TÓM TẮT Đặt vấn đề: Sốc nhiễm khuẩn là một bệnh lý nặng, thường gặp trong hồi sức và diễn biến phức tạp, thường dẫn đến suy đa tạng dẫn đến tử vong cao ở các khoa Hồi sức tích cực. Mục tiêu: nghiên cứu về đánh giá kết quả và các yếu tố liên quan đến điều trị sốc nhiễm khuẩn tại Bệnh viện Đa khoa trung tâm An Giang năm 20182019 nhằm góp phần vào chẩn đoán và điều trị hiệu quả và tiên lượng bệnh nhân sốc nhiễm khuẩn.
Trang 1ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN ĐIỀU TRỊ SỐC NHIỄM KHUẨN TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TRUNG TÂM AN GIANG
NĂM 2018 - 2019
Võ Văn Đức Khôi, Trần Văn Lời Neáng Reth Tha, Lương Thị Ngọc Bích
TÓM TẮT
Đặt vấn đề: Sốc nhiễm khuẩn là một bệnh lý nặng, thường gặp trong hồi sức và
diễn biến phức tạp, thường dẫn đến suy đa tạng dẫn đến tử vong cao ở các khoa Hồi sức tích cực
Mục tiêu: nghiên cứu về đánh giá kết quả và các yếu tố liên quan đến điều trị sốc
nhiễm khuẩn tại Bệnh viện Đa khoa trung tâm An Giang năm 2018-2019 nhằm góp phần
vào chẩn đoán và điều trị hiệu quả và tiên lượng bệnh nhân sốc nhiễm khuẩn
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Tất cả bệnh nhân nhập viện điều trị
được chẩn đoán xác định là sốc nhiễm khuẩn tại khoa Hồi sức tích cực-chống độc Bệnh viện Đa khoa Trung tâm An Giang theo tiêu chuẩn SSC 2016[16] Nghiên cứu mô tả cắt
ngang
Kết quả: Tỷ lệ điều trị thành công sốc nhiễm khuẩn tại Bệnh viện Đa khoa trung
tâm An Giang là 54,7%, tử vong n=43(45,3%) Nguyên nhân nhiễm khuẩn từ đường tiêu hóa và hô hấp là phổ biến nhất với tỷ lệ lần lượt là 36,8% và 30,5% Điểm APACHE II trung bình lúc mới vào sốc là 23,8 ± 7,6 Tỷ lệ bệnh nhân trên 20 điểm là 57,9%, thuộc nhóm nguy cơ cao Điểm SOFA trung bình tại thời điểm nhập viện là 5,8 ± 3,6
Kết luận: Hồi sức sớm để đạt mục tiêu về các chỉ số HATB, ALTMTT, Lactat máu,
lưu lượng nước tiểu thì sẽ giúp tăng khả năng sống sót ở bệnh nhân sốc nhiễm khuẩn
Từ khóa: chương trình chiến lược quản lí nhiễm khuẩn nặng và sốc nhiễm khuẩn
ABSTRACT
ASSESSMENT OF RESULTS AND FACTORS RELATED TO
TREATMENT OF DISEASES IN AN GIANG CENTER HOSPITAL IN
2018-2019
Vo Van Duc Khoi, Tran Van Loi
Neang Retha, Luong Thi Ngoc Bich
SUMMARY
Background: Septic shock is a serious disease, often in resuscitation and
complicated developments, often leading to multiple organ failure leading to high
mortality in the intensive care unit
Objectives: Research on evaluation of results and factors related to septic shock
treatment at An Giang Central General Hospital in 2018-2019 to contribute to the
effective diagnosis and treatment and prognosis of patients with septic shock bacteria
Subjects and methods: All hospitalized patients were diagnosed with septic shock
at the Department of Positive-Poison Recovery in An Giang Central General Hospital according to SSC 2016 standard [16] Research described cross section
Results: The successful treatment rate of septic shock at An Giang Central
General Hospital is 54.7%, n = 43 deaths (45.3%) Causes of infections from the
Trang 2gastrointestinal and respiratory tract are the most common with the rates of 36.8% and 30.5%, respectively The average APACHE II score at shock was 23.8 ± 7.6 The proportion of patients with a score of more than 20 points is 57.9%, belonging to a
high-risk group The average SOFA score at the time of admission was 5.8 ± 3.6
Conclusion: Early resuscitation to achieve the goals of HATB, ALTMTT, blood lactate, and urine flow will increase survival in patients with septic shock
Key words:Surviving Sepsis Shock Campain Systemic
1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Sốc nhiễm khuẩn là một bệnh lý nặng, thường gặp trong hồi sức và diễn biến phức tạp, thường dẫn đến suy đa tạng, là một trong những nguyên nhân hàng đầu dẫn đến tử vong ở các khoa Hồi sức tích cực Theo hướng dẫn của chương trình chiến lược quản lí nhiễm khuẩn nặng và sốc nhiễm khuẩn “Surviving Sepsis Shock Campain-SSC” (2012): nên bắt đầu hồi sức càng sớm càng tốt, ngay khi phát hiện tụt huyết áp sau đó tiếp tục hồi sức trong 6 giờ đầu nhằm cải thiện tỉ lệ tử vong[12]
Tại An Giang tỉ lệ tử vong của nhóm bệnh nhân sốc nhiễm khuẩn có suy đa tạng còn cao 45,9% [8] Vì vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu về đánh giá kết quả và các yếu
tố liên quan đến điều trị sốc nhiễm khuẩn tại bệnh viện Đa khoa Trung tâm An Giang năm 2018-2019 với mục tiêu:
Mục tiêu nghiên cứu:
-Đặc điểm chung bệnh nhân sốc nhiễm khuẩn Bệnh viện Đa khoa trung tâm An Giang năm 2018-2019
-Đánh giá kết quả và các yếu tố liên quan đến điều trị sốc nhiễm khuẩn tại Bệnh viện Đa khoa trung tâm An Giang năm 2018-2019
2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Tất cả bệnh nhân nhập viện điều trị được chẩn đoán xác định là sốc nhiễm khuẩn tại khoa Hồi sức tích cực-chống độc Bệnh viện Đa khoa Trung tâm An Giang từ tháng 04/2018 đến 06/2019
Tiêu chuẩn chọn mẫu
- Hội chứng đáp ứng viêm hệ thống (SIRS): có ít nhất 2 trong số các tiêu chuẩn sau:[13] + Thân nhiệt >38,30C hoăc <360
C
+ Nhịp tim >90 lần/phút
+ Thở nhanh, tần số >20 lần/ phút
+ Số lượng bạch cầu >12 x 109/l hoặc <4 x 109/l hoặc bạch cầu non >10%
- Có bằng chứng nhiễm trùng hoặc nghi ngờ nhiễm trùng
- Dấu hiệu suy chức năng cơ quan:
+ Thận: Thiểu niệu, lượng nước tiểu giảm dần và <0,5ml/kg/giờ hoặc vô niệu + Tụt huyết áp(huyết áp tâm thu <90 mmHg hay huyết áp trung bình <70 mmHg, hay huyết áp tâm thu giảm >40 mmHg so với trị số bình thường) không đáp ứng với bù dịch và phải dùng thuốc vận mạch[16]
Tiêu chuẩn loại trừ
- Bệnh nhân hoặc người nhà không đồng ý tham gia nghiên cứu
Trang 3- Có chống chỉ định đặt catheter tĩnh mạch trung tâm hoặc catheter động mạch quay:
nhiễm trùng tại chỗ, tiểu cầu <20.000/mL, thời gian đông máu kéo dài (INR >2)
- Bệnh nhân bị các loại sốc khác như: sốc tim, sốc phản vệ, sốc giảm thể tích do tiêu chảy cấp hoặc bệnh nhân tử vong trước 6 giờ điều trị
2.2 Phương pháp nghiên cứu
Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang
Cỡ mẫu:Công thức tính cỡ mẫu: n = z2
1-α/2 ( )
n: là cỡ mẫu tối thiểu, d: sai số cho phép (chọn d=10%) α: hệ số tin cậy, với độ tin cậy
95% thì Z = 1,96, p: tỷ lệ điều trị thành công của sốc nhiễm khuẩn Theo nghiên cứu của
Lê Hữu Thiện Biên (2017), tỷ lệ này là 55 %, chọn p=0,55 [1] Áp dụng công thức trên ta tính được n = 95
Phương pháp chọn mẫu: lấy mẫu thuận tiện, tất cả các bệnh được chẩn đoán sốc nhiễm
khuẩn nhập viện và điều trị tại khoa Hồi sức cấp cứu - chống độc Bệnh viện Đa khoa trung tâm An Giang
2.3 Nội dung nghiên cứu
Các thông tin cần thu thập:
Tuổi, giới, mạch, huyết áp,vị trí ổ nhiễm khuẩn, tiền sử bệnh tật, thông số huyết học và sinh hóa
Đặc điểm về các chỉ số thay đổi sau 6 giờ điều trị như: Huyết áp trung bình, độ thanh thải lactat, áp lực tĩnh mạch trung tâm, lưu lượng nước tiểu, tình trạng ra viện
Nội dung phân tích:
Thông tin chung về mẫu nghiên cứu
Kết quả điều trị và các yếu tố như: HATB, ALTMTT, Lactat máu, lưu lượng nước tiểu sau 6 giờ liên quan đến tỉ lệ tử vong của bệnh nhân sốc nhiễm khuẩn
2.4 Phương pháp xử lý số liệu
Các số liệu được nhập và xử lí bằng phần mềm Stata 12.0 Các biến định tính: tần số và tỉ
lệ phần trăm được trình bày dưới dạng tần số, tỉ lệ phần trăm và biểu đồ Các biến định lượng được mô tả bằng số trung bình và độ lệch chuẩn (nếu phân phối chuẩn), trung vị và khoảng tứ phân vị (nếu phân phối không chuẩn) Để khảo sát mối tương quan giữa 2 biến định tính: dùng phép kiểm định chi bình phương Để so sánh 2 trung bình của 2 mẫu độc lập của 2 biến định lượng dùng Independent Spamples T test Giá trị p được xem là có ý nghĩa thống kê ở mức <0,05 Chỉ số Odds ratio – OR được tính cho các biến với khoảng tin cậy 95%
3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU:
Chúng tôi nghiên cứu về việc đánh giá kết quả và các yếu tố liên quan đến điều trị
sốc nhiễm khuẩn tại Bệnh viện Đa khoa trung tâm An Giang năm 2018-2019 trên 95
bệnh nhân với kết quả như sau:
3.1 Đặc điểm mẫu nghiên cứu
Tuổi trung bình của 95 bệnh nhân sốc nhiễm khuẩn là 64,6 ± 13,7 (nhỏ nhất 28 tuổi, lớn nhất 92 tuổi) Đa số bệnh nhân trên 50 tuổi (chiếm 96,8%)
Trang 4Biểu đồ 3.1: Đặc điểm về giới tính của đối tượng nghiên cứu
Nhận xét: Nam giới chiếm 48,4%, nữ chiếm 51,6%
Bảng 1: Đặc điểm về đường vào gây sốc nhễm khuẩn
Vị trí ổ
nhiễm khuẩn
Nhận xét: Trong 95 bệnh nhân, nhiễm trùng đường tiêu hóa và hô hấp là phổ biến
nhất với tỷ lệ lần lượt là 36,8% và 30,5% Ở bệnh nhân nam thì nhiễm trùng đường hô hấp chiếm tỷ lệ cao nhất (43,5%) ở bệnh nhân nữ thì nhiễm trùng tiêu hóa chiếm tỷ lệ cao nhất (36,8%)
Bảng 2: Đặc điểm các bệnh mạn tính đi kèm của đối tượng nghiên cứu
Loại bệnh Nam (46 BN) Nữ (49 BN) Chung (95 BN)
Đái tháo đường 11 23,9 26 56,5 37 38,9
Nhận xét: Tăng huyết áp, đái tháo đường và bệnh phổi là bệnh phổ biến nhất ở nam
và nữ chiếm tỉ lệ chung lần lượt là 49,5%, 38,9%, 14,7%
Bảng 3: Đặc điểm độ nặng của đối tượng nghiên cứu theo thang điểm APACHE II
Trang 5APACHE II Nam (46 BN) Nữ (49 BN) Chung (95 BN)
X ± SD 23,9 ± 8,0 23,7 ± 7,3 23,8 ± 7,6
Nhận xét: Điểm APACHE II trung bình của 95 bệnh nhân là 23,8 ± 7,6 Tỷ lệ bệnh
nhân có điểm APACHE II trên 20 điểm là 57,9%, thuộc nhóm nguy cơ cao (nam: 61,2%; nữ: 54,3%)
Bảng 4: Đặc điểm thang điểm SOFA của đối tƣợng nghiên cứu
Điểm SOFA Nam (46 BN) Nữ (49 BN) Chung (95 BN)
Nhận xét: Điểm SOFA trung bình của 95 bệnh nhân tại thời điểm nhập viện là 5,8
± 3,6 (nam: 6,6 ± 4,0; nữ: 5,0 ± 3,0) Bệnh nhân có điểm SOFA nhỏ nhất là 1 và lớn nhất
là 15
3.2 Đánh giá kết quả và các yếu tố liên quan đến kết quả điều trị sốc nhiễm khuẩn Bảng 5: Kết quả điều trị sốc nhiễm khuẩn
Nhận xét: Có 52/95 (54,7%) bệnh nhân khỏi bệnh, giảm bệnh Tỷ lệ tử vong là
45,3% (tử vong tại viện: 12,6%; Nặng xin về - tiên lượng tử vong: 32,7%)
Bảng 6: Đặc điểm kết cục chỉ số huyết áp trung bình trong 6 giờ đầu
n (%)
Tử vong
n (%)
OR KTC (95%) p
Đạt (≥65 mmHg) 44 (65,7%) 23 (34,3%)
2,94 1,14 - 7,64 0,013 Không đạt (<65 mmHg) 13 (39,4%) 20 (47,8%)
Trang 6Nhận xét: Đạt chỉ số HATB trong 6 giờ đầu giúp tăng khả năng sống sót với OR =
2,94 (CI 95%: 1,14 - 7,64), có ý nghĩa thống kê với p <0,05
Bảng 7: Đặc điểm kết cục theo chỉ số ALTMTT trong 6 giờ đầu
n (%)
Tử vong
n (%)
OR KTC (95%) p
Đạt (≥12cmH2O) 29 (60,4%) 19 (23,9%)
1,59 0,65 - 3,89 0,041 Không đạt (<12cmH2O) 23 (48,9%) 24 (76,1%)
Nhận xét: Đạt chỉ số ALTMTT trong 6 giờ đầu giúp tỷ lệ sống sót với OR=1,59(CI
95%: 0,65 - 3,89), so với không đạt, có ý nghĩa thống kê p <0,05
Bảng 8: Đặc điểm kết cục theo chỉ số Lactat máu trong 6 giờ đầu
n (%)
Tử vong n(%)
OR KTC (95%) p
Đạt (≤ 4mmol/l) 35 (59,3%) 24 (69,6%) 1,62
0,65 - 4,09 0,040 Không đạt (> 4mmol/l) 17 (47,2%) 19 (30,4%)
Nhận xét: Đạt chỉ số Lactat máu (≤4mmol/l) trong 6 giờ đầu giúp tỷ lệ sống sót cao
hơn với OR=1,62(CI 95%: 0,65 - 4,09), có ý nghĩa thống kê với p <0,05
Bảng 9: Đặc điểm kết cục theo chỉ số nước tiểu trong 6 giờ đầu
Nước tiểu Sống
n (%)
Tử vong n(%)
OR
4,51 - 200,52 0,001 Không đạt 2 (9,1%) 20 (47,8%)
Nhận xét: Đạt chỉ số nước tiểu trong 6 giờ đầu giúp tăng khả năng sống sót với OR
= 21,74 (CI 95%: 4,51 – 200,52), có ý nghĩa thống kê với p <0,05
4 BÀN LUẬN
4.1 Bàn luận về đặc điểm mẫu nghiên cứu
Trong nghiên cứu của chúng tôi tuổi trung bình của các bệnh nhân SNK là 64,6 ± 13,7 (nhỏ nhất 28 tuổi, lớn nhất 92 tuổi) Tuổi trung bình của bệnh nhân trong nghiên cứu của Bùi Thị Hương Giang là 55,6 ± 16,5 tuổi (18 - 90 tuổi) và nhóm tuổi có số bệnh nhân mắc SNK nhiều nhất nhất 50 - 69 tuổi[2] Phân bố về giới tính trong nghiên cứu của chúng tôi khá tương đồng, nam giới chiếm 48,4%, nữ chiếm 51,6%, của Bùi Văn Tám
Trang 7nam giới chiếm 79,2%[6]
Vị trí ổ nhiễm khuẩn trong nghiên cứu của chúng tôi, vị trí thường gặp nhất là tiêu hóa chiếm 36,8%, sau đó đến nhiễm khuẩn đường hô hấp (30,5%), đường tiết niệu (12,6%) và một số nguyên nhân khác Nghiên cứu của chúng tôi tương đồng với nghiên cứu của Trương Dương Tiển (2018) ghi nhận nguồn nhiễm chiếm tỷ lệ cao nhất là đường tiêu hóa 40,85%, sau đó là đường hô hấp 32,39% (viêm phổi)[10] Nghiên cứu của Phạm Thị Ngọc Thảo ghi nhận nguồn nhiễm khuẩn chiếm đa số là tiêu hóa và hô hấp chiếm
56% và 21,1% [9]Error! Reference source not found
Đặc điểm về tiền sử bệnh mạn tính Tỉ lệ bệnh phối hợp hay gặp nhất trong nghiên
cứu của chúng tôi là tăng huyết áp (49,5%), đái tháo đường đái 38,9% Nghiên cứu của Nguyễn Hữu Quân có tỷ lệ bệnh nhân SNK kèm theo đái tháo đường là 20,9%, nghiện rượu 14,9%, bệnh gan 10,4%, tiền sử dùng corticoid 9% [5] Nghiên cứu của chúng tôi phù hợp với nghiên cứu của Hoàng Văn Quang [3][4] gặp nhiều bệnh tăng huyết áp
48,8% và tiểu đường 19,9%
Bảng điểm APACHE II trong nghiên cứu của chúng tôi khi vào khoa Hồi sức tích cực rất cao có điểm APACHE II rất cao, trung bình là 23,8 ± 7,6 phù hợp với nghiên cứu của Bùi Văn Tám là 24,9 ± 5,6 [6] Nguyễn Hữu Quân là 23,4 ± 3,2 [5],cao hơn Vũ Hải Yến:18,4 ± 4,3 [11] Điểm SOFA khi vào khoa hồi sức tích cực là 5,8 ± 3,6 (1 - 15), phù hợp với nghiên cứu của Bùi Văn Tám [6]
4.2 Bàn luận về kết quả điều trị và các yếu tố liên quan đến điều trị sốc nhiễm khuẩn tại Bệnh viện Đa khoa trung tâm An Giang năm 2018-2019
Tỷ lệ tử vong trong nghiên cứu của chúng tôi (tử vong tại viện + bệnh nặng xin về
có tiên lượng tử vong) là 45,3% Tỉ lệ tử vong trong nghiên cứu của chúng tôi có thể là khá cao khi so sánh với một số nghiên cứu khác ở nước ngoài như: Pro CI, Yealy DM, Kellum JA et al (2014) [15] tử vong là 21% có thể do điều kiện hồi sức tại các nước phát triển tốt hơn, điều kiện trang thiết bị tốt hơn và không bị quá tải giống như trong điều kiện Việt Nam Tuy nhiên, khi so sánh với các nghiên cứu trong nước thì tỷ lệ tử vong trong nghiên cứu của chúng tôi là phù hợp Nghiên cứu của Nguyễn Hữu Quân có tỷ lệ tử vong ở nhóm điều trị bằng phương pháp PICCO là 39,6% so với nhóm thường qui là 53,3%[5].Nghiên cứu của Trương Dương Tiển thực hiện năm 2016 ở Bệnh viện Chợ Rẫy cho thấy tỷ lệ tử vong ở SNK là 59,68%[10] Nghiên cứu của Phạm Ngọc Thảo có tỷ lệ
tử vong là 61%[9]
Trong nghiên cứu của chúng tôi, bệnh nhân có HATB ≥65 mmHg có tỷ lệ tử vong thấp hơn so với bệnh nhân có HATB <65 mmHg Đạt chỉ số HATB (≥65 mmHg) trong 6 giờ đầu giúp tăng khả năng sống sót với OR = 2,94 (CI 95%: 1,14 - 7,64), có ý nghĩa thống kê với p <0,05 Kết quả này phù hợp với nghiên cứu của Brian C, Richard R, Mitchell M L [12] Nghiên cứu của Valpura yếu tố dự báo mạnh nhất của tỷ lệ tử vong là huyết áp trung bình Valpura thấy ngưỡng huyết áp 65mmHg có khả năng dự báo tỷ lệ tử vong, diện tích dưới đường cong AUC 0,841 (95% CI 0,761-0,921, p= 0,013)[17] Trong nghiên cứu của chúng tôi, ghi nhận sự cải thiện tỷ lệ bệnh nhân đạt HATB ≥65 mmHg sau 6 giờ điều trị với p <0,01 (thời điểm T0: 1,1% ; Thời điểm T6: 65,2%) HATB thời
Trang 8điểm T6 đạt 68,3 ± 17,5 mmHg, cao hơn có ý nghĩa thống kê so với thời điểm T0 với p
<0,01 Kết quả này phù hợp Tác giả Bùi Thị Hương Giang, HATB tăng từ 71,6mmHg ở T0 lên 79,7mmHg giờ thứ 6, HATB của bệnh nhân sốc nhiễm khuẩn đạt đích >65mmHg tăng từ 78% lên 88%[2] Vũ Hải Yến nghiên cứu kết quả của liệu pháp điều trị sớm theo mục tiêu ở bệnh nhân sốc nhiễm khuẩn, thấy huyết áp trung bình >65mmHg ở giờ thứ nhất là 8,5% tăng lên 69% ở giờ thứ 6 [11]
Đạt chỉ số ALTMTT trong 6 giờ đầu giúp tỷ lệ sống sót cao hơn so với nhóm không đạt với OR=1,59(CI 95%: 0,65 - 3,89) có ý nghĩa thống kê p <0,05 Kết quả này phù hợp với nghiên cứu của Bùi Thị Hương Giang [2], Nguyễn Hữu Quân [5] Nghiên cứu của Varpura và cộng sự nhận thấy ALTMTT ở nhóm bệnh nhân sống thấp hơn so với nhóm bệnh nhân tử vong[17] Trong nghiên cứu của chúng tôi, đạt chỉ số Lactat máu (≤4mmol/l) trong 6 giờ đầu giúp tỷ lệ sống sót cao hơn nhóm không đạt với OR=1,62(CI 95%: 0,65 - 4,09), có ý nghĩa thống kê với p <0,05 Kết quả này phù hợp với nghiên cứu của Trương Dương Tiễn sau: độ thanh thải lactate máu >10% có giá trị tiên đoán tử vong OR = 8,16 (95% CI 0,89-75,12) với p= 0,027[10].Young Kun Lee và cộng sự năm 2016, nghiên cứu 917 bệnh nhân ghi nhận có sự khác biệt có ý nghĩa nồng độ lactat tạo thời điểm nhập T0 giữa nhóm sống là 3,9mmol/l và nhóm tử vong là 5,7mmol/L với p
<0,01 Thời điểm T6 nồng độ lactat của nhóm sống là 2,1 mmol/L và nhóm tử vong là 5,0 mmol/L (p <0,01)[14] Lưu lượng nước tiểu trong mỗi giờ là tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả điều trị trong SNK Duy trì được tình trạng nước tiểu >0,5 ml/kg/h Trong nghiên cứu này đạt chỉ số nước tiểu trong 6 giờ đầu giúp tăng khả năng sống sót với OR
= 21,74 (CI 95%: 4,51 - 200,52), có ý nghĩa thống kê với p <0,05 Kết quả này phù hợp với nghiên cứu của Nguyễn Hữu Quân và Nguyễn Sỹ Tăng[5][7]
5 KẾT LUẬN
Tỷ lệ điều trị thành công sốc nhiễm khuẩn tại Bệnh viện Đa khoa trung tâm An Giang là 54,7%, tử vong 45,3% Nguyên nhân nhiễm khuẩn từ đường tiêu hóa và hô hấp
là phổ biến nhất với tỷ lệ lần lượt là 36,8% và 30,5% Điểm APACHE II trung bình lúc mới vào sốc là 23,8 ± 7,6 Tỷ lệ bệnh nhân trên 20 điểm là 57,9%, thuộc nhóm nguy cơ cao Điểm SOFA trung bình tại thời điểm nhập viện là 5,8 ± 3,6 Hồi sức sớm để đạt mục tiêu về các chỉ số HATB, ALTMTT, Lactat máu, lưu lượng nước tiểu thì có giúp tăng khả năng sống sót ở bệnh nhân sốc nhiễm khuẩn
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Lê Hữu Thiện Biên (2017), „‟Nghiên cứu giá trị của các thông số huyết động tĩnh trong đánh giá đáp ứng bù dịch ở bệnh hân nhiễm khuẩn huyết nặng và sốc nhiễm khuẩn’’, Luận án tiến sĩ y học, Đại Học Y Dược Tp HCM
2 Bùi Thị Hương Giang (2016), „‟Nghiên cứu một số thông số huyết động và chức năng tâm thu thất trái ở bệnh nhân sốc nhiễm khuẩn’’, Luận án tiến sĩ y học,
Trường Đại Học Y Hà Nội
Trang 93.Hoàng Văn Quang (2005).‘’Tìm hiểu nguyên nhân tử vong trong sốcnhiễm trùng tại khoa Hồi sức cấp cứu bệnh viện Thống Nhất’’ Kỷ yếu hội nghị toàn quốc về Hồi
sức cấp cứu và chống độc lần thứ V, Đà nẵng
4 Hoàng Văn Quang (2009) ‘’Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng của suy đa tạng và các yếu tố tiên lượng tử vong ở bệnh nhân sốc nhiễm khuẩn’’, Y học thực hành (694),
số 12/2009
5 Nguyễn Hữu Quân (2016), ‘’Nghiên cứu hiệu quả hoạt động dưới sự hỗ trợ của phương pháp PICCO trong xử trí sốc nhiễm khuẩn’’, Luận án tiến sỹ y học,
Trường Đại học Y Hà Nội
6 Bùi Văn Tám (2009) „‟Đánh giá hiệu quả trên huyết động của lọc máu liên tục trong điều trị sốc nhiễm khuẩn’’ Luận văn thạc sỹ y học, Trường Đại học Y Hà Nội Tr
31-47
7 Nguyễn Sỹ Tăng (2009) „‟Đánh giá hiệu quả của lactat máu trong đánh giá mức độ nặng và theo dõi diến biến của sốc nhiễm khuẩn’’ Luận văn thạc sỹ y học, Trường
Đại học Y Hà Nội Tr 36-50
8 Phạm Ngọc Kiếu, Nguyễn Huỳnh Bích Phượng, Phạm Ngọc Dao, Phù Kỳ Thạnh
(2018) ‘’Nghiên cứu đặc điễm của suy đa cơ quan và các yếu tố tiên lượng tử vong
ở bệnh nhân sốc nhiễm khuẩn’‟ Kỷ yếu Hội Nghị Khoa học Bệnh viện An Giang
9 Phạm Thị Ngọc Thảo và các cộng sự (2010), "Nghiên cứu tình hình điều trị nhiễm khuẩn nặng và sốc nhiễm khuẩn tại các khoa hồi sức tích cực khu vực Châu Á", Y
Học Lâm Sàng
10 Trương Dưỡng Tiển (2018), „‟Vai trò độ bão hòa oxy máu tĩnh mạch trung tâm và
độ thanh thải lactate máu động mạch trong tiên lượng nhiễm khuẩn huyết và sốc nhiễm khuẩn‟‟ Luận án tiến sĩ y học, Trường Đại học Y dược thành phố Hồ Chí
Minh
11 Vũ Hải Yến (2012), „‟Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng-cận lâm sàng, kết quả liệu pháp điều trị sớm theo mục tiêu ở bệnh nhân sốc nhiễm khuẩn‟‟ Luận văn thạc sĩ,
chuyên ngành hồi sức cấp cứu, Đại Học Y Hà Nội
12 Brian C, Richard R, Mitchell M L (2009), “Hemodynamic Monitoring in Sepsis”,
Crit Care Clin, 25, pp 803-823
13 Dellinger R.P, Levy M.M, Rhodes A, Annae D et al (2013) “Surviving Sepsis Campaign: international guidelines for management of severe sepsis and septic
shock, 2012”, Intensive Care Med, 39(2), pp 165-228
14 Lee Y K, Hwang S Y, Shin T G, Jo I J, Suh G Y, Jeon K (2016),“Prognostic Value
of Lactate and Central Venous OxygenSaturation after Early Resuscitation in
Sepsis Patients” PLoS One
15 Pro CI, Yealy DM, Kellum JA et al (2014), “A randomized trial of protocol-based care for early septic shock”, N Engl J Med, 370 (18), 1683-1693
16 Singer M, Deutschman CS, et al (2016), “The Third International Consensus Definitions for Sepsis and Septic Shock (Sepsis-3)”, JAMA 2016,315, pp 801-810
17 Varpula M, Tallgren M, Saukkonen K, et al (2005), “Hemodynamic variables
related to outcome in septic shock”, Intensive Care Med