưvậy mới bảo đảm cho các quy định của pháp luật trong lĩnh vựcnày có tính khả thi, thống nhất, đồng bộ và sát với yêu cầu thựctiễn
Ngoài ra, cần hoàn thiện các quy định của pháp luật về quản
lý chất lượng dịch vụ pháp lý miễn phí và chất lượng hoạt độngtrợ giúp pháp lý của Trợ giúp viên pháp lý cũng như luật sư cộngtác viên Hiện nay, mới có Bộ tiêu chuẩn đánh giá chất lượng vụviệc trợ giúp pháp lý (đánh giá dịch vụ pháp lý được cung cấp) vàmột số khâu có áp dụng quy trình quản lý chất lượng theo tiêuchuẩn ISO mà chưa có quy định về cơ chế giám sát, đánh giá chấtlượng hoạt động trợ giúp pháp lý nói chung và hoạt động trợ giúppháp lý của luật sư nói riêng Vì vậy, cần thiết phải ban hành vănbản pháp luật quy định cơ chế giám sát, đánh giá chất lượng hoạtđộng trợ giúp pháp lý nói chung Trong đó chú trọng vấn đề quyđịnh cơ chế giám sát, đánh giá chất lượng hoạt động trợ giúp pháp
lý của Nhà nước và xã hội, bảo đảm dù hoạt động trợ giúp pháp lý
Trang 18được tiến hành bởi bất kỳ chủ thể nào, dù là Nhà nước hay xã hộicũng phải bảo đảm chất lượng như nhau Có như vậy mới tạo rađược sự bình đẳng giữa các chủ thể thực hiện trợ giúp pháp lý.Ngoài ra, cần thiết huy động xã hội và chính người được trợ giúppháp lý vào quá trình đánh giá, giám sát chất lượng, họ đóng vaitrò là người "phản biện" đối với các chủ thể thực hiện hoạt độngtrợ giúp pháp lý đối với các chủ thể thực hiện hoạt động trợ giúppháp lý để nâng cao trách nhiệm của các chủ thể đặc biệt là đốivới luật sư.
Pháp luật về trợ giúp pháp lý cần bổ sung thêm các nhómđối tượng yếu thế mới và người Việt Nam ở nước ngoài, diện đốitượng được quy định trong các điều ước quốc tế mà Việt Nam làthành viên Bảo đảm sự hài hòa giữa pháp luật về trợ giúp pháp lýcủa Việt Nam với pháp luật trợ giúp pháp lý của các nước trongkhu vực
- Tăng cường công tác thông tin, truyền thông về trợ giúp pháp lý nói chung và quyền được trợ giúp pháp lý của người dân nói riêng
Thông tin và truyền thông về trợ giúp pháp lý giúp ngườidân biết được những nội dung cơ bản về trợ giúp pháp lý để có thểyêu cầu trợ giúp pháp lý khi cần thiết Đồng thời, truyền thông về
Trang 19trợ giúp pháp lý còn nâng cao nhận thức về hoạt động trợ giúppháp lý của các cơ quan, tổ chức và công dân, từ đó họ thể thamgia vào quá trình giám sát, đánh giá, kiểm chứng chất lượng hoạtđộng trợ giúp pháp lý.
Các thông tin về trợ giúp pháp lý chủ yếu bao gồm: nhữngđối tượng thuộc diện được trợ giúp pháp lý, các quyền và nghĩa vụcủa người được trợ giúp pháp lý, các quyền và nghĩa vụ của ngườithực hiện trợ giúp pháp lý, thủ tục yêu cầu trợ giúp pháp lý, cáchình thức thực hiện trợ giúp pháp lý (tư vấn pháp luật, tham gia tốtụng, đại diện ngoài tố tụng, các hình thức trợ giúp pháp lý khác),các trường hợp từ chối hoặc không tiếp tục thực hiện trợ giúppháp lý, các hành vi bị nghiêm cấm trong hoạt động trợ giúp pháp
lý, địa chỉ, điện thoại liên hệ của các tổ chức trợ giúp pháp lý,danh sách Trợ giúp viên pháp lý, luật sư cộng tác viên thuộc phạm
vi quản lý của Trung tâm, Chi nhánh, danh sách tư ấn viên phápluật của tổ chức tham gia trợ giúp pháp lý, các vụ việc trợ giúppháp lý đã thành công, các hoạt động trợ giúp pháp lý đã triểnkhai
Các phương thức truyền thông rất phong phú, đa dạng như
tờ gấp pháp luật, báo, đài phát thanh, truyền hình, loa phóng thanh
xã, thôn, bản, qua các cơ quan tiếp dân, văn phòng luật sư, các tổ
Trang 20chức chính trị - xã hội (Hội Nông dân, Hội Phụ nữ, Hội Cựu chiếnbinh, Đoàn thanh niên…), tổ hòa giải cơ sở, tổ dân phố, đặt bảngthông tin, hộp tin giới thiệu về Trung tâm và Chi nhánh đặt tại trụ
sở tất cả các cơ quan tiến hành tố tụng, Trại tạm giam, Nhà tạmgiữ, trụ sở Ủy ban nhân các cấp, trường học (Trung học phổ thông
và trung học cơ sở), bệnh viện, Trạm y tế, Đồn Biên phòng, Bưuđiện văn hóa xã Tương ứng với các phương thức truyền thông làcác sản phẩm truyền thông như: phóng sự, phim truyền hình, phimtài liệu; các thông điệp quảng bá, khẩu hiệu; hình ảnh, tranh minhhọa; các câu hỏi, đáp về trợ giúp pháp lý, các tình huống phápluật…
Đối với những vùng có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số cóthể dịch ra tiếng dân tộc thiểu số và truyền thông tại xã, thôn,làng, bản phù hợp với trình độ, phong tục tập quán và đặc thù củatừng vùng, từng địa phương như trợ giúp pháp lý lưu động (gắntrực tiếp loa phóng thanh vào xe ô tô của Trung tâm; lồng ghéptrong các lễ hội văn hóa, phiên chợ, hoạt động tôn giáo), sinh hoạtchuyên đề pháp luật, sinh hoạt Câu lạc bộ trợ giúp pháp lý, hoạtđộng trợ giúp pháp lý của từng cộng tác viên; lồng ghép trợ giúppháp lý với các hoạt động tư pháp khác…; xây dựng, phát hànhcác loại tờ gấp pháp luật với đủ số lượng phù hợp với đặc thù vànhu cầu của từng tỉnh, từng huyện; dịch tờ gấp pháp luật ra tiếng
Trang 21dân tộc với văn phong ngắn gọn, đơn giản, dễ hiểu tập trung vàocác quy định pháp luật liên quan trực tiếp đến quyền và nghĩa vụcủa đồng bào dân tộc thiểu số, hướng dẫn cụ thể những việc đượclàm và không được làm; biên soạn các tài liệu pháp luật truyềnthông pháp luật có nội dung là những câu chuyện, tiểu phẩm phápluật hấp dẫn; thu băng cassette hỏi đáp về những lĩnh vực phápluật có liên quan mật thiết đến người dân để phát thanh hàng ngàytrên truyền thanh của xã, bản…
- Kiện toàn, nâng cao năng lực đội ngũ luật sư tham gia trợ giúp pháp lý
Liên đoàn Luật sư Việt Nam cần hỗ trợ các luật sư đặc biệt
là các luật sư ở các tỉnh miền núi, vùng kinh tế đặc biệt khó khăntrong việc đào tạo, nâng cao kỹ năng hành nghề khi tham gia trợgiúp pháp lý
Trung tâm bồi dưỡng nghiệp vụ luật sư thuộc Liên đoànLuật sư Việt Nam cần có cơ chế phối hợp với Trung tâm bồidưỡng nghiệp vụ trợ giúp pháp lý thuộc Cục Trợ giúp pháp lý, Bộ
Tư pháp trong việc tổ chức các đợt tập huấn, bồi dưỡng chuyênmôn, nghiệp vụ cho luật sư cộng tác viên đặc biệt là các kỹ năngtrợ giúp pháp lý cho đối tượng đặc thù và coi đây là nhiệm vụ bắtbuộc đối với mỗi luật sư tham gia trợ giúp pháp lý với tư cách là
Trang 22cộng tác viên (40 giờ học tập mỗi năm)
Cục Trợ giúp pháp lý và cần ban hành Đề án tập huấnnghiệp vụ trợ giúp pháp lý cơ bản và nâng cao để bảo đảm nângcao trình độ của Trợ giúp viên pháp lý cũng như luật sư cộng tácviên Đặc biệt chú trọng bồi dưỡng về ngôn ngữ, tiếng nói củađồng bào dân tộc thiểu số tại các vùng có nhiều đồng bào dân tộcthiểu số cho đội ngũ luật sư cộng tác viên
Liên đoàn Luật sư Việt Nam và Cục Trợ giúp pháp lý, Bộ
Tư pháp cần thường xuyên tổ chức các buổi hội thảo, tọa đàm,chuyên đề nghiên cứu, các chuyến khảo sát học hỏi kinh nghiệm
để luật sư cộng tác viên có cơ hội trao đổi về nghiệp vụ và kinhnghiệm trợ giúp pháp lý
Ngoài ra, cũng cần tăng cường giao lưu, chia sẻ, học tậpkinh nghiệm phát triển mô hình trợ giúp pháp lý của các nướctrong khu vực và trên thế giới để nhân rộng các điển hình, rút racác bài học kinh nghiệm từ đó có tính kế thừa, chọn lọc những ưuđiểm, tránh những sai lầm, khuyết điểm, để đề xuất các chủtrương, chính sách phát triển trợ giúp pháp lý phù hợp với tìnhhình thực tiễn tại Việt Nam từ đó làm cơ sở để đề xuất sửa đổi,điều chỉnh pháp luật về trợ giúp pháp lý
- Xây dựng nghĩa vụ thực hiện trợ giúp pháp lý của luật