Theo nghĩa rộng, quyền thừa kế là pháp luật về thừa kế, là tổng hợp các quy phạmpháp luật quy định trình tự dịch chuyển tài sản của người chết cho những người còn sống.Thừa kế là một chế
Trang 1A LỜI MỞ ĐẦU 1
B NỘI DUNG 1
I Những vấn đề chung về thừa kế theo pháp luật 1
1 Khái niệm về thừa kế - Quyền thừa kế 1
2 Khái niệm thừa kế theo pháp luật 2
II Thừa kế theo pháp luật trong bộ luật dân sự Việt Nam 3
1 Những trường hợp thừa kế theo pháp luật 3
2 Diện thừa kế và hàng thừa kế theo pháp luật Việt Nam 7
3 Thừa kế thế vị 11
4 Di sản thừa kế 12
5 Phân chia di sản thừa kế theo pháp luật 13
6 Thanh toán các nghĩa vụ tài sản do người chết để lại 16
7 Thừa kế theo pháp luật trong một số trường hợp đặc biệt 16
III Thực trạng các quy định của pháp luật về thừa kế theo pháp luật và một số giải pháp hoàn thiện những quy định của pháp luật về thừa kế theo pháp luật 19
1 Thực trạng các quy định của pháp luật về thừa kế theo pháp luật 19
2 Một số giải pháp hoàn thiện những quy định của pháp luật về thừa kế theo pháp luật 20
B KẾT LUẬN 21 1
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 21 2
Trang 2A LỜI MỞ ĐẦU.
Thừa kế là một quan hệ pháp luật phổ biến trong đời sống xã hội Trong giai đoạnhiện nay, khi số lượng và giá trị tài sản của cá nhân ngày càng đa dạng, phong phú thìvấn đề thừa kế theo pháp cũng nảy sinh nhiều vấn đề cần được quan tâm Bộ luật dân sựcủa Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2005 quy định rất cụ thể về các trườnghợp thừa kế theo pháp luật cũng như về diện thừa kế, hàng thừa kế và một số trường hợpđặc biệt khác Trong thực tiễn thì các quy định của pháp luật về thừa kế theo pháp luậtcòn nhiều bất cập và nhiều cách hiểu khác nhau nên có cách hiểu khác nhau cùng mộtvấn đề Do vậy, việc nghiên cứu các quy định của pháp luật về thừa kế theo pháp luật là
việc rất cần thiết, nhằm làm rõ hơn vấn đề này em đã chọn đề tài : “ Thừa kế theo pháp
luật theo quy định trong Bộ luật dân sự năm 2005” để tìm hiểu.
B NỘI DUNG.
I Những vấn đề chung về thừa kế theo pháp luật.
1 Khái niệm về thừa kế - Quyền thừa kế
1.1 Thừa kế.
Thừa kế với ý nghĩa là một phạm trù kinh tế có mầm mống và xuất hiện ngay trong thời kỳ sơ khai của lịch sử xã hội loài người, ở thời kỳ này, việc thừa kế nhằm di chuyển tài sản của người chết cho người còn sống được tiến hành dựa trên quan hệ huyết thống
và do những phong tục tập quán riêng của từng bộ lạc, thị tộc quyết định
Quan hệ thừa kế là một quan hệ pháp luật, xuất hiện đồng thời với quan hệ sở hữu
và phát triển cùng với sự phát triển của xã hội loài người Mặt khác, quan hệ sở hữu là một quan hệ giữa người với người về chiếm hữu của cải vật chất trong xã hội, trong quá trình sản xuất lưu thông và phân phối của cải vật chất Sự chiếm hữu vật chất này thể hiện giữa người này với người khác, giữa tập đoàn của người này với tập đoàn người khác, đó là tiền đề đầu tiên làm xuất hiện quan hệ thừa kế
Như vậy, có thể xác định rằng, thừa kế tài sản là phạm trù pháp luật phản ánh quan hệkinh tế - xá hội nói chung và lịch sử phát triển kinh tế - xã hội nói riêng, nó xuất hiện vàtồn tại cùng với sự xuất hiện và phát triển của xã hội và phân chia giai cấp dựa trên cơ sở
Trang 3tư hữu về tài sản được thể hiện ở sự chuyển dịch tài sản của người chết cho người cònsống ( cá nhân, tổ chức) theo các nguyên tắc, trình tự và thủ tục do pháp luật quy định 1
1.2 Quyền thừa kế.
Theo nghĩa rộng, quyền thừa kế là pháp luật về thừa kế, là tổng hợp các quy phạmpháp luật quy định trình tự dịch chuyển tài sản của người chết cho những người còn sống.Thừa kế là một chế định pháp luật dân sự, là tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnhviệc chuyển dịch tài sản của người chết cho người khác theo di chúc hoặc theo một trình
tự nhất định, đồng thời quy định phạm vi quyền, nghĩa vụ và phương thức bảo vệ cácquyền và nghĩa vụ của người thừa kế
Quyền thừa kế theo nghĩa chủ quan là quyền của người để lại di sản và quyền củangười nhận di sản Quyền chủ quan này phải phù hợp với các quy định của pháp luật nóichung và pháp luật về thừa kế nói riêng
Thừa kế với tư cách là một quan hệ pháp luật dân sự trong đó các chủ thể có nhữngquyền và nghĩa vụ nhất định Trong quan hệ này, người có tài sản trước khi chết cóquyền định đoạt tài sản của mình cho người khác Những người có quyền nhận di sản họ
có thể nhận hoặc không nhận di sản ( trừ trường hợp pháp luật có quy định khác) Đốitượng của thừa kế là các tài sản, quyền tài sản thuộc quyền của người khác đã chết để lại( trong một số trường hợp người để lại di sản có thể chỉ để lại hoa lợi, lợi tức phát sinh từtài sản) Tuy nhiên, một số quyền tài sản gắn liền với nhân thân người đã chết không thểchuyển cho những người thừa kế và pháp luật quy định chỉ người đó mới có quyềnhưởng
2 Khái niệm thừa kế theo pháp luật.
Thừa kế theo pháp luật là việc dịch chuyển tài sản của người chết cho người còn sống không theo di chúc mà căn cứ vào các trường hợp cụ thể theo quy định của pháp luật
Pháp luật tôn trọng quyền sở hữu của công dân nên đã quy định cá nhân có quyềnlập di chúc để định đoạt khối tài sản của mình cho người khác sau khi chết với ý chí hoàn
9 – 13;
Trang 4toàn tự nguyện Vì vậy, việc lập di chúc chính là căn cứ trước tiên làm phát sinh quan hệpháp luật về thừa kế Bên cạnh đó, pháp luật cũng dự liệu những trường hợp mà việc địnhđoạt khối tài sản của người chết không thể thực hiện được bằng di chúc Khi đó, việcphân chia di sản cho người thừa kế sẽ theo ý chí của Nhà nước
Điều 674 BLDS năm 2005 quy định: “ Thừa kế theo pháp luật là thừa kế theo hàng
thừa kế, điều kiện và trình tự thừa kế do pháp luật quy định” Khác với người thừa kế
theo di chúc là những người được chỉ định trong di chúc theo ý chí của người để lại disản, người thừa kế theo pháp luật là những người thân thuộc, có mối quan hệ gần gũi nhấtvới người để lại di sản được và quy định rõ ràng tại hàng thừa kế Cụ thể hơn đó là nhữngngười có quan hệ huyết thống, quan hệ hôn nhân, quan hệ nuôi dưỡng với người chết.Phạm vi những người thừa kế rất rộng, vì thế pháp luật quy định thành nhiều hàng thừa
kế Trong hàng thừa kế thứ nhất là những người có quan hệ hôn nhân, huyết thống gầngũi nhất so với các hàng khác ngoài ra còn có quan hệ nuôi dưỡng Các hàng thứ hai, thứ
ba là những hàng dự bị như người chết không có những người ở hàng thứ nhất hoặc cónhưng họ đều không nhận hoặc không có quyền nhận
Mặt khác, những người thừa kế theo pháp luật luôn luôn được hưởng kỷ phần bằngnhau, không giống như thừa kế theo di chúc, điều này phụ thuộc vào ý chí của người đểlại di sản.2
II Thừa kế theo pháp luật trong bộ luật dân sự Việt Nam.
1 Những trường hợp thừa kế theo pháp luật.
Những trường hợp thừa kế theo pháp luật đã được quy định tại Điều 675 BLDS năm2005
1.1 Trường hợp không có di chúc hoặc được coi là không có di chúc.
Đây là những trường hợp mà người để lại di sản không lập di chúc hoặc có lập dichúc nhưng đã hủy di chúc như đốt, xé hoặc tuyên bố hủy bỏ di chúc đã lập Cũng đượccoi là không có di chúc trong những trường hợp người chết có để lại di chúc nhưng khi
có tranh chấp về thừa kế xảy ra di chúc đó đã bị thất lạc hoặc đã bị hư hại hoàn toàn đến
2011;
Trang 5mức không thể hiện được đầy đủ và rõ ràng ý chí của người lập di chúc và cũng khôngthể chứng minh được ý nguyện đích thực của người lập di chúc Ngoài ra, nếu bản dichúc được viết bằng kí hiệu hoặc bằng ngôn từ khó hiểu làm cho tất cả người thừa kế cócách hiểu không đồng nhất về toàn bộ nội dung của bản di chúc đó thì cũng được coi làkhông có di chúc.
Trong các trường hợp nói trên, toàn bộ di sản mà người chết để lại sẽ được phân
1.2 Trường hợp có di chúc nhưng di chúc không hợp pháp.
Di chúc không hợp pháp là di chúc vi phạm một trong các điều kiện có hiệu lực của
di chúc Tại Điều 652, 653, 654 BLDS năm 2005 đã có quy định về tính hợp pháp của dichúc Vì vậy, di chúc bị coi là không hợp pháp sẽ không có hiệu lực pháp luật và di sảnliên quan đến di chúc sẽ được giải quyết theo pháp luật Tuy nhiên, một di chúc bất hợppháp có thể không có hiệu lực pháp luật ở các mức độ khác nhau, di chúc bất hợp pháp
có thể bị coi là vô hiệu toàn bộ nhưng có thể chỉ vô hiệu một phần Vì vậy, khi giải quyếttranh chấp về thừa kế có liên quan đến di chúc phải căn cứ vào từng trường hợp cụ thể,vào các điều kiện mà di chúc đã vi phạm để xác định mức độ vô hiệu của di chúc
Khi xác định di chúc không có hiệu lực toàn bộ thì thừa kế sẽ hoàn toàn được giảiquyết theo pháp luật, nghĩa là toàn bộ di sản mà người lập di chúc để lại sẽ được chia chonhững người thừa kế theo pháp luật của họ Nếu di chúc vô hiệu một phần thì phần di sản
có liên quan đến phần di chúc không có hiệu lực pháp luật sẽ áp dụng thừa kế theo phápluật để chia cho những người thừa kế theo luật của người để lại di sản, phần di sản liênquan đến phần di chúc có hiệu lực pháp luật sẽ được chia cho những người thừa kế đượcxác định trong di chúc
1.3 Trường hợp người thừa kế theo di chúc chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc, cơ quan, tổ chức được hưởng thừa kế theo di chúc không còn vào thời điểm mở thừa kế.
Điều 635 BLDS năm 2005 đã quy định người thừa kế nếu là cá nhân phải là ngườicòn sống vào thời điểm mở thừa kế, cơ quan, tổ chức được thừa kế theo di chúc phải còntồn tại vào thời điểm mở thừa kế Chính vì vậy, việc xác định cá nhân, tổ chức được chỉ
Trang 6định làm người thừa kế có còn sống, còn tồn tại vào thời điểm người để lại di sản chếthay không là điều vô cùng quan trọng, là một trong những căn cứ để chia thừa kế theopháp luật Cụ thể, toàn bộ di sản của người chết để lại sẽ được chia cho những người thừa
kế theo pháp luật của người đó nếu tất cả các cá nhân được thừa kế theo di chúc đều đãchết trước hoặc chết cùng thời điểm với người để lại di sản, các cơ quanm tổ chức đượchưởng di sản theo di chúc cũng đều không tồn tại vào thời điểm mở thừa kế Nếu chỉ cómột hoặc một số người thừa kế theo di chúc chết trước hoặc chết cùng thời điểm vớingười để lại di sản, một hoặc một số cơ quan, tổ chức không còn vào thời điểm mở thừa
kế thì chỉ áp dụng thừa kế theo pháp luật đối với phần di sản liên quan đến người thừa kếtheo di chúc đã chết, cơ quan, tổ chức không còn vào thời điểm mở thừa kế
1.4 Trường hợp người được chỉ định làm người thừa kế theo di chúc mà không có quyền hưởng di sản.
Khoản 1 Điều 643 có quy định:
“ 1 Những người sau đây không được quyền hưởng di sản:
a) Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe hoặc về hành vi ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ người để lại di sản, xâm phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm của người đó;
b) Người vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản;
c) Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng người thừa kế khác nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ phần di sản mà người thừa kế đó có quyền được hưởng;
d) Người có hành vi lừa dối, cưỡng ép hoặc ngăn cản người để lại di sản trong việc lập
di chúc; giả mạo di chúc, sửa chữa di chúc, hủy di chúc nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản trái với ý chí của người để lại di sản”.
Trong trường hợp kể trên, nếu người để lại di sản vì không biết về các hành vi đó
mà để lại di sản cho họ theo di chúc thì phần di sản được chỉ định cho những người nàyđược hưởng sẽ bị vô hiệu và được chia theo pháp luật Tuy nhiên, nếu người để lại di sảnmặc dù biết về các hành vi trên của những người đó nhưng vẫn cho họ hưởng di sản theo
di chúc thì họ sẽ không mất quyền hưởng di sản
Trang 7Cá nhân được chỉ định thừa kế theo di chúc sẽ không được quyền hưởng nếu họthuộc trong các trường hợp trên Cụ thể, nếu toàn bộ những người thừa kế theo di chúcđều không có quyền hưởng di sản thì áp dụng thừa kế theo pháp luật đối với tòn bộ di sản
mà người lập di chúc đã để lại Nếu chỉ có một hoặc một số người thừa kế theo di chúckhông có quyền hưởng di sản thì chỉ áp dụng thừa kế theo pháp luật đối với phần di sảnliên quan đến người đó Nhưng người thừa kế được chỉ định trong di chúc không có cáchành vi nói trên được hưởng phần di sản mà người để lại di sản đã xác định trong dichúc
1.5 Trường hợp người được chỉ định là người thừa kế theo di chúc từ chối quyền nhận di sản.
Theo quy định tại Điều 642 BLDS thì người thừa kế có quyền từ chối nhận di sản.Khi có phần di sản liên quan đến họ sẽ được chia theo pháp luật Có rất nhiều nguyênnhân dẫn đến việc người thừa kế từ chối quyền hưởng phần di sản mà họ đãng lẽ ra nhậnđược Pháp luật tôn trọng ý chí đó của họ, tuy nhiê, cũng đặt ra hạn chế trong trường hợpviệc từ chối hưởng di sản đó nhằm trốn tránh thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết đểlại Cần lưu ý một số vấn đề đó là nếu người thừa kế theo di chúc không đồng thời làngười thừa kế theo pháp luật thì việc họ từ chối nhận di sản luôn chỉ là từ chối hưởng disản theo di chúc Nếu người thừa kế theo di chúc đồng thời là người thừa kế theo phápluật của người lập di chúc thì cần phải xác định họ từ chối toàn bộ ( cả theo di chúc vàtheo pháp luật) hay chỉ từ chối nhận di sản theo di chúc Vì vậy, đối với những người nàynếu họ chỉ từ chối quyền hưởng di sản theo di chúc thì họ vẫn là người thừa kế theo phápluật của người lập di chúc nên phần di sản được giải quyết theo pháp luật vẫn phải chiacho họ Nếu họ từ chối toàn bộ quyền hưởng di sản thì phần di sản đó được chia chonhững người thừa kế theo pháp luật khác của người để lại di sản
Trong trường hợp toàn bộ những người thừa kế theo di chúc từ chối quyền hưởng disản thì áp dụng thừa kế theo pháp luật đối với toàn bộ di sản mà người lập di chúc đã đểlại Theo đó, toàn bộ di sản thừa kế được chia cho người thừa kế theo pháp luật của ngườilập di chúc Nếu chỉ có một hoặc một số người thừa kế theo di chúc từ chối quyền hưởng
di sản thì chỉ áp dụng thừa kế theo pháp luật đối với phần di sản liên quan đến họ
Trang 81.6 Áp dụng thừa kế theo luật đối với phần di sản không được định đoạt trong di chúc.
Trong trường hợp người lập di chúc chỉ mới định đoạt một phần di sản thì phần disản này được chia theo di chúc Phần di sản chưa được định đoạt trong di chúc sẽ ápdụng thừa kế theo pháp luật để dịch chuyển cho những người thừa kế theo luật của người
để lại di sản Phần di sản không được người để lại di sản nhắc đến trong di chúc sẽ đượcchia đều cho những người thừa kế theo pháp luật
2 Diện thừa kế và hàng thừa kế theo pháp luật Việt Nam.
2.1 Diện thừa kế.
Diện thừa kế theo pháp luật là phạm vi những người có thể được hưởng di sản theo pháp luật của người chết nếu giữa họ với người chết đang tồn tại mối quan hệ hôn nhân hoặc quan hệ nuôi dưỡng cho đến thời điểm mở thừa kế hoặc giữa họ có quan hệ huyết thống trong phạm vi hai đời bàng hệ và bốn đời trực hệ
Theo quy định tại Điều 635 BLDS năm 2005 thì người thừa kế theo pháp luật chỉ là
cá nhân và phải là người còn sống vào thời điểm mở thừa kế hoặc sinh ra và còn sống sauthời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản chết Về nguyêntắc, di sản phải được di chuyển cho người còn sống, do vậy người sinh ra mà không cònsống thì không thuộc diện thừa kế theo pháp luật Tuy nhiên, vấn đề xác định khái niệmsinh ra và còn sống trên thực tiễn phải được quy định rõ, bởi nó ảnh hưởng rất lớn đến kỷphần thừa kế của người khác
Ngoài ra, theo khoản 3 Điều 14 BLDS quy định “ năng lực pháp luật của cá nhân có
từ khi sinh ra và chấm dứt khi người đó chết” Tuy nhiên, người đã thành thai trước khi
người để lại di sản chết và sinh ra còn sống thì thuộc diện thừa kế theo pháp luật Để xácđịnh phạm vi những người có quyền hưởng di sản thì phải căn cứ trên ba mối quan hệ:quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống, quan hệ nuôi dưỡng Những người này có mốiquan hệ gần gũi, thân thuộc nhất đối với để lại di sản Tuy nhiên, không phải tất cả nhữngngười này đều được hưởng di sản của người chết để lại Nếu những người trong phạm vinhững người thừa kế di sản có hành vi vi phạm pháp luật theo Điều 643 BLDS thì họ sẽkhông có quyền hưởng di sản
Trang 9Diện những người thừa kế theo pháp luật bao gồm: Vợ chồng của người chết; cha đẻ,
mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết
Ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháuruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại; cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại
Việc xác định diện thừa kế theo pháp luật là việc rất quan trọng bởi đó là cơ sở đểxác định những người có quyền hưởng di sản thừa kế, người không có quyền hưởng disản và đảm bảo quyền, lợi ích của các chủ thể khác trong mối quan hệ thừa kế Mặt khác,việc xác định đúng những trường hợp thuộc diện thừa kế theo pháp luật sẽ ngăn chặnđược những hành vi lừa dối, trái pháp luật nhằm chiếm đoạt tài sản của những ngườikhác
2.2 Hàng thừa kế.
Hàng thừa kế là thứ tự những người thuộc diện thừa kế được hưởng di sản theotrình tự tuyệt đối trên nguyên tắc hàng gần loại trừ xa; tùy thuộc vào mức độ thân thíchvới người để lại di sản, không phân biệt giới tính, độ tuổi, địa vị xã hội; không phụ thuộcvào mức độ năng lực hành vi dân sự và những người trong cùng một hàng thừa kế đượchưởng phần di sản ngang nhau Trong quan hệ thừa kế, có nhiều người thuộc diện thừa
kế theo quy định của pháp luật nhưng không phải tất cả những người đó đều được hưởng
di sản cùng một lúc Căn cứ vào diện thừa kế và mức độ gần gũi với người để lại di sản
mà người thừa kế được hưởng di sản theo trình tự nhất định Việc chia hàng thừa kế có ýnghĩa thiết thực đảm bảo cho những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sảnbằng nhau Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế nếu không còn ai ởhàng thừa kế trước do đã chết hoặc bị truất quyền hưởng thừa kế hoặc từ chối nhận di sảnmột cách hợp pháp
Theo quy định tại Điều 676 BLDS hiện hành thì có ba hàng thừa kế theo pháp luật.Hàng thừa kế thứ nhất gồm: Vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, connuôi của người chết; Hàng thừa kế thứ hai gồm: Ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại,
Trang 10anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; chau ruột của người chết mà người chết là ôngnội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại; Hàng thừa kế thứ ba gồm: Cụ nội, cụ ngoại của ngườichết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của ngườichết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, dì ruột, cô ruột, chắt ruột của ngườichết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.
2.2.1 Hàng thừa kế thứ nhất.
Điểm a, khoản 1 Điều 676 BLDS quy định hàng thừa kế thứ nhất bao gồm:
“ Vợ chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết”
* Người thừa kế là vợ ( chồng).
Cơ sở để vợ, chồng được thừa kế tài sản của nhau là quan hệ vợ chồng Quan hệ vợchồng được xác lập thông quan quan hệ hôn nhân Điều 8 Luật hôn nhân và gia đình năm
2000 đã quy định: “ Việc kết hôn do UBND xã, phường, thị trấn nơi thường trú của một
trong hai người kết hôn công nhận và ghi rõ vào sổ kết hôn theo nghi thức do Nhà nước quy định…”.
hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật, nếu một người chết thì người còn sống vẫnđược thừa kế di sản của người đã chết( khoản 2 Điều 680 BLDS)
- Trong trường hợp vợ, chồng đã chia tài sản chung khi hôn nhân còn tồn tại mà sau đómột người chết, thì người còn sống vẫn được thừa kế di sản của người chết Trong thực tế
có thể xảy ra những trường hợp vợ, chồng có mâu thuẫn, không muốn ly hôn mà muốnsống riêng nên chia tài sản chung Sau đó một người chết, về mặt pháp lý thì họ vẫn là vợchồng, do đó người sống vẫn được thừa kế di sản của người đã chết
Khi chồng hoặc vợ chết thì người vợ hoặc người chồng là hàng thừa kế thứ nhất Nếu họ không khước từ thừa kế, thì đương nhiên có quyền sở hữu đối với phần di sản mình được thừa kế
Vì vậy, khoản 3 Điều 680 BLDS quy định: “Người đang là vợ hoặc chồng của một
người tại thời điểm người đó chết thì dù sau đó đã kết hôn với người khác vẫn được thừa
kế di sản” Trong thực tế, do các điều kiện khách quan pháp luật nước ta còn thừa nhận
hôn nhân thực tế của người chết
Trang 11* Người thừa kế là cha, mẹ, con.
Cha, mẹ là người thừa kế hàng thứ nhất của con đẻ và con đẻ là người thừa kế hàngthứ nhất của cha, mẹ đẻ mình Khái niệm con đẻ bao gồm cả con trong giá thú và ngoàigiá thú, cho nên con ngoài giá thú cũng là người thừa kế hàng thứ nhất của mẹ mình
- Con nuôi và cha nuôi Mẹ nuôi được thừa kế tài sản của nhau và còn được thừa kế tàisản theo quy định tại Điều 677 và Điều 678 BLDS
+ Về phía gia đình cha nuôi, mẹ nuôi, con nuôi chỉ có quan hệ thừa kế với cha nuôi, mẹnuôi mà không có quan hệ thừa kế với cha mẹ và con đẻ của người con nuôi Cha mẹ đẻcủa người nuôi con nuôi cũng không được thừa kế của người con nuôi đó
Trường hợp cha nuôi, mẹ nuôi kết hôn với người khác, thì người con nuôi không đươngnhiên trở thành con nuôi của người đó, cho nên họ không phải là người thừa kế của nhautheo pháp luật
+ Người đã làm con nuôi người khác vẫn có quan hệ thừa kế với cha, mẹ đẻ, ông nội, ôngngoại, bà nội, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột, bác, cô, dì, chú, cậu ruột như ngườikhông làm con nuôi của người khác
- Con riêng và bố dượng, mẹ kế nếu có quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng nhau như cha con,
mẹ con, thì được thừa kế tài sản của nhau và còn được thừa kế tài sản theo quy định tạiĐiều 676 và 677 BLDS
2.2.2 Hàng thừa kế thứ hai.
Hàng thừa kế thứ hai bao gồm: Ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chịruột, em ruột của người chết; chau ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội,ông ngoại, bà ngoại
Ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại là những người thừa kế hàng thứ hai của cháu nội,cháu ngoại Ngược lại, pháp luật dự liệu các trường hợp người chết không còn các conhoặc có con nhưng con không có quyền thừa kế, từ chối nhận di sản thì cháu sẽ đượcthừa kế của ông, bà
Anh ruột, chị ruột, e ruột là người thừa kế hàng thứ hai của nhau Anh ruột, chị ruột, emruột là anh, chị, em cùng mẹ hoặc cùng cha Một người mẹ có bao nhiêu con đó là ace