1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Chất lượng đội ngũ cán bộ đoàn cấp cơ sở huyện quảng uyên, tỉnh cao bằng

125 90 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 125
Dung lượng 1,68 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đội ngũ cán bộ Đoàn cấp cơ sở đòi hỏi phải có trình độ, kỹ năng nghiệp vụ, phẩm chất chính trị, đạo đức tốt, nếu không sẽ không thể phát huy được vai trò của tổ chức cơ sở Đoàn và tiềm n

Trang 1

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

HÀ NGỌC HUY

CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ ĐOÀN CẤP CƠ SỞ

HUYỆN QUẢNG UYÊN, TỈNH CAO BẰNG

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan, luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Quản lý kinh tế: “Chất lượng đội ngũ cán bộ Đoàn cấp cơ sở huyện Quảng Uyên, tỉnh Cao Bằng” là đề tài nghiên cứu của riêng tôi Các nội dung của luận văn được trình bày dựa trên quan điểm của cá nhân, cơ sở nghiên cứu lý thuyết và phân tích thực tiễn, dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Lê Thị Ngân Các kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực, khách quan và chưa từng dùng bảo vệ để lấy bất kỳ học vị nào

Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cám

ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều được chỉ rõ nguồn gốc./

Hà Nôi, ngày tháng năm 2016

Tác giả luận văn

Hà Ngọc Huy

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trước tiên tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Ban Giám đốc, các thầy giáo,

cô giáo Khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn, các thầy, cô giáo của Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã tận tình giảng dạy truyền đạt kiến thức và tạo điều kiện tốt nhất cho tôi thực hiện đề tài này

Đặc biệt tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đối với TS Lê Thị Ngân, người hướng dẫn khoa học trực tiếp cho tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Tôi xin trân trọng cảm ơn các thầy giáo, cô giáo trong Hội đồng chấm luận văn

đã có những đóng góp quý báu để tôi hoàn thiện luận văn của mình

Để hoàn thành luận văn này, tôi xin gửi lời cảm ơn trân trọng tới các đồng chí lãnh đạo, cán bộ đang công tác tại Tỉnh Đoàn Thanh niên Cao Bằng, lãnh đạo Ủy ban nhân dân huyện Quảng Uyên, các cơ quan, phòng, ban chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân huyện Quảng Uyên, Huyện Đoàn Quảng Uyên và các đồng chí Lãnh đạo Đảng ủy

xã, cán bộ Đoàn cơ sở, Chi đoàn cơ sở, Chi đoàn, Đoàn viên, thanh niên tại Quảng Uyên đã giúp đỡ cung cấp số liệu, thông tin, tài liệu và đóng góp ý kiến trong quá trình hoàn thành luận văn

Cuối cùng tôi muốn bày tỏ lòng cảm ơn chân thành đến gia đình và bạn bè đã luôn ủng hộ, động viên, tạo điều kiện để tôi có thể hoàn thành luận văn

Hà Nôi, ngày tháng năm 2016

Tác giả luận văn

Hà Ngọc Huy

Trang 4

MỤC LỤC

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii

Mục lục iii

Danh mục chữ viết tắt vi

Danh mục bảng vii

Danh mục sơ đồ, biểu đồ ix

Danh mục hộp x

Trích yếu luận văn xi

Phần 1 Mở đầu 1

1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2

1.2.1 Mục tiêu chung 2

1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2

1.3 Câu hỏi nghiên cứu 3

1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

1.4.1 Đối tượng nghiên cứu 3

1.4.2 Phạm vi nghiên cứu 3

1.5 Những đóng góp mới, ý nghĩa khoa học hoặc thực tiễn 3

Phần 2 Tổng quan tài liệu nghiên cứu 5

2.1 Cơ sở lý luận 5

2.1.1 Các khái niệm 5

2.1.2 Khái quát chung về Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh 8

2.1.3 Cán bộ Đoàn cấp cơ sở 11

2.1.4 Nội dung nghiên cứu 15

2.1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng cán bộ Đoàn cấp cơ sở 18

2.2 Cơ sở thực tiễn 20

2.2.1 Tình hình đội ngũ cán bộ Đoàn cấp cơ sở tại Việt Nam 20

2.2.2 Kinh nghiệm của một số địa phương trong nước về nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ Đoàn 22

2.2.3 Bài học kinh nghiệm từ cơ sở thực tiễn cho địa bàn nghiên cứu 26

Trang 5

Phần 3 Phương pháp nghiên cứu 28

3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 28

3.2 Phương pháp nghiên cứu 33

3.2.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu 33

3.2.2 Phương pháp thu thập số liệu, tài liệu, thông tin 34

3.2.3 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu, thông tin 36

3.2.4 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 37

Phần 4 Kết quả và thảo luận 38

4.1 Khái quát về hệ thống tổ chức và đội ngũ cán bộ đoàn cấp cơ sở tại huyện Quảng Uyên, tỉnh Cao Bằng 38

4.1.1 Hệ thống tổ chức cơ sở Đoàn 38

4.1.2 Cơ cấu tổ chức cơ sở Đoàn tại Quảng Uyên 39

4.1.3 Chất lượng tổ chức cơ sở Đoàn 40

4.1.4 Đội ngũ cán bộ Đoàn cấp cơ sở 41

4.1.5 Đánh giá chung về tổ chức cơ sở Đoàn tại huyện Quảng Uyên 47

4.2 Chất lượng đội ngũ cán bộ đoàn cấp cơ sở tại huyện Quảng Uyên, tỉnh Cao Bằng 47

4.2.1 Giới tính, độ tuổi, kinh nghiệm 47

4.2.2 Trình độ của đội ngũ cán bộ Đoàn cấp cơ sở 50

4.2.3 Kỹ năng, nghiệp vụ đoàn 55

4.2.4 Phẩm chất đạo đức, lối sống 58

4.2.5 Mức độ hoàn thành công việc 62

4.2.6 Kết quả triển khai các hoạt động, phong trào cách mạng của Đoàn 64

4.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng đội ngũ cán bộ đoàn cấp cơ sở huyện Quảng Uyên, tỉnh Cao Bằng 69

4.3.1 Lòng yêu nghề, trách nhiệm với công việc 69

4.3.2 Công tác quy hoạch, cơ chế tuyển dụng, bổ nhiệm cán bộ Đoàn 70

4.3.3 Đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ 71

4.3.4 Điều kiện làm việc 74

4.3.5 Chính sách đãi ngộ 77

4.3.6 Các yếu tố khác 79

Trang 6

4.4 Giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ đoàn cấp cơ sở

huyện Quảng Uyên, tỉnh Cao Bằng 80

4.4.1 Quan điểm, định hướng xây dựng đội ngũ cán bộ Đoàn cấp cơ sở 80

4.4.2 Giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ Đoàn cấp cơ sở trên địa bàn huyện Quảng Uyên, tỉnh Cao Bằng 81

Phần 5 Kết luận và kiến nghị 91

5.1 Kết luận 91

5.2 Kiến nghị 93

5.2.1 Đối với Trung ương 93

5.2.2 Đối với Tỉnh uỷ, Ủy ban nhân dân tỉnh Cao Bằng 93

5.2.3 Đối với Cấp ủy, chính quyền cấp huyện, cấp xã của huyện Quảng Uyên 94

Tài liệu tham khảo 95

Phụ lục 99

Trang 7

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Bảng 3.1 Tình hình dân số huyện Quảng Uyên qua 3 năm 2013 -2015 29

Bảng 3.2 Giá trị sản xuất của huyện Quảng Uyên giai đoạn 2013 – 2015 31

Bảng 3.3 Cách thu thập nguồn thông tin thứ cấp 34

Bảng 3.4 Đối tượng điều tra và số lượng mẫu điều tra 35

Bảng 4.1 Cơ cấu tổ chức cơ sở Đoàn huyện Quảng Uyên phân theo các khối chuyên môn 39

Bảng 4.2 Kết quả đánh giá chất lượng tổ chức cơ sở Đoàn năm 2015 tại huyện Quảng Uyên 40

Bảng 4.3 Cơ cấu cán bộ Đoàn cấp cơ sở phân theo chức danh và độ tuổi 43

Bảng 4.4 Giới tính, độ tuổi và kinh nghiệm của các cán bộ Đoàn cấp cơ sở được điều tra 48

Bảng 4.5 Trình độ của các cán bộ Đoàn cấp cơ sở được điều tra 52

Bảng 4.6 Đánh giá của cán bộ Đoàn cơ sở và Chi đoàn cơ sở về kỹ năng nghiệp vụ của bản thân 56

Bảng 4.7 Đánh giá của cán bộ các Chi đoàn về kỹ năng nghiệp vụ của bản thân 57

Bảng 4.8 Kết quả đánh giá về phẩm chất, đạo đức lối sống của cán bộ Đoàn cấp cơ sở 60

Bảng 4.9 Kết quả đánh giá, phân loại cán bộ Đoàn cơ sở, Chi đoàn cơ sở huyện Quảng Uyên giai đoạn 2013 - 2015 62

Bảng 4.10 Đánh giá về khả năng giải quyết công việc của cán bộ Đoàn cơ sở, Chi đoàn cơ sở trên địa bàn huyện Quảng Uyên 63

Bảng 4.11 Đánh giá về khả năng giải quyết công việc của cán bộ các Chi đoàn trên địa bàn huyện Quảng Uyên 64

Bảng 4.12 Kết quả tổ chức các hoạt động của tổ chức cơ sở Đoàn trên địa bàn huyện Quảng Uyên (2013 – 2015) 67

Bảng 4.13 Đánh giá của ĐVTN về lòng yêu nghề, trách nhiệm với công việc của cán bộ Đoàn cấp cơ sở 69

Bảng 4.14 Công tác quy hoạch cán bộ đoàn cấp cơ sở trên địa bàn huyện Quảng Uyên 70

Trang 9

Bảng 4.15 Công tác đào tạo, bồi dưỡng cho đội ngũ cán bộ Đoàn cấp cơ sở

huyện Quảng Uyên giai đoạn 2013 - 2015 71 Bảng 4.16 Các kỹ năng cần trang bị cho Cán bộ đoàn cấp cơ sở 72 Bảng 4.17 Đánh giá của cán bộ Đoàn cấp cơ sở về các lớp đào tạo, bồi dưỡng

và tập huấn 73 Bảng 4.18 Điều kiện cơ sở vật chất cho hoạt động Đoàn tại các Đoàn cơ sở và

Chi đoàn cơ sở 76 Bảng 4.19 Nhận xét, đánh giá của cán bộ Đoàn cơ sở về chế độ chính sách 77 Bảng 4.20 Đánh giá về mức độ quan tâm của chính quyền địa phương tới đội ngũ

cán bộ Đoàn cấp cơ sở 79 Bảng 4.21 Đánh giá của cán bộ Đoàn cấp cơ sở về khen thưởng, kỷ luật 80

Trang 10

DANH MỤC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ

Sơ đồ 4.1 Tổ chức hệ thống Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh

huyện Quảng Uyên 38 Biểu đồ 4.1 Số lượng cán bộ Đoàn cấp cơ sở tại huyện Quảng Uyên giai đoạn

2013 – 2015 42 Biểu đồ 4.2 Cơ cấu cán bộ Đoàn cấp cơ sở tại Quảng Uyên phân theo giới tính 45 Biểu đồ 4.3 Trình độ của cán bộ Đoàn cấp cơ sở trên địa bàn huyện Quảng Uyên 46 Biểu đồ 4.4 Kết quả tự đánh giá về trình độ ngoại ngữ, tin học của cán bộ Đoàn

cấp cơ sở 53 Biểu đồ 4.5 Đánh giá của lãnh đạo về trình độ ngoại ngữ, tin học

của cán bộ Đoàn cấp cơ sở 54 Biểu đồ 4.6 Đánh giá của lãnh đạo và Đoàn viên, thanh niên về kỹ năng, nghiệp vụ

của cán bộ Đoàn cấp cơ sở tại Quảng Uyên 58 Biểu đồ 4.7 Đánh giá về chất lượng hoạt động Đoàn tại huyện Quảng Uyên 68

Trang 11

DANH MỤC HỘP

Hộp 4.1 Nhận xét về tác phong làm việc của cán bộ Đoàn cấp cơ sở

tại địa phương 61 Hộp 4.2 Ý kiến về điều kiện thời gian làm việc của cán bộ đoàn cấp cơ sở 74 Hộp 4.3 Ý kiến về điều kiện thời gian làm việc của cán bộ Chi đoàn cơ sở 74

Trang 12

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN

1 Tên tác giả: Hà Ngọc Huy

2 Tên Luận văn: “Chất lượng đội ngũ cán bộ Đoàn cấp cơ sở huyện Quảng Uyên, tỉnh Cao Bằng”

4 Cơ sở đào tạo: Học viện Nông nghiệp Việt Nam

Tổ chức cơ sở Đoàn là nền tảng của tổ chức Đoàn, là cấp gần gũi nhất với đoàn viên, thanh niên, trực tiếp thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Đoàn ở cơ sở Đội ngũ cán bộ Đoàn cấp cơ sở đòi hỏi phải có trình độ, kỹ năng nghiệp vụ, phẩm chất chính trị, đạo đức tốt, nếu không sẽ không thể phát huy được vai trò của tổ chức cơ sở Đoàn và tiềm năng của Đoàn viên, thanh niên Cũng như vai trò của đội ngũ cán bộ Đoàn trên cả nước, đội ngũ cán bộ Đoàn tại huyện Quảng Uyên có vai trò quan trọng trong công tác đoàn kết, tập hợp, chăm lo, bồi dưỡng và phát huy thanh niên, góp phần vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội của địa phương Do đó, việc tìm hiểu, phân tích thực trạng chất lượng đội ngũ cán bộ Đoàn cấp cơ sở tại huyện Quảng Uyên, tỉnh Cao Bằng, từ đó nghiên cứu, đề xuất một số định hướng, giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ Đoàn cấp cơ sở tại huyện Quảng Uyên, tỉnh Cao Bằng là rất cần thiết Từ mục tiêu trên đề tài đề ra các mục tiêu cụ thể bao gồm: (1) Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, tổ chức cơ sở Đoàn, cán bộ Đoàn cấp cơ sở và chất lượng đội ngũ cán bộ Đoàn cấp cơ sở; (2) Đánh giá thực trạng chất lượng của cán bộ Đoàn cấp cơ sở tại huyện Quảng Uyên, tỉnh Cao Bằng; (3)Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng của đội ngũ cán bộ Đoàn cấp cơ sở tại huyện Quảng Uyên, tỉnh Cao Bằng; (4)Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ Đoàn cấp cơ sở tại huyện Quảng Uyên, tỉnh Cao Bằng trong thời gian tới

Trong nghiên cứu này chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau: Về thu thập số liệu thứ cấp, đề tài tiến hành thu thập các tài liệu đã công bố chính thức và tiến hành kiểm định thực tế, khi sử dụng có trích dẫn đầy đủ Về thu thập số liệu sơ cấp,

đề tài sử dụng phương pháp chọn điểm nghiên cứu tại 3 xã là xã Quốc Phong, xã Phi Hải và thị trấn Quảng Uyên; sử dụng phương pháp chọn mẫu điều tra và điều tra bằng bảng hỏi đã chuẩn bị trước để phỏng vấn các đối tượng mà đề tài cần điều tra, thu thập

số liệu; Ngoài ra, để thu thập số liệu sơ cấp đề tài còn sử dụng một số phương pháp như: Hội thảo, thảo luận nhóm PRA, phương pháp quan sát… Sau khi thu thập, số liệu được

xử lý trên phần mềm excel và sử dụng phương pháp phương pháp thống kê mô tả, phương pháp thống kê so sánh để phân tích số liệu

Qua nghiên cứu cho thấy, số lượng cán bộ Đoàn cấp cơ sở trong trong những năm qua có tăng lên nhưng hiện nay vẫn còn thiếu và yếu Cán bộ Đoàn cấp cơ sở là nam chiếm tỷ lệ chủ yếu (trên 82,14%) Tỷ lệ cán bộ Đoàn có trình độ văn hóa cấp 3 đạt

Trang 13

84,09% tương ứng 259 người, trình độ văn hóa của cán bộ Chi đoàn vẫn còn 49 người

có trình độ văn hóa cấp 2, tương ứng 19,37% Toàn huyện có 01 cán bộ đoàn cấp cơ sở

có trình độ trên đại học, tương ứng với tỷ lệ 0,32%, có 61 cán bộ có trình độ đại học, cao đẳng tương ứng tỷ lệ 19,81% Về trình độ lý luận chính trị, chưa có cán bộ Đoàn nào có trình độ cao cấp, 19 cán bộ có trình độ trung cấp tương ứng 5,19%, 36 cán bộ có trình độ sơ cấp tương ứng 11,69% Đối với trình độ tiếng anh, tin học của đội ngũ cán

bộ Đoàn cấp cơ sở hiện nay nhìn chung vẫn còn rất yếu Kỹ năng, nghiệp vụ của cán bộ Đoàn cơ sở, Chi đoàn cơ sở đã được đảm bảo, tuy nhiên đối với cán bộ Chi đoàn vẫn chưa thực sự tốt, đòi hỏi trong thời gian tới cần được tập huấn, bồi dưỡng thêm

Đối với các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng đội ngũ cán bộ Đoàn cấp cơ sở trên địa bàn huyện Quảng Uyên hiện nay, qua điều tra cho thấy, lòng yêu nghề, trách nhiệm với công việc, đa số cán bộ Đoàn cấp cơ sở tại địa phương được đánh giá cao; Đối với công tác quy hoạch cán bộ Đoàn cấp cơ sở hiện nay còn một số bất cập ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng đội ngũ cán bộ Đoàn; Công tác đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ tuy đã có bước tiến mới nhưng còn hạn chế về nội dung, phương pháp, chưa thực sự đáp ứng được nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng của cán bộ Đoàn cấp cơ

sở tại địa phương; Thời gian làm việc của cán bộ Đoàn cấp cơ sở nhìn chung khá eo hẹp, cơ sở vật chất phục vụ cho hoạt động đoàn trên địa bàn còn hạn chế, trang thiết bị còn rất thiếu Chế độ chính sách đối với cán bộ Đoàn cơ sở hiện nay chưa đảm bảo, chưa tương xứng, nhất là chính sách đãi ngộ và chính sách tiền lương

Để nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ đoàn cơ sở trên địa bàn huyện Quảng Uyên trong thời gian tới, đề tài đã đề xuất các nhóm giải pháp bao gồm: (i) Hoàn thiện công tác quy hoạch, tuyển chọn cán bộ Đoàn cấp cơ sở; (ii) Nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ Đoàn; (iii) Hoàn thiện công tác đánh giá đối với cán bộ Đoàn cấp

cơ sở; (iv) Đẩy mạnh công tác khen thưởng, kỷ luật; (v) Thực hiện tốt chế độ chính sách đối với cán bộ Đoàn cấp cơ sở; (vi) Trang bị thêm cơ sở vật chât, kỹ thuật phục vụ hoạt động Đoàn; (vii) Tăng cường sự quan tâm, lãnh đạo của Đảng và chính quyền địa phương

Trang 14

THESIS ABSTRACT

1 Author: Hà Ngọc Huy

2 Thesis: “Quality of Youth Union grass-root staff in Quang Uyen district, Cao Bang province”

4 Institution: Vietnam National University of Agriculture

Youth grass-root units are ground base of Youth Union, closest to the Union member, youngers, and they directly conduct functions, tasks of Youth Union in grass root Staff of Youth grass-root units are required profession, knowledge, political quality unless they cannot fulfill role of Youth Union and potentials of the Union members as well as youngers As role of Youth Union staff over the country, the staff in Quang Uyen has played an important role in solidarity movement to gather, take care, train and develop youngers in order to contribute to socio-economic development of the district Therefore, to understand and analyze quality status of Youth Union grass-root staff in Quang Uyen district, Cao Bang province are needed The research objectives include: (1) To systemize theoretical and empirical base of Ho Chi Minh Communist Youth Union, Youth Union grass-root units, the Union grass-root staff and quality of the staff; (2) To evaluate quality status of the Union grass-root staff in Quang Uyen district, Cao Bang province; (3) To analyze factors effecting on quality of the Union grass-root staff in Quang Uyen district, Cao Bang province; (4) To recommend solutions in order to improve quality of the Youth Union grass-root staff in Quang Uyen district, Cao Bang province

In this research, I use methods including: About collecting secondary data, I collect officially published documentaries and test in reality as well as use them with citation About collecting primary data, I use sampling method with 03 communes of Quoc Phong, Phi Hai and Quang Uyen town; using sampling method on survey by questionnaire to collect information needed by the thesis; Besides, to collect primary data, I also use several other methods including: workshop, focus group discussion, observation… After collecting data, the data is processed on Excel and analyzed by statistic descriptives, comparison statistics

The research shows that, number of Youth Union grass-root staff has increased recent years but still small and poor quality Male proportion of grass-root staff is dominated (over 82,14%) High-school proportion of the grass-root staff reachs to 84,09% with 259 personnel, there are still 49 personnel in the grass-root units at secondary level (19,37%) In the district, there is only one grass-root staff at higher university level, equivalently 0,32%, there are 61 staff at college and university level, equivalently 19,81% About level of political understanding, there is no staff at senior

Trang 15

level, 19 staff at junior level equivalently 5,19%, 36 staff at secondary level equivalently 11,69% About English fluency and computer level, Youth Union grass-root staff still are at poor level in genera Professional skills of the Union grass-root staff and grass-root units are guaranteed but that of grass-root unit staff are not good, need more time to be trained and developed

About factors effecting on quality of Youth Union grass-root staff in Quang Uyen district, the analysis shows that love and responsibility in the job should be appriciated; About personnel master plan in grass-root units, there are several constrains which strongly effect on quality of the Union grass-root staff; Training activities in profession have been upgraded but still have limitations in content, methodology and have not meet the demand of training for the Union grass-root staff in the district; Working time of the Union grass-root staff is quite limited, facilities for Youth Union operation in the communes are limited and poor Supporting policy for the Union grass-root staff has not been appreciated especially policies of salary and living support

To improve the quality of Youth Union grass-root staff in Quang Uyen district

in the future, the thesis recommends groups of solutions including: (i) To fulfil personnel master plan and to recruit high quality staff for the Union grass-root units; (ii)

To improve quality of training for the Union grass-root staff; (iii) To enhance evaluation

of the Youth Union grass-root staff; (iv) To enhance activities of appreciation and punishment; (v) To well conduct supporting policies for the Union grass-root staff; (vi)

To supply more facilities for Youth Union operation; (vii) To enhance appreciation of communal and district leaders to Youth Union grass-root staff

Trang 16

PHẦN 1 MỞ ĐẦU

1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Việt Nam đang ở trong thời kỳ “cơ cấu dân số vàng”, số người trong lứa tuổi thanh thiếu niên (từ 10 – 30 tuổi) tính đến ngày 01/6/2015 là 25.078.764 người chiếm 27,7% dân số cả nước (Bộ Nội vụ và Quỹ dân số Liên hợp Quốc tại Việt Nam, 2015), đây là lực lượng xã hội to lớn giữ vai trò quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước

Hiểu rõ tầm quan trọng của thanh thiếu niên, công tác thanh niên và vai trò của đội ngũ cán bộ Đoàn, Đảng và Nhà nước ta luôn đề cao vị trí, vai trò của thanh niên, xác định thanh niên là lực lượng xung kích cách mạng, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh là đội dự bị tin cậy, tổ chức Đoàn là mắt xích quan trọng trong hệ thống chính trị; công tác thanh thiếu niên là vấn đề sống còn của dân tộc Bên cạnh đó Đảng ta cũng xác định cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng Về vai trò quan trọng của người cán bộ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”; “Muôn việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém” Gắn với công tác thanh niên, Đảng đặt ra nhiệm vụ cấp bách là phải tập hợp sâu rộng lực lượng thanh niên, bồi dưỡng, xây dựng một lớp thanh niên “vừa hồng, vừa chuyên” Để thực hiện được điều này đòi hỏi đội ngũ cán bộ Đoàn phải có chất lượng, đáp ứng được yêu cầu công việc

Trong hệ thống tổ chức của Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh thì cấp cơ sở là cấp thấp nhất nhưng lại đặc biệt quan trọng Vì tổ chức cơ sở Đoàn

là nền tảng của tổ chức Đoàn, là cấp gần gũi với đoàn viên, thanh niên nhất, trực tiếp thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Đoàn ở cơ sở; triển khai các phong trào cách mạng của Đoàn; đại diện cho lợi ích và quyền làm chủ của thanh niên; trực tiếp tham gia xây dựng Đảng và hệ thống chính trị ở cơ sở Do đó, nếu đội ngũ cán bộ Đoàn cấp cơ sở nếu không có trình độ, kỹ năng nghiệp vụ, phẩm chất chính trị, đạo đức tốt sẽ không thể phát huy được những tiềm năng, thế mạnh của đoàn viên, thanh thiếu niên, của tổ chức cơ sở Đoàn, đồng thời cũng không thể hạn chế, ngăn chặn, đẩy lùi những tác động tiêu cực tác động đến đoàn viên, thanh thiếu niên Vì vậy, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ Đoàn cấp cơ sở là việc làm hết sức quan trọng, cấp bách cả về lý luận lẫn thực tiễn

Trang 17

Cũng như vai trò của đội ngũ cán bộ Đoàn trên cả nước, đội ngũ cán bộ Đoàn tại tỉnh Cao Bằng có vai trò quan trọng trong công tác đoàn kết, tập hợp, bồi dưỡng và phát huy thanh niên, góp phần vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội của địa phương Đứng trước yêu cầu mới trong giai đoạn phát triển kinh tế xã hội hiện nay về nguồn nhân lực trẻ, để thực hiện tốt hơn chức năng, nhiệm vụ của

tổ chức Đoàn ở cơ sở thì việc nâng cao chất lượng, chuẩn hóa đội ngũ cán bộ Đoàn tại địa phương là rất cần thiết

Với 11.495 người trong lứa tuổi thanh niên (chiếm khoảng 28,4% dân số toàn huyện), huyện Quảng Uyên là một trong những huyện có tỷ lệ dân số trong lứa tuổi thanh thiếu niên cao của tỉnh Cao Bằng, bởi vậy công tác thanh thiếu niên là một trong những nhiệm vụ chính trị quan trọng của các cấp bộ Đoàn toàn huyện Để thực hiện tốt nhiệm vụ này, đội ngũ cán bộ Đoàn, nhất là đội ngũ cán

bộ Đoàn cấp cơ sở đóng vai trò đặt biệt quan trọng Tuy nhiên, hiện nay đội ngũ cán bộ Đoàn cấp cơ sở tại địa phương vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế như trình độ chuyên môn, kỹ năng nghiệp vụ chưa cao, còn hiện tượng quá tuổi so với quy định Bên cạnh đó, việc đánh giá, tổng kết một cách có hệ thống chất lượng đội ngũ cán bộ Đoàn cấp cơ sở tại huyện Quảng Uyên chưa được tiến hành và chưa

có giải pháp đồng bộ để nâng cao chất lượng Do đó, việc tìm hiểu chất lượng đội ngũ cán bộ Đoàn cấp cơ sở cũng như các yếu tố ảnh hưởng để từ đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ Đoàn cấp cơ sở tại địa phương là rất cần thiết Xuất phát từ nhận định trên, chúng tôi lựa chọn vấn đề:

“Chất lượng đội ngũ cán bộ Đoàn cấp cơ sở huyện Quảng Uyên, tỉnh Cao Bằng” làm đề tài luận văn tốt nghiệp cao học của mình

1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

1.2.2 Mục tiêu cụ thể

- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, tổ chức cơ sở Đoàn, cán bộ Đoàn cấp cơ sở và chất lượng đội ngũ cán bộ Đoàn cấp

cơ sở

Trang 18

- Đánh giá thực trạng chất lượng của cán bộ Đoàn cấp cơ sở tại huyện Quảng Uyên, tỉnh Cao Bằng

- Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng của đội ngũ cán bộ Đoàn cấp cơ sở tại huyện Quảng Uyên, tỉnh Cao Bằng

- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ Đoàn cấp cơ sở tại huyện Quảng Uyên, tỉnh Cao Bằng trong thời gian tới

1.3 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU

- Cơ sở lý luận và thực tiễn về tổ chức Đoàn và chất lượng đội ngũ cán bộ Đoàn cấp cơ sở gồm những nội dung gì? Các yếu tố cấu thành chất lượng đội ngũ cán bộ Đoàn cấp cơ sở được thể hiện qua các chỉ tiêu nào?

- Thực trạng chất lượng đội ngũ cán bộ Đoàn cấp cơ sở tại huyện Quảng Uyên hiện nay như thế nào?

- Các yếu tố có ảnh hưởng thế nào đến chất lượng đội ngũ cán bộ Đoàn cấp cơ sở tại huyện Quảng Uyên?

- Cần những giải pháp gì để nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ Đoàn cấp

cơ sở huyện Quảng Uyên, tỉnh Cao Bằng trong thời gian tới?

1.4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

1.4.1 Đối tượng nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Những vấn đề lý luận và thực tiễn về chất lượng cán bộ Đoàn cấp cơ sở, chất lượng đội ngũ cán bộ Đoàn cơ sở, các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng cán bộ Đoàn cấp cơ sở, các giải pháp nâng cao chất lượng cán bộ Đoàn cấp cơ sở tại huyện Quảng Uyên, tỉnh Cao Bằng

- Đối tượng khảo sát:

+ Cán bộ Đoàn cấp cơ sở tại huyện Quảng Uyên, tỉnh Cao Bằng;

+ Cán bộ lãnh đạo huyện Quảng Uyên, tỉnh Cao Bằng;

+ Đoàn viên, thanh niên đang sinh hoạt tại địa phương

1.4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu chất lượng đội ngũ cán bộ Đoàn cấp cơ sở tại huyện Quảng Uyên, tỉnh Cao Bằng; nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng và các biện pháp nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ Đoàn cấp

cơ sở tại huyện Quảng Uyên, tỉnh Cao Bằng trong thời gian tới

- Phạm vi không gian: Đề tài tập trung nghiên cứu trên địa bàn tại huyện Quảng Uyên, tỉnh Cao Bằng

Trang 19

- Phạm vi thời gian của số liệu:

Số liệu đã công bố phục vụ cho nghiên cứu về số lượng, cơ cấu, trình độ, kết quả đánh giá mức độ thực hiện nhiệm vụ của đội ngũ cán bộ Đoàn cấp cơ

sở tại huyện Quảng Uyên, tỉnh Cao Bằng được thu thập trong thời gian 3 năm từ

2013 đến 2015

Số liệu sơ cấp thu thập từ các cán bộ Đoàn cấp cơ sở, các cán bộ Đoàn cấp trên (Huyện Đoàn), các cấp ủy Đảng, chính quyền và Đoàn viên, thanh niên tại huyện Quảng Uyên, tỉnh Cao Bằng trong năm 2016

Thời gian nghiên cứu của đề tài: từ ngày 01/11/2015 đến ngày 01/9/2016 1.5 NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI, Ý NGHĨA KHOA HỌC HOẶC THỰC TIỄN

Đề tài nghiên cứu góp phần làm rõ thêm những lý luận và thực tiễn về tổ chức Đoàn, tổ chức Đoàn cấp cơ sở, đội ngũ cán bộ Đoàn cấp cơ sở, đây là những luận cứ khoa học cho nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ Đoàn cấp cơ sở

Đề tài nghiên cứu một cách hệ thống thực trạng chất lượng đội ngũ cán bộ Đoàn cấp cơ sở huyện Quảng Uyên hiện nay, đồng thời phân tích, đánh giá các yếu

tố ảnh hưởng đến chất lượng đội ngũ cán bộ Đoàn cấp cơ sở huyện Quảng Uyên So với các đề tài nghiên cứu trước đây về đội ngũ cán bộ Đoàn ở cơ sở, chủ yếu tập trung nghiên cứu đội ngũ cán bộ Đoàn cơ sở ở xã, phường, thị trấn Đề tài này

mở rộng nghiên cứu tới đội ngũ cán bộ Chi đoàn cơ sở và Chi đoàn với mục tiêu tìm hiểu khái quát những hạn chế, khó khăn mà đội ngũ cán bộ Đoàn cấp cơ sở tại huyện Quảng Uyên đang gặp phải, từ đó có các giải pháp góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ Đoàn cấp cơ sở trên địa bàn

Quảng Uyên là một huyện có tỷ lệ dân số trong lứa tuổi thanh thiếu niên cao của tỉnh Cao Bằng, vì vậy đội ngũ cán bộ Đoàn cấp cơ sở đóng vai trò quan trọng trong công tác đoàn kết, tập hợp, chăm lo, bồi dưỡng và phát huy thanh niên, góp phần vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội của địa phương Tuy nhiên, việc đánh giá, tổng kết một cách có hệ thống chất lượng đội ngũ cán bộ Đoàn cấp cơ

sở tại địa phương chưa được tiến hành thường xuyên và chưa có giải pháp đồng

bộ để nâng cao chất lượng Do đó, nghiên cứu này mong muốn đánh giá một cách khách quan về chất lượng đội ngũ cán bộ Đoàn cấp cơ sở Từ đó làm căn cứ

để cấp ủy, chính quyền các cấp, các cấp bộ Đoàn có những chính sách phù hợp, định hướng linh hoạt và các giải pháp thực tế nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ Đoàn cấp cơ sở tại địa phương, góp phần xây dựng tổ chức Đoàn ở cơ sở ngày càng vững mạnh

Trang 20

PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU

2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN

2.1.1 Các khái niệm

2.1.1.1 Khái niệm cán bộ Đoàn cấp cơ sở

Để làm rõ khái niệm về cán bộ Đoàn cấp cơ sở, trước tiên cần làm rõ khái niệm về tổ chức cơ sở Đoàn, cán bộ, cán bộ Đoàn

a Khái niệm Tổ chức cơ sở Đoàn

Điều 17, chương IV, Điều lệ Đoàn TNCS Hồ Chí Minh khóa X (2012) quy định: "Tổ chức cơ sở Đoàn gồm Đoàn cơ sở, Chi Đoàn cơ sở và Chi Đoàn, là nền tảng của Đoàn, được thành lập theo địa bàn dân cư, theo ngành nghề, theo đơn vị học tập, công tác, lao động, nơi cư trú và đơn vị cơ sở trong lực lượng vũ trang nhân dân Tổ chức cơ sở Đoàn có thể trực thuộc huyện Đoàn, tỉnh Đoàn, hoặc Đoàn khối, Đoàn ngành tuỳ thuộc vào tính đặc thù của từng đơn vị theo hướng dẫn của Ban Thường vụ Trung ương Đoàn Chi đoàn là tổ chức tế bào của Đoàn, là hạt nhân nòng cốt đoàn kết, tập hợp thanh thiếu nhi, Đoàn cơ sở là cấp trên trực tiếp của Chi đoàn"

Như vậy, tổ chức Đoàn cấp cơ sở (cơ sở Đoàn) bao gồm: Đoàn cơ sở, Chi Đoàn cơ sở, Chi Đoàn Trong đó, Chi Đoàn là đoàn cấp dưới và trực thuộc Đoàn

cơ sở

b Khái niệm cán bộ

Trong cuốn Những vấn đề cơ bản về Hành chính Nhà nước và chế độ công vụ, công chức do Viện Khoa học tổ chức Nhà nước (2011) biên soạn có nêu: "Cán bộ là một trong những thuật ngữ cơ bản của chế độ công vụ, công chức, thường xuyên xuất hiện trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Trong khoa học hành chính, theo các cách tiếp cận khác nhau, người ta đưa ra những cách giải thích khác nhau về thuật ngữ “cán bộ” Thuật ngữ “cán bộ” được sử dụng khá lâu tại các nước xã hội chủ nghĩa và bao hàm trong phạm vi rộng những người làm việc trong khu vực nhà nước, tổ chức chính trị và các tổ chức chính trị xã hội"

Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: “Cán bộ là những người đem chính sách của Đảng, của Chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành Đồng thời

Trang 21

đem tình hình của dân chúng báo cáo cho Đảng, cho Chính phủ hiểu rõ để đặt chính sách cho đúng Cán bộ là cái gốc của mọi công việc Công việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém” (Đức Vượng và cs., 2000)

Cán bộ là người làm công tác nghiệp vụ chuyên môn trong cơ quan Nhà nước, Đảng và các đoàn thể; người làm công tác có chức vụ trong một cơ quan, một tổ chức, phân biệt với người không có chức vụ (Thái Xuân Đệ, 2010)

Cán bộ được định nghĩa là: “Người làm công tác nghiệp vụ chuyên môn trong cơ quan nhà nước, đảng, đoàn thể” (Nguyễn Như ý và cs., 2008)

Luật Cán bộ, công chức năm 2008 quy định: "Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội

ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước Theo quy định này thì tiêu chí xác định cán bộ gắn với cơ chế bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ"

Nói tóm lại: Cán bộ chỉ những người có chức vụ, vai trò và cương vị nòng cốt trong một tổ chức, có tác động ảnh hưởng đến hoạt động của tổ chức và các quan hệ trong lãnh đạo, chỉ huy, quản lý, điều hành góp phần định hướng sự phát triển của tổ chức

c Khái niệm cán bộ Đoàn

Quy chế cán bộ Đoàn TNCS Hồ Chí Minh (2010) quy định: "Cán bộ Đoàn là những người giữ chức danh Bí thư chi đoàn, Phó bí thư, Bí thư Đoàn cấp

cơ sở trở lên Cán bộ Đoàn được Đại hội, hội nghị của Đoàn tổ chức theo nhiệm

kỳ qui định tín nhiệm bầu vào chức danh Bí thư và được Đoàn cấp trên công nhận Các qui trình giới thiệu nhân sự, bầu cử phải thực hiện theo đúng hướng dẫn của TW Đoàn Một số trường hợp đặc biệt được Đoàn cấp trên và cấp uỷ Đảng cùng cấp chỉ định phân công nhiệm vụ"

Trong cuốn Tài liệu bồi dưỡng công tác tổ chức – kiểm tra do Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh (2016) biên soạn có nêu: "Cán bộ Đoàn

là những người hoạt động trong tổ chức Đoàn TNCS Hồ Chí Minh trực tiếp thực hiện công tác vận động, tập hợp, đoàn kết, giáo dục TTN và xây dựng tổ chức Đoàn vững mạnh theo quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước

và Điều lệ Đoàn TNCS Hồ Chí Minh"

Trang 22

Cán bộ Đoàn bao gồm cán bộ chuyên trách, bán chuyên trách, không chuyên trách và kiêm nhiệm công tác Đoàn Cán bộ Đoàn chuyên trách là người được hưởng lương từ ngân sách Nhà nước, các doanh nghiệp chi trả để thực hiện công tác Đoàn, Hội, Đội Cán bộ Đoàn bán chuyên trách, không chuyên trách là người chỉ được hưởng phụ cấp hoặc tính giá trị lao động trong chi phí trả lương để thực hiện công tác Đoàn, Hội, Đội Cán bộ kiêm nhiệm công tác Đoàn là người không được hưởng lương, phụ cấp từ việc tham gia công tác Đoàn, Hội, Đội (Lê Văn Cầu, 2010)

d Khái niệm cán bộ đoàn cấp cơ sở

Như vậy, căn cứ theo khái niệm về tổ chức cơ sở Đoàn, khái niệm cán bộ

và khái niệm về cán bộ Đoàn thì cán bộ Đoàn cấp cơ sở là công dân Việt Nam,

có phẩm chất đạo đức và năng lực công tác; được đoàn viên thanh niên tín nhiệm

và bầu cử qua Đại hội của Đoàn; được phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong tổ chức Đoàn cấp cơ sở Cán bộ Đoàn cấp cơ sở bao gồm: Bí thư Chi Đoàn; Bí thư, Phó bí thư Đoàn cơ sở; Bí thư, phó Bí thư Chi đoàn cơ sở

2.1.1.2 Khái niệm chất lượng cán bộ

Đề có khái niệm chính xác về khái niệm chất lượng cán bộ thì đầu tiên chúng ta cần hiểu rõ khái niệm về chất lượng

Chất lượng là tập hợp các đặc tính của một thực thể tạo cho thực thể đó khả năng thoả mãn những nhu cầu đã nêu ra và nhu cầu tiềm ẩn (Bộ Khoa học và Công nghệ, 2007)

Nguyễn như ý và cs (2008) định nghĩa về chất lượng như sau: “Chất lượng: 1 Cái làm nên phẩm chất, giá trị của con người, sự vật 2 Cái tạo nên bản chất sự vật, làm cho sự vật này khác với sự vật kia”

Chất lượng là giá trị về mặt lợi ích (Thái Xuân Đệ, 2010)

Ngô Thị Bích Hường (2011) cho rằng: “Hiểu một cách khái quát chất lượng là cái tạo nên phẩm chất, giá trị của một con người, một sự việc” Theo cách hiểu như vậy, chất lượng đội ngũ cán bộ được xem xét dưới nhiều giác độ khác nhau:

Thứ nhất, chất lượng đội ngũ cán bộ được xác định trong mối quan hệ giữa số lượng với vai trò, vị trí và chức năng nhiệm vụ được giao Tính hợp lý

Trang 23

được biểu hiện ở sự tinh giảm đến mưc tối ưu Đảm bảo gọn nhẹ, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả Trong đó, mỗi cá nhân phát huy được hết năng lực, sở trường của mình hoàn thành tốt công việc được giao, góp phần thúc đẩy cho bộ máy vận hành thông suốt và đạt hiệu quả cao nhất

Thứ hai, chất lượng đội ngũ cán bộ được thể hiện ở hiệu lực, hiệu quả hoạt động và phụ thuộc nhiều yếu tố như: Năng lực, phẩm chất, tính tích cực, tự giác của mỗi cán bộ Điều kiện cơ sở vật chất, tính tổ chức khoa học, tính hợp lý trong hoạt động của bộ máy

Thứ ba, chất lượng đội ngũ cán bộ là sự tổng hợp chất lượng của từng cán

bộ thể hiện qua các giác độ sau:

- Phẩm chất chính trị đạo đức: Đó là quan điểm, lập trường tư tưởng, đạo đức lối sống của cán bộ, sự tín nhiệm của nhân dân và uy tín của họ trước tập thể, cộng đồng

- Trình độ năng lực: Bao gồm trình độ học vấn, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, trình độ lý luận chính trị, kiến thức về quản lý Nhà nước, quản lý kinh

tế, sự am hiểu và năng lực thực hiện tốt đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước

- Khả năng hoàn thành nhiệm vụ: Đó là tập hợp khả năng của cán bộ như: Khả năng quản lý điều hành, khả năng giao tiếp, khả năng thích ứng và xử lý

Như vậy, chất lượng đội ngũ cán bộ bao gồm trình độ năng lực, khả năng hoàn thành nhiệm vụ, phẩm chất chính trị đạo đức, ý thức trách nhiệm với công việc, ý thức tự giác…

2.1.2 Khái quát chung về Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh

Điều lệ Đoàn TNCS Hồ Chí Minh khóa X (2012) khái quát về tổ chức Đoàn như sau: "Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh là tổ chức chính trị - xã hội của thanh niên Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện Đoàn bao gồm những thanh niên tiên tiến, phấn đấu vì mục tiêu, lý tưởng của Đảng là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh"

Hệ thống tổ chức của Đoàn gồm 4 cấp: Cấp Trung ương, cấp tỉnh và tương đương, cấp huyện và tương đương, cấp cơ sở

Trang 24

2.1.2.1 Vị trí, vai trò của Đoàn thanh niên Hồ Chí Minh

Trong cuốn sách Tài liệu bồi dưỡng cán bộ Đoàn các trường đại học, cao đẳng do Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh (2011a) biên soạn

có nêu về vị trí, vai trò của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh như sau:

+ Đoàn là thành viên của hệ thống chính trị, hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Trong hệ thống này Đảng là người lãnh đạo, Đoàn là một trong các tổ chức thành viên tạo nên quyền lực của nhân dân theo cơ chế: " Đảng lãnh đạo, nhân dân làm chủ và nhà nước quản lý" Với vị trí này Đoàn sẽ phối hợp với các cơ quan Nhà nuớc, các đoàn thể và tổ chức xã hội, các tập thể lao động và gia đình chăm lo, giáo dục, đào tạo và bảo vệ thanh thiếu nhi; tổ chức cho đoàn viên và thanh niên tích cực tham gia vào việc quản lý Nhà nước và xã hội

+ Đối với Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh, Đoàn giữ vai trò là người phụ trách trực tiếp và có trách nhiệm xây dựng tổ chức Đội, giúp đỡ vật chất, tài chính và lựa chọn cán bộ làm công tác thiếu niên nhi đồng

+ Đối với phong trào thanh niên và các tổ chức xã hội của thanh niên (gồm: Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam, Hội sinh viên Việt Nam…) Đoàn là hạt nhân chính trị, đóng vai trò nòng cốt trong các phong trào và tổ chức thanh niên Đoàn ủng hộ giúp đỡ các Hội thanh niên thực hiện mục đích, tôn chỉ theo Điều lệ của các Hội

2.1.2.2 Chức năng, nhiệm vụ của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh

Hệ thống tổ chức Đoàn TNCS Hồ Chí Minh gồm có 4 cấp, tùy theo mỗi cấp lại có những chức năng, nhiệm vụ cụ thể Theo cuốn Tài liệu chuyên đề bồi dưỡng lý luận chính trị dành cho cán bộ Đoàn ở cơ sở do Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh (2011b) biên soạn thì chức năng, nhiệm vụ tổng quát của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh gồm có:

+ Đoàn là đội dự bị tin cậy của Đảng Cộng sản Việt Nam, là đội quân xung kích cách mạng Chức năng này biểu hiện ở việc Đoàn luôn xác định nhiệm

vụ của mình là tích cực tham gia xây dựng Đảng, là nguồn cung cấp cán bộ cho Đảng và là người kế tục trung thành và xuất sắc sự nghiệp cách mạng vẻ vang của Đảng và chủ tịch Hồ Chí Minh

+ Đoàn là trường học xã hội chủ nghĩa của thanh niên Đào tạo môi trường đưa thanh niên vào các hoạt động, giúp đỡ họ rèn luyện và phát triển nhân cách, năng lực của con người lao động mới phù hợp với yêu cầu hiện nay

Trang 25

+ Đoàn là người đại diện, chăm lo và bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho tuổi trẻ Chức năng này khẳng định rõ tổ chức của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh là tổ chức của thanh niên, vì thanh niên

+ Đoàn là người phụ trách đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh Chức năng này thể hiện trách nhiệm của Đoàn trong việc giáo dục thiếu niên nhi đồng tạo nguồn bổ sung cho Đoàn

2.1.2.3 Nguyên tắc tổ chức và hoạt động

Căn cứ theo Điều lệ Đoàn TNCS Hồ Chí Minh khóa X (2012) thì Đoàn TNCS Hồ Chí Minh được tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ Thực hiện nguyên tắc này đảm bảo để tổ chức Đoàn thực sự là một tổ chức quần chúng tiên tiến tự nguyện, dân chủ và tự quản của thanh niên

Nguyên tắc tập trung dân chủ của Đoàn được thể hiện ở các mặt sau: + Cơ quan lãnh đạo các cấp của Đoàn đều do bầu cử lập ra và thực hiện nguyên tắc tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách

+ Cơ quan lãnh đạo cao nhất của Đoàn là Đại hội đại biểu toàn quốc Cơ quan lãnh đạo của Đoàn ở mỗi cấp là đại hội đại biểu hoặc đại hội đoàn viên ở cấp ấy Giữa hai kỳ đại hội, cơ quan lãnh đạo là Ban chấp hành, cơ quan lãnh đạo

là Ban thường vụ do Ban chấp hành cùng cấp bầu ra

+ Ban chấp hành Đoàn các cấp có trách nhiệm báo cáo về hoạt động của mình với đại hội hoặc hội nghị đại biểu cùng cấp, với Ban chấp hành Đoàn cấp trên, với cấp ủy Đảng cùng cấp và thông báo cho Ban chấp hành Đoàn cấp dưới

+ Nghị quyết của Đoàn phải được chấp hành nghiêm chỉnh, cấp dưới phục tùng cấp trên, thiểu số phục tùng đa số, cá nhân phục tùng tổ chức

+ Trước khi quyết định các công việc và biểu quyết nghị quyết của Đoàn, các thành viên đều được cung cấp thông tin và phát biểu ý kiến của mình, ý kiến thuộc về thiểu số được quyền bảo lưu báo cáo lên Đoàn cấp trên cho đến đại hội đại biểu toàn quốc, song phải nghiêm chỉnh chấp hành nghị quyết hiện hành

2.1.2.4 Vai trò, chức năng của tổ chức cơ sở Đoàn

Như đã giới thiệu ở trên, hệ thống tổ chức của Đoàn gồm 4 cấp: Cấp Trung ương, cấp tỉnh và tương đương, cấp huyện và tương đương, cấp cơ sở Do

đề tài tập trung vào nghiên cứu đội ngũ cán bộ Đoàn cấp cơ sở nên cần làm rõ vai

Trang 26

trò, chức năng của tổ chức cơ sở Đoàn để thấy được những yêu cầu về công việc đối với đội ngũ cán bộ Đoàn

Theo Điều lệ Đoàn TNCS Hồ Chí Minh khóa X (2012), Trong hệ thống tổ chức của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, tổ chức cơ sở Đoàn giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong công tác tổ chức thực hiện nhiệm vụ đoàn kết, tập hợp, giáo dục thanh niên Các cơ sở Đoàn có nhiệm vụ nắm vững đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, nghị quyết của Đoàn và những đặc điểm của địa phương để tổ chức các phong trào hành động cách mạng của Đoàn; tham gia thực hiện nhiệm vụ chinh trị, phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, đơn vị

Điều lệ Đoàn TNCS Hồ Chí Minh khóa X (2012) quy định về chức năng, nhiệm vụ của tổ chức cơ sở Đoàn như sau:

+ Đại diện, chăm lo và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của cán bộ, đoàn viên, thanh thiếu nhi

+ Tổ chức các hoạt động, tạo môi trường giáo dục, rèn luyện đoàn viên, thanh thiếu nhi nhằm góp phần thực hiện nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hóa –

xã hội, quốc phòng, an ninh của địa phương, đơn vị

+ Phối hợp với chính quyền, các đoàn thể và các tổ chức kinh tế - xã hội làm tốt công tác thanh niên, chăm lo xây dựng Đoàn, tích cực xây dựng cơ sở Đoàn, Hội, Đội ở địa bàn dân cư, tham gia xây dựng, bảo vệ Đảng và chính quyền

2.1.3 Cán bộ Đoàn cấp cơ sở

2.1.3.1 Vai trò của cán bộ Đoàn cấp cơ sở

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: "Cán bộ là cái gốc của mọi công việc" Trong công tác Đoàn cũng vậy, hoạt động của cơ sở Đoàn có hiệu quả, thiết thực,

ý nghĩa và phát huy hết được tiềm năng của tuổi trẻ hay không, là do vai trò quyết định của người cán bộ Đoàn Nhất là trong bối cảnh, kinh tế- xã hội đã có nhiều thay đổi, đòi hỏi cán bộ Đoàn cũng phải đổi mới, nâng cao trình độ, nhận thức để đáp ứng yêu cầu công tác Đoàn trong thời kỳ mới (Đức Vượng và cs., 2000)

Theo Hà Xuân Duy (2006), cán bộ Đoàn nói chung, cán bộ Đoàn cấp cơ

sở nói riêng có những vai trò như sau:

- Vai trò của cán bộ Đoàn trong hệ thống chính trị

Đoàn thanh niên Cộng Sản Hồ Chí Minh là một thành viên trong hệ thống chính trị Việt Nam Đoàn lấy mục đích, lý tưởng của Đảng Cộng Sản Việt Nam

Trang 27

làm mục đích cho chính mình Đó là lấy chủ nghĩa Mác-Lê - Nin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm kim chỉ nam cho xây dựng cơ sở lý luận và hành động thực tiễn của mình Đoàn lấy lập trường của giai cấp công nhân làm lập trường của mình trong đấu tranh cách mạng Đoàn thừa nhận sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam - lãnh tụ chính trị của mình

Đoàn thanh niên Cộng Sản Hồ Chí Minh được Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện Đảng xác định Đoàn là lực lượng cách mạng hùng hậu nhất Là đội quân xung kích, đội dự bị tin cậy của Đảng Đảng tin tưởng tuyệt đối vào lực lượng cách mạng trẻ là Đoàn thanh niên

Đảng ta khẳng định cán bộ Đoàn là một bộ phận của cán bộ Đảng, xây dựng Đoàn vững mạnh là một nhiệm vụ quan trọng trong xây dựng Đảng, cán bộ Đoàn là nguồn bổ sung cán bộ cho cán bộ Đảng, Nhà nước và các tổ chức khác Đảng có trách nhiệm đào tạo, bồi dưỡng, sắp xếp, sử dụng đội ngũ cán bộ Đoàn thanh niên trong các thời kỳ cách mạng và nhất là trong công cuộc đổi mới đất nước hiện nay Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định "Bồi dưỡng thế hệ cách mạng nay cho tới sau là một việc quan trọng và cần thiết" Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ Đoàn là đào tạo bồi dưỡng cán bộ nguồn cho Đảng, Nhà nước

- Vai trò của cán bộ Đoàn trong thanh thiếu niên

Cán bộ Đoàn, người "thủ lĩnh" của Đoàn viên thanh niên, là người định ra chủ trương, nghị quyết hoạt động đồng thời cũng là người chỉ đạo tổ chức các hoạt động nhằm thực hiện các chủ trương, nghị quyết đó Là những người vừa lãnh đạo, tổ chức quản lý, vừa giáo dục, thuyết phục và là người bạn, đồng nghiệp tin cậy của thanh thiếu niên Tính "Thủ lĩnh" còn được thể hiện tính chủ động của cán bộ Đoàn, đó là tính tập trung, tính "Thủ trưởng " trong cơ quan của Đoàn Thanh niên Để được lớp trẻ tin yêu và quí mến, cán bộ Đoàn cần phải đảm bảo một số yêu cầu sau :

+ Cán bộ Đoàn Thanh niên phải được xuất thân từ phong trào, được quần chúng thanh niên bầu ra phải có tín nhiệm trong đoàn viên thanh thiếu niên Thanh niên phải tin tưởng, bày tỏ quan điểm, lý tưởng, lập trường của mình

+ Cán bộ Đoàn là người đại diện cho các cấp bộ Đoàn, cho Đoàn viên thanh niên bày tỏ thái độ, lý tưởng, trách nhiệm của mình trước Đảng, trước dân tộc, là người bảo vệ mọi quyền lợi của tuổi trẻ: quyền được học tập, quyền được việc làm thu nhập, quyền tự do bình đẳng trước pháp luật

Trang 28

+ Cán bộ Đoàn là người đoàn kết, tập hợp mọi tầng lớp thanh thiếu niên vào tổ chức Là người có ảnh hưởng lớn trong xã hội, là trung tâm đoàn kết thanh thiếu niên, đưa họ vào tổ chức để giáo dục Giúp thanh thiếu niên phát huy được mọi tài năng, năng lực của mình; phát hiện các tài năng trẻ cho Đoàn cho xã hội trong mọi lĩnh vực Là người đại diện cho Đoàn trong các tổ chức quần chúng thanh niên như: Hội Liên hiệp thanh niên Việt Nam; Hội Sinh viên Việt Nam; Hội nghề nghiệp, Hội Phụ nữ trẻ…

- Vai trò của người cán bộ Đoàn Thanh niên trong sự nghiệp đổi mới đất nước

+ Là đội ngũ cán bộ tiếp thu nhanh, tuyên truyền quảng bá, và định hướng

tư tưởng quần chúng thanh thiếu niên về tư duy đổi mới, sự nghiệp đổi mới đất nước của Đảng đến Đoàn viên, thanh thiếu niên một cách chính xác và nhanh chóng , rộng rãi nhất

+ Là đội ngũ cán bộ xung kích trên mọi lĩnh vực trong công cuộc đổi mới đất nước; là những người cán bộ trẻ tuổi, năng động, sáng tạo và nhận thức nhanh

+ Là lực lượng lao động trẻ, có kiến thức, có khoa học, có trình độ và tay nghề cao; là lực lượng lao động làm ra nhiều sản phẩm cho xã hội, không những sản phẩm vật chất mà còn sản phẩm văn hoá, chính trị và tinh thần

+ Là lực lượng cán bộ bổ sung cho Đảng, cho Chính phủ và dân tộc hùng hậu nhất, tinh nhuệ nhất: Đã có trên 90% Bí thư Đoàn Thanh niên tham gia quản

lý, điều hành đất nước; Đoàn là một thành viên trong hệ thống chính trị, hệ thống quản lý của địa phương Nhiệm vụ của Đoàn nói chung và của người cán bộ Đoàn các cấp nói riêng là tổ chức, quản lý và giáo dục đoàn viên thanh thiếu niên Đây cũng là một công việc giúp Đảng, giúp Nhà nước quản lý đào tạo con người, quản lý đào tạo nguồn nhân lực cho đất nước

2.1.3.2 Đặc điểm cán bộ Đoàn cấp cơ sở

+ Cán bộ Đoàn cấp cơ sở hầu hết là dân bản địa, cư trú sinh sống tại địa phương, có quan hệ gắn bó với nhân dân địa phương về mọi mặt kinh tế, văn hoá, tình cảm và đời sống sinh hoạt hàng ngày (Hà Xuân Duy, 2006)

+ Phần lớn đội ngũ cán bộ Đoàn cấp cơ sở trưởng thành từ các phong trào

ở địa phương, nguồn khác là sinh viên các trường đại học, cao đẳng, bộ đội sau khi hoàn thành nghĩa vụ quân sự và một số ít là cán bộ tăng cường (Hà Xuân Duy, 2006)

Trang 29

+ Cán bộ Đoàn đa số là những người trẻ tuổi, đây là nét đặc trưng mang tính đặc thù trong hệ thống tổ chức Đoàn Cán bộ Đoàn đòi hỏi phải trẻ về tuổi đời, cả về tư duy Thông thường trẻ thì năng động, sáng tạo, nhiệt tình, có thể lực, trí tuệ tốt, hăng hái tham gia các hoạt động Tuy nhiên, tuổi trẻ thường có ít kinh nghiệm, do vậy cán bộ Đoàn đòi hỏi phải thường xuyên rèn luyện thông qua

đi cơ sở, tích cực hoạt động trong thực tiễn (Hà Xuân Duy, 2006)

+ Do nhiều nguyên nhân, đội ngũ cán bộ Đoàn cấp cơ sở ít được đào tạo (nhất là đối với miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo), thường xuyên biến động, không ổn định Điều đó gây khó khăn trong công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, nhất là việc tập huấn, bồi dưỡng, cập nhật những kiến thức mới để ngày càng phù hợp với yêu cầu phát triển của phong trào thanh thiếu niên cũng như nhu cầu tâm lý của ĐVTN, khó khăn trong việc triển khai tổ chức thực hiện các nghị quyết của Đảng, pháp luật của Nhà nước trong ĐVTN (Lô Văn Điệp, 2012)

2.1.3.3 Tiêu chuẩn cán bộ Đoàn cấp cơ sở

Theo Quy chế cán bộ Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh (2010) thì cán bộ Đoàn cấp cơ sở cần có những tiêu chuẩn sau:

- Về tiêu chuẩn chung

Có trình độ chính trị, chuyên môn, năng lực tham mưu, chỉ đạo và khả năng tiếp thu, tổ chức, triển khai thực hiện các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước, Nghị quyết của Đoàn, chương trình công tác của đơn vị trong phạm vi, trách nhiệm được giao

Có kiến thức, kỹ năng nghiệp vụ công tác thanh vận, ngoại ngữ, tin học phù hợp với lĩnh vực công tác Nhiệt tình và trách nhiệm với sự nghiệp giáo dục, đào tạo thể hệ trẻ, được rèn luyện từ thực tiễn phong trào, được thanh thiếu nhi tín nhiệm

Trang 30

thông trở lên, đã được bồi dưỡng chương trình lý luận chính trị sơ cấp và giữ chức vụ không quá 37 tuổi

+ Tiêu chuẩn cán bộ Chi đoàn cơ sở trong trường học: Đối với học sinh, sinh viên: Học lực từ loại khá trở lên, đã được bồi dưỡng chương trình lý luận chính trị tương đương sơ cấp (trừ học sinh trung học phổ thông, trung học cơ sở); Đối với cán bộ, giáo viên: Trình độ chuyên môn từ cao đẳng trở lên, trình độ lý luận chính trị từ sơ cấp trở lên, giữ chức vụ không quá 37 tuổi

+ Tiêu chuẩn cán bộ Chi đoàn cơ sở trong cơ quan, doanh nghiệp: Đối với

cơ quan: Trình độ chuyên môn từ đại học trở lên, trình độ lý luận chính trị từ sơ cấp trở lên, giữ chức vụ không quá 35 tuổi Đối với doanh nghiệp: Trình độ chuyên môn từ đại học trở lên, trình độ lý luận chính trị từ sơ cấp trở lên (riêng doanh nghiệp ngoài nhà nước có thể tốt nghiệp phổ thông trung học trở lên, đã được bôi dưỡng chương trình lý luận chính trị tương đương sơ cấp), giữ chức vụ không quá 40 tuổi

+ Tiêu chuẩn cán bộ Chi đoàn: Là Đoàn viên Đoàn TNCS Hồ Chí Minh hoặc Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam; có quá trình sinh hoạt, hoạt động Đoàn; có trình độ hiểu biết, có phẩm chất chính trị, đạo đức tốt, có kỹ năng hoạt động Đoàn; được sự tín nhiệm của tập thể đoàn viên, được đoàn viên lựa chọn thông qua bầu cử trong Đại hội chi đoàn

2.1.4 Nội dung nghiên cứu

2.1.4.1 Hệ thống tổ chức cơ sở Đoàn

Tổ chức cơ sở Đoàn gồm Đoàn cơ sở và Chi Đoàn cơ sở, là nền tảng của Đoàn, được thành lập theo địa bàn dân cư, theo ngành nghề, theo đơn vị học tập, công tác, lao động, nơi cư trú và đơn vị cơ sở trong lực lượng vũ trang nhân dân

Tổ chức cơ sở Đoàn có thể trực thuộc huyện Đoàn, tỉnh Đoàn, hoặc Đoàn khối, Đoàn ngành tuỳ thuộc vào tính đặc thù của từng đơn vị theo hướng dẫn của Ban Thường vụ Trung ương Đoàn Chi đoàn là tổ chức tế bào của Đoàn, là hạt nhân nòng cốt đoàn kết, tập hợp thanh thiếu nhi, Đoàn cơ sở là cấp trên trực tiếp của chi đoàn (Điều lệ Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh khóa X, 2012) Như vậy, tổ chức Đoàn cấp cơ sở (cơ sở Đoàn) bao gồm: Đoàn cơ sở, Chi Đoàn cơ sở, Chi Đoàn Trong đó, Chi Đoàn là đoàn cấp dưới và trực thuộc Đoàn cơ sở

Nội dung nghiên cứu tổ chức cơ sở Đoàn bao gồm: hệ thống tổ chức cơ sở Đoàn; cơ cấu và chất lượng tổ chức cơ sở Đoàn; số lượng cán bộ, cơ cấu cán bộ, trình độ đội ngũ cán bộ đang làm việc trong tổ chức cơ sở Đoàn

Trang 31

2.1.4.2 Chất lượng cán bộ Đoàn cấp cơ sở

Nội dung nghiên cứu chất lượng cán bộ Đoàn cấp cơ sở dựa trên các tiêu chuẩn đã được quy định trong quy chế cán bộ Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh năm 2010 và khả năng đáp ứng những nhiệm vụ của tổ chức sơ sở Đoàn, theo đó các tiêu chí cơ bản để đánh giá chất lượng đội ngũ cán bộ đoàn cấp cơ sở bao gồm: phẩm chất chính trị, trình độ (trình độ học vấn, trình độ chuyên môn, trình độ lý luận chính trị), các kỹ năng, nghiệp vụ…

- Về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống:

Phẩm chất chính trị là tiêu chí quan trọng, quyết định đến chất lượng của mỗi cán bộ Phẩm chất chính trị là động lực tinh thần, là kim chỉ nam để định hướng và thúc đẩy cán bộ thực hiện xuất sắc nhiệm vụ được giao Phẩm chất chính trị cũng là yêu cầu cơ bản nhất đối với cán bộ Đó là nhiệt tình cách mạng, tuyệt đối trung thành với Chủ nghĩa Mác-Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, lý tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam, tinh thần tận tuỵ với công việc, hết lòng hết sức phục vụ nhân dân (Ngô Thị Bích Hường, 2011)

Phẩm chất đạo đức, lối sống của người cán bộ quan hệ mật thiết với phẩm chất chính trị Phẩm chất chính trị chi phối, quy định phẩm chất đạo đức; phẩm chất đạo đức tác động tới sự phát triển phẩm chất chính trị Người cán bộ có giác ngộ chính trị, có niềm tin sâu sắc vào lý tưởng cộng sản chủ nghĩa sẽ giúp họ có tình yêu thương đồng chí, kính trọng nhân dân, quan tâm giúp đỡ mọi người, biết

hy sinh lợi ích cá nhân cho lợi ích cách mạng Những phẩm chất đạo đức tốt đẹp như trung, hiếu, dũng, liêm,… sẽ giúp người cán bộ củng cố, phát triển các phẩm chất chính trị như sự kiên định lập trường, tư tưởng, tính tiên phong gương mẫu của người cán bộ Quan hệ biện chứng giữa phẩm chất chính trị và phẩm chất đạo đức của người cán bộ tạo nên phẩm chất đạo đức cách mạng của người cán

bộ thường được gọi là “phẩm chất” hay mặt “đức” mặt “hồng” của cán bộ (Đặng Thị Hồng Thoa, 2016)

- Về trình độ:

+ Trình độ học vấn: Học vấn không phải là yếu tố duy nhất quyết định chất lượng và hiệu quả hoạt động của cán bộ nhưng đây là tiêu chí quan trọng ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả công việc Nó là tiền đề, là nền tảng cho việc nhận thức tiếp thu và đưa đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước vào cuộc sống Hạn chế về trình độ học vấn sẽ dẫn đến hạn chế về khả năng

Trang 32

nhận thức và năng lực tổ chức thực hiện các chủ trương, chính sách, các qui định của pháp luật, cản trở việc thực hiện chức trách nhiệm vụ được giao (Ngô Thị Bích Hường, 2011)

+ Trình độ chuyên môn: Trình độ chuyên môn nghiệp vụ được hiểu là những kiến thức chuyên sâu về một lĩnh vực nhất định được biểu hiện qua những cấp độ: sơ cấp, trung cấp, cao đẳng, đại học, sau đại học Đây là những kiến thức

mà cán bộ phải có ở một trình độ nhất định để giải quyết các công việc, nhiệm vụ được giao (Ngô Thị Bích Hường, 2011)

+ Trình độ lý luận chính trị: Trình độ lý luận chính trị là cơ sở xác định quan điểm lập trường giai cấp công nhân của cán bộ nói chung và cán bộ cấp Đoàn nói riêng Đối với cán bộ Đoàn công tác ở các vị trí, lĩnh vực khác nhau thì tiêu chuẩn

về trình độ lý luận chính trị cũng khác nhau (Ngô Thị Bích Hường, 2011)

về mặt tư tưởng, nắm bắt tư tưởng đoàn viên thanh niên, tác động, tổ chức sinh hoạt tư tưởng (Lê Văn Cầu, 2010)

+ Lập kế hoạch công tác: lập kế hoạch giúp cho tổ chức Đoàn hình dung trước và chỉ ra được các công việc phải làm cụ thể, nhiệm vụ từng cá nhân, tập thể, thời gian thực hiện công việc, nguồn lực được đảm bảo như thế nào Đặc biệt

là các biện pháp thực hiện và các phương thức kiểm tra, đề phòng rủi ro ra sao (Lê Văn Cầu, 2010)

+ Điều hành, quản lý: Điều hành sinh hoạt chi đoàn, hoạt động của Ban chấp hành, phân công phân nhiệm vụ cho ủy viên Ban chấp hành; Quản lý cán bộ chi đoàn về công việc, về tư tưởng; Quản lý hồ sơ đoàn viên, cán bộ, sổ chi đoàn, các văn bản quyết định (Lê Văn Cầu, 2010)

+ Tổ chức hoạt động: Thiết kế nội dung chương trình một hoạt động, đợt hoạt động, tổ chức phát động phong trào; Biết làm công tác đoàn vụ, các hội nghị, buổi lễ kết nạp, trưởng thành Đoàn, đại hội, hội nghị chi đoàn; Biết phân công đoàn viên phụ trách các công việc trong chương trình hoạt động; Tổ chức

Trang 33

sinh hoạt trò chơi, múa, hát, sinh hoạt tập thể, kể chuyện vui, đọc, ngâm thơ…(Lê Văn Cầu, 2010)

+ Soạn thảo văn bản: Soạn thảo các loại văn bản như: chương trình, kế hoạch, báo cáo, kiểm điểm, biên bản…(Lê Văn Cầu, 2010)

+ Vận động, thuyết phục: Khả năng diễn đạt thông tin dễ hiểu, có sức thuyết phục; Có khả năng lôi cuốn, tập hợp thanh niên tham gia các phong trào, hoạt động…(Lê Văn Cầu, 2010)

Ngoài ra, chất lượng cán bộ Đoàn còn được thể hiện thông qua một số tiêu chí như: độ tuổi, thể lực, thể chất, tiến độ và kết quả thực hiện nhiệm vụ Những tiêu chuẩn này dựa trên quy định của Luật cán bộ, công chức năm 2008 và Quy chế cán bộ Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh năm 2010

2.1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng cán bộ Đoàn cấp cơ sở

2.1.5.1 Lòng yêu nghề, trách nhiệm với công việc

Trong thời gian qua, hoạt động Đoàn và phong trào thanh thiếu nhi đã

có nhiều bước chuyển đáng kể, ngày càng khẳng định tính xung kích, tình nguyện của thế hệ trẻ Từ những hoạt động tình nguyện đến những công trình thiết thực tại đơn vị cơ sở đều mang bóng dáng của đoàn viên thanh niên, đó là những người xung kích, luôn tìm tòi cái mới, kích hoạt nhiều phong trào mang tính cộng đồng để thu hút thanh niên Đạt được thành công đó phải nhắc đến vai trò của người thủ lĩnh thanh niên đó là những cán bộ đoàn nhiệt huyết, góp sức trẻ vào quá trình phát triển đất nước (Nguyễn Thị Thu Huyền, 2010)

Người thủ lĩnh Đoàn đòi hỏi phải là người nhiệt tình và phải biết truyền sự nhiệt tình đó cho tất cả Đoàn viên, thanh niên của mình, đưa họ đến với phong trào và họ tự nguyện tham gia những công việc mà xã hội cần, đất nước cần Nhiệm vụ của Đảng đặt ra cho Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh những nhiệm vụ vinh quang và đầy khó khăn trong thời kỳ mới, không chỉ là người thủ lĩnh của thanh niên, người cán bộ Đoàn còn phải là người có nhiều, kỹ năng, nhiều ý tưởng thiết thực, ý nghĩa và ý tưởng phải lay động thật nhiều trái tim nhiệt huyết của tuổi trẻ (Nguyễn Thị Thu Huyền, 2010)

2.1.5.2 Công tác quy hoạch, cơ chế tuyển dụng, bổ nhiệm cán bộ Đoàn

Công tác quy hoạch, chuẩn bị lực lượng kế cận là một trong những nội dung quan trọng của công tác cán bộ, công tác quy hoạch cán bộ Đoàn nhằm đảm

Trang 34

bảo cho công tác cán bộ đi vào nề nếp, chủ động, có tầm nhìn xa, đáp ứng cả nhiệm vụ trước mắt của tổ chức Đoàn và nhiệm vụ lâu dài là tạo nguồn cán bộ cho hệ thống chính trị Việc lựa chọn những người có phẩm chất, đạo đức, trình

độ để đưa vào quy hoạch sẽ giúp cho đội ngũ tổ chức Đoàn có được những cán

bộ ưu tú, đáp ứng nhu cầu công việc, từ đó góp phần nâng cao chất lượng của đội ngũ cán bộ, nâng cao chất lượng công việc (Doãn Đức Hảo, 2009)

Cơ chế tuyển dụng, bổ nhiệm là một trong những yếu tố ảnh hưởng tới chất lượng cán bộ, nếu như có cơ chế phù hợp, tìm được những người có phẩm chất, năng lực, trình độ chuyên môn, kỹ năng nghiệp vụ tốt sẽ góp phần nâng cao chất lượng của đội ngũ cán bộ, ít tốn kém chi phí để đào tạo, bồi dưỡng Ngược lại, nếu tuyển dụng, bổ nhiệm những người yếu kém về phẩm chất, năng lực, trình độ làm ảnh hưởng tiêu cực đến chất lượng của đội ngũ cán bộ (Ngô Thị Bích Hường, 2011)

Hiện nay, việc tuyển dụng để làm việc tại cơ quan đoàn chuyên trách từ cấp huyện trở lên được thực hiện theo hình thức xét tuyển hoặc thi tuyển Thực hiện thi tuyển đối với các chức danh thuộc công chức nhà nước Thực hiện việc xét tuyển đối với các đối tượng thuộc vùng đặc biệt khó khăn, biên giới, hải đảo

và đối tượng chính sách Đối với chức danh Bí thư Đoàn cơ sở, Chi Đoàn được bầu cử thông qua Đại hội của Đoàn; chức danh Bí thư Chi Đoàn hầu hết do cấp

ủy cùng cấp chỉ định Nhìn chung, việc tuyển dụng, bổ nhiệm đối với cán bộ Đoàn cấp cơ sở chưa gắn với việc thi tuyển để lựa chọn cán bộ theo trình độ chuyên môn, nghiệp vụ Thực tế hiện nay, cơ chế xét tuyển và bầu cử khó tránh khỏi cảm tính cá nhân dẫn đến tuyển dụng, bổ nhiệm những người yếu kém về phẩm chất, năng lực, trình độ (Doãn Đức Hảo, 2009)

2.1.5.3 Đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ

Đào tạo, bồi dưỡng có ảnh hưởng trực tiếp đến việc nâng cao trình độ, từ

đó ảnh hưởng trực tiếp tới chất lượng của đội ngũ cán bộ Đoàn Đào tạo, bồi dưỡng là con đường duy nhất để nâng cao trình độ kiến thức trong điều kiện đội ngũ cán bộ Đoàn, nhất là đội ngũ cán bộ đoàn cấp cơ sở bị thiếu hụt về trình độ,

kỹ năng, nghiệp vụ như hiện nay Mặc dù trình độ của đội ngũ cán bộ Đoàn không cao nhưng nếu được quan tâm đào tạo, bồi dưỡng thường xuyên thì họ sẽ

có kỹ năng vững vàng, trình độ đáp ứng tiêu chuẩn (Lô Văn Diệp, 2012)

Hiện nay trình độ, kỹ năng đội ngũ cán bộ Đoàn cấp cơ sở, đặc biệt là đội ngũ Bí thư Chi Đoàn ở khu vực có điều kiện kinh tế khó khăn, vùng sâu, vùng

Trang 35

xa, vùng dân tộc thiểu số còn thấp Vì vậy, cần có những chính sách ưu tiên, tạo điều kiện để những cán bộ này được đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ để đảm bảo yêu cầu công việc, từ đó nâng cao chất lượng công việc, chất lượng cán

bộ (Nguyễn Thị Thu Huyền, 2010)

2.1.5.4 Điều kiện làm việc

Điều kiện làm việc có ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động đoàn và mức độ thực hiện công việc của cán bộ Đoàn cấp cơ sở Điều kiện làm việc bao gồm điều kiện vật chất và điều kiện phi vật chất Đối với cán bộ đoàn cơ sở, điều kiện làm việc có ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động bao gồm: thời gian thực hiện công việc và các trang thiết bị phục vụ cho triển khai các hoạt động Đoàn tại cơ sở Khi có điều kiện làm việc tốt, đảm bảo thì cán bộ Đoàn sẽ phát huy được hết khả năng của mình Từ đó thúc đẩy nâng cao chất lượng hoạt động Đoàn và chất lượng cán bộ Đoàn cơ sở (Doãn Đức Hảo, 2009)

2.1.5.5 Chế độ chính sách

Chế độ tiền lương, phụ cấp: một trong những khó khăn của người cán bộ Đoàn cấp cơ sở là chế độ đãi ngộ rất thấp, chỉ có đội ngũ Bí thư Đoàn cơ sở và Chi Đoàn cơ sở là được hưởng lương, còn Phó bí thư Đoàn cơ sở, Chi Đoàn cơ

sở và Bí thư Chi Đoàn chỉ được hưởng phụ cấp Đặc thù công việc của người cán

bộ đoàn là phải đảm nhận rất nhiều công việc, thường xuyên phải tiếp cận cơ sở

vì thế tiền lương, phụ cấp để đảm bảo cuộc sống, yêu cầu công việc có ảnh hưởng rất lớn tới tâm lý, sự nhiệt tình, lòng đam mê từ đó ảnh hưởng tới chất lượng của người cán bộ đoàn (Nguyễn Thị Thu Huyền, 2010)

Chính sách quan tâm, tạo đầu ra cho cán bộ Đoàn: do đặc thù của công việc yêu cầu người cán bộ đoàn phải có sức khỏe, sức trẻ nên có giới hạn về độ tuổi công tác đối với từng chức danh cụ thể trong tổ chức đoàn, một trong những vấn đề đặt ra là đầu ra cho những cán bộ đoàn đã hết tuổi, quá tuổi Thực tế, trong những năm qua, đầu ra cho cán bộ Đoàn các cấp chưa có cơ chế, chưa được quan tâm đúng mức, điều này làm cho người cán bộ đoàn không yên tâm công tác, ảnh hưởng không nhỏ tới tâm lý, sự nhiệt tình của người cán bộ đoàn (Nguyễn Thị Thu Huyền, 2010)

2.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN

2.2.1 Tình hình đội ngũ cán bộ Đoàn cấp cơ sở tại Việt Nam

Báo cáo số 374-BC/TWĐTN ngày 04/9/2012 của BCH Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh về kết quả công tác xây dựng Đoàn, mở rộng mặt trận đoàn

Trang 36

kết tập hợp thanh niên nhiệm kỳ 2007 – 2012 có nêu: “Tính cuối nhiệm kỳ Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ IX, cả nước có 35.945 Đoàn cơ sở và chi Đoàn cơ sở với hơn 245.106 Chi đoàn (tăng 7.041 Đoàn cơ sở và Chi đoàn cơ sở, 76.544 Chi đoàn so với đầu nhiệm kỳ)”

Với phương châm đào tạo phải gắn với chức danh và phân cấp, Trung ương Đoàn đã đào tạo, bồi dưỡng cho cán bộ chủ chốt cấp tỉnh và cấp huyện vùng khó khăn, đặc thù; cấp tỉnh đào tạo, bồi dưỡng đến cấp cơ sở; cấp huyện đào tạo, bồi dưỡng đến chi đoàn Trung ương Đoàn đã tổ chức tập huấn cho 187

Bí thư Đoàn cấp tỉnh với nhiều nội dung phong phú Nhiều phương thức đào tạo mới có hiệu quả được các tỉnh, thành Đoàn áp dụng như: cử cán bộ đi đào tạo tại Học viện thanh thiếu niên Việt Nam; phối hợp với Học viện thanh thiếu niên Việt Nam, các trường chính trị tỉnh, thành phố, các trung tâm bồi dưỡng chính trị huyện, quận hoặc chủ động mở lớp đào tạo trình độ trung cấp lý luận chính trị và trung cấp thanh vận tại chức tại các địa phương; các lớp tập huấn theo chuyên đề, theo khối, theo lĩnh vực, theo nguyện vọng của đội ngũ cán bộ Đoàn cơ sở Từ năm 2008-2011, đã có 53.045 lượt cán bộ Đoàn cấp tỉnh; 180.358 lượt cán bộ Đoàn cấp huyện và 500.023 lượt cán bộ Đoàn cấp xã được đào tạo, tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ Đoàn, Hội, Đội (Ban Chấp hành Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, 2012)

Nhìn chung chất lượng đội ngũ cán bộ đoàn trong cả nước đã được nâng lên song vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu Năng lực tham mưu, khả năng tổ chức các hoạt động thực tiễn còn hạn chế, công tác quản lý, lưu trữ đoàn vụ của cán bộ đoàn cơ sở còn nhiều yếu kém, chưa khoa học (Doãn Đức Hảo, 2009)

Theo số liệu khảo sát Bí thư Đoàn cấp cơ sở trên phạm vi cả nước, trong tổng số 10.898 Bí thư đoàn xã, phường, thị trấn về trình độ chuyên môn: đại học

có 1.179 người (chiếm 11%); trình độ cao đẳng có 2.178 người (chiếm 20%); trình độ trung cấp có 5.719 người (chiếm 52%) và 1.822 người (chiếm 17%) chưa có trình độ, số cán bộ đoàn cơ sở này chủ yếu thường ở các xã miền núi, các xã vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số ít người Về trình độ lý luận chính trị thì chỉ có 183 người có trình độ cử nhân và cao cấp (chiếm 2%); trung cấp có 3.359 người (chiếm 36%); sơ cấp có 3.401 người (chiếm 37%) và 2.305 người chưa qua lớp bồi dưỡng về lý luận chính trị (chiếm 25%) (Doãn Đức Hảo, 2009)

Trang 37

Độ tuổi của đội ngũ cán bộ Đoàn cơ sở đang dần được trẻ hóa: từ 20 đến

25 là 1.714 người (chiếm 15,9%); từ 25 đến 30 là 4.582 người (chiếm 42,7%); từ

30 đến 35 là 3.920 người (chiếm 36,5%); từ 35 đến 40 là 518 người (chiếm 4,8%), trên 40 tuổi là 154 người (chiếm 0,1%); Số đông có kinh nghiệm thực tế trong công tác Đoàn, thời gian tham gia công tác Đoàn từ 5 năm trở lên chiếm 61,7%, từ 2-5 năm chiếm tỷ 24,1%; dưới 2 năm chiếm tỷ lệ 14,2% Tuy nhiên nếu so sánh với yêu cầu của Nghị quyết 25 - NQ/TW, ngày 25 tháng 7 năm 2008 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá IX về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thanh niên thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá” đề ra chỉ tiêu: “Bảo đảm đủ số lượng cán bộ đoàn chuyên trách theo quy định, ít nhất 70% đội ngũ cán bộ đoàn chuyên trách trong độ tuổi đoàn viên”; Nghị quyết số 02 NQ/TWĐTN, ngày 09/09/2008 của Ban Chấp hành Trung ương Đoàn (khoá IX) về “Nâng cao chất lượng tổ chức cơ sở Đoàn” cũng đề ra chỉ tiêu “Phấn đấu đến cuối nhiệm kỳ Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ IX, 90% cán bộ đoàn chuyên trách cấp cơ sở trong độ tuổi đoàn viên” (tuổi đoàn viên từ

16 đến 30, nghĩa là cán bộ Đoàn cơ sở tuổi trung bình không quá 30), thì chu trình trẻ hóa cán bộ đoàn cơ sở còn chậm (còn tới 41,4% cán bộ đoàn cơ sở trên

30 tuổi) (Doãn Đức Hảo, 2009)

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến việc trẻ hóa đội ngũ cán bộ Đoàn còn chậm: về mặt chủ quan, một số đồng chí cán bộ đoàn lớn tuổi, song trong quá trình công tác không theo học thêm một chuyên môn, chuyên ngành nào vì thế chưa đáp ứng tiêu chuẩn về chuyên môn nghiệp vụ và trình độ lý luận chính trị theo yêu cầu điều động, luân chuyển cán bộ; về mặt khách quan do chưa có nhân

sự bổ xung, kế nhiệm kịp thời nên nhiều đồng chí chủ chốt phải tiếp tục đảm nhận công việc - nguyên nhân này thuộc về trách nhiệm của cả cấp ủy Đảng và cấp bộ Đoàn trong việc quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng nguồn thay thế cán bộ đoàn cơ sở (Doãn Đức Hảo, 2009)

2.2.2 Kinh nghiệm của một số địa phương trong nước về nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ Đoàn

2.2.2.1 Thái Bình

Xác định “Công tác cán bộ là then chốt”, trong những năm qua Đoàn TNCS Hồ Chí Minh tỉnh Thái Bình đã có nhiều giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ Đoàn, đặc biệt là trong công tác đào tạo, bồi dưỡng (Nguyễn Thị Thơm, 2014)

Trang 38

Dưới sự chỉ đạo của Ban Thường vụ Tỉnh Đoàn Thái Bình công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ Đoàn có nhiều đổi mới theo hướng phù hợp cho từng đối tượng cán bộ, xây dựng bộ giáo án cụ thể, đổi mới phương pháp giảng dạy theo hướng hai chiều để phát huy tính sáng tạo của học viên, đồng thời ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy Cuối mỗi đợt tập huấn, tổ chức cho học viên tham quan, học hỏi mô hình mới trong và ngoài tỉnh Trong năm 2014, đã tập huấn chuyên môn, nghiệp vụ Đoàn cho 1504 cán bộ đoàn, hội, đội trong toàn tỉnh Bên cạnh đó, Ban Thường vụ Tỉnh Đoàn chỉ đạo các chi đoàn tổ chức sinh hoạt chuyên đề 1 lần/tháng về chuyên môn, nghiệp vụ công tác Qua đó, đội ngũ cán bộ đoàn trẻ không chỉ được nâng cao chuyên môn, nghiệp vụ công tác mà còn được trang bị kiến thức toàn diện về công tác Đoàn, Hội, Đội (Nguyễn Thị Thơm, 2014)

Việc quyết liệt trong thực hiện các giải pháp về công tác cán bộ Đoàn nhằm đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ đoàn nói riêng và đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý của tỉnh Thái Bình nói chung đã góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Hội nghị lần thứ 3 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa VIII) “về chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” và Nghị quyết số 05-NQ/TU ngày 1/3/2007 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Thái Bình (khóa XVIII) về “Chiến lược xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo quản lý gia đoạn 2007- 2020 và những năm tiếp theo” (Nguyễn Thị Thơm, 2014)

2.2.2.2 Huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh

Với mong muốn thu hút thanh niên có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, phẩm chất chính trị, đạo đức, nhiệt huyết tham gia công tác Đoàn và phong trào Thanh thiếu nhi, thời gian qua, Huyện đoàn Tiên Yên đã phối hợp với Đảng ủy Thị trấn Tiên Yên tổ chức thi tuyển nhân sự chức danh Bí thư Đoàn Thanh niên thị trấn Tiên Yên Đây là cách làm mới của Huyện Đoàn và Đảng ủy thị trấn Tiên Yên đồng thời cũng là lần đầu tiên được thực hiện trên địa bàn huyện góp phần

cụ thể hóa Nghị quyết số 07-NQ/TĐ-QN ngày 16/9/2013 của BCH Tỉnh Đoàn khóa X về một số giải pháp nâng cao chất lượng cơ sở Đoàn trên địa bàn dân cư giai đoạn 2013-2017, Nghị quyết số 02-NQ/HU ngày 12/11/2015 của Huyện ủy Tiên Yên về xây dựng đội ngũ cán bộ lanh đạo, quản lý giai đoạn 2015-2020 (Huyện Đoàn Tiên Yên, 2015)

Trang 39

Trải qua nội dung kiểm tra các kỹ năng: kỹ năng viết, kỹ năng thuyết trình

và năng khiếu, các thí sinh đã thể hiện được năng lực tham gia hoạt động phong trào, khả năng thu hút tập hợp thanh niên, thể hiện ý chí phấn đấu, cống hiến, rèn luyện, trưởng thành của tuổi trẻ Vượt lên các thí sinh cùng dự tuyển, thí sinh Mai Việt Hồng (sinh năm 1989) – đoàn viên chi đoàn khu phố Đông Tiến 2, trình

độ chuyên môn Thạc sĩ Ngôn ngữ và văn hóa, cử nhân sư phạm Ngữ văn, cử nhân Luật kinh tế đã trúng tuyển vào vị trí Trước khi bầu chính thức chức danh

Bí thư Đoàn Thanh niên thị trấn nhiệm kỳ 2012 – 2017, Mai Việt Hồng sẽ giữ chức danh Phó Bí thư Đoàn Thanh niên thị trấn với thời gian thử thách là 03 tháng kể từ ngày 01/01/2016 Sau khi có kết quả xét tuyển, Ban Thường vụ Huyện đoàn Tiên Yên đã chỉ đạo BCH Đoàn Thanh niên thị trấn kiện toàn chức danh đúng quy trình, Điều lệ Đoàn (Huyện Đoàn Tiên Yên, 2015)

Qua cách làm trên đã thu hút, lựa chọn được những người có trình độ, có phẩm chất đạo đức, thực sự tâm huyết với công tác đoàn trên cơ sở đó làm cho hoạt động đoàn tại địa phương ngày càng hiệu quả, có tác dụng lôi cuốn đoàn viên thanh niên tham gia sinh hoạt đoàn, xây dựng tổ chức đoàn thực sự là tổ chức mạnh, xứng đáng là cánh tay phải của Đảng Mặt khác, cách làm này tạo được tính chủ động, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế, chất lượng công tác phù hợp với thực tế địa phương, được dư luận ủng

hộ Nhận xét về vấn đề này, đồng chí Phạm Phú Cam – Phó Ban Tổ chức Huyện

ủy Tiên Yên khẳng định: “Xét tuyển cán bộ Đoàn cơ sở sẽ chọn được cán bộ có phẩm chất chính trị tốt, có trình độ, sức khỏe, ngoại hình phù hợp với công tác thanh vận, phát huy năng lực, sở trường của cán bộ đoàn” (Huyện Đoàn Tiên Yên, 2015)

Thấy được tính ưu việt trong xét tuyển nhân sự chức danh Bí thư Đoàn Thanh niên thị trấn Tiên Yên, thời gian tới nhiều đơn vị trong huyện cũng dự kiến áp dụng cách làm này để góp phần nâng cao chất lượng cán bộ, tạo nguồn cho lãnh đạo quản lý sau này (Huyện Đoàn Tiên Yên, 2015)

2.2.2.3 Nghệ An

Quyết định số 289-QĐ/TW ngày 8/2/2010 của Ban Bí thư Trung ương Đảng quy định tiêu chuẩn cán bộ Đoàn cấp huyện, xã, thị trấn giữ chức vụ không quá 35 tuổi Kể từ khi quy chế được triển khai thực hiện, với sự quan tâm, chỉ đạo của các cấp bộ đoàn, cấp ủy, chính quyền thể hiện trong việc tuyển dụng, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí, sử dụng; nhận xét đánh giá, luân chuyển,

Trang 40

điều động đến việc thực hiện chế độ, chính sách Cán bộ Đoàn chủ chốt ở huyện

và cơ sở đã được trẻ hóa, trình độ chuyên môn, kỹ năng nghiệp vụ không ngừng được nâng lên, từng bước hình thành một lớp cán bộ Đoàn trẻ, năng động, nhiệt tình, bước đầu góp phần nâng cao chất lượng công tác Đoàn và phong trào thanh niên ở cơ sở Đặc biệt, trong Đại hội Đảng cấp cơ sở, cán bộ Đoàn được coi là nguồn bổ sung quan trọng cho hệ thống chính trị từ huyện đến cơ sở Nhiều cán

bộ Đoàn được tạo điều kiện trưởng thành, được giao các vị trí chủ chốt ở các xã, phường, thị trấn (Khánh Ly và Thanh Nga, 2015)

Tính từ thời điểm Quy chế cán bộ Đoàn được triển khai thực hiện đến nay, chất lượng đội ngũ cán bộ Đoàn trong toàn tỉnh đã có những thay đổi tích cực Cán bộ Đoàn từ cấp tỉnh đến cơ sở nhìn chung đảm bảo các tiêu chuẩn về trình

độ chuyên môn, trình độ chính trị, độ tuổi theo quy định tại quy chế, đáp ứng yêu cầu của vị trí công tác Nhiều cán bộ Đoàn đã tích cực, chủ động học tập nâng cao trình độ; đổi mới, sáng tạo trong công tác; có nhiều sáng kiến, kinh nghiệm trong việc chỉ đạo và tổ chức hoạt động Từ năm 2010 đến nay có 18 cán bộ tại

cơ quan Tỉnh đoàn, 45 bí thư, phó bí thư Đoàn cấp huyện và hơn 200 cán bộ chuyên trách cấp xã được trưởng thành, chuyển công tác Đội ngũ cán bộ Đoàn quá tuổi được quan tâm xem xét, bố trí công tác khác, phù hợp với năng lực và trình độ chuyên môn, từ năm 2010 đến nay toàn tỉnh có 178 cán bộ Đoàn quá tuổi được bố trí nhiệm vụ mới, hiện nay toàn tỉnh còn 35 cán bộ Đoàn cơ sở quá tuổi chưa được bố trí công tác (Khánh Ly và Thanh Nga, 2015)

đó, từng bước nâng cao trách nhiệm đối với công tác cán bộ đoàn, tổng phụ trách đội các cấp (Nguyễn Thị Huyền Trâm, 2016)

Đến nay, có 100% cán bộ đoàn cấp tỉnh, cấp huyện và hơn 95% cán bộ Đoàn cơ sở đều đảm bảo về trình độ chuyên môn nghiệp vụ theo Quy chế cán bộ đoàn và quy định 312-QĐ/TU ngày 10/6/2011 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy Từ

Ngày đăng: 30/03/2019, 07:41

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w