1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bài tập lớn dân sự 1 quyền của cá nhân đối với hình ảnh 8 điểm

23 266 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 46,93 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

khái niệm được đưa ra ở trên ta có thể hiểu “Quyền đối với hình ảnh của cá nhân là quyền nhân thân gắn liền với mỗi cá nhân được pháp luật ghi nhận và bảo vệ, theođó cá nhân được phép sử

Trang 1

MỞ BÀI

Một xã hội càng tiến bộ, phát triển bao nhiêu thì quyền nhân thân của cá nhâncàng được pháp luật tôn trọng và mở rộng bấy nhiêu Cùng với sự phát triển của đấtnước, quyền nhân thân của cá nhân cũng ngày càng được công nhận và bảo vệ caohơn trong pháp luật Việt Nam Từ Bộ luật Dân sự 1995 đến BLDS 2005, pháp luật đã

mở rộng thêm quyền nhân thân của cá nhân từ 20 quyền lên thành 26 quyền nhânthân trong đó bổ sung thêm các quyền như quyền hiến bộ phận cơ thể; quyền hiếnxác, hiến các bộ phận trên cơ thể sau khi chết; quyền nhận bộ phận cơ thể người;quyền xác định lại giới tính…Trong các quyền nhân thân của cá nhân, ta không thể

không nhắc đến “Quyền của cá nhân đối với hình ảnh”, được quy định tại điều 31

BLDS năm 2005

NỘI DUNG I.Hình ảnh và quyền đối với hình ảnh của cá nhân

1 Khái niệm hình ảnh.

Hình ảnh là sự phản ánh một phần hoặc toàn bộ biểu hiện bề ngoài của conngười Hình ảnh của một người có thể được nghi nhận trong nhiều tình huống và ở

Trang 2

nhiều góc độ, do đó rất đa dạng Có thể kể ra: hình ảnh chân dung, hình ảnh sinh hoạt,hình ảnh làm việc, hình ảnh vui chơi, thư giãn, vv

Hình ảnh có hình thức thể hiện vật chất đa dạng Trong một thời kỳ rất dài, hìnhảnh được ghi lại trên giấy, còn trong cuộc sống hiện đại, nhờ kỹ thuật số, việc ghinhận và lưu giữ hình ảnh có thể được thực hiện bằng các phương tiện điện tử đặc biệt

là trong máy vi tính cá nhân

Dưới góc độ pháp lý, hình ảnh của cá nhân nói tại điều 31 BLDS năm 2005 baogồm ảnh chụp, ảnh vẽ, ảnh do quay phim về một người cụ thể Ngoài ra có thể suyluận tương tự rằng tượng của cá nhân cũng thuộc đối tượng của quyền nhân thân nhưhình ảnh vậy Trong hình ảnh có thể có ghi tên hoặc không ghi tên của người có hìnhảnh đó Trong thực tế có những trường hợp ảnh của một người (đặc biệt là ảnh vẽ)nhưng không hoàn toàn giống với người đó, hoặc ảnh của người này nhưng rất giốngvới người khác (trường hợp hai người được sinh đôi chẳng hạn) do đó vấn đề sẽ rấtphức tạp và cần phải định ra những căn cứ cụ thể để giải quyết Có hai căn cứ quantrọng để xác định hình ảnh của một người Một là hỉnh ảnh đó được tạo ra (vẽ, chụp,quay phim, ) từ con người thực cụ thể nào? Hai là, hình ảnh đó có giống với ngườithực đã được vẽ, chụp, quay phim hay không ? Ngoài ra trong từng trường hơp cụthể cần phải căn cứ vào cả những tình tiết cụ thể khác để xác định

2 Khái niệm quyền nhân thân đối với hình ảnh.

Theo quy định tại điều 24 BLDS năm 2005 thì quyền nhân thân là quyền dân sự gắn liền với mỗi cá nhân, không thẻ chuyển giao cho người khác, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác Hình ảnh của cá nhân được pháp luật tôn trọng và bảo vệ

bằng việc quy định là một quyền của cá nhân tại điều 31 BLDS năm 2005 với tên gọi

là “quyền đối với hình ảnh của cá nhân” Tuy nhiên điều luật này không đưa ra khái

niệm về quyền đối với hình ảnh của cá nhân, các văn bản pháp luật khác cũng không

có văn bản nào đưa ra khái niệm về quyền đối với hình ảnh Vì vậy, để giúp cho việchiểu rõ bản chất của quyền nhân thân đối với hình ảnh của cá nhân, căn cứ vào các

Trang 3

khái niệm được đưa ra ở trên ta có thể hiểu “Quyền đối với hình ảnh của cá nhân là quyền nhân thân gắn liền với mỗi cá nhân được pháp luật ghi nhận và bảo vệ, theo

đó cá nhân được phép sử dụng và cho phép người khác sử dụng hình ảnh của mình”.

Hình ảnh của cá nhân quy định tại điều này không hàm chứa nghĩa rộng là dáng hình,điệu bộ của cá nhân hoặc là sự hình dung về một người trong trí tưởng tượng, trongtâm tư, tình cảm của người khác

3 Đặc điểm quyền nhân thân đối với hình ảnh của cá nhân.

- Quyền nhân thân đối với hình ảnh thuộc nhóm quan hệ nhân thân không gắn với tàisản Đặc tính không gắn với tài sản là một trong nhưng đặc tính cơ bản để phân biệtnhân thân không gắn với tài sản với quyền nhân thân gắn với tài sản (quyền đứng têntác giả, quyền đặt tên cho tác phẩm…) Vì quyền nhân thân đối với hình ảnh luôn gắnvới chính hình ảnh bản thân của người đó và mỗi một chủ thể có một hình ảnh riêngbiệt Mỗi chủ thể được công nhận một cách vô điều kiện với quyền nhân thân gắn vớihình ảnh Hình ảnh bên ngoài của cá nhân là yếu tố nhận dạng cá nhân đó, không phải

là một loại tài sản để đem ra giao dịch Điều này hoàn toàn khác với quyền tài sản đốivới hình ảnh, vì quyền tài sản đối với hình ảnh nghĩa là hình ảnh của cá nhân được sửdụng trong giao dịch thương mại, quảng cáo Quyền này được phép mang ra kinhdoanh nhằm thu lại lợi nhuận cho bản thân cá nhân Do đó khi sử dụng hình ảnh của

cá nhân phải được sự đồng ý của người đó (nếu người đó còn sống) hoặ được sự đồng

ý của thân nhân (cha, mẹ, vợ, chồng, con trong trường hợp người đó đã chết hoặcmất năng lự hành vi dân sự) Quyền nhân thân đối với hình ảnh được công nhận đốivới mọi cá nhân một cách bình đẳng và suốt đời, không phụ thuộc vào bất cứ hoàncảnh kinh tế, địa vị hay mức độ tài sản của người đó

- Quyền nhân thân đối với hình ảnh là quyền không thể bị kê biên: quyền nhân thânđối với hình ảnh không thể đươc kê biên và đem ra bán trong khuôn khổ một vụcưỡng chế để thực hiện nghĩa vụ trả tiền Về mặt kỹ thuật, đây là hệ quả của tính chấtkhông thể chuyển giao của quyền nhân thân: suy cho cùng, chẳng có lợi ích để kê

Trang 4

biên một vật thuộc về một người, dù có giá trị tiền tệ, mà người ta không thể chuyểngiao quyền sở hữu cho người khác.

- Quyền nhân thân đối với hình ảnh là quyền nhân thân của cá nhân Đây là quyềnkhông thể được chuyển giao, gắn liền với chủ thể của quyền đó: sự tồn tại của chủ thểcũng chính là lý do tồn tại của quyền; cũng chính sự tồn tại của chủ thể quyết định giátrị xã hội của quyền, đồng thời là điều kiện để giá trị đó được tồn tại Đặc điểm nàynhằm phân biệt giữa quyền nhân thân của cá nhân đối với hình ảnh và quyền đối vớihình ảnh của pháp nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác

- Quyền nhân thân đối với hình ảnh là quyền liên quan đến sự cá biệt hóa cá nhân.Cùng với quyền của cá nhân đối với họ tên (điều 26) và dân tộc (điều 28), quyền nhânthân đối với hình ảnh quy định tại điều 31 BLDS thuộc quyền cá biệt hóa cá nhân.Đây là những quyền nhân thân tuyệt đối, gắn liền với bản thân cá nhân đó Quyềnnhân thân liên quan đến sự cá biệt hóa cá nhân là những quyền nhân thân ghi nhậnnhững đặc điểm của mỗi cá nhân trong quan hệ xã hội nói chung và trong quan hệdân sự nói riêng Quyền cá biệt hóa chủ thể được thể hiện dưới hình thức các công cụ

cá biệt hóa khác nhau ở mỗi chủ thể như mỗi người có tên gọi, hình ảnh và các yếu tố

lý lịch khác nhau Tập hợp các công cụ cá biệt hóa đó ở mỗi chủ thể sẽ cho ra sự hìnhdung bên ngoài về chủ thể đó khác biệt với chủ thể khác

- Quyền nhân thân đối với hình ảnh là quyền nhân thân được bảo hộ vô thời hạn.Quyền này không mất đi do thời hiệu, quyền luôn tồn tại ngay cả trong trường hợpkhông được sử dụng trong một thời gian dài Quyền nhân thân đối với hình ảnh của

cá nhân được pháp luật ghi nhân và bảo hộ vĩnh viễn Khi chủ thể không còn nữa thìnhững người có liên quan được qyền yêu cầu bảo vệ khi có hành vi xâm phạm Cụ thể

tại khoản 2 Điều 31 BLDS năm 2005 quy định như sau: “Việc sử dụng hình ảnh của

cá nhân phải được người đó đồng ý; trong trường hợp người đó đã chết, mất năng lực hành vi dân sự, chưa đủ 15 tuổi thì phải được cha, mẹ, vợ, chồng, con đã thành niên hoặc người đại diện của người đó đồng ý, trừ trường hợp vì lợi ích của nhà nước, của công cộng hoặc pháp luật có quy định khác” Như vậy khi còn sống nếu

Trang 5

như việc công bố hình ảnh mà không được sự đồng ý của họ thì sẽ ảnh hưởng trựctiếp đến cuộc sống sinh hoạt của bản thân cá nhân đó (chủ sở hình ảnh) thì khi cánhân chết, hình ảnh cá nhân vẫn được pháp luật bảo vệ bởi điều đó sẽ ảnh hưởng trựctiếp đến đời sống sinh hoạt của những người thân thích của họ Theo đó, việc thu thậpcông bố hình ảnh của cá nhân khi cá nhân đã chết thì phải được cha, mẹ, vợ, chồng,con đã thành niên hoặc người đại diện của họ đồng ý.

- Quyền nhân thân đối với hình ảnh là quyền được bảo vệ khi có yêu cầu Khi quyềnnhân thân của cá nhân đối với hình ảnh bị xâm phạm thì cá nhân có hình ảnh bị xâmphạm phải là người đánh giá xem quyền nhân thân đối với hình ảnh của mình có bịxâm phạm hay không? Nhà nước sẽ chỉ can thiệp và bảo vệ khi có yêu cầu

- Quyền nhân thân đối với hình ảnh thuộc nhóm các hành vi xâm phạm tác động vàovật phẩm liên quan đến quyền Việc sử dụng hình ảnh của cá nhân gián tiếp đã xâmphạm tới quyền nhân thân của cá nhân đỗi với hình ảnh Khi quyền nhân thân của cánhân đối với hình ảnh bị xâm phạm dẫn tới danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân bịxâm phạm Đồng nghĩa với việc cá nhân đó phải gánh chịu những tổn thất trực tiếp dohành vi xâm phạm đó gây ra Khắc phục những hậu quả này chủ thể có hành vi xâmphạm tác động tới quyền được yêu cầu buộc chấm dứt hành vi xâm phạm, buộc phảixin lỗi, cải chính công khai và được bồi thường một khoản tiền nhằm bù đắp mộtphần nào đó thiệt hại về tình thần của mình

4 Ý nghĩa của việc bảo vệ quyền đối với hình ảnh của cá nhân.

- Đối với chính chủ có hình ảnh, có thể thấy “ hình ảnh” là yếu tố tinh thần gắn liền

với bản thân chủ thể, nó có ý nghĩa rất lớn đối với đời sống tinh thần của họ, mỗihành vi xâm phạm đến hình ảnh của cá nhân trên thực tế thường ảnh hưởng sâu sắctới đời sống tinh thần của cá nhân đó, vì không chỉ xâm phạm hình ảnh thôi mà cònxâm phạm tới danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân, bởi vậy việc bảo vệ quyền đốivới hình ảnh của cá nhân có ý nghĩa lớn trong việc ngăn chặn kịp thời hành vi xâm

Trang 6

phạm đến hình ảnh của cá nhân, giúp khắc phục được một phần hậu quả về vật chấtcũng như tinh thần cho chủ thể bị xâm hại, tạo điều kiện cho cá nhân yên tâm học tập

và lao động

- Về phía Nhà nước việc bảo vệ quyền của cá nhân đối với hình ảnh góp phần hiệnthực hóa nôi dung các chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước vềbảo vệ quyền nhân thân của cá nhân, từ đó tăng cường lòng tin của nhân dân vàoĐảng và Nhà nước, vào quy định của pháp luật, để mọi người sống và thực hiện theohiến pháp và pháp luật

- Việc bảo vệ hình ảnh của cá nhán còn có ý nghĩa to lớn đối với xã hội đó là bảo đảmtrật tự xã hội và giáo dục ý thức pháp luật làm cho mọi người tôn trọng quyền đối vớihình ảnh của cá nhân

II Nội dung quy định của pháp luật dân sự Việt Nam về quyền nhân thân đối với hình ảnh của cá nhân.

1 Nội dung quyền nhân thân đối với hình ảnh của mình.

Ngay tại khoản 1 điều 31 BLDS năm 2005 quy định “ Cá nhân có quyền đối với hình ảnh của mình ” Đây là sự khẳng định của nhà nước về quyền của cá nhân đối

với hình ảnh của bản thân mình Thông qua quy định tại điều 31 BDS năm 2005 chothấy nội dung của quyền nhân thân đối với hình ảnh của cá nhân gồm: (i) Quyền đượcphép sử dụng hình ảnh của mình; (ii) quyền cho người khác sử dụng hình ảnh củamình; (iii) Quyền được bảo vệ đối với hình ảnh của cá nhân trước hành vi sử dụnghình ảnh trái phép

Thứ nhất: cá nhân có quyền sử dụng hình ảnh của mình.

Hình ảnh là yếu tố nhân thân gắn liền với cá nhân nên trước tiên chính bản thân

cá nhân đó được quyền sử dụng Việc sử dụng hình ảnh của cá nhân thông qua việc tựkhai thác giá trị thương mại hình ảnh của bản thân bằng việc bán hình ảnh của mình

Trang 7

cho người khác sử dụng và nhận tiền Ví dụ: Nguời mẫu ký hợp đồng với các nhiếpảnh gia, theo đó các nhiếp ảnh gia phải trả tiền để được chụp ảnh họ.

Như vậy, quyền đối với hình ảnh là quyền nhân thân gắn liền với mỗi cá nhân nên

cá nhân có quyền được phép sử dụng hình ảnh của mình

Thứ hai: Cá nhân có quyền cho người khác sử dụng hình ảnh của mình.

Tại khoản 2 Điều 3 BLDS năm 2005 quy định: “Việc sử dụng hình ảnh của cá

nhân phải được người đó đồng ý; trong trường hợp người đó đã chết, mất năng lực hành vi dân sự, chưa đủ 15 tuổi thì phải được cha, mẹ, vợ, chồng, con dã thành niên hoặc người đại diện của người đó đồng ý, trừ trường hợp vì lợi ích của nhà nước, lợi ích công cộng hoặc pháp luật có quy định khác” Như vậy quyền định đoạt cho chủ thể khác sử dụng hình ảnh của cá nhân được thể hiện ở việc chủ sở hữu ảnh “đồng ý”

cho sử dụng ảnh Xét về khía cạnh bản quyền thì bức ảnh, tấm hình, pho tượng… đều

là tác phẩm nghệ thuật và được bảo hộ quyền tác giả Người sử dụng tác phẩm trướchết phải xin phép chủ sở hữu quyền tác giả và trả cho họ một khoản lợi ích vật chấtnhất định Nhưng dừng lại về mặt quan hệ dân sự, ai muốn sử dụng hình ảnh của cánhân đều phải được sự đồng ý của người có hình ảnh đó

Tóm lại đối với hình ảnh của mình, cá nhân có quyền tuyệt đối được phép sửdụng và cho người khác sử dụng hình ảnh của mình, mọi hành vi sử dụng hình ảnhnói chung đều phải được sự đồng ý của cá nhân đó

Thứ ba: Quyền được bảo vệ đối với hình ảnh của cá nhân trước hành vi sử dụng trái

phép Ta thấy quyền nhân thân nói chung trong đó có quyền của cá nhân đối với hìnhảnh thuộc thẩm quyền tuyệt đối, thể hiện sự ghi nhận của nhà nước đối với các giá trịtinh thần của cá nhân, bất kỳ hành vi xâm phạm quyền nhân thân nào cũng sẽ phảichịu một trách nhiệm pháp lí: Trách nhiệm đó có thể là trách nhiệm hình sự, hànhchính hay dân sự Hiện nay, pháp luật quy định cá biện pháp bảo vệ và khôi phục cácquyền nhân thân của công dân đó Theo đó, người xâm phạm quyền nhân thân đối vớihình ảnh của người khác thì dù có cố ý hay vô ý đều có nghĩa vụ chấm dứt hành vi viphạm, xin lỗi cải chính công khai, nếu gây thiệt hại phải bồi thường thiệt hại Theo

Trang 8

quy định tại điều 31 BLDS năm 2005, không nhất thiết phải gây ra thiệt hại mới coi

là vi phạm quyền nhân thân đối với hình ảnh nếu sử dụng hình ảnh của họ mà khôngđược đồng ý

2 Mối quan hệ giữa quyền nhân thân đối với hình ảnh với nhóm quyền nhân thân liên quan đến giá trị tinh thần của con người

Nhóm các quyền nhân thân liên quan đến giá trị tinh thần của chủ thể bao gồm:Quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm uy tín, quyền bí mật đời tư, quyền bất khảxâm phạm về chỗ ở, quyền tự do tin ngưỡng, tôn giáo, quyền đi lại, tự do cư trú,quyền lao động, quyền tự do kinh doanh, quyền tự do nghiên cứu, sáng tạo nhữngquyền đó thì có hai quyền liên quan mật thiết với quyền đối với hình ảnh của cá nhân

là : Quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín và quyền bí mật đời tư Việc xácđịnh rõ mối liên hệ giữa các quyền này có ý nghĩa lớn trong việc đảm bảo thực hiệnquyền của cá nhân đối với các quyền nhân thân của mình được pháp luật thừa nhận

Thứ nhất: trong một số trường hợp quyền nhân đối với hình ảnh có quan hệ chặt chẽ

với quyền bí mật đời tư

Giống như quyền nhân thân đới với hình ảnh, hiện nay chưa có quy định như thế

nào là quyền bí mật đời tư trong BLDS 2005 Theo tiến sĩ Lê Đình Nghị: “Quyền bí mật đời tư là những thông tin, tư liệu (gọi chung là thông tin) về tinh thần, vật chất, quan hệ xã hội và những thông tin khác liên quan đến cá nhân trong quá khứ cũng như trong hiện tại, được pháp luật bảo vệ và những thông tin đó được bảo mật bằng

những biện pháp mà pháp luật thừa nhận” Trong khoản 2 Điều 38 BLDS quy định:

“Việc thu thập, công bố thông tin, tư liệu về đời tư của cá nhân phải được người đó đồng ý; trong trường hợp người đó đã chết, mất năng lực hành vi dân sự, chưa đủ 15 tuổi thì phải được cha, mẹ, vợ, chồng, con đã thành niên hoặc người đại diện của người đó đồng ý, trừ trường hợp thu thập công bố thông tin, tư liệu theo quy định của

cơ quan, tổ chức có thẩm quyền” Vì vậy, trong một số trường hợp nhất định quyền

nhân thân đối với hình ảnh của cá nhân có liên quan đến bí mật đời tư như Trườnghợp hình ảnh của cá nhân là hình ảnh riêng tư, cá nhân không muốn tiết lộ thì việc

Trang 9

công bố hình ảnh của cá nhân đó là xâm phạm tới bí mật đời tư, hoặc là hình ảnh mà

cá nhân giữ kín và việc giữ kín được pháp luật tôn trọng và bảo vệ hoặc cũng có thể

là hình ảnh được thể hiện chung với người khác mà cá nhân không muốn tiết lộ, côngkhai và hơn thế nữa những hình ảnh đó bị tiết lộ có thể gây hậu quả về vật chất, tinh

thần cho chủ thể của hình ảnh thì đây cũng được coi là “bí mật đời tư của cá nhân”.

Như vậy cá nhân có quyền khởi kiện hành vi xâm phạm quyền bí mật đời tư nếumột chủ thể nào đó công bố những hình ảnh của cá nhân mà cá nhân thực hiện việcgiữ bí mật hình ảnh đó Trong trường hợp này thì quyền bí mật đời tư có liên hệ vớiquyền đối với hình ảnh của cá nhân, hành vi sử dụng trái phép hình ảnh của cá nhân ởmột góc độ nào đó được xác định là hành vi xâm phạm quyền bí mật đời tư Trênthực tiễn hiện nay có nhiều những hành vi sử dụng hình ảnh của cá nhân đã xâmphạm đến quyền bí mật đời tư như: hành vi quay phim, chụp ảnh, công bố nhữngcảnh quay hoặc những hình ảnh về đời sống riêng tư của một người mà mình đã từngquay, đã chụp được mà chưa được sự đồng ý của người được quay được chụp…

Thứ hai: Mối quan hệ giũa quyền đối với hình ảnh của cá nhân với quyền được bảo

vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín

Hình ảnh của cá nhân cũng là một yếu tố gắn liền với danh dự, nhân phảm, uytín, nó là một trong những yếu tố để nhận diện, xác định danh dự, uy tín, vì vậy quyềnđối với hình ảnh của cá nhân có liên hệ mật thiết đối với quyền được bảo vệ danh dự,nhân phẩm, uy tín Sự liên hệ đó thể hiện ở chỗ hình ảnh của cá nhân có thể làm tănggiá trị của cá nhân hoặc có thể làm giảm sút, ảnh hưởng xấu đến danh dự, nhân phẩm,

uy tín

- Hình ảnh của cá nhân làm tăng giá trị của cá nhân đó Ta đã biết với cá nhân “Danh

dự là sự đánh giá của xã hội đối với một cá nhân về mặt đạo đức, phẩm chất chính trị và năng lực của người đó,danh dự của một người được hình thành từ những hành động và cách cư xử của người đó, từ công lao và thành tích mà người đó có được; uy

Trang 10

tín là giá trị về mặt đạo đức và tài năng được công nhận ở một cá nhân thông qua hoạt động thực tiễn của mình bởi mức mà người trong tổ chức, một dân tộc cảm

phục, tôn kính và tự nguyện nghe theo.” Do vậy nếu hình ảnh của một cá nhân mỗi

khi được xuất hiện trước công chúng thông qua các phương tiện thông tin mà đượcphản ánh chân thực về những thành công trong cuộc sống, sự nghiệp, công danh…thìcác nhân đó ngày càng tạo được tiếng tăm trước mội người và được mội người yêumến, khâm phục…điều này làm tăng giá trị của bản thân người đó

- Hình ảnh của cá nhân có thể làm giảm sút, hình ảnh xấu đến danh dự, nhân phẩm,

uy tín Danh dự, nhân phẩm, uy tín của con người rất quan trọng, mặc dù là những giátrị nhân thân không giá trị được thành tiền, tuy nhiên xâm phạm đến những giá trị này

có thể có thể ảnh hưởng dến sự tồn tại và phát triển của chủ thể bị xâm hại, thiệt hại

mà chủ thể bị xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín phải gánh chịu bao gồm cả thiệthại về vật chất lẫn tinh thần, hậu quả do xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín là rấtnghiêm trọng trên thực tiễn hành vi xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín thườngdiễn ra dưới nhiều hành vi, một trong số đó có hành vi sử dụng hình ảnh cá nhân như:Đem ảnh của một người phát tán trên mạng sau khi đã có sự cắt xén hình ảnh hoặcđưa hình ảnh có nội dung không lành mạnh nhằm bôi nhọ danh dự một người hay như

phát tán những hình ảnh “nhạy cảm” của cá nhân… có thể thấy cách thức sử dụng

hình ảnh của cá nhân để xâm phạm tới danh dự, nhân phẩm, uy tín của một ngườiđược thực hiện rất dễ dàng hiện nay với sự trợ giúp của phương tiện thông tin hiệnđại, do đó bảo vệ quyền của cá nhân đối với hình ảnh của mình cũng góp phần hạnchế không nhỏ hành vi xâm phạm tới danh dự, nhân phẩm, uy tín của chủ thể

Như vậy, quyền đối với hình ảnh của cá nhân có quan hệ đới với quyền đượcbảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín bởi thông qua hành vi sử dụng hình ảnh của cánhân có thể xâm phạm tới danh dự, nhân phẩm, uy tín của một người Chính vì vậy,BLDS năm 2005 đã bổ sung thêm quy định mới so với BLDS năm 1995 về quyền đối

với hình ảnh của cá nhân tại khoản 3 điều 31 như sau: “ Nghiêm cấm việc sử dụng

Trang 11

hình ảnh của người khác mà xâm phạm tới danh dự, nhân phẩm uy tín của người có hình ảnh”.

Như vậy hình ảnh của cá nhân dù hợp pháp có sự đồng ý của cá nhân nhưng nếuxâm phạm tới danh dự nhân phẩm, uy tín của người đó thì là vi phạm pháp luật Vớiquy định như trên pháp luật đã hạn chế được việc sử dụng tùy tiện hình ảnh của cánhân hiện nay

3 Giới hạn quyền nhân thân đối với hình ảnh.

- Giới hạn quyền nhân thân đối với hình ảnh của cá nhân trong mối quan hệ vớiquyền được thông tin Quyền được thông tin có phạm vi rộng, liên quan mật thiết vớiquyền tự do ngôn luận, tự do báo chí Tuyên ngôn toàn thế giới về nhân quyền quy

định: “Mọi người đều có quyền tự do ngôn luận và bày tỏ ý kiến Quyền này bao gồm quyền tự do giữ quan điểm và không có sự can thiệp và tự do tìm kiếm, tiếp nhận và chia sẻ các ý tưởng, thông tin bằng bất kỳ phương tiện truyền thông nào không có biên giới” Như vậy, quyền tự do thông tin bao gồm những nội dung sau: tự do tìm

kiếm thông tin và tự do tiếp nhận thông tin Tại điều 69 hiến pháp 1992 quy định “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, có quyền được thông tin” Tronghoạt động báo chí, báo chí cung cấp rất nhiều thông tin, hình ảnh mọi mặt của đờisống Các bản tin truyền hình tập trung chủ yếu vào hình ảnh Quyền tự do báo chí vìvậy rất dễ xung đột với quyền của cá nhân đối với hình ảnh, có thể thấy quyền của cánhân đối với hình ảnh của mình đã bị giới hạn bởi quyền tự do báo chí Theo khoản 3

điều 5 nghị định 51/2002/NĐ-CP ngày 26/04/2002 của chính phủ quy định báo chí “ Không được đăng hình ảnh của cá nhân mà không có chú thích rõ ràng hoặc làm ảnh hưởng đến uy tín, danh dự của cá nhân đó ( trừ ảnh thông tin các buổi họp công khai, sinh hoạt tập thể, các buổi lao động, biểu diễn nghệ thuật, thể dục thể thao, những người có lệnh truy nã, các cuộc xét xử công khai của tòa án, những người phạm tội trong các vụ án đã bị tuyên án )” Theo quy định này, báo chí có quyền

đăng ảnh cá nhân mà không cần phải xin phép nhưng phải có ghi chú thích hợp vàkhông làm ảnh hưởng tới danh dự, nhân phẩm, uy tín của người đó Việc đăng, phát

Ngày đăng: 20/03/2019, 14:41

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w