1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

NHỮNG ĐÓNG góp của đầu tư TRỰC TIẾP nước NGOÀI đối với PHÁT TRIỂN KINH tế VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG

43 132 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 43
Dung lượng 95,09 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong nhữngnăm qua, vùng kinh tế đồng bằng sông Hồng đã đạt được những thành tựuquan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội như sau: - Về sản xuất nông nghiệp: Từ nền nông nghiệp lúa nư

Trang 1

NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI ĐỐI VỚI

PHÁT TRIỂN KINH TẾ VÙNG

ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG

Trang 2

- Khái quát chung về kinh tế - xã hội vùng đồng bằng sông Hồng

-Quá trình hình thành vùng đồng bằng sông Hồng

Vị trí địa lý: Vùng đồng bằng sông Hồng (ĐBSH) nằm ngay cạnh

phía Nam của đường Bắc chí tuyến, giữa vĩ độ 22°00' và 21°30' Bắc vàkinh độ 105°30' và 107°00'Đông Diện tích tự nhiên là 23.336 km2, chiếm7,1% diện tích đất của cả nước và dân số chiếm 22,7% dân số của cả nước.Mật độ dân số trên 1 km2 là 961 người, cao nhất so với các vùng khác trong

cả nước và có thể là một trong những vùng nông thôn có mật độ dân số caonhất thế giới (Mật độ bình quân của cả nước là 268 người/km2) Mật độdân số của vùng ĐBSH cao gấp 3,58 lần so với cả nước và 1,57 lần so vớivùng có mật độ dân số đứng thứ hai là Đông Nam Bộ Trong số 8 tỉnh,thành phố của cả nước có mật độ dân số trên 1.000 người/km2 thì riêngVùng ĐBSH đã có 7 tỉnh, thành phố Phía Bắc và Tây Bắc giáp trung du vàmiền núi, giàu tài nguyên khoáng sản và rừng, phía Đông giáp Vịnh Bắc

Bộ, có nguồn lợi hải sản phong phú và có khả năng có dầu khí, phía Namgiáp Bắc Trung Bộ, giàu vật liệu xây dựng và kim loại quý

Theo số liệu thống kê đến hết năm 2014, Vùng ĐBSH có 2 thànhphố trực thuộc Trung ương là Hà Nội và Hải Phòng; 09 thành phố trựcthuộc tỉnh; 16 quận, 6 thị xã, 96 huyện; 364 phường; 122 thị trấn và 1.965

xã Khu trung tâm của vùng ĐBSH rất bằng phẳng, phần lớn nằm ở độ cao

từ 0,4 m đến 12 m so với mực nước biển, với 56% có độ cao thấp hơn2km.Đơn vị hành chínhgồm 11 tỉnh, thành phố: Hà Nội, Bắc Ninh, HàNam, Hải Dương, Hải Phòng, Hưng Yên, Nam Định, Ninh Bình, QuảngNinh, Thái Bình, Vĩnh Phúc

Về giao thông: ÐBSH giữ vai trò cửa ngõ phía Bắc của Tổ quốc; hệ

thống giao thông hiện có như: Mạng lưới đường bộ, đường sông, đườngbiển, đường hàng không, đường sắt, cảng biển Hải Phòng, cảng hàng khôngquốc tế sân bay Nội Bài - Hà Nội, là những đầu mối nối liền giữa ÐBSH

Trang 3

với các vùng kinh tế khác trong nước và mở rộng quan hệ giao lưu với cácnước trong khu vực và thế giới Ðịa bàn ÐBSH lại "cận kề" với nước bạnTrung Quốc (thị trường to lớn của cả thế giới) và "cách không xa" các nướcvùng Ðông - Bắc Á.

Về tài nguyên thiên nhiên: Trước hết, ở đây có các vùng sinh thái đa

dạng, có cả đồng bằng, trung du và miền núi; có đồng ruộng màu mỡ vớiđồng bằng châu thổ sông Hồng Những vùng sinh thái phong phú là điềukiện cơ bản để phát triển nền sản xuất hàng hóa nông - lâm - ngư nghiệptoàn diện Nhờ đó, ÐBSH được mệnh danh là vựa lúa; hằng năm, tổng sảnlượng lương thực có hạt, thực phẩm và nhiều loại nông sản khác đứng thứhai của cả nước (sau đồng bằng sông Cửu Long); đã góp phần quan trọngvào việc bảo đảm an ninh lương thực và hàng hóa nông sản xuất khẩu.Trong vùng có một số tài nguyên khoáng sản với trữ lượng rất lớn như:than đá chiếm 98%, cao lanh chiếm 40%, đá vôi chiếm 25% so với tổng trữlượng của cả nước

Về con người: Vùng ÐBSH có nguồn nhân lực lớn, trình độ dân trí

cao, tập trung đội ngũ trí thức giỏi, nhân dân có truyền thống lao động cần

cù và sáng tạo Vùng đã tập trung khoảng 26% số cán bộ có trình độ caođẳng và đại học, 72% số cán bộ có trình độ trên đại học, 23,6% lực lượnglao động kỹ thuật của cả nước Có gần 100 trường cao đẳng, đại học, 70trường trung học chuyên nghiệp, 60 trường công nhân kỹ thuật và 40trường dạy nghề; hàng trăm viện nghiên cứu chuyên ngành, trong đó cónhiều viện đầu ngành, hơn 20 bệnh viện đầu ngành, là một trong ba trungtâm y tế chuyên sâu của cả nước; 100% số tỉnh, thành phố đã hoàn thànhphổ cập tiểu học và trung học cơ sở đúng độ tuổi quy định Thực tế chothấy, vùng ÐBSH dẫn đầu các vùng trong cả nước về số lượng, chất lượngnguồn nhân lực và khả năng nghiên cứu triển khai khoa học, công nghệ,giáo dục, đào tạo, chăm sóc sức khỏe nhân dân

Trang 4

- Tổng quan tình hình kinh tế - xã hội vùng đồng bằng Sông Hồng

Vùng kinh tế đồng bằng sông Hồng có vị trí và vai trò đặc biệt quantrọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của cả nước Trong nhữngnăm qua, vùng kinh tế đồng bằng sông Hồng đã đạt được những thành tựuquan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội như sau:

- Về sản xuất nông nghiệp: Từ nền nông nghiệp lúa nước độc canh,

đến nay cơ cấu kinh tế của vùng đã có những thay đổi đáng kể, nhưng vẫnmang sắc thái của nền nông nghiệp nhỏ bé, lạc hậu, độc canh Đất nôngnghiệp chiếm 50,35% diện tích đất tự nhiên Trong đó:

+ Cây lương thực 1,2 triệu ha (14,0% diện tích đất nông nghiệp cảnước), sản lượng lương thực đạt 7,20 triệu tấn (16,65% cả nước); đất trồnglúa là 1,15 triệu ha (15,6% cả nước), sản lượng là 6,77 triệu tấn (17,5% cảnước) Cây hoa màu chỉ chiếm 5% chủ yếu là ngô (diện tích 91.600 ha, sảnlượng 404,1 ngàn tấn), còn lại là khoai, sắn trên các vùng đất bãi ven sônghoặc vùng đất cao luân canh với các cây ngắn ngày khác

+ Cây công nghiệp hàng năm nhiều nhất là đay (55,1%) và cói(41,28%) cả nước Ngoài ra còn có đỗ tương, lạc, mía, thuốc lá, dâutằm,.v.v

+ ĐB sông Hồng có những vùng thâm canh, chuyên canh rau quảxuất khẩu lớn nhất cả nước trong vụ Đông-Xuân (đây là thế mạnh độc đáocủa vùng với 3 tháng mùa đông lạnh), phân bố tập trung ở hầu hết các tỉnhtrong vùng Diện tích rau đậu các loại khoảng trên 80,0 vạn ha Về chănnuôi, đàn lợn gắn với vùng sản xuất lương thực

- Về công nghiệp: Là vùng công nghiệp phát triển vào loại sớm nhất

ở nước ta, tập trung nhiều xí nghiệp công nghiệp hàng đầu cả nước Nhữngngành quan trọng, chiếm tỉ trọng cao trong cơ cấu GDP là công nghệ chếbiến lương thực - thực phẩm (20,9%), công nghiệp nhẹ (dệt, may, da)19,3%, công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng (17,9%), cơ khí (thiết bị

Trang 5

máy móc, điện tử, điện) 15,6%, hóa chất - phân bón - cao su (8,1%) Sảnphẩm công nghiệp cung cấp cho nhu cầu của vùng, cho các tỉnh phía Bắc

và cả nước Một số khu, cụm công nghiệp được hình thành có ý nghĩa lớnđối với sự phát triển kinh tế - xã hội của vùng như Hà Nội, Hải Phòng, HảiDương, Bắc Ninh, Vĩnh Phúc hay khu công nghệ cao Hòa Lạc - Xuân Mai

Các KCN có quyết định thành lập ở ĐBSH nổi bật như:

- Hà Nội (KCN Đài Tư, KCN Sài Đồng B, KCN Daewoo-Hanel,KCN Bắc Thăng Long), Hà Tây (KCN Bắc Phù Cát)

- Hải Phòng (KCN Nomura, KCN Đình Vũ, KCN Hải Phòng 96)

- Hải Dương (KCN Đại An và KCN Phúc Điền)

- Hưng Yên (KCN Phố Nối)

- Bắc Ninh (KCN Tiên Sơn, KCN Quế Võ)

- Vĩnh Phúc (KCN Kim Hoa)

- Thái Bình (KCN Phúc Khánh)

- Các ngành dịch vụ, thương mại thực chất mới đang phát triển

+ Về giao thông vận tải: Vùng có nhiều đầu mối quan trọng nối vớicác tỉnh phía Bắc và phía Nam Là cửa khẩu quốc tế hàng đầu của cả nước(sân bay Nội Bài, cảng biển Hải Phòng) Mật độ đường ô tô 1,18 km/km2

(cả nước là 0,55 km/km2), đường sắt 29 km/100 km2 (cả nước là 0,8km/100 km2), đường sông có giá trị vận tải 2.046 km Hàng hóa vậnchuyển và luân chuyển (33,0 % và 36,01% cả nước); Hành khách vậnchuyển và luân chuyển (32,15% và 17,10 % của cả nước) Là trung tâmthương mại lớn của cả nước, vùng đảm nhận phân phối hàng hóa cho cáctỉnh phía Bắc và ven biển miền Trung Tổng mức bán lẻ chiếm 26% cảnước Là trung tâm tài chính, ngân hàng, xuất - nhập khẩu, du lịch, thôngtin, tư vấn, chuyển giao công nghệ lớn của cả nước Là vùng nổi trội hơnhẳn các vùng khác về dịch vụ bưu điện và kinh doanh tiền tế (tín dụng,

Trang 6

ngân hàng, bảo hiểm, kho bạc, xổ số) Về dịch vụ bưu điện, thì trên 70% làcung cấp cho ngoài vùng.

Trong những năm gần đây, cơ cấu kinh tế của vùng đang có sựchuyển dịch theo hưởng tăng tỉ trọng của khu vực công nghiệp - xây dựng

và dịch vụ, giảm tỉ trọng của khu vực nông nghiệp và công nghiệp

- Khái quát chung về FDI ở vùng đồng bằng sông Hồng

- Khái quát chung về FDI tại Việt Nam

- Tình hình thu hút vốn FDI vào Việt Nam

Năm 1977, Việt Nam đã ban hành Điều lệ Đầu tư nước ngoài nhưngchỉ có Hiệp định về thành lập Xí nghiệp liên doanh dầu khí Việt - Xô giữaViệt Nam với Liên Xô năm 1981 được thực hiện có kết quả Đại hội Đảnglần thứ VI (năm 1986) chủ trương đổi mới theo thể chế kinh tế thị trườngđịnh hướng XHCN và mở cửa với bên ngoài Ngày 29/12/1987, Luật Đầu

tư nước ngoài tại Việt Nam được Quốc hội thông qua Kể từ đó cho đếnnay, Việt Nam đã đạt được kết quả khả quan trong thu hút FDI Tính đếnhết năm 2014, đã có 18.740 dự án FDI còn hiệu lực, với tổng vốn đăng ký(cả cấp mới và tăng thêm) đạt 282,37 tỷ USD, vốn thực hiện đạt 122,25 tỷUSD (chiếm 43,3% vốn đăng ký) Trong đó vốn thực hiện của nước ngoài

là 97,62 tỷ USD, vốn thực hiện phía Việt Nam là 24,63 tỷ USD

Căn cứ biến động nguồn vốn FDI vào Việt Nam, có thể phân chiaquá trình phát triển của FDI thành bốn (04) giai đoạn:

- Giai đoạn 1 (1988-1997): Tổng vốn đăng ký đạt 35,6 tỷ USD, vốn

thực hiện là 13,37 tỷ USD (chiếm 37,5% vốn đăng ký).Ba năm 1988 –

1990 được coi là thời kỳ khởi động Từ năm 1991 đã diễn ra làn sóng FDIthứ nhất với nhịp độ thu hút tăng khá nhanh, bình quân hàng năm vốn đăng

ký tăng khoảng 50%, vốn thực hiện tăng 45%, cao hơn mức tăng trung bìnhcủa tổng vốn đầu tư xã hội (23%) Nguyên nhân là do những lợi thế củaViệt Nam như ổn định chính trị, chi phí lao động thấp, triển vọng phát triển

Trang 7

kinh tế, vị trí địa lý thuận lợi, thị trường tiêu thụ tiềm năng, đặc biệt đây làthời kỳ mới mở cửa nên Việt Nam thu hút sự chú ý của nhiều nhà đầu tư

- Giai đoạn 2 (1998-2004): Tổng vốn đăng ký đạt 23,88 tỷ USD, vốn

thực hiện là 17,84 tỷ USD (chiếm 75% vốn đăng ký) Vốn thực hiện bìnhquân hàng năm là 2,54 tỷ USD.Đây là thời kỳ suy thoái của FDI do ảnhhưởng của khủng hoảng tài chính Châu Á và không loại trừ ảnh hưởng phụcủa việc sửa đổi Luật Đầu tư nước ngoài năm 1996, trong đó có yêu cầunâng tỷ tệ nội địa hoá, điều chỉnh định hướng thu hút FDI hướng về xuấtkhẩu thay vì thay thế nhập khẩu, thay đổi ưu đãi thuế

- Giai đoạn 3 (2005-2008): Diễn ra làn sóng FDI thứ hai nhờ sự tăng

trưởng cao và ổn định của nền kinh tế thế giới nói chung và Việt Nam nóiriêng, cùng với việc thường xuyên cải thiện môi trường đầu tư và những tácđộng tích cực từ việc ký Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ, Hiệpđịnh Khuyến khích và Bảo hộ Đầu tư giữa Việt Nam và Nhật bản và ViệtNam trở thành thành viên thứ 150 của WTO Tổng vốn đăng ký giai đoạnnày đạt 111,918 tỷ USD, vốn thực hiện là 26,934 tỷ USD (chiếm 24% vốnđăng ký), gấp 4,68 vốn đăng ký và 1,5 lần vốn thực hiện so với giai đoạntrước

- Giai đoạn 4 (2009-2014): Do tác động của cuộc suy thoái toàn cầu

và khủng hoảng nợ công tại một số quốc gia và khu vực trên thế giới, cùngnhững yếu kém trong nội tại nền kinh tế, một số nguồn lực có tính cạnhtranh giảm dần (tài nguyên, lao động ) nên dòng FDI đã giảm sút mạnh từ

2009 đến nay Vốn đăng ký giai đoạn này đạt 97,3 tỷ USD, vốn thực hiệnđạt 53,96 tỷ USD (chiếm 55,5% vốn đăng ký)

Qua hơn 25 năm thu hút, đến nay FDI đã trải rộng khắp cả nước, vốnFDI đã có tại tất cả các tỉnh, thành phố trong cả nước Theo số liệu thống

kê, hiện tại Đông Nam Bộ là vùng thu hút được nhiều FDI nhất, tiếp theolần lượt là đồng bằng sông Hồng, Bắc Trung Bộ và Duyên Hải miền Trung;

Trang 8

Đồng bằng sông Cửu Long Số liệu thống kê FDI theo từng vùng kinh tếtrên cả nước được minh hoạ trong hình.

Số liệu thống kê cho thấy, khu vực Đông Nam Bộ với điều kiện cơ

sở vật chất và lao động trình độ cao, điều kiện giao thông thuận lợi, tàinguyên thiên nhiên phong phú đang thu hút được lượng vốn FDI lớn hơnrất nhiều lần so với các khu vực như khu vực trung du và miền núi phíaBắc và Tây Nguyên

-Vai trò của FDI đối với kinh tế Việt Nam

Sau hơn 25 năm thực hiện chính sách mở cửa, thu hút đầu tư nướcngoài với việc ban hành Luật Đầu tư nước ngoài năm 1987, khu vực kinh tế

có vốn đầu tư nước ngoài (ĐTNN) ngày càng phát huy vai trò quan trọng

và có những đóng góp đáng kể trong sự phát triển kinh tế - xã hội của ViệtNam Việc thu hút, sử dụng ĐTNN thời gian qua cơ bản đã đáp ứng nhữngmục tiêu đề ra về thu hút vốn, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, giải quyết việclàm, tăng năng suất lao động, tiếp thu công nghệ và kinh nghiệm quản lýhiện đại Điều này khẳng định chủ trương đúng đắn của Đảng và Nhà nướctrong việc phát triển kinh tế, hội nhập kinh tế quốc tế

Thứ nhất, ĐTNN góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực đầu tư trong nước

Đến hết tháng 12 năm 2014, cả nước có 18.740 dự án ĐTNN cònhiệu lực, tổng vốn đăng ký 282,37 tỷ USD, vốn thực hiện 122,25 tỷ USD(chiếm 43,3% vốn đăng ký ĐTNN là khu vực phát triển năng động nhấtvới tốc độ tăng GDP cao hơn tốc độ tăng trưởng cả nước: năm 1995 GDPcủa khu vực ĐTNN tăng 14,98% trong khi GDP cả nước tăng 9,54%; tốc

độ này tương ứng là 11,44% và 6,79% (2000), 13,22% và 8,44% (2005),8,12% và 6,78% (2014) Tỷ trọng đóng góp của khu vực ĐTNN trong GDPtăng dần, từ 2% GDP (1992), lên 12,7% (2000), 16,98% (2006) và 19,55%(2014) So sánh với mức trung bình của thế giới, đóng góp của khu vực

Trang 9

ĐTNN vào GDP của Việt Nam cao hơn 7,7 điểm % cho thấy ảnh hưởngcủa ĐTNN đối với nền kinh tế của Việt Nam là khá lớn Cụ thể:

ĐTNN bổ sung cho tổng vốn đầu tư xã hội: vốn ĐTNN thực hiện

tăng nhanh qua các thời kỳ, từ khoảng 20,67 tỷ USD, chiếm 24,32% tổngvốn đầu tư xã hội (1991- 2000) lên 69,47tỷ USD, chiếm 24,75% tổng vốnđầu tư xã hội (2001- 2014) Tỷ trọng khu vực ĐTNN trong cơ cấu kinh tếgiai đoạn 2000-2014 tăng 5,7%

Góp phần quan trọng vào xuất khẩu: trước năm 2001, xuất khẩu của

khu vực ĐTNN chỉ đạt 45,2% tổng kim ngạch, kể cả dầu thô Từ năm

2003, xuất khẩu của khu vực này bắt đầu vượt khu vực trong nước và dầntrở thành nhân tố chính thúc đẩy xuất khẩu, chiếm khoảng 66,8% tổng kimngạch xuất khẩu năm 2014

ĐTNN góp phần làm thay đổi cơ cấu mặt hàng xuất khẩu theo hướnggiảm tỷ trọng sản phẩm khai khoáng, mặt hàng sơ cấp, tăng dần tỷ trọnghàng chế tạo1, mở rộng thị trường xuất khẩu nhất là sang Hoa Kỳ, EU, làmthay đổi đáng kể cơ cấu xuất khẩu; góp phần ổn định thị trường trong nước,hạn chế nhập siêu thông qua việc cung cấp cho thị trường nội địa các sảnphẩm chất lượng cao do doanh nghiệp trong nước sản xuất thay vì phảinhập khẩu như trước đây

Đóng góp vào nguồn thu ngân sách: đóng góp của ĐTNN vào ngân

sách ngày càng tăng, từ 1,8 tỷ USD (1994-2000) lên 14,2tỷ USD 2010) Năm 2014, nộp ngân sách của khu vực ĐTNN (không kể dầu thô) là4,3 tỷ USD, chiếm 12,6% tổng thu ngân sách (19,7% tổng thu nội địa, trừdầu thô)

(2001-Thứ hai, ĐTNN thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng

CNH, HĐH

1 1.Trước năm 2003, dầu thô chiếm tới gần một nửa xuất khẩu của khu vực ĐTNN Từ năm 2007,

tỷ lệ dầu thô trong tổng kim ngạch xuất khẩu chỉ còn khoảng 7%.

Trang 10

Hiện nay, 58,4% vốn ĐTNN tập trung vào lĩnh vực công nghiệp xây dựng với trình độ công nghệ cao hơn mặt bằng chung của cả nước, tốc

-độ tăng trưởng đạt bình quân gần 18%/năm, cao hơn tốc -độ tăng trưởngtoàn ngành, tạo ra gần 45% giá trị sản xuất công nghiệp, góp phần hìnhthành một số ngành công nghiệp chủ lực của nền kinh tế như viễn thông,khai thác, chế biến dầu khí, điện tử, công nghệ thông tin, thép, xi măng ,góp phần nhất định vào việc chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp, đa dạng hóasản phẩm, nâng cao giá trị hàng hóa nông sản xuất khẩu và tiếp thu một sốcông nghệ tiên tiến, giống cây, giống con có năng suất, chất lượng cao đạttiêu chuẩn quốc tế, tạo ra một số phương thức mới, có hiệu quả cao, nhất làcác dự án đầu tư vào phát triển nguồn nguyên liệu, góp phần cải thiện tậpquán canh tác và điều kiện hạ tầng yếu kém, lạc hậu ở một số địa phương

Khu vực ĐTNN đã tạo nên bộ mặt mới trong lĩnh vực dịch vụ chấtlượng cao như khách sạn, văn phòng căn hộ cho thuê, ngân hàng, bảo hiểm,kiểm toán, tư vấn luật, vận tải biển, lô-gi-stíc, siêu thị Các dịch vụ nàycũng góp phần tạo ra phương thức mới trong phân phối hàng hóa, tiêudùng, kích thích hoạt động thương mại nội địa và góp phần tăng kim ngạchxuất khẩu hàng hóa

Thứ ba, ĐTNN tạo việc làm, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và thay đổi cơ cấu lao động

Hiện nay khu vực ĐTNN tạo ra trên 2 triệu lao động trực tiếp vàkhoảng 3 - 4 triệu lao động gián tiếp, có tác động mạnh đến chuyển dịch cơcấu lao động theo hướng CNH, HĐH Doanh nghiệp ĐTNN được xem làtiên phong trong việc đào tạo tại chỗ và đào tạo bên ngoài, nâng cao trình

độ của công nhân, kỹ thuật viên, cán bộ quản lý, trong đó một bộ phận đã

có năng lực quản lý, trình độ khoa học, công nghệ đủ sức thay thế chuyêngia nước ngoài Ngoài ra, ĐTNN đóng vai trò quan trọng trong việc nâng

Trang 11

cao chất lượng lao động thông qua hiệu ứng lan tỏa lao động cho các bênliên quan.

Thứ tư, ĐTNN là kênh chuyển giao công nghệ quan trọng, góp phần nâng cao trình độ công nghệ của nền kinh tế

Khu vực ĐTNN sử dụng công nghệ cao hơn hoặc bằng công nghệtiên tiến đã có trong nước và thuộc loại phổ cập trong khu vực Từ năm

1993 đến nay, cả nước có 951 hợp đồng chuyển giao công nghệ đã đượcphê duyệt/đăng ký, trong đó có 605 hợp đồng của doanh nghiệp ĐTNN,chiếm 63,6%2 Thông qua hợp đồng chuyển giao công nghệ, khu vựcĐTNN đã góp phần thúc đẩy chuyển giao công nghệ tiên tiến vào ViệtNam, nâng cao năng lực công nghệ trong nhiều lĩnh vực Xét về cấp độchuyển giao công nghệ, công nghiệp chế biến, chế tạo đạt hiệu quả caonhất Theo Bộ Khoa học và Công nghệ, một số ngành đã thực hiện tốtchuyển giao công nghệ như dầu khí, điện tử, viễn thông, tin học, cơ khí chếtạo, ô tô, xe máy, dệt may và giày dép, trong đó viễn thông, dầu khí đượcđánh giá có hiệu quả nhất

Tác động lan tỏa công nghệ của khu vực ĐTNN được thực hiệnthông qua mối liên kết sản xuất giữa doanh nghiệp ĐTNN với doanhnghiệp trong nước, qua đó tạo điều kiện để doanh nghiệp trong nước tiếpcận hoạt động chuyển giao công nghệ Nhìn chung, khu vực ĐTNN có tácđộng lan tỏa gián tiếp tới khu vực doanh nghiệp sản xuất trong nước cùngngành và doanh nghiệp dịch vụ trong nước khác ngành Bên cạnh đó, thôngqua mối quan hệ với doanh nghiệp ĐTNN, doanh nghiệp trong nước ứngdụng công nghệ sản xuất tương tự để sản xuất sản phẩm/dịch vụ thay thế vàsản phẩm/dịch vụ khác để tránh cạnh tranh Đồng thời có tác động tạo racác ngành sản xuất, dịch vụ khác trong nước để hỗ trợ cho hoạt động của

2 Theo báo cáo của Bộ Khoa học và Công nghệ

Trang 12

các doanh nghiệp ĐTNN.

Thứ năm, ĐTNN có tác động nâng cao năng lực cạnh tranh ở cả

ba cấp độ quốc gia, doanh nghiệp và sản phẩm

Nhiều sản phẩm xuất khẩu Việt Nam đủ sức cạnh tranh và có chỗđứng vững chắc trên các thị trường Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản Kết quả phântích các chỉ tiêu về vốn, công nghệ, trình độ quản lý, khả năng tiếp cận thịtrường (đầu vào và tiêu thụ sản phẩm) và năng lực tham gia mạng sản xuấttoàn cầu cho thấy năng lực cạnh tranh của khu vực ĐTNN cao hơn so vớikhu vực trong nước Đồng thời, khu vực ĐTNN đã và đang có tác độngthúc đẩy cạnh tranh của khu vực trong nước nói riêng và của nền kinh tếnói chung thông qua thúc đẩy năng suất, tăng trưởng xuất khẩu, cải thiệncán cân thanh toán quốc tế, nâng cao trình độ công nghệ, trình độ lao động

và chuyển dịch cơ cấu lao động

Thứ sáu, ĐTNN góp phần nâng cao năng lực quản lý kinh tế, quản trị doanh nghiệp, tạo thêm áp lực đối với việc cải thiện môi trường kinh doanh

Thực tiễn ĐTNN đã cho nhiều bài học, kinh nghiệm bổ ích về côngtác quản lý kinh tế và doanh nghiệp, góp phần thay đổi tư duy quản lý, thúcđẩy quá trình hoàn thiện luật pháp, chính sách theo hướng bình đẳng, côngkhai, minh bạch, phù hợp với thông lệ quốc tế; đào tạo được đội ngũ cán bộquản lý phù hợp với xu thế hội nhập

Thứ bảy, ĐTNN đã góp phần quan trọng vào hội nhập quốc tế

Hoạt động thu hút ĐTNN đã góp phần phá thế bao vây cấm vận, mởrộng quan hệ kinh tế đối ngoại, tạo thuận lợi để Việt Nam gia nhậpASEAN, ký Hiệp định khung với EU, Hiệp định Thương mại với Hoa Kỳ,Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư với 62 quốc gia/vùng lãnh thổ vàHiệp định đối tác kinh tế (EPA) với Nhật Bản và nhiều nước

- Khái quát chung về FDI ở vùng đồng bằng sông Hồng

-Thực trạng thu hút FDI tại vùng đồng bằng sông Hồng

Trang 13

Đồng bằng sông Hồng là vùng đã có chủ trương thu hút vốn FDIngay từ khi Luật Đầu tư nước ngoài được ban hành vào cuối năm 1987.Ngay trong năm 1988, vùng đã thu hút được 3 dự án với tổng vốn đầu tư là1,78 tỷ USD Tính từ năm 1988 đến hết tháng 5/2015, ĐBSH đã thu hútđược 5.536 dự án với tổng vốn đầu tư là 66,078 tỷ USD, tổng vốn thực hiện

là 20,49 tỷ USD

Trong thời kỳ từ 1988 đến 2007, vùng BĐBSH đã thu hút được 2886

dự án FDI với tổng vốn đầu tư là 23,1 tỷ USD (chiếm 34,1% số dự án và28,4% tổng vốn FDI cả nước) Bình quân mỗi năm có 241 dự án được cấpphép với tổng vốn đăng ký 1,9 tỷ USD Trong giai đoạn 2009-2014, số dự

án đầu tư được đăng ký mới vẫn ở mức cao là 1.645 dự án FDI với tổngvốn đầu tư là 33,02 tỷ USD Như vậy, trong giai đoạn 2009-2014, bìnhquân mỗi năm có 274 dự án được cấp phép Có thể thấy trong giai đoạn2009-2014 đã có sự nhảy vọt nhanh chóng cả về số lượng các dự án đượcđăng ký mới cũng như tổng số vốn đầu tư khi so sánh với giai đoạn 1988 -2007

Tuy nhiên, nhịp độ đầu tư nước ngoài vào khu vực ĐBSH khôngđồng đều qua các năm Giai đoạn 1996 – 2000 chỉ có 555 dự án tuy nhiêntổng vốn đăng ký lên tới 7,5 tỷ USD, do giai đoạn này có 1 dự án rất lớnđược cấp phép của Công ty TNHH phát triển khu phố mới Nam ThăngLong với tổng vốn đầu tư lên tới 2,1 tỷ USD Giai đoạn 2001-2005 số dự

án được cấp phép đã tăng hơn hai lần so với giai đoạn trước với số dự án là

1209 dự án, tuy nhiên tổng vốn đăng ký giảm hơn với 5,26 tỷ USD Bắtđầu sang năm 2006 xu hướng đã thể hiện xu hướng phục hồi khá rõ rệttrong thu hút dòng vốn đầu tư nước ngoài vào khu vực, trong vòng 2 năm

2006, 2007 đã có 1122 dự án được cấp phép với tổng vốn đầu tư 10,4 tỷUSD (bằng 92,8% số dự án và tăng 97,3% tổng vốn đầu tư đăng ký so với

Trang 14

giai đoạn 2001 – 2005) Trong giai đoạn 2009-2014 chứng kiến bước nhảyvọt về số lượng các dự án được đăng ký mới với 1450 dự án mới.

* So sánh tình hình thu hút FDI của vùng ĐBSH với các vùng khác trong cả nước:

- Đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam theo vùng kinh tế

S

Tổng vốn đầu tư đăng ký (tỷ USD)

2 Trung du và miền núiphía Bắc 442 7,856

3 Bắc Trung Bộ và duyênhải miền Trung 972 52,482

Theo số liệu thống kê của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, luỹ kế các dự án

có hiệu lực đến hết năm 2014 thì vùng ĐBSH đứng thứ 2 trong cả nước về

số lượng các dự án FDI với số lượng là 5.536 dự án và tổng vốn đầu tưđăng ký là 66,078 tỷ USD, xếp sau khu vực Đông Nam Bộ (8962 dự ánFDI, 102, 973 tỷ USD), gấp hơn 10 lần so với vùng trung du và miền núiphía Bắc (442 dự án, 7,856 tỷ USD) và gấp hơn 33 lần so với khu vực thấpnhất cả nước là vùng Tây Nguyên (137 dự án, 0,78 tỷ USD) Qua đó, có thểthấy vùng ĐBSH là vùng có vị trí quan trọng chiến lược trong việc thu hútvốn đầu tư nước ngoài do vùng này có nhiều lợi thế hơn về vị trí địa lý,

Trang 15

nguồn lao động, cơ sở vật chất so với nhiều vùng còn khó khăn trên cảnước như vùng trung du và miền núi phía Bắc hay như vùng Tây Nguyên.

-Cơ cấu của FDI tại vùng đồng bằng sông Hồng

Cơ cấu FDI theo ngành, lĩnh vực kinh doanh

Đầu tư nước ngoài vào vùng ĐBSH tập trung hầu hết trong lĩnh vựccông nghiệp – xây dựng và dịch vụ Trong giai đoạn 1996 - 2007, trong đólĩnh vực công nghiệp và xây dựng dẫn đầu với 1896 dự án, tổng vốn đầu tư

là 11,48 tỷ USD (chiếm 65,7% số dự án và 49,6% tổng vốn đăng ký) Tiếptheo là lĩnh vực dịch vụ với 816 dự án, tổng vốn đầu tư là 11,2 tỷ USD(chiếm 28,3% số dự án và 48,6% tổng vốn đăng ký), vốn đầu tư trong lĩnhvực này phần lớn tập trung vào các dự án bất động sản, khách sạn – du lịch,chiếm tới 63,5% Còn lại là các dự án trong lĩnh vực Nông, lâm nghiệp với

tỷ lệ rất nhỏ, chỉ có 174 dự án, tổng vốn đầu tư 414,9 triệu USD (chiếm 6%

số dự án và 1,8% vốn đầu tư)

Trong giai đoạn 2009 - 2014,lĩnh vực công nghiệp và xây dựng dẫnđầu với 1183 dự án, tổng vốn đầu tư là 15,264 tỷ USD (chiếm 56,04% số

dự án và 79,3% tổng vốn đăng ký) Tiếp theo là lĩnh vực dịch vụ với 923

dự án, tổng vốn đầu tư là 3,96 tỷ USD (chiếm 43.72% số dự án và 20,6%tổng vốn đăng ký), vốn đầu tư trong lĩnh vực này phần lớn tập trung vàocác dự án bất động sản, khách sạn – du lịch, chiếm tới 63,5% Còn lại làcác dự án trong lĩnh vực Nông, lâm nghiệp với tỷ lệ rất nhỏ, chỉ có 5 dự án,tổng vốn đầu tư 12,5 triệu USD (chiếm 0.24% số dự án và 0.06% vốn đầutư)

Có thể thấy, trong giai đoạn 2009 - 2014 đã có sự chuyển hướng củanguồn vốn FDI từ lĩnh vực nông nghiệp sang 2 lĩnh vực còn lại là côngnghiệp và dịch vụ Tuy nhiên, đi ngược lại xu hướng chung hiện nay, tạivùng ĐBSH đang chứng kiến tốc độ tăng nhanh chóng vốn FDI vào khuvực công nghiệp - xây dựng, trong khi đó khu vực dịch vụ lại có sự giảm

Trang 16

đầu tư của vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài khi so sánh với giai đoạn 1996 2007.

Cơ cấu FDI theo lĩnh vực kinh doanh giai đoạn 2009 2014

TT Chuyên ngành Số dự án Tổng vốn đầu tư (USD) Vốn điều lệ (USD)

7 Thông tin và truyền thông 137 537638774 107543554

8 Dvụ lưu trú và ăn uống 54 297746727 152041464

9 Giáo dục và đào tạo 30 209630085 44086944

1 Công nghiệp và xâydựng 3 118 15,264

Cơ cấu FDI theo đối tác đầu tư

Trong thời kỳ này đã có 59 quốc gia và vùng lãnh thổ có đầu tư vàokhu vực ĐBSH, trong đó phần lớn đến từ các nước đến từ Châu Á; còn lại

Trang 17

là các nước khác 5 nhà đầu tư lớn nhất vào khu vực ĐBSH là Nhật Bản,Hồng Kông, Hàn Quốc, Hà Lan, Malaysia.

- Cơ cấu FDI theo đối tác đầu tư giai đoạn 2009-2014

Cơ cấu FDI theo địa phương trong vùng

Trong giai đoạn 2009 - 2014, các thành phố lớn, có điều kiện kinh tế

xã hội thuận lợi là những địa phương dẫn đầu trong thu hút FDI vùngĐBSH Trong số 11 địa phương vùng đồng bằng sông Hồng, Hà Nội là địaphương dẫn đầu trong thu hút ĐTNN với 1319 dự án và tổng vốn đăng ký

là 3,06 tỷ USD (chiếm 62,48% số dự án và 20,1% tổng vốn đầu tư) Tiếptheo là Bắc Ninh với 287 dự án, tổng vốn đầu tư là 2,02 tỷ USD (chiếm13,6% số dự án và 10,5% vốn đầu tư) Hải Phòng mặc dù là địa phươngđứng thứ 3 về số lượng các dự án đầu tư (123 dự án, chiếm 5,83% số dựán) nhưng đây là địa phương xếp thứ 1 về tổng số vốn đầu tư (4,4 tỷ USD,chiếm 22,87% tổng vốn đầu tư toàn khu vực)

-Cơ cấu FDI theo địa phương trong vùng ĐBSH

Trang 18

T dự án vốn đầu tư (USD) lệ (USD)

Cơ cấu FDI hình thức đầu tư

Đầu tư nước ngoài vào khu vực Đồng bằng sông Hồng theo tất cảcác hình thức đầu tư: 100% vốn nước ngoài, Liên doanh, Hợp doanh, Công

ty cổ phần và Công ty Mẹ Con Trong đó, tập trung nhiều nhất là theo hìnhthức 100% vốn nước ngoài với 1740 dự án với tổng vốn đầu tư là 12,19 tỷUSD (chiếm 82,42% số dự án và 63,38% tổng vốn đầu tư) Tiếp theo làhình thức liên doanh với 355 dự án, tổng vốn đầu tư là 2,28 tỷ USD (chiếm16,81% số dự án và 11,85% tổng vốn đầu tư)

Đầu tư trực tiếp nước ngoài được cấp trong giai đoạn 2009

-2014 tại khu vực ĐBSH phân theo hình thức đầu tư

Vốn điều lệ (tr USD)

Trang 19

cả nước và 40% vào tăng trưởng chung của toàn vùng đồng bằng sôngHồng.Tỷ trọng GDP khu vực FDI của vùng chiếm 42,85% (năm 2009);78,23% (năm 2011), 63,96% (năm 2013) và 70,36% (năm 2014) so vớiGDP của toàn vùng Nguyên nhân chính cho sự tăng trưởng nhanh chóng

đó là do các tỉnh trong vùng đồng bằng sông Hồng đã vận dụng linh hoạtcác chính sách của Nhà nước về thu hút FDI nhằm hỗ trợ các nhà đầu tưphát huy hiệu quả các dự án FDI, từ đó kích thích tăng trưởng kinh tế củacác địa phương trong vùng cũng như toàn vùng Như vậy, khu vực có vốnđầu tư nước ngoài phát triển nhanh, có đóng góp lớn vào tăng trưởng vàphát triển kinh tế của vùng đồng bằng sông Hồng nói riêng và cả nước nóichung

- Tổng GDP khu vực FDI của các tỉnh đồng bằng sông Hồng

Trang 20

2 Tổng GDP khu

vực FDI vùng ĐBSH (tr

đô)

9.333,7

Thứ hai, khu vực FDI đã đóng góp đáng kể vào quá trình chuyểndịch cơ cấu kinh tế ngành ở vùng đồng bằng sông Hồng theo hướng tăng tỷtrọng giá trị sản xuất ngành công nghiệp Tỷ trọng giá trị sản xuất ngànhcông nghiệp của khu vực FDI ngày càng tăng và chiếm 40,62% so với giátrị sản xuất ngành công nghiệp vùng đồng bằng sông Hồng năm 2006 Con

số này lần lượt là 42,69% (năm 2009); 44,24% (năm 2011); 43,36% (năm2012); 49,11% (năm 2013) và 57,38% (năm 2014) So với giá trị sản xuấtchung của vùng, GTSXCN của khu vực FDI chiếm 23,9% (năm 2003);28,08% (năm 2008) và đạt tỷ lệ cao nhất là 40,18% (năm 2011) Đồng thời,FDI góp phần chuyển dịch cơ cấu thành phần ở vùng đồng bằng sôngHồng: Cơ cấu GTSXCN ở vùng đồng bằng sông Hồng trong giai đoạn

Trang 21

2009 - 2014 đã có sự dịch chuyển theo hướng tăng tỷ trọng GTSXCN khuvực FDI GTSXCN của khu vực FDI luôn chiếm tỷ trọng cao hơn so vớikhu vực doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp tư nhân ở vùng.

- Đóng góp của FDI vào thu ngân sách toàn vùng

Cũng giống như khu vực FDI của cả nước, khu vực đầu tư nướcngoài của vùng đồng bằng sông Hồng đóng góp vào thu ngân sách của cáctỉnh trong vùng vào loại thấp Tuy thu ngân sách của khu vực FDI vùngđồng bằng sông Hồng đã tăng nhanh từ 19.918 tỷ đồng (năm 2009) lên30.568 tỷ đồng (năm 2011), lên 46.767tỷ đồng (năm 2013) và lên 49.317 tỷđồng (năm 2014) nhưng tỷ trọng đóng góp vào thu ngân sách của mỗi tỉnhtrong vùng tăng không cao, chỉ từ 11,5% (năm 2009) lên 12,16% (năm2011), 12,82% (năm 2013) và 12,67% (năm 2014) Nguyên nhân của tìnhtrạng này là các doanh nghiệp FDI đã tận dụng tối đa những chính sách ưutiên về miễn giảm thuế của Chính phủ cũng như của các tỉnh trong vùng từkhâu đầu vào cho đến khâu đầu ra của sản phẩm

- Đóng góp vào thu ngân sách (TNS) của FDI vùng ĐBSH

1.TNS vùng

ĐBSH (tỷ đồng)

173.083,6

251.310,2

364.797,19

389.242,32.TNS FDI vùng

ĐBSH (tỷ đồng)

19.917,87

30.568,02

46.767

49.317

3 Tỷ trọng TNS

FDI so với TNS vùng

(%)

- Đóng góp vào tăng trưởng xuất khẩu toàn vùng

Mặc dù, khu vực FDI của vùng đồng bằng sông Hồng đóng gópkhông lớn vào xuất khẩu của cả nước cả về giá trị và tỷ trọng; nhưng trongphạm vi kinh tế vùng đồng bằng sông Hồng, ta có thể thấy khu vực FDIđóng góp rất lớn vào giá trị xuất khẩu của toàn vùng Năm 2009, giá trị

Ngày đăng: 15/04/2019, 21:25

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w