1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Bài tập lớn dân sự quyền của cá nhân đối với họ tên một số vấn đề lý luận và thực tiễn (8 điểm)

26 153 6

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 215,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỞ ĐẦUBộ luật dân sự Việt Nam năm 2005: Điều 24: Quyền nhân thân: Quyền nhân thân được quy định trong Bộ luật này là quyền dân sự gắn liền với mỗi cá nhân, không thể chuyển giao cho ngườ

Trang 1

MỞ ĐẦU

Bộ luật dân sự Việt Nam năm 2005:

Điều 24: Quyền nhân thân: Quyền nhân thân được quy định trong Bộ luật này là quyền dân sự gắn liền với mỗi cá nhân, không thể chuyển giao cho người khác, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Quyền nhân thân là một trong những quyền cơ bản của con người, đượcpháp luật bảo vệ một cách tuyệt đối, bao gồm một số quyền nhỏ như quyềnđược khai sinh, khai tử, quyền kết hôn, quyền li hôn, và quyền của cá nhânđối với họ tên cũng là một trong số những quyền đó Tuy vậy, trên thực tếviệc áp dụng pháp luật để đảm bảo quyền đối với họ, tên của cá nhân vẫn còntồn tại nhiều bất cập Trước vấn đề này, đề tài “Quyền của cá nhân đối với họtên - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn” là rất cấp thiết, cần có sự nghiên cứu,tìm tòi, đào sâu để làm rõ những vấn đề còn vướng mắc, đem lại sự hoànthiện về pháp luật nói chung và luật dân sự nói riêng

Bài làm không thể tránh khỏi những thiếu sót, em rất mong nhận được sựgóp ý từ các thầy cô để bài làm được hoàn thiện hơn

Em xin chân thành cảm ơn!

Trang 2

NỘI DUNG 1.Một số vấn đề lý luận chung về quyền đối với họ,tên

1.1.Khái niệm quyền nhân thân

Về khái niệm quyền nhân thân, trên thực tế có nhiều quan điểm đề cập đếnvấn đề này và cũng chưa đi đến một định nghĩa thống nhất Có thể kể ra một

số cách định nghĩa sau đây

Theo từ điển luật học của viện nghiên cứu pháp lý, Bộ tư pháp đưa ra địnhnghĩa: “Quyền nhân thân: Quyền dân sự gắn liền với mỗi cá nhân mà khôngthể chuyển giao cho người khác, trừ trường hợp pháp luật có quy địnhkhác…” Theo cách định nghĩa này thì quyền nhân thân đựoc khẳng định làmột loại quyền dân sự gắn liền với mỗi cá nhân, các cá nhân không thểchuyển giao quyền nhân thân của mình cho người khác, trừ trường hợp phápluật quy định Điều này hoàn toàn trùng hợp với nội dung của điều 24 BLDS

2005 đã nêu ra ở trên

Một quan điểm khác, theo nhận định của TS Bùi Đăng Hiếu thì điều 24BLDS 2005 mới chỉ nêu lên khái niệm về quyền nhân thân thông qua hai đặcđiểm cơ bản là: gắn liền với cá nhân, không chuyển dịch Và theo ông, nếuchỉ mới dừng lại ở những đặc điểm đó thì khái niệm quyền nhân thân sẽvướng phải một số bất cập sau đây:

- Thứ nhất, hai đặc điểm nêu trên chưa thực sự đủ để phân biệt quyềnnhân thân với các quyền dân sự khác, bởi lẽ có một số quyền tài sản cũngmang đủ hai đặc điểm này

- Thứ hai, điều 24 BLDS 2005 quy định rằng quyền nhân thân là quyền

“gắn liền với mỗi cá nhân”, vậy thì các chủ thể khác (như pháp nhân, hộ giađình, tổ hợp tác…) có các quyền nhân thân của mình không?

Với các lý lẽ trên, ông đưa ra nhận định: “…phải chăng khái niệm quyềnnhân thân nên được mở rộng không những gắn với mỗi cá nhân mà còn gắnvới các chủ thể khác Ngoài đặc điểm được nêu tại điều 24 BLDS 2005,chúng ta cũng nên bổ sung thêm một số đặc điểm nữa (như: gắn liền với giá

Trang 3

trị tinh thần, không định giá được,…) để phân biệt quyền nhân thân với cácquyền dân sự khác Từ đó chúng ta có thể xây dựng khái niệm quyền nhânthân như sau: Quyền nhân thân là quyền dân sự gắn với đời sống tinh thần củamỗi chủ thể, không định giá được bằng tiền và không thể chuyển giao cho chủthể khác, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác”.

Bên cạnh hai quan điểm trên còn có những quan điểm của các nhà nghiêncứu luật học khác Mỗi quan điểm đều đưa ra những điểm mới riêng trongnhận định của mình Sau khi tham khảo một số ý kiến đã nêu ở trên và cónhững lập luận căn cứ vào các điều luật hiện hành có thể đưa ra khái niệm

quyền nhân thân như sau: Quyền nhân thân là quyền dân sự gắn liền với mỗi chủ thể, không định giá được bằng tiền và không thể chuyển giao cho chủ thể khác trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

1.2.Quyền đối với họ tên

1.2.1.Khái niệm họ, tên

*Họ

Họ để chỉ một tập hợp người cùng tổ tiên, dòng máu Họ là một phầntrong tên gọi, đặt trước tên đệm (nếu có) và tên chính của một người Họ làmột trong những căn cứ để phân biệt những người thuộc dòng máu này vớinhững người thuộc dòng máu khác Việc xác định họ cho nguời Việt Nam cóthể sử dụng theo nhiều cách theo phong tục, tập quán ở các vùng miền khácnhau, ví dụ như

- Họ của một số dân tộc trước kia không có họ nhưng sau 1945 các dântộc này lấy họ Hồ làm họ chung cho tất cả các thành viên

- Họ của các dân tộc thiểu số được chia thành nhóm tên thú Ví dụ nhưnhóm Rvai (hổ) thì có: Rvai Veng Ung, Rvai Xênh Khương…

- Họ được xác định theo chế độ phụ hệ hoặc mẫu hệ, nhưng đa số là phụ

hệ, như dân tộc: Kinh, Hoa…Một số ít dân tộc theo chế độ mẫu hệ như Ê-đê,Chăm…

Trang 4

Họ của người Việt Nam luôn đứng ở vị trí đầu tiên trong cụm họ tên Ví

dụ như cụm họ tên Nguyễn Văn Duy thì “Nguyễn” - từ ở vị trí đầu tiên chính

là họ người đó Đây chính là điểm khác biệt so với họ trong cụm họ tên củacác quốc gia châu Âu Ở các quốc gia này, tên thường đứng trước họ trongcụm họ tên và họ cũng được dùng để gọi, phân biệt người này với người khác

Họ người Việt gồm các họ của người thuộc dân tộc Việt Việt Nam nằm ởkhu vực Đông Dương nên chịu nhiều ảnh hưởng văn hoá từ Trung Quốc lẫncác nước cùng Ấn Độ hay dân tộc Chàm, cho nên họ người Việt cũng vậy.Nhưng đa số những họ này được đọc khác đi một chút so với họ nguyên gốc

để hợp với cách phát âm tiếng Việt Tuy vậy, họ người Việt không nhiều nhưTrung Quốc hay các nước lớn khác Các họ lớn ở Việt Nam đa số đều có mộttriều đại trong lịch sử

Tóm lại, họ của mỗi cá nhân thể hiện dòng máu, gốc gác của bản thân Họcũng là căn cứ, dấu hiệu phân biệt giữa các cá nhân với nhau Về mặt vănhoá, họ thể hiện lịch sử hình thành, phát triển của một tập hợp những người

có cùng dòng máu, huyết thống, về mặt pháp lý, họ có ý nghĩa trong công tácquản lý hộ tịch, những quyền dân sự phát sinh liên quan đến họ tên

*Tên

Tên được chia làm hai loại, đó là tên chính và tên đệm

- Tên đệm: là yếu tố xen giữa họ và tên chính, có thể có hoặc không Tên

đệm có thể gồm một hoặc nhiều từ Ví dụ trong các cụm họ tên sau: Đỗ DuyPhong, Vũ Thu Hằng… thì tên đệm lần lượt là “Duy”, “Thu”… Nhiều khi tênđệm còn có thể dùng để nhận dạng giới tính, đó như là một cách đặt têntruyền thống nhất của nhân dân ta từ xa xưa: Giới nữ thường có đệm là “Thị”

ví dụ như: Nguyễn Thị Hoa, Đỗ Thị Dung…; giới nam thường có đệm là

“Văn”, “Hữu” như: Nguyễn Văn Toàn, Hoàng Hữu Tường… So với trướcđây thì hiện nay tên đệm đã không còn bị bó hẹp trong khuôn khổ kể trên, xuhướng đặt tên đệm cho con đã có những phát triển, có thể lấy họ bố hoặc mẹ(thường là họ mẹ) làm tên đệm cho con, ví dụ như: Hà Vũ Lam Linh, Nguyễn

Trang 5

Hà Oanh…, trong đó “Vũ”, “Hà” là tên đệm cho con lấy từ họ của người mẹ.Bên cạnh đó, cũng không thể phủ nhận chức năng thẩm mỹ của tên đệm,những tên có tên đệm kèm theo sẽ có chức năng thẩm mỹ cao hơn những tênkhông có tên đệm Xu hướng mới xuất hiện trong những năm gần đây, đó làđặt tên không có tên đệm, điều này cũng có thể gây ấn tượng nếu biết cách kếthợp hài hoà giữa họ và tên chính Ví dụ như: Nguyễn Nam, Hoàng Anh…

- Tên chính: Là tên gọi của từng cá nhân, để phân biệt với những cá nhân

khác Tên chính có vị trí đứng cuối trong cụm họ tên Khi đặt tên, người tathường căn cứ vào đặc điểm hoàn cảnh, dòng họ, quê hương, xã hội, ướcvọng của cha mẹ… để lựa chọn cái tên phù hợp Ngoài ra, khi đặt tên, thườngtránh đặt những tên xấu, mang ý nghĩa bất hạnh, tên chính không được trùngvới các bậc trưởng thượng Đây là phong tục được hình thành từ rất lâu đời,theo đó tên người không được trùng với tên thần thánh, vua chúa, nhữngngười thuộc thế hệ trước của gia đình, hay những người cao tuổi cùng làngxóm…

Tóm lại, họ tên là yếu tố nhân thân gắn liền với mỗi cá nhân Cá nhân khisinh ra được đặt tên, cái tên sẽ theo suốt cuộc đời, sự nghiệp Quyền nhânthân của mỗi cá nhân liên quan đến họ tên là quyền mang tính tiên quyết, cơ

sở để hình thành những quyền nhân thân khác của cá nhân Pháp luật điềuchỉnh những quyền nhân thân liên quan đến họ tên cũng cần được hoàn thiện

để đảm bảo quyền lợi của cá nhân

1.2.2.Quyền đối với họ tên

*Khái niệm quyền đối với họ, tên

Điều 26 BLDS 2005: Quyền đối với họ tên:

1.Cá nhân có quyền có họ, tên Họ, tên của một người được xác định theo

họ, tên khai sinh của người đó.

2.Cá nhân xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự theo họ, tên của mình đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận.

Trang 6

3.Việc sử dụng bí danh, bút danh không được gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác.

Trên thực tế chưa có một khái niệm cụ thể nào về quyền đối với họ tên.Điều 26 BLDS 2005 nêu trên cũng không nêu ra một nội hàm khái niệm nào,

mà chỉ đưa ra một cách chung chung Căn cứ một phần vào điều luật này,cùng với những nghiên cứu trong thực tế về những vấn đề phát sinh xung

quanh chuyện họ, tên ta có thể đưa ra khái niệm như sau: Quyền đối với họ, tên của cá nhân là quyền nhân thân pháp luật quy định cho cá nhân quyền

có, sử dụng, khai thác và thay đổi họ, tên để thực hiện quyền và nghĩa vụ dân

sự

* Đặc điểm của quyền đối với họ, tên

Quyền đối với họ, tên là một trong những quyền dân sự về nhân thân,chính bởi vậy nó cũng có những đặc điểm chung của một quyền nhân thân.Ngoài ra, nó còn có một số đặc điểm riêng sau đây:

- Là quyền nhân thân gắn liền với cá nhân:

Quyền nhân thân không chỉ thuộc về cá nhân mà chủ thể của các quan hệpháp luật dân sự khác cũng có quyền đối với nhân thân và được pháp luật bảo

vệ Tuy nhiên không phải tất cả các chủ thể này đều có mọi quyền nhân thânđược quy định trong BLDS 2005

Quyền đối với họ tên là quyền nhân thân gắn liền với hai yếu tố là họ vàtên Yếu tố tên có thể là một giá trị nhân thân gắn liền với các chủ thể khác.Pháp nhân cũng có tên gọi và được quy định trong điều 87 BLDS 2005 Yếu

tố họ để chỉ ra rằng người đó thuộc dòng họ nào, cho chúng ta biết về nguồngốc họ hàng, dòng tộc của mỗi cá nhân Hai yếu tố họ và tên là hai dấu hiệugiúp nhận biết cá nhân, do vậy quyền đối với họ, tên khi xác lập liên quan đếnhai yếu tố này là một quyền nhân thân gắn liền với mỗi cá nhân

- Quyền đối với họ, tên là quyền nhân thân không gắn với tài sản

Theo cách phân loại dựa vào căn cứ phát sinh thì quyền nhân thân đượcchia thành nhóm các quyền nhân thân không gắn với tài sản và nhóm các

Trang 7

quyền nhân thân gắn với tài sản Trong đó, quyền đối với họ, tên thuộc vàoloại quyền nhân thân không gắn với tài sản Bởi quyền nhân thân đối với họ,tên mang tính chất ổn định, tuyệt đối được pháp luật bảo vệ Và trên thực tế,quyền đối với họ, tên là quyền nhân thân mà pháp luật không cho phép đượcchuyển giao giữa cá nhân này với cá nhân khác

- Quyền đối với họ, tên là quyền cá biệt hoá cá nhân

Theo cách phân loại dựa vào đối tượng của quyền mà quyền nhân thân thìquyền đối với họ, tên là một quyền cá biệt hoá cá nhân vì họ, tên là một trongnhững dấu hiệu nhận dạng của cá nhân Việc cá biệt hoá cá nhân thông qua họtên cũng mang những ý nghĩa pháp lý nhất định Trên thực tế, mọi hoạt độngpháp lý, mọi văn bản, giấy tờ pháp lý đều cần ghi rõ họ tên, chữ ký xác nhậncủa cá nhân tham gia Ghi nhận họ tên, chữ ký trong mỗi văn bản mang tínhpháp lý đảm bảo trách nhiệm cũng như quyền lợi của cá nhân

1.3.Quyền đối với họ, tên trong mối liên hệ với các quyền nhân thân khác

Quyền đối với họ, tên là quyền nhân thân đầu tiên, mang tính cơ sở để cácquyền nhân thân khác được thực hiện Những quyền nhân thân này có mốiliên hệ chặt chẽ với nhau

1.3.1.Mối liên hệ giữa quyền đối với họ, tên và quyền được khai sinh

Quyền được khai sinh là quyền đầu tiên của cá nhân từ khi mới sinh ra, làquyền đầu tiên để khẳng định một cá nhân là công dân của một quốc gia.Quyền được khai sinh là quyền cơ sở để thực hiện các quyền khác như quyền

có họ tên, quốc tịch, quyền xác định giới tính, dân tộc… Khi một cá nhânthực hiện quyền được khai sinh của mình, thể hiện trên giấy khai sinh, thìcũng là lúc cá nhân đó có thêm một quyền nhân thân quan trọng khác làquyền đối với họ, tên Tức là quyền đối với họ, tên hình thành ngay sau khiquyền được thực hiện Trong giấy khai sinh, cùng những thông tin cơ bản nhưtên cha, mẹ, ngày sinh… thì tên của đứa trẻ là mục quan trọng, không thểthiếu

Trang 8

1.3.2.Mối liên hệ giữa quyền đối với họ, tên và quyền thay đổi họ, tên

Họ, tên là yếu tố gắn liền với mỗi cá nhân trong mọi hoạt động đời sống.Chính bởi vậy mà họ, tên đối với một người là cực kỳ quan trọng Nhưngkhông phải ai cũng có một cái tên ưng ý, và việc đổi tên họ cũng là một điều

dễ hiểu Đổi tên, họ có thể do nhiều lý do, có thể kể ra một vài lý do thườnggặp: tên xấu, muốn đổi tên có tính thẩm mỹ cao hơn; đổi tên phù hợp vớicông việc của mình; đổi tên vì những lý do cá nhân khác…

Pháp luật không yêu cầu một người bắt buộc phải giữ họ, tên như khaisinh ban đầu Theo đó, pháp luật đưa ra những thủ tục bắt buộc cho những cánhân có nhu cầu có thể thực hiện quyền thay đổi họ, tên của mình, nhằm tạođiều kiện thuận lợi cho họ thỏa mãn được mong muốn của mình Có thể nói,quyền đối với họ, tên là điều kiện cơ sở để có thể có quyền thay đổi họ, tên

1.3.3.Mối liên hệ giữa quyền đối với họ, tên và quyền tác giả

Quyền tác giả là khả năng mà tác giả, chủ sở hữu, người được sử dụng tácphẩm có các quyền nhân thân và quyền tài sản theo quy định của pháp luậtdân sự Điều 738 BLDS 2005, điểm a, khoản 2 có quy định việc đứng tênthật hoặc bút danh trên tác phẩm, được nêu tên thật, bút danh khi tác phẩmđược công bố, sử dụng cũng là một loại quyền nhân thân thuộc quyền tác giả.Đối với mỗi một tác phẩm nghệ thuật hay sản phẩm khoa học, người sáng tạo

ra những tác phẩm hoặc người sở hữu tác phẩm đó có quyền đứng tên thật củamình hoặc đứng tên dưới dạng bút danh Việc sử dụng bút danh là một nộidung của quyền đối với họ, tên và cũng là một quyền thuộc quyền tác giả

2.Quyền đối với họ, tên theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành, thực trạng áp dụng và giải pháp hoàn thiện pháp luật

2.1.Nội dung quyền đối với họ, tên

Quyền đối với họ, tên được quy định trong điều 26 BLDS 2005 như đãnêu ở trên Căn cứ theo điều luật thì quyền đối với họ, tên được hiểu khá sơsài, không rõ ràng và chưa đầy đủ Và nếu chỉ đối chiếu vào điều luật này đểgiải quyết những vấn đề phát sinh trong thực tế thì thật khó để thực hiện và

Trang 9

nhiều khi nó không bao quát được hết những gì đã xảy ra Vậy nội dungquyền đối với họ, tên được xác định như thế nào? Nó có thể bao gồm nhữngnội dung như sau:

2.1.1.Cá nhân có quyền có họ, tên

Ngay từ khi sinh ra, pháp luật đã công nhận những quyền cơ bản của conngười, trong đó có quyền có họ, tên Cá nhân phải tồn tại dưới một họ, tênnhất định được pháp luật công nhận Như đã phân tích ở phần trên, việc xácđịnh họ cho trẻ có thể tùy thuộc vào phong tục, tập quán, cách xác định củanhiều vùng miền, có thể lấy họ theo họ của cha, mẹ, hoặc bất kì họ nàokhác… Tuy nhiên, ở Việt Nam hiện nay, thì việc theo họ cha là phổ biến nhất.Còn đối với việc đặt tên thì hầu như không có một ràng buộc gì cả Bất kì một

từ tiếng Việt nào cũng có thể được lấy làm tên cho trẻ Nhưng phần lớn mọingười đều chọn những từ mang ý nghĩa đẹp đẽ, lành mạnh, có tính thẩmmỹ… để đặt tên

Có thể nói, quyền này được dành cho mỗi cá nhân, nhưng hầu hết là mọingười đều không tự thực hiện được quyền này Không ai là người có thể tựđặt tên cho mình ngay từ khi mới sinh ra, chính bởi vậy mà đã có nhiều tìnhhuống xảy ra trong thực tế về những cái tên được đặt bởi cha mẹ

2.1.2.Cá nhân có quyền sử dụng họ, tên để thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình

Khoản 2, điều 26 BLDS 2005 quy định: “Cá nhân xác lập, thực hiệnquyền, nghĩa vụ dân sự theo họ, tên của mình đã được cơ quan nhà nước côngnhận” Trong thời đại ngày nay, mỗi cá nhân đều phải tham gia vào rất nhiềuhoạt động xã hội hoặc giao dịch, và mọi hoạt động này đều phải được thựchiện với cái tên đã được pháp luật công nhận cho cá nhân đó Việc sử dụng

họ, tên của cá nhân (được thể hiện qua việc ký tên, điểm chỉ) để thực hiệnquyền và nghĩa vụ ( một số hoạt động trong giao dịch hoặc đời sống cần phải

có một số giấy tờ chứng minh) cũng đã được pháp luật quy định rõ trong điều

41 Luật công chứng

Trang 10

Theo các quy định trên, cá nhân được sử dụng họ, tên của mình để đảmbảo quyền và nghĩa vụ khi tham gia các quan hệ pháp luật và các cá nhân phảithực hiện đầy đủ các thủ tục để việc thực hiện quyền và nghĩa vụ được diễn ramột cách thuận lợi, thông qua sự giám sát, kiểm soát của nhà nước Bởi trênthực tế, có khá nhiều trường hợp cá nhân bị người khác sử dụng họ, tên củamình để thực hiện hành vi xấu, gây ảnh hưởng đến danh dự, nhân phẩm Và

do đó, pháp luật đã đưa ra những quy định này để hạn chế, ngăn ngừa nhữngtrường hợp như vậy

2.1.3.Cá nhân được sử dụng bút danh, bí danh một cách hợp pháp

Có thể hiểu đơn giản: Bút danh là tên riêng của các tác giả dùng khi viếtvăn, thơ…, là danh hiệu của những người cầm bút để thay cho tên mình hoặc

đi kèm với tên mình để xác nhận những tác phẩm đó là của mình Ví dụ như:bút danh của nhà thơ Nguyễn Trọng Trí là Hàn Mạc Tử, của Đinh TrọngĐoàn là Ma Văn Kháng… Các bút danh thường gắn liền với những kỷ niệmhoặc giai đoạn nào đó trong cuộc đời của những người cầm bút, theo đó, mộtnhà thơ, nhà văn, có thể có nhiều bút danh Còn bí danh là gì? Bí danh là têndùng thay cho tên thật để hoạt động bí mật, thường được các nhà hoạt độngcách mạng sử dụng trong thời kỳ kháng chiến Ví dụ như bí danh của NguyễnVăn Linh là Mười Cúc…

Bút danh, bí danh cũng như tên gọi vậy, chỉ khác là nó được sử dụng tronglĩnh vực của những người cầm bút và hầu hết nó được chính các tác giả lựachọn cho mình Pháp luật hiện nay cho phép mỗi cá nhân có thể có bí danh,bút danh để phục vụ cho công việc của mình

2.1.4.Cá nhân được thay đổi họ, tên

Cá nhân có quyền có họ, tên nhưng không ai là người được tự đặt tên chomình ngay từ khi sinh ra Và việc không vừa ý với chính cái tên của mình làđiều không khó gặp Đây cũng là một trong những lý do để pháp luật quyđịnh cho con người có quyền được thay đổi họ, tên Ngoài lý do trên, còn có

Trang 11

một số lý do khác dẫn đến việc cá nhân muốn thay đổi tên của mình Có thểtìm hiểu một phần thông qua điều 27 BLDS 2005.

Theo quy định tại điều luật này thì việc thay đổi họ, tên là quyền của mỗi

cá nhân nhưng quyền này chỉ được thực hiện trong những trường hợp màpháp luật đã đưa ra hoặc dự liệu, tức là khả năng này của các cá nhân bị giớihạn Quyền này tạo điều kiện cho các cá nhân có thể lựa chọn cho mình mộtcái tên vừa ý, phù hợp với bản thân, nhiều khi còn giúp người đó có thể dễdàng hòa nhập hơn với cộng đồng (trên thực tế có nhiều người đã bị ảnhhưởng lớn về tâm lý bởi những cái tên không hay, “quá đặc biệt”) Lấy ví dụnhư trường hợp của gia đình ông Nguyễn Văn Thắng, trú tại xã Hợp Tiếnhuyện Mỹ Đức, Hà Nội Gia đình ông có ba người con, gồm hai nam và ngườicon út là nữ Ông lần lượt đặt tên cho các con là Nguyễn Văn Ếch, NguyễnVăn Nhái và Nguyễn Thị Cóc chỉ với một lý do đơn giản: tuổi thơ ông đi làmđồng gắn liền với những con vật này, ông muốn các con mãi nhớ về quá khứkhổ cực của cha để phấn đấu tốt hơn Không biết sau này các con ông sẽ phấnđấu như thế nào, sẽ thành công ra sao theo ước nguyện của ông, nhưng hiệntại thì họ đang cảm thấy rất xấu hổ với bạn bè trong trường lớp vì những cáitên “độc đáo của mình”

Việc đổi tên nhiều khi lại vấp phải những ý kiến không đồng tình từ chínhnhững người cha, người mẹ đã đặt ra cái tên ấy, mặc dù biết nó đã, đang và sẽgây ảnh hưởng không tốt tới con của mình Có điều này cũng một phần là do

họ ngại những thủ tục pháp lý lằng nhằng khi muốn thay đổi tên Và điều đócũng dẫn đến một thực tế là quyền này chưa được thực hiện một cách triệt đểnhất

2.2.Các hành vi xâm hại quyền đối với họ, tên

2.2.1.Sử dụng họ tên của người khác mà không có sự cho phép của người đó

Sử dụng họ, tên của người khác dưới bất kỳ hình thức, với bất kỳ mụcđích nào khi không được sự cho phép của người họ đều là xâm hại đến quyền

Trang 12

đối với họ, tên của người khác Đây là hình vi vi phạm thường xuyên xảy ranhất trong số các hành vi xâm phạm quyền đối với họ, tên Điều này đượcbiểu hiện rõ nhất và nhiều nhất thông qua các hoạt động biểu diễn nghệ thuậtphong phú hiện nay Hiện tượng các ông bầu, công ty tổ chức sự kiện tungthông tin giả về danh sách các nghệ sĩ (những nghệ sĩ có tên tuổi) sẽ góp mặttrong chương trình của mình đã không còn xa lạ với những người xem Điềunày gây ra nhiều bức xúc cho khán giả, ảnh hưởng tới niềm tin của khán giảđối với những người nghệ sỹ - những người đã bị lợi dụng tên tuổi của mình

để thực hiện những hành vi lừa dối nhằm thu lợi nhuận Cùng với đó, uy tíncủa chính công ty tổ chức sự kiện đó cũng sẽ bị ảnh hưởng Có thể lấy trườnghợp của cá sỹ Phương Thanh ra làm ví dụ điển hình cho hành vi xâm phạmnày Ca sỹ Phương Thanh tỏ ra bức xúc vì không hiểu vì đâu, được làm kháchmời của nhiều chương trình Chương trình "Đồng hành cùng Tuấn Khanhdance" diễn ra vào tối 4/7 được Ban tổ chức thông báo, có khách mời là ca sĩPhương Thanh Tuy nhiên, sáng 2/7, họ báo lại, Phương Thanh sẽ không gópmặt trong đêm diễn Khi VnExpress.net liên lạc với Chanh thì được biết, sựthật là chị không nhận được bất cứ lời mời nào từ phía tổ chức hay ca sĩ TuấnKhanh Phương Thanh tỏ ra bức xúc vì đây không phải lần đầu tiên chị bị

"dính" vào trường hợp như thế "Họ tự cung cấp thông tin cho báo chí màchẳng nói với tôi một lời Đến khi tôi hỏi lại thì họ xin lỗi và giải thích rằng,gắn tên tôi vào để giúp chương trình thêm khách Làm như vậy là lừa khángiả, không thể chấp nhận được Chỉ cần họ đích thân mời tôi một tiếng, tôisẵn lòng giúp đỡ", chị nói

Hiện tượng này đã xuất hiện từ lâu, và cũng có những vụ việc bị phát giác

do chính những nghệ sỹ lên tiếng làm sáng tỏ để lấy lại uy tín cho mình.Nhưng tại sao nó vẫn chưa bị ngăn chặn một cách triệt để? Phải chăng là dopháp luật chưa có những quy định cụ thể, những chế tài xử phạt và chưa thực

sự làm “mạnh tay” với những trường hợp như thế này?

Trang 13

2.2.2.Xâm phạm quyền đối với họ, tên của người có trách nhiệm khai sinh cho trẻ

Cá nhân có quyền có họ, tên nhưng việc thực hiện quyền năng này hầu hếtlại không được do chính bản thân mình thực hiện (đều được cha mẹ, ngườiđại diện đặt tên rồi làm giấy khai sinh ngay từ khi mới sinh ra) Do vậy việcthực hiện quyền này của trẻ lại do người khác đảm nhiệm Vậy nếu người đạidiện này không đăng ký giấy khai sinh cho trẻ thì cũng có nghĩa là đã xâmphạm đến quyền đối với họ, tên của trẻ và sẽ phải chịu hoàn toàn trách nhiệmtheo quy định của pháp luật

2.2.3.Hành vi xâm phạm đến quyền đối với họ, tên cá nhân của cơ quan

có thẩm quyền lại có những hành vi gây khó dễ cho các cá nhân khác thựchiện quyền của mình Có thể lấy một ví dụ một trường hợp đã xảy ra trongthực tế như sau: Hai vợ chồng anh Nguyễn Hoàng Long và chị Trần Thị Hạnh(cùng trú tại thị trấn Vân Đình, huyền Ứng Hòa, Hà Nội) sinh ra một bé gái

và đặt tên con là Nguyễn Minh Tâm Sau khi làm giấy khai sinh cho con đượcgần một năm, mới biết tên Tâm trùng với tên của người bà là em gái bà nộicủa Tâm, thông qua một người họ hàng từ quê mới ra chơi Sở dĩ hai anh chịkhông biết đã đặt tên con trùng với tên người lớn tuổi trong gia đình vì bố mẹanh Tâm đã mất từ sớm, họ hàng gia đình lại không có nhiều, và anh cũng đã

xa quê từ nhỏ để kiếm sống Biết được sự việc như vậy, hai anh chị đã thốngnhất sẽ đổi tên cho con của mình thành Nguyễn Minh Phương Nhưng khi lênchính quyền địa phương xin làm thủ tục thì lại nhận được câu trả lời là trườnghợp này không thuộc vào các trường hợp có thể thay đổi họ, tên như trong

Ngày đăng: 21/03/2019, 15:38

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w