DANH SÁCH BẢNG2.1: Kiểu sượng khác nhau %xảy ra trên các giống sầu riêng tại các xã điều tra ở huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre...262.2: Khối lượng trái sầu riêng của các giống khác nhau
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP TRƯỜNG
ĐIỀU TRA VÀ KHẢO SÁT HIỆN TƯỢNG RỐI LOẠN SINH LÝ VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN PHẨM CHẤT
TRÁI SẦU RIÊNG (Durio zibethinus Murr.)
Ở CHỢ LÁCH, BẾN TRE
Mã số: TNCS 2013-14
Chủ nhiệm đề tài: Bùi Thanh Liêm
Cần Thơ, Tháng 3/2014
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP TRƯỜNG
ĐIỀU TRA VÀ KHẢO SÁT HIỆN TƯỢNG RỐI LOẠN SINH LÝ VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN PHẨM CHẤT
TRÁI SẦU RIÊNG (Durio zibethinus Murr.)
Ở CHỢ LÁCH, BẾN TRE
Mã số: TNCS 2013-14
Xác nhận của trường Đại học Cần Thơ Chủ nhiệm đề tài
(ký, họ tên, đóng dấu) (ký, họ tên)
Cần Thơ, 3/2014
Trang 3CÁN BỘ THAM GIA THỰC HIỆN ĐỀ TÀI
Ks Nguyễn Huỳnh Thiên
Trường Đại Học Cần ThơPhòng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn huyện huyện Chợ Lách, tỉnh Bến TrePhòng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn huyện huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre
Phòng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn huyện huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre
Trạm khuyến nông huyện huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre
Trang 4MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
DANH SÁCH BẢNG 3
DANH SÁCH HÌNH 4
TÓM LƯỢC 7
THÔNG TIN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 8
Chương 1 MỞ ĐẦU 10
1.1 Tổng quan tài liệu 10
1.1.1 Đặc điểm tự nhiên và kinh tế xã hội của địa bàn nghiên cứu 10
1.1.2 Đặc tính cây sầu riêng 11
1.1.3 Hiện tượng sượng cơm trái sầu riêng 14
1.1.4 Nguyên nhân gây ra hiện tượng sượng cơm trái sầu riêng 16
1.2 Mục tiêu đề tài 18
1.3 Phạm vi nghiên cứu 18
1.3 Phương pháp nghiên cứu 18
1.3.1 Điều tra các yếu tố có liên quan đến hiện tương giãm phẩm chất (sượng cơm) trái sầu riêng 18
1.3.2 Khảo sát các thời điểm thu hoạch khác nhau trên hai giống 19
Chương 2: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 25
2.1 Kết quả điều tra các yếu tố có liên quan đến hiện tương giãm phẩm chất (sượng cơm) trái sầu riêng 25
2.1.1 Hình thức sượng 25
2.1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến hiện tượng sượng 27
2.2 Kết quả khảo sát các thời điểm thu hoạch hoạch khác nhau lên hiện tượng sượng cơm sầu riêng Mongthong ở huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre 38
2.2.1 Màu sắc, độ ráo và mùi thơm trái sầu riêng qua đánh giá cảm quan 38
2.2.2 Kiểu sượng 40
2.2.3 Tỷ lệ sượng và tổng chất rắn hòa tan của cơm trái 41
2.2.4 Kết quả khảo sát hàm lượng dinh dưỡng trong lá và trong đất ở các thời điểm thu hoạch hoạch sầu riêng Mongthong giữa 2 vườn có và không có sượng tại xã Sơn Định, huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre 42
2.3 Kết quả khảo sát các đặc tính phát triển và hiện tượng sượng cơm trái sầu riêng Sữa Hạt Lép tại huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre 53
2.3.1 Sự phát triển của trái 53
Trang 52.3.2 Sự phát triển của cơm 53
2.3.3 Sự phát triển của vỏ 54
2.3.4 Tổng số chất rắn hòa tan (TSS) 54
2.3.5 Tỷ lệ trái sượng 55
Chương 3: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 57
3.1 Kết luận 57
3.2 Đề nghị 57
TÀI LIỆU THAM KHẢO 58
PHỤ LỤC 60
Trang 6DANH SÁCH BẢNG
2.1: Kiểu sượng khác nhau (%)xảy ra trên các giống sầu riêng tại các xã điều tra ở huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre 262.2: Khối lượng trái sầu riêng của các giống khác nhau bị sượng khác nhau qua điều tra tại huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre 292.3: Phần trăm các nông hộ áp dụng biện pháp tưới nước trong các giai đoạn ra đọt,
ra hoa và phát triển trái sầu riêng tại huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre 342.4: Số nông hộ (%) điều chỉnh mực nước trong mương ở các giai đoạn trước khi ra hoa, sau khi ra hoa, mang trái và trước khi thu hoạch sầu riêng tại huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre 352.5 Liều lượng phân nông hộ đã áp dụng cho vườn cây sầu riêng được điều tra tại huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre 37 2.6: Phần trăm số hộ đánh giá thời điểm thu hoạch ảnh hưởng đến hiện tượng sượng cơm trái sầu riêng ở huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre 39 2.7: Đánh gíá cảm quan mùi thơm, độ ráo và Màu sắc cơm trái sầu riêng Mongthongkhi thu hoạch ở các thời điểm khác nhau tại huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre 40 2.8: Tỷ lệ trái sượng/cây, tỷ lệ trọng lượng cơm sượng/trọng lượng cơm của trái sầu riêng Mongthong khi thu hoạch ở các thời điểm khác nhau trồng tại huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre 42 2.9: Hàm lượng dinh dưỡng trong lá ở 2 vườn khảo sát vào các thời điểm thu hoạch khác nhau tại xã Sơn Định, huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre 442.11: Hàm lượng dinh dưỡng trong đất ở 2 vườn khảo sát vào các thời điểm thu hoạch khác nhau tại huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre 52
Trang 7DANH SÁCH HÌNH
Hình Trang
1.1: Giống sầu riêng Mongthong 121.2: Giống sầu riêng Sữa Hạt Lép 132.1: Sầu riêng sượng cơm mất màu (a) và sượng cứng còn màu (b) trên giống sầu riêng Mongthong 252.2: Sầu riêng nhão cơm (a) trên và dính cùi (b) trên giống sầu riêng Sữa Hạt Lép .252.3: Sầu riêng có cơm bị cháy đen dính vỏ trên giống Ri-6 (a), nhão cơm trên giống Khổ Qua Xanh 252.4: Phần trăm các nông hộ có sầu riêng bị sượng theo mùa thu hoạch được điều tra tại huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre 262.5: Phần trăm tuổi cây dễ bị sượng điều tra tại huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre 282.6: Phần trăm các nông hộ có diện tích canh tác sầu riêng đã điều tra ở huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre 302.7: Phần trăm các giống sầu riêng nông dân đã trồng được điều tra ở huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre 312.9: Cơm trái sầu riêng Mongthong có dạng cơm cứng màu không đều, bên ngoài vàng nhưng bên trong mất màu khi thu hoạch lúc 90 ngày 392.10: Sự phát triển trọng lượng trái sầu riêng Mongthong ở các ngày thu hoạch khác nhau tại 2 vườn khảo sát tại huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre 442.11: Tỷ lệ vỏ trái (%), tỷ lệ cơm trái (%)và tỷ lệ hạt (%) sầu riêng Mongthong vào các lần thu hoạch khác nhau tại huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre 452.12: Độ dày vỏ trái sầu riêng Mongthong vào các lần thu hoạch khác nhau tại huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre 462.13: Độ Brix cơm trái sầu riêng Mongthong ở các thời điểm thu hoạch khác nhau ở vườn 1 và vườn 2 tại huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre 47
2.14: Tỷ lệ trái Mongthong sượng ở 2 vườn khảo sát vào các thời điểm thu hoạch
khác nhau tại huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre 482.15: Ẩm độ khối lượng đất ở hai độ sâu 0-20 cm và 20-40 cm 2 vườn lúc khảo sát ởhuyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre 512.16: Trọng lượng trái sầu riêng Sữa Hạt Lép ở các ngày thu hoạch khác nhau tại vườn khảo sát tạo huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre 522.17: Trọng lượng cơm sầu riêng Sữa Hạt Lép ở các giai đoạn khác nhau trong quá trình phát triển trái tại huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre 53
Trang 82.18: Sự phát triển trọng lượng vỏ sầu riêng Sữa Hạt Lép ở các ngày thu hoạch khác nhau tại vườn khảo sát tạo huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre 532.19: Tổng số chất rắn hòa tan (TSS) cơm sầu riêng Sữa Hạt Lép ở các lần thu hoạch khác nhau tại huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre 542.20: Tỷ lệ trái sầu riêng Sữa Hạt Lép sượng ở vườn khảo sát vào các thời điểm thu hoạch khác nhau tại huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre 55
Trang 9DANH SÁCH TỪ VIẾT TẮT
NSKĐT: Ngày sau khi đậu trái
PTT: Phát triển trái
TKĐT: Trước khi đậu trái
TKRH: Trước khi ra hoa
TSS: Tổng chất rắn hòa tan
VNCCĂQMN: Viện Nghiên cứu Cây ăn quả Miền Nam
Trang 10TÓM LƯỢC
Để tìm hiểu các yếu tố ngoại cảnh và kỹ thuật canh tác có liên quan đếnhiện tượng rối loạn sinh lý trên trái Sầu riêng, chúng tôi tiến hành điều tra 80
hộ nông dân trồng sầu riêng và khảo sát các thời điểm thu hoạch khác nhau,
60, 65, 90,100, 110 ngày sau khi đậu trái trên giống Mongthong ở huyện ChợLách, tỉnh Bến Tre Kết quả cho thấy trong 4 giống sầu riêng được trồng tạihuyện huyện Chợ Lách thì giống Mongthong có ti lệ sượng cao nhất (88%)với kiểu sượng chủ yếu là mất màu, tiếp theo là giống Khổ Qua Xanh (60%)chủ yếu bị nhão cơm (67,7%), tiếp theo là giống Ri 6 (16,7%) với 100% cho là
bị cháy múi, giống Sữa Hạt Lép với 10%, trong đó có 50% cho là bị mất màu
và 50% bị nhão cơm Thời gian mang trái trong mùa mưa, cây cho trái các vụđầu và trái có trọng lượng lớn, tuổi cây được cho là yếu tố quan trọng gây rahiện tượng sượng cơm Trên giống sầu riêng Mongthong, khi thu hoạch vàothời điểm 110 ngày sau khi đậu trái có tổng chất rắn hòa tan 12,66 0Brix, tỷ lệtrái sượng/cây 31%, tỷ lệ cơm sượng/trái 8,4%, cơm màu vàng, đẹp hấp dẫncao hơn các trái thu trước đó Kết quả khảo sát cho thấy việc thu hoạch trái sầuriêng Sữa hat lép vào thời điểm 105 ngày sau khi đậu trái là tốt nhất vì tỷ lệ ănđược, hàm lượng TSS đạt cao nhất và tỷ lệ sượng thấp
Trang 11THÔNG TIN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
1 Thông tin chung
- Tên đề tài: : Điều tra và khảo sát hiện tượng rối loạn sinh lý và các yếu tố
liên quan đến phẩm chất trái sầu riêng (Durio zibethinus MURR.) ở huyện
Chợ Lách, tỉnh Bến Tre
- Mã số: TNCS 2013-14
- Chủ nhiệm: Bùi Thanh Liêm
- Cơ quan: Phòng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn huyện huyện Chợ Lách
- Thời gian thực hiện: 6/2013 -3/2014
2 Mục tiêu:
Đề tài thực hiện nhằm điều tra tìm hiểu các hiện tượng rối loạn sinh lýlàm giảm phẩm chất và một số yếu tố có liên quan đến hiện tượng này để đềxuất các nghiện cứu tiếp theo
3 Tính mới và sáng tạo:
Tìm ra các dạng rối loạn sinh lý của trái sầu riêng và các yếu tố tác động dẫn đến hiện tượng đó
4 Kết quả nghiên cứu:
Phân tích các dạng rối loạn sinh lý của trái sầu riêng và các yếu tố tác động dẫn đến hiện tượng đó, đề xuất các biện pháp nghiên cứu khắc phục
5 Sản phẩm:
Bài báo cáo khoa học
6 Hiệu quả, phương thức chuyển giao kết quả nghiên cứu và khả năng áp dụng:
Phục vụ cho các nghiên cứu tiếp theo
Cần Thơ, Ngày tháng năm
Xác nhận của Trường Đại học Cần
Thơ
(ký, họ và tên, đóng dấu)
Chủ nhiệm đề tài
(ký, họ và tên)
Trang 12INFORMATION ON RESEARCH RESULTS
1 General information:
Project title: Investigation and surveying physiological disorder and ther
factors related to durian quality ( Durio zibethinus Murr.) in Cho Lach
district, Ben Tre province
Code number: TNCS 2013-14
Coordinator: Bui Thanh Liem
Implementing institution: Department of Agriculture and RuralDevelopment Cho Lach District , Ben Tre province
Duration: from 06/2013 to 03/2014
2 Objective(s):
This study was aimed to investigate the external factors and farmingtechniques relating to the physiological disorders on durian fruit
3 Creativeness and innovativeness:
Find out the physiological disorder of durian fruit and the impactfactors leading to this phenomenon
6 Effects, technology transfer means and applicability
Serving for the next study
Trang 13Chương 1 MỞ ĐẦU1.1 Tổng quan tài liệu
1.1.1 Đặc điểm tự nhiên và kinh tế xã hội của địa bàn nghiên cứu
Huyện Chợ Lách nằm về phía đầu cù lao Minh, một dãy đất hẹp đượcbao bọc bởi sông Hàm Luông và sông Cổ Chiên Với diện tích tự nhiên là18.879 ha, trong đó diện tích đất nông nghiệp là 12.508 ha Lượng mưa bìnhquân năm là 1.376 mm, tập trung chủ yếu từ tháng 5 đến tháng 11 Số giờnắng trung bình là 2.407 giờ/năm Chiụ ảnh hưởng chế độ bán nhật triều biểnĐông thông qua các sông Cổ Chiên và Hàm Luông và dòng chảy thượngnguồn sông Mekông và mưa của khu vực Biên độ triều cao nhất bình quân từ1.6 m-2,1 m Chủ yếu thuộc nhóm đất phù sa có diện tích 12.389 ha, chiếm89,8 %, có độ phì từ khá đến cao, phổ thích nghi rộng Nhìn chung, phần lớnđất đai của huyện Chợ Lách có độ phì cao, có dạng địa mạo đa dạng (cù lao,
đê sông tự nhiên, đồng bằng, giồng cát), có cao trình khá cao và có khuynhhướng thấp dần từ Tây sang Đông, từ sông lớn vào khu vực trung tâm Nướcngọt hầu như quanh năm, một ít nhiễm lợ cục bộ ngắn hạn (Phòng Nôngnghiệp và Phát triển Nông thôn huyện Chợ Lách, 2011)
Theo niên giám thống kê năm (2011), toàn huyệnChợ Lách có 10.438
ha diện tích đất sản xuất nông nghiệp trong tổng số 16.630 Ha diện tích đất tựnhiên Trong đó đất trồng cây lâu năm là 9.569 ha chiếm 92% diện tích sảnxuất nông nghiệp, trong tổng diện tích đất trồng cây lâu năm có khoảng 819
Ha diện tích trồng cây Sầu riêng, gồm có 90 ha trồng mới và 729 ha là diệntích cho sản phẩm, năng suất bình quân trên diện tích cho sản phẩm là 11,3tấn/ha Hiện thời có 3 giống sầu riêng chủ lực được trồng ở huyện là sầu RiêngSữa Hạt Lép, sầu Riêng Mongthong và Sầu riêng Ri-6 rãi đều ở các xã SơnĐịnh, Hòa Nghĩa, Tân Thiềng, Long Thới, Vĩnh Thành….Theo qui hoạch củahuyện, Sơn Định là xã trồng tập trung cây Sầu riêng có chất lượng cao trongthời gian tới
Trang 14Sản lượng trái cây hàng năm của huyện đạt khoảng 120.000 tấn trong đósản lượng trái Sầu riêng khoảng 9.752 tấn, chiếm 8,12 % trong tổng sản lượngtrái cây thu hoạch hàng năm Tổng giá trị sản xuất tính theo giá hiện hành năm
2008 của toàn huyện là 3.362.795 triệu đồng, trong đó giá trị sản xuất củanông nghiệp, lâm, thủy sản là 1.761.546 triệu đồng, chiếm 39,31% trong tổnggiá trị sản xuất toàn huyện, giá trị sản xuất từ ngành trồng trọt là 1.514.428triệu đồng, chiếm tỷ trọng 85,97% trong ngành nông, lâm, thủy sản Giá trịtăng thêm tính theo giá hiện hành toàn huyện năm 2008 là 1.595.892 triệuđồng trong đó giá trị tăng thêm của ngành nông, lâm, thủy sản là 976.606triệu đồng ( riêng nông nghiệp là 843.413 triệu đồng), chiếm tỷ trọng 49,2%;ngành Công nghiệp – xây dựng là 12,92% và ngành Thương mại - dịch vụ là37,89%
Từ số liệu nêu trên, cho thấy sản xuất nông nghiệp vẫn là ngành chủ yếucủa huyện, để thúc đẩy kinh tế phát triển, duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tếhàng năm , thì phải tăng giá trị sản xuất của ngành nông nghiệp Để giúp chonông nghiệp huyện nhà phát triển ổn định, bền vững đòi hỏi trong quá trìnhsản xuất phải biết ứng dụng những tiến bộ của khoa học kỹ thuật tạo ra nhữngsản phẩm an toàn, chất lượng có sức cạnh tranh mạnh để thu hút khách hàngtrong và ngoài nước
Trái cây trên địa bàn huyện Chợ Lách nói chung và sản phẩm trái sầuriêng nói riêng cũng rơi vào nghịch cảnh dôi dư trong sản xuất nhưng thiếu hụttrong tiêu thụ do chất lượng kém Hiện tượng sượng cơm trái sầu riêng là mộttrở ngại, làm thất thu rất lớn cho nhà vườn bởi vì dù đạt năng suất cao nhưngtrái sầu riêng bị sượng thì không thể bán hay ăn được, nhất là trong thời kỳ hộinhập hiện nay, mặt hàng trái cây phải đảm bảo chất lượng, an toàn thì mới có
cơ hội cạnh tranh với trái cây cùng chủng loại ở các nuớc trong cùng khu vực
1.1.2 Đặc tính cây sầu riêng
Sầu riêng (Durio zibethinus Murr.) là loại cây ăn quả nhiệt đới có hương vị
khá đặc biệt, rất được ưa chuộng ở các nước Đông Nam Á Những nước trồngsầu riêng nhiều nhất trên thế giới là Thái Lan, Malaysia, Indonesia, Việt Nam
Trang 15và Philippin (Trần Thế Tục và Chu Doãn Thành, 2004) Ở Việt Nam, cây sầu
riêng được trồng tập trung ở các tỉnh phía Nam như: Đắc Lắc, Bình Dương,Bình Phước, tỉnh Bến Tre, Tiền Giang, Vĩnh Long… với diện tích khoảng13.000 ha, sản lượng 150.000 tấn (VNCCĂQMN, 2003) Hiện nay nước ta có
trên 59 giống/dòng sầu riêng đã được khảo sát (Nguyễn Minh Châu và ctv.,
2000) bao gồm cả nguồn giống trong nước và từ nước ngoài du nhập vào nước
ta, trong đó sầu riêng Mongthong là giống trái cây nhập nội và giống sầu riêngSữa Hạt Lép là giống có triển vọng ở các tỉnh phía Nam
Sầu riêng Mongthong có xuất xứ từ Thái Lan, hiện nay Thái Lan cótrên 200 giống sầu riêng được đặt tên nhưng chỉ có bốn giống được trồng rộngrãi trong sản xuất đó là Mongthong, Chanee, Kradum và Kanyao
(Chomchalow et al., 2008) Sầu riêng Mongthong có diện tích chiếm 40%, tiếp theo là Chanee chiếm 32,9%, thứ ba là Kanyao, chiếm 6% (Sapii and
Nanthachai, 1994) Sầu riêng Mongthong được xếp vào nhóm chín trung bìnhtrong ba nhóm sầu riêng được phân loại theo thời gian chín ở Thái Lan Nhómsầu riêng sớm ra hoa từ cuối tháng 11 đến cuối tháng 12, trong khi sầu riêngMongthong ra hoa từ giữa tháng 12 đến giữa tháng 2 Thời gian từ khi đậu trái
đến thu hoạch từ 110-120 ngày (Subhadrabandhu and Ket, 2001) Lim and Luder (1996); Nakasone and Paull (1998) mô tả đây là giống tương đối ít bị
rối loạn sinh lý (sượng) so với giống Chanee Khi trồng ở nước ta sầu riêngMongthong sinh trưởng và phát triển khá tốt nhưng tỷ lệ vườn ghi nhận bịsượng ở huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre rất cao (88%), trong đó chủ yếu là hiệntượng cơm cứng và mất màu (Trần Văn Hâu, 2005)
Sầu riêng Mongthong là giống đa bội 3n, được nhập vào nước ta vàonăm 1995 và trồng rải rác ở nhiều nơi Thời gian phát triển của trái là 3,5-4tháng, mùa thu hoạch từ tháng 5-8 dl hằng năm, năng suất 140 kg/cây/năm đối
với cây khoảng 9 năm tuổi (Huỳnh Văn Tấn và ctv., 1992) Trái có hình trụ,
dáng thon nhọn, trọng lượng trung bình từ 2,5-4,5 kg Khi chín vỏ trái chuyển
từ xanh sang vàng nâu Phần cơm trái màu vàng nhạt, ráo, mịn, ít xơ Tỷ lệ
cơm cao, từ 29 - 33%, ăn ngọt, thơm, ít béo, hạt lép nhiều (Trần Thế Tục và
Chu Doãn Thành, 2004) Tỷ lệ ăn được cao (≥ 30%), cơm có màu vàng đến
Trang 16vàng đậm, chắc, có kem, hạt nhỏ, năng suất cao, ổn định từ 70-100trái/cây/năm và chống chịu được với một số loại sâu bệnh quan trọng là tiêu
chuẩn chọn giống sầu riêng nhập vào Úc (Lim, T K and L Luders, 1996).
Mongthong là một trong 40 giống sầu riêng được tuyển chọn phổ biến ở Úc.Diện tích trồng sầu riêng Mongthong ở các tỉnh phía Nam đến năm 2.000
có khoảng 2.500 ha Hiện nay giống nầy được trồng khá phổ biến và cho kếtquả tốt ở các tỉnh: tỉnh Bến Tre, Tiền Giang, Bình Phước, Đồng Nai, Bà Rịa-Vũng Tàu, Đắk Lắk Cây có đặc tính sinh trưởng tốt, tán dạng hình tháp, láthuôn dài, mặt lá phẳng, màu xanh sậm Năng suất cao, tuy nhiên chưa ổn định
và thường bị sượng (Huỳnh Văn Tấn và Nguyễn Minh Châu, 2003)
Hình 1.1: Giống sầu riêng Mongthong a) Cơm dày, tỷ lệ phần ăn được >30%, cơm
có màu vàng đậm, tỷ lệ hạt lép cao (>80%), vỏ mỏng b) trái khá lớn, trung bình >
2,5 kg/trái
Theo Trần Thế Tục và Chu Doãn Thành (2004) thì sầu riêng Sữa Hạt
Lép còn gọi là sầu riêng Chín Hoá, hiện đang được trồng nhiều ở tỉnh BếnTre, Cần Thơ, Vĩnh Long, Tiền Giang, Đồng Nai, Bà Rịa-Vũng Tàu, BìnhPhước, cây sinh trưởng khoẻ, tán dạng hình chóp, lá thuôn dài, mặt lá màuxanh đậm và bóng láng Cây ghép sau 4 năm trồng sẽ có trái, trọng lượngtrung bình từ 2,6-3,1 kg Năng suất cao và ổn định, có thể đạt 300 kg/cây/nămđối với cây 20 năm tuổi Thời gian phát triển của trái từ 105-110 ngày mùa thu
hoạch từ tháng 5-6 dl (Trần Văn Hoà và ctv.,1999) Dạng quả khá to, dạng
cầu cân đối, khi chín cơm màu vàng, có mùi thơm khá mạnh, hạt lép nhiều, tỷ
lệ cơm cao (28,8%), tuy nhiên cơm nhão, cầm dính tay
Trang 17Hình 1.2: Giống sầu riêng Sữa Hạt Lép (a)cơm dày, tỷ lệ phần ăn được 28,8%, cơm
có màu vàng đậm, tỷ lệ hạt lép cao (>80%), vỏ mỏng b) trái khá lớn, trung bình >
2,2 kg/trái
1.1.3 Hiện tượng sượng cơm trái sầu riêng
Hiện nay, nhiều nhà khoa học trên thế giới định nghĩa hiện tượng sượngcơm cơm trái sầu riêng khá đa dạng, tuy nhiên tất cả đều cho rằng đây là hiệntượng rối loạn sinh lý (physiological disorder) và biểu hiện qua nhiều triệu
chứng khác nhau Sapii and Nanthachai (1994) phân biệt sầu riêng sượng
thành ba dạng là (a) phần cơm chín không đều, (b) hột có nước hay cơm nhão
và (c) cơm có màu nâu ở hai đầu của hạt (tip burn) Trong khi Nakasone and
Paul (1998) định nghĩa sượng là hiện tượng phần ăn được (cơm) bị cứng, cómàu nâu, không có màu vàng tươi hay màu sắc không đều Hiện tượng chínkhông đều làm cho cơm có chổ cứng, chổ mềm, màu sắc không đồng đều,
Trang 18phần lớn cơm có màu hơi trắng, không có vị và mùi thơm trong khi phần cơmkhông bị sượng vẫn chín bình thường (Fresco, 2000 ; Anon 1993);.
Trong nước, hiện tượng sượng cơm trái sầu riêng được Trần Thế Tục và
Chu Doãn Thành (2004) mô tả là trái khi chín cơm trái xuất hiện các vị trícứng bao cứng quanh hạt Phần cơm bị sượng trên mỗi múi đôi khi rất nhỏnhưng có thể làm cho cả múi bị ảnh hưởng và không ăn được Thông thườnghiện tượng chín không đều chỉ xuất hiện một vài ngăn trong trái nhưng nếu bị
"sượng" nặng thì tất cả các ngăn đều có làm cho chất lượng trái giảm đáng kể.Song song đó, hiện tượng cơm nhão cũng là một dạng rối loạn sinh lý của tráisầu riêng Hiện tượng nầy làm cho phần cơm của trái trở nên rất nhão và mềmthậm chí có vùng trở nên sủng nước Trường hợp bị nhẹ thì chỉ có phần cơm ởđầu tiếp giáp với hạt bị ảnh hưởng nhưng nếu bị nặng thì toàn bộ phần cơm sẽ
Trang 19Nhóm có cơm khi chín còn cứng, cầm không dính tay thì hiện tượngsượng cơm trái thường xuất hiện là cơm chín không màu, cứng cơm, màu cơmkhông đồng nhất; Cháy múi Nhóm thứ hai là các giống sầu riêng có cơm khichín mềm thì thường xuất hiện các hiện tượng như nhão cơm, dính cùi tất cảcác hiện tượng đó đều làm cho phẩm chất trái giảm, gây ra sự thất thu chonông dân trồng sầu riêng
Trang 201.1.4 Nguyên nhân gây ra hiện tượng sượng cơm trái sầu riêng
1.1.4.1 Ảnh hưởng của mùa vụ trước thu hoạch.
Theo Trần Văn Hâu (2005) nếu mưa nhiều trước khi thu hoạch, mực thuỷcấp cao, hàm lượng Kali trong đất thấp là nguyên nhân gây ra hiện tượng nhân
có nước Nhận định này có thể là nguyên nhân khá quan trọng, vì trong giaiđoạn này mưa nhiều sẽ làm cho bộ rễ bị ngập nước sẽ hoạt động kém ảnhhưởng đến các hoạt động sinh lý của cây kết hợp với lượng nước tích lủy trongtrái cao làm cho quá trình phát triển của cơm trái bị rối loạn Tương tự đánhgiá này theo Bùi Thanh Liêm (2006) tổng kết từ kinh nghiệm nông dân trồngsầu riêng thấy rằng lượng nước trong vườn trong thời gian mang trái có liênquan đến hiện tượng sượng cơm trái sầu riêng, cụ thể mùa mưa thường bịsượng nhiều, trong khi mùa nắng thì rất ít hoặc không sượng Như vậy để giảiquyết vấn đề này thì có thể nghiên cứu giải pháp hạn chế ảnh hưởng của lượngnước bằng cách phủ gốc bằng plastic trước khi thu hoạch hoặc chuyển đổi mùa
vụ bằng kỹ thuật xử lý ra hoa mùa nghịch cho cây ra hoa trong mùa mưa để cóthời gian mang trái trong mùa nắng
1.1.4.2 Ảnh hưởng của kỹ thuật canh tác
Vấn đề cung cấp mất cân đối dinh dưỡng cũng có thể là nguyên nhân gây
ra hiện tượng rối loạn sinh lý Trong đó mặc dù chưa có kết luận về sự liên hệgiữa hiện tượng trái chín không đều với dinh dưỡng khoáng nhưng có nhữngbiểu hiện cho thấy Calcium, Magiê là hai chất có ảnh hưởng đến trái chínkhông đều (Anon, 1992) Đây là hai chất dinh dưỡng trung lượng người nôngdân thường hay bỏ qua khi bón phân cho vườn sầu riêng của mình Cũng có
nhận định tương tự Sapii and Nanthachai (1994) cho rằng do sự mất cân bằng
dinh dưỡng trong trái lúc phát triển và quá trình chín gây ra sự rối loạn làmcơm trái không còn bình thường Sự chín không đều không phải là một vấn đềđơn lẽ, mà nó có liên quan đến nhiều yếu tố như dinh dưỡng, nước và điều
kiện môi trường Trần Thế Tục và Chu Doãn Thành (2004) cho rằng các loại
phân bón có gốc Chlor có thể là nguyên nhân gây ra hiện tượng sượng cơm.Theo Trần Văn Hâu (2005) các tài liệu nghiên cứu của một số nước như Thái
Trang 21Lan thì giống không hoàn toàn là yếu tố quyết định mà chủ yếu là do biện phápcanh tác của nhà vườn và điều kiện thời tiết mà chủ yếu là mùa mưa trong giaiđoạn trái trưởng thành làm cho sầu riêng bị sượng, không riêng gì giống sầuriêng Mongthong mà giống sầu riêng Khổ Qua Xanh được trồng phổ biến ởTiền Giang hay giống Sữa Hạt Lép ở tỉnh Bến Tre cũng bị sượng như nhữnggiống khác do những nguyên nhân sau:
- Sự cạnh tranh dinh dưỡng giữa đọt non và trái: Cây ra đọt non tronggiai đoạn 8-12 tuần sau đậu trái, là giai đoạn trái phát triển cơm quả rất mạnh
sẽ xảy ra sự cạnh tranh dinh dưỡng giữa sự phát triển của đọt non và cơm trái
mà sự huy động chất dinh dưỡng cho sự phát triển đọt non thường mạnh hơncơm trái nên cơm trái phát triển không bình thường, dẫn đến hiện tượng sượng.Nguyên nhân của sự ra đọt non khi cây mang trái là do chủ vườn bón nhiềuphân Đạm và mức nước trong vườn cao sẽ là điều kiện tốt để kích thích sựsinh trưởng
- Sự ra hoa và đậu trái nhiều đợt: Sự ra hoa không tập trung làm cho câysầu riêng có thể ra hoa hoặc trái non trong giai đoạn phát triển đã tạo ra sựcạnh tranh dinh dưỡng giữa hoa và trái, giữa trái nhỏ với trái lớn
- Bón phân có chứa gốc Chlor: Các kết quả nghiên cứu ở nước ngoài bónphân có chứa gốc chlor sẽ làm cho trái sầu riêng bị sượng nhưng cơ chế tácđộng thì chưa được giải thích
- Số hạt/trái có liên quan trực tiếp đến hiện tượng cơm bị sượng: trái cótrọng lượng lớn hơn 1,8 kg với 14 hạt có tỷ lệ sượng là 52%, trong khi trái cótrọng lượng trung bình 1,0-1,8 kg với 9 hạt thì tỷ lệ bị sượng là và trái có trọnglượng nhỏ hơn 1,0 kg với năm hạt trên trái tỷ lệ bị sượng là 2,4% (Anon,1992)
Theo các nhận định trên thì vấn đề kỹ thuật canh tác cũng có thể có tácđộng đến hiện tượng sượng cơm trái sầu riêng, tuy nhiên các qui trình kỹ thuậthiện nay người nông dân áp dụng từ khâu cắt tỉa, bón phân, xử lý ra hoa đồngloạt, tỉa trái hợp lý khá tốt Vấn đề nghiên cứu ở đây là xem lại việc bón phânN-P-K có cân đối hay không, song song đó người nông dân có bổ sung các
Trang 22trung lượng cần thiết như Calcium, Magiê trong quá trình canh tác Vấn đề bổsung dinh dưởng qua lá trước khi thu hoạch có hỗ trợ cho việc khắc phục hiệntượng sượng cơm trái sầu riêng phải cần được nghiên cứu.
Cho tới nay, chưa có tài liệu nào mô tả hoặc nghiên cứu về hiện tượngrối loạn sinh lý trái Sầu riêng một cách đầy đủ, phần lớn chỉ tập trung vào lĩnhvực trồng trọt, sâu bệnh và xử lý ra hoa Để có những cơ sở nghiện cứu, cầntìm hiểu các hiện tượng rối loạn sinh lý làm giảm phẩm chất và một số yếu tố
có liên quan bổ sung cho những nghiên cứu hoàn chỉnh tiếp sau nhằm giảiquyết vấn đề giảm phẩm chất cơm sầu riêng khi chín, góp phần phát triểnngành trồng sầu riêng ở địa phương cũng như ở ĐBSCL
Kết quả của đề tài góp phần làm cơ sở cho việc ứng dụng khoa học kỹthuật trong việc gia tăng năng suất và cải thiện phẩm chất trái, phục vụ chonhu cầu xuất khẩu trái cây, gia tăng hiệu quả kinh tế cho người sản xuất
1.2 Mục tiêu đề tài
Đề tài thực hiện nhằm điều tra tìm hiểu các hiện tượng rối loạn sinh lýlàm giảm phẩm chất và một số yếu tố có liên quan đến hiện tượng này để đềxuất các nghiện cứu tiếp theo
1.3 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu ở các hộ có vườn trồng sầu riêng với diện tích trên2000m2 cho trái ổn định trên 3 năm ở xã Sơn Định, Hòa nghĩa, huyện ChợLách, tỉnh Bến Tre Tập trung vào các yếu tố ngoại cảnh và kỹ thuật canh tácsầu riêng của nông dân và các dạng rối loạn sinh lý trên trái xuất hiện trên cơmtrái sầu riêng
1.3 Phương pháp nghiên cứu
1.3.1 Điều tra các yếu tố có liên quan đến hiện tương giãm phẩm chất (sượng cơm) trái sầu riêng
Đề tài tiến hành điều tra khảo sát các yếu tố tự nhiên và kỹ thuật canh táccủa nông dân bằng phương pháp phỏng vấn trực tiếp nông dân có diện tíchtheo phiếu soạn sẵn với số mẫu là 80 phiếu, địa bàn điều tra là các vườn trồng
Trang 23sầu riêng có diện tích trên 2000m2 ở xã Sơn Định, Hòa nghĩa, huyện ChợLách, tỉnh Bến Tre Các chỉ tiêu có liên quan đến phẩm chất trái cần điều tranhư: giống trồng, mùa vụ thu hoạch, kỹ thuật canh tác, thời điểm thu hoạch ( phụ lục)
1.3.2 Khảo sát các thời điểm thu hoạch khác nhau trên hai giống sầu riêng
Để xem thời điểm thu hoạch có ảnh hưởng đến hiện tượng sượng cơmtrái sầu riêng ở mức độ nào, tiến hành thu hoạch sớm ở các thời điểm khácnhau ở hai giống Trên giống sầu riêng Mongthong, tiến hành khảo sát trên 5cây Trái sầu riêng được thu vào các thời điểm 60, 90, 100, 110, 120 Mỗi đợtthu 5 trái/cây Trái sầu riêng sau khi thu họach được để chín tự nhiên trongphòng, sau khi rụng cuống trái và có mùi thơm sẽ tiến hành phân tích phẩmchất trái, đánh giá tỷ lệ trái sượng, cơm sượng, hộc sượng và múi sượng/trái.Trên giống sầu riêng Sữa Hạt Lép cũng được được thực hiện trên 5 cây sầuriêng Trái sầu riêng được thu vào các thời điểm 60, 90, 100 và 110 ngày saukhi đậu trái Mỗi đợt thu 5 trái/cây Trái sầu riêng sau khi thu họach được đểchín tự nhiên trong phòng, sau khi rụng cuống trái và có mùi thơm sẽ tiếnhành phân tích phẩm chất trái Trước khi phân tích phẩm chất trái, thu thập cácchỉ tiêu phát triển của trái, vỏ trái, cơm trái, hạt
Kết quả sau đó được thống kê bằng phần mềm excell và SPSS và phântích xem yếu tố nào liên quan đến vấn đề giảm phẩm chất trái
1.3.3 phương pháp lấy mẫu
a Mẫu đất: Mỗi cây lấy hai mẫu đất ở độ sâu 0-20 cm và 20-40 cm, vị
trí lấy mẫu cách gốc cây 1m bằng khoan đất của bộ môn Khoa Học Đất
b Lá: Nếu lá ra đọt non thì lấy cặp lá trưởng thành cuối cùng dưới đọt
non, nếu cây không ra đọt non thì lấy cặp lá thứ 2 hoặc thứ 3 Mỗi lần lấy
10-15 lá ở 5 vị trí khác nhau trên cây
c Trái: Phẩm chất trái được đánh giá bằng cách thu 5 trái/cây Mẫu trái
vận chuyển nhẹ, tránh bị giập gai, để chín tự nhiên Phân tích mẫu trái sau khi
Trang 24trái rụng 'đĩa' (rụng cuống trái), có mùi thơm và màu vỏ chuyển sang màuvàng.
+ Tỷ lệ trái sượng, tỷ lệ hộc sượng/trái, tỷ lệ múi sượng/hộc, tỷ lệ cơm bịsượng/múi (trọng lượng phần cơm bị sượng/tổng trọng lượng cơm), kiểusượng (sượng cứng, nhão cơm, cháy múi)
+ Màu sắc cơm (đánh giá độ đồng đều của màu sắc; đo màu ở hai vị trí:cơm bình thường và cơm sượng), tổng số chất rắn hòa tan (TSS)
+ Mùi thơm cơm (1: không thơm; 2: thơm nhẹ; 3: thơm),
Đốt nóng trên bếp điện ở nhiệt độ 180oC trong khoảng một giờ, để nguộimẫu sau đó cho thêm vào 5 giọt H2O2 30% và tiếp tục đun nóng 5 - 10 phútcho đến khi có xuất hiện khói trắng Lặp lại tiến trình này đến khi mẫu trắnghoàn toàn
Trang 25Lấy bình tam giác ra khỏi bếp và để nguội lại bằng nhiệt độ trong phòng.Thêm vào bình khoảng 10 ml nước cất, lắc nhẹ cho hòa tan mẫu, chuyển mẫuvào bình định mức 50 ml, dùng nước cất lên thể tích đến vạch bình định mức,đậy nắp và trộn đều, có thể lọc mẫu qua giấy lọc, dung dịch lọc được dùng đểphân tích các chỉ tiêu N, P, Ca, K, Mg.
- Đạm: phương pháp Kjeldahl
Phương pháp tiến hành: chưng cất mẫu chuẩn
- Lấy 5 ml (H3BO3) với ba giọt thuốc thử cho vào trong bình tam giác,gắn bình tam giác vào dàn chưng cất Đạm
- Dùng pipette lấy 5 ml dịch chuẩn (NH3) = 0,01 mol/l cho vào trongbình Kjeldahl, thêm vào 3 ml (NaOH 12,5 mol/l) + với nước cất đến thể tíchkhoảng 10 ml Mở khóa cho hơi nước nóng vào bình kjeldahl, tiến hành chưngcất Đạm
- Hứng NH4OH vào bình tam giác đến khi đạt thể tích khoảng 50 ml
- Lấy bình tam giác ra khỏi dàn chưng cất Đạm, dùng H2SO4 0,1 molchuẩn độ đến khi xuất hiện màu hồng phấn (đỏ nhạt) Thực hiện giống nhưtrên với mẫu thử không có Đạm (Blank) và mẫu cây đã vô cơ hóa
N% = 0,014x(V1-V0)x 100N
V1: Thể tích (ml) của H2SO4 hoặc KH(IO3)2 chuẩn độ trong mẫu thật
V0: Thể tích (ml) của H2SO4 hoặc KH(IO3)2 chuẩn độ trong mẫu không.N: Nồng độ H2SO4 hoặc KH(IO3)2
0,014: Ly đương lượng của N
- Lân: phương pháp so màu
Phương pháp thực hiện:
Lấy 1 ml đã hòa loãng của mẫu vô cơ hóa mẫu cây cho vào trong ốngnghiệm, thêm vào trong ống nghiệm 3,8 mL hỗn hợp thuốc thử đã hòa loãng,lắc mẫu cho hòa tan đều, sau 10 phút sẽ đem đọc trên máy hấp thụ quang phổ
Trang 26(spectrophotometer) ở bước sóng 880 nm Abs (absorbance) Tiến hành nhưvậy với mẫu không (blank) và đường chuẩn.
Chú ý:
- Sau khi cho hỗn hợp thuốc thử, màu xanh sẽ ổn định trong 5 giờ
- Có thể đo P ở bước sóng 720 nm hoặc 600 nm nhưng ít nhạy bằng ởbước sóng 880 nm Abs
- Chỉ có một phần Mo6+ sẽ bị khử, vì vậy nếu mẫu có hàm lượng P caomàu sẽ tạo thành không triệt để, do đó cần phải hòa loãng mẫu
167 , 0 ) ( 1000
) ( 1
1000
100 10
50 / ) (
ml ml
l mg b a P
Trong đó:
a: hàm lượng mg/L của P trong mẫu cây
b: hàm lượng mg/L của P trong mẫu thử không (blank)
50 ml: Thể tích mẫu sau khi vô cơ hóa mẫu lên thể tích
10 ml: Thể tích mẫu hòa loãng đem đo
W (g): trọng lượng mẫu đem vô cơ hóa
1.000: đổi ra mg
- Kali, Calcium và Magiê: Đo bằng phương pháp hấp thu nguyên tử ở bước sóng 766,5 nm; 422,5 nm và 285,2 nm theo thứ tự Thực hiện theo các bước sau:
Chuẩn bị đường chuẩn K
Dùng pipet rút lấy: 0-1-2-3-4-5 mL của dung dịch K chuẩn có nồng độ4.000 mg/l cho vào trong mỗi bình định mức 50 mL có chứa trong đó khoảng
10 mL nước cất, sau đó cho tiếp vào bình định mức 2,25 ml acid sulfuric(H2SO4) đậm đặc (96%) hoặc 5 ml HCl đậm đặc (36%) vào trong mỗi bình,sau đó lên nước cất tới vạch của bình định mức
Trang 27Hòa loãng dãy đường chuẩn này bằng cách lấy 1 ml của mỗi bình địnhmức cho vào trong ống nghiệm, sao đó cho tiếp vào 9 ml dung dịch cesiumchloride vậy đường chuẩn này sẽ có nồng độ K là 0-8-16-24-32 mg/l dungdịch được lắc đều trước khi đo.
Xác định K của mẫu cây
Dùng pipet rút lấy 1 ml dịch vô cơ hoá của mẫu cây trông ống nghiệmcho thêm vào 9 mL dung dịch Cesium chloride, lắc đều mẫu trước khi đo trênmáy hấp thu nguyên tử có bước sóng 766,5 nm
Công việc được thực hiện giống như vậy đối với mẫu không và đườngchuẩn
Từ kết quả đo được trên máy hấp thu nguyên tử của đường chuẩn, mẫukhông và mẫu cây, vẽ đồ thị tính toán hàm lượng K có trong mẫu cây
Tính kết quả :
1000 3
, 0 1 1000
100 10
50 )
( (%)
mL ml
mg b a K
Trong đó:
a: nồng độ K xác định ở mẩu cây (sample)
b: nồng độ K xác định ở mẩu không (blank)
50 mL: thể tích sau khi vô cơ hoá mẫu
10 mL: Thể tích mẫu đem đo
100: hệ đổi ra %
0,3g: trọng lượng của mẫu x 1.000: đổi ra mg
Trang 28Chương 2: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN2.1 Kết quả điều tra các yếu tố có liên quan đến hiện tương giãm phẩm chất (sượng cơm) trái sầu riêng
2.1.1 Hình thức sượng
Kết quả điều tra trên bốn giống sầu riêng Mongthong, Sữa Hạt Lép, KhổQua Xanh và Ri-6 cho thấy tỷ lệ sượng của các giống khác nhau và các kiểusượng cơm trái cũng khác nhau cho từng giống (Bảng 2.1)
Bảng 2.1: Kiểu sượng khác nhau (%)xảy ra trên các giống sầu riêng tại các xã điều tra ở huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre
Giống
Tỷ lệsượng(%)
Kiểu sượngCứng,
mất màu(%)
Cứng,không đổimàu (%)
Nhãocơm (%)
Cháy múi(%)
Dính cùi(%)
Trang 29Hình 2.1: Sầu riêng sượng cơm mất màu (a) và sượng cứng còn màu (b) trên giống
sầu riêng Mongthong được điều tra tại huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre
Hình 2.2: Sầu riêng nhão cơm (a) trên và dính cùi (b) trên giống sầu riêng Sữa Hạt
Lép được điều tra tại huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre
Hình 2.3: Sầu riêng có cơm bị cháy đen dính vỏ trên giống Ri-6 (a), nhão cơm trên
giống Khổ Qua Xanh (b) được điều tra tại huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre
Tuy kết quả cho thấy các giống sầu riêng có tỷ lệ sượng cơm trái khácnhau, nhưng vấn đề sượng ở đây không phải do đặc tính của giống, bởi vì tất
cả giống này điều được nông dân tuyển chọn từ những giống ngon Hiện
(a) (b)
Trang 30tượng sượng cơm trái là do tác động của điều kiện ngoại cảnh và kỹ thuật canhtác, cho nên cần phải điều tra xem các yếu tố đó có ảnh hưởng tới hiện tượngnày không.
2.1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến hiện tượng sượng
Hình 2.4: Phần trăm các nông hộ có sầu riêng bị sượng theo mùa thu hoạch được
điều tra tại huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre
Trong mùa mưa đa số hộ nông dân có vườn sầu riêng bị sượng dễ bịsượng, nhất là lúc thu hoạch rơi vào mùa mưa khoảng tháng 5-8 dl Điềunày, tương tự với báo cáo của Bùi Thanh Liêm (2006) và Trần Văn Hâu(2005) Mùa mưa ẩm độ đất cao, mưa dầm làm cho các khoảng trống trongđất bị chiếm đầy nước, các hoạt động của bộ rễ yếu do đó việc cung cấp nước
và dinh dưỡng cho cây kém, hoạt động toàn cây suy giãm tác động đến trái sầuriêng làm chúng bị rối loạn sinh lý Vì vậy, cần tính toán mùa vụ xử lý ra hoa
để tránh việc thu hoạch rơi vào mùa mưa hoặc dùng màng phủ để ngăn cảnnước do mưa trong thời gian cây mang trái Việc tính toán điều tiết mùa vụcòn giúp nông dân bán trái sầu riêng vào thời điểm có giá cao nhằm nâng caohiệu quả sản xuất Ngoài ra việc xử lý ra hoa trong mùa mưa và chăm sóc trái
Mùa nắng
Mùa mưa
Trang 31trong mùa nắng là một lợi thế ở Chợ Lách, Bến Tre và mốt số tỉnh ở Đồngbằng sông Cữu Long, nơi có khí hậu ôn hòa quanh năm và nguồn nước tướidồi giàu so với các nơi khác.
2.1.2.2 Kích thước trái
Hiện tượng sượng trên trái sầu riêng cũng bị ảnh hưởng bởi kích thướctrái (Bảng 2.2) cho thấy mức độ sượng cơm theo kích thước trái trên ba giốngsầu riêng Mongthong, Khổ Qua Xanh và Ri-6
Bảng 2.2: Khối lượng trái sầu riêng của các giống khác nhau bị sượng khác nhau quađiều tra tại huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre
3,00 4,00
-5,00 –7,00 Tất cả
Không ảnhhưởng
Đối với giống sầu riêng Mongthong, những trái có kích thước lớn từ 5-7
kg rất dễ bị sượng Điều này tương tự với nghiên cứu của Huỳnh Văn Tấn và ctv (1992) là để khắc phục hiện tượng sượng khi một cây mang nhiều trái thì
trọng lượng trái từ 2,5-3 kg là tốt nhất Bên cạnh đó, cũng có một số ít hộ chorằng tất cả các trái kích dù kích thước lớn hay nhỏ đều bị sượng Kêt quả điềutra cho thấy ở giống sầu riêng Mongthong bị sượng ở tất cả các kích thướctrái Tuy nhiên, ở trái có kính thước nhỏ thì bị sượng rất thấp Đối với giốngsầu riêng Khổ Qua Xanh, tất cả các dạng trái đều bị sượng Kích thước trái từ1,6-1,8 kg được nông dân nhận định rằng dễ bị sượng chiếm tỷ lệ cao Tuynhiên, cũng có một số ít nông hộ cho rằng kích thước trái sầu riêng Khổ QuaXanh không ảnh hưởng đến vấn đề sượng Riêng đối với giống sầu riêng Ri-6,chỉ có hiện tượng cháy múi (Bảng 2.1) Nhưng cũng qua kết quả điều tra,100% nông hộ cho rằng hiện tượng cháy múi này không bị ảnh hưởng bởi kíchthước trái
Trang 32Kích thước trái sầu riêng thường phụ thuộc vào độ tuổi cây và số trái trêncây, thông thường trên những cây trẻ hoặc cây mang ít trái thì kích thước trái
to Đối với những cây sầu riêng mang trái vụ đầu thường ít trái nhưng trái to,
võ dày Những cây sầu riêng đã cho trái ổn định thì trái đồng đều hơn, tuynhiên ở những cành mang ít trái thường trái cũng to Vì thế nên cắt tỉa ngay từđầu những cành sâu bệnh, cành trong thân ra hoa kém để hoa phân bố đều trêncây kết hợp việc cắt tỉa trái sau khi đậu giúp cây có số lượng trái vừa phải,kích cở hợp lý thì sẽ giảm hiện tượng sượng cơm trái tốt hơn Trong thực tếkhi cây mang trái ổn định thì kích thước trái cũng đồng đều hơn, cho nên trongtrường hợp cây mang trái ở vụ đầu thường ít và trái to do đặc tính sinh lý củacây chưa ổn định, việc sượng cơm xảy ra là vấn đề bình thường Để tìm hiểuđiều này cần điều tra xem tuổi cây có ảnh hưởng tới hiện tượng sượng cơmtrái hày không
2.1.2.3 Tuổi cây
Số liệu điều tra cho thấy trên cây sầu riêng có độ tuổi mang trái khácnhau khi trồng bằng cây ghép phần lớn nông dân đánh giá hiện tượng sượngcơm có liên quan đến tuổi cây trong lúc mang trái (Hình 4.5)
Hình 2.5: Phần trăm tuổi cây dễ bị sượng điều tra tại huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre
Phần lớn các nông hộ cho rằng vấn đề sượng trên cây sầu riêng xảy ra ởcây tơ có độ tuổi lúc mang trái dưới 5 năm trồng có tỷ lệ cao nhất Điều nàycho thấy giai đoạn này cây chưa ổn định về mặt sinh lý nên chất lượng trái
Trang 33cũng chưa ổn định nhưng nông hộ khác lại cho rằng hiện tượng sượng xảy ratrên tất cả các tuổi của cây sầu riêng Một số ít các nông hộ cho rằng cây giàrất dễ bị sượng, lý do cây bị suy kiệt và sâu bệnh nhiều hơn Song song đó, cóvài nông hộ cho rằng tuổi cây không ảnh hưởng đến vấn đề sượng Điều nàycho ta suy nghĩ vấn đề sượng cơm trái sầu riêng thường xuất hiện trên cây tơ
là do đặc điểm sinh lý đây là yếu tố chính, đối với cây già là do cây bị sâubệnh tấn công dẫn đến suy kiệt không còn cho trái tốt, còn tuồi cây nào cũng
bị sượng là do tác động khác như mùa vụ, kỹ thuật chăm sóc vì vậy khi câysầu riêng bước vào giai đoạn cho trái ổn định cần thực hiện qui trình chăm sócnhư cắt tỉa, bón phân, phòng trừ sâu bệnh tốt để cây đủ điều kiện mang tráithuận lợi nhất, song song đó cần hạn chế những tác động bất lợi như ngập,hạn thì sẽ hạn chế hiện tượng sượng cơm trái tốt hơn Kết quả điều tra chothấy cây trưởng thành, mang trái ổn định nhiều năm thì tỷ lệ sượng cơm thấpnhất, như vậy vấn đề chăm sóc cây ở nông hộ có ảnh hưởng gì đế hiện tượngsượng cơm trái không cần tìm hiểu thêm
2.1.2.4 Yếu tố diện tích trồng ảnh hưởng đến hiện tượng sượng
Diện tích trồng sầu riêng ở các xã trong huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Trebiến động từ 1.000 m2 đến 16.000 m2, trong đó phổ biến nhất là nông hộ códiện tích từ 1.000 – 5.000 m2 chiếm tỷ lệ 71,19% (Hình 2.6)
Trang 34Hình 2.6: Phần trăm các nông hộ có diện tích canh tác sầu riêng đã điều tra ở huyện
Trang 352.1.2.5 Yếu tố giống ảnh hưởng đến hiện tượng sượng
Kết quả điều tra trên các loại giống sầu riêng hiện đang trồng tại hai xãHòa Nghĩa và Sơn Định, huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre còn khá nhiều giống
và tỷ lệ từng giống hiện cũng rất khác nhau (Hình 2.7)
Hình 2.7: Phần trăm các giống sầu riêng nông dân đã trồng được điều tra ở huyện
Chợ Lách, tỉnh Bến Tre.* SHL: Sữa Hạt Lép; KQX: Khổ Qua Xanh
Các giống sầu riêng ở huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre rất phong phú,trong đó giống Khổ Qua Xanh cũng còn khá nhiều và trồng lâu nhất, các vườntrồng giống khổ qua đều có độ tuổi khá cao từ 12-15 năm, diện tích trồngnhiều, tại thời điểm điều tra chiếm tới 42,72% Đây là giống phát triển đầu tiên
ở huyện Chợ Lách trồng bằng hai phương pháp chiết cành và ghép, phần lớnvườn hiện tại khá già cổi và có xu hướng chuyển đổi sang các giống khác nhưMongthong, Ri-6 Giống hiện đang phát triển diện tích có diện tích kế đến làgiống Mongthong và giống Sữa Hạt Lép, riêng giống như Ri-6 thì mới pháttriển gần đây, còn lại là các giống khác như Lá Quéo, Chanee, Chuồng Bòtương đối ít phổ biến Các giống sầu riêng đang phát triển được đánh giá làgiống chất lượng cao như Mongthong, Ri-6 và Sữa Hạt Lép được trồng saugiống Khổ Qua Xanh đều tỷ lệ cơm cao nên rất có thể bị bị tác động của cácyếu tố bên trong và yếu tố ngoại cảnh khác nhau, bên cạnh đó đặc tính cơmtrái của từng giống khác nhau do đó hiện tượng sượng cũng sẽ khác nhau.Riêng hai giống Mongthong và Sữa Hạt Lép đã từng đạt nhiều giải ở các hộithi trái ngon do Viện Nghiên cứu Cây ăn quả Miền Nam và các tỉnh tổ chức