Tranh chấp đất đai có thể được chia làm hai loại lớn, đó là các tranh chấp mà trong đó cần xác định ai là người có quyền sử dụng hợp pháp đất đang tranh chấp và tranh chấp đất đai trong
Trang 1I MỞ ĐẦU
Tranh chấp đất đai là tranh chấp về quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất giữa hai hoặc nhiều bên trong quan hệ đất đai Tranh chấp đất đai có thể được chia làm hai loại lớn, đó là các tranh chấp mà trong đó cần xác định ai là người có quyền sử dụng hợp pháp đất đang tranh chấp và tranh chấp đất đai trong đó người sử dụng đất
đã sử dụng đất hợp pháp, tranh chấp chỉ phát sinh trong quá trình người đó thực hiện
quyền và nghĩa vụ của mình.Tranh chấp về Quyền sử dụng đất là sự tranh chấp giữa
các bên về quyền quản lý, quyền sử dụng một diện tích nào đó hoặc một phần trong diện tích đó mà việc xác định ai là người có quyền sử dụng hợp pháp đất tranh chấp
đó là trách nhiệm của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền Ngày nay, cùng với sự
đi lên của xã hội, nhu cầu đất đai của con người ngày càng tăng, do vậy ngày càng có nhiều vụ tranh chấp về quyền sử dụng đất được đư ra toà án để giải quyết Thế nhưng, không phải lúc nào phán quyết của toà án cũng là thoả đáng khiến đương sự phải kháng cáo nhiều lần Chính vì vậy, trong bài tập nhóm lần này nhóm A1 sẽ chọn tình huống về vấn đề tranh chấp quyền sử dụng đất (tranh chấp ranh giới) để tìm hiểu
rõ hơn về lĩnh vực này
II NỘI DUNG.
1 Tóm tắt vụ việc.
Vụ việc đề cập đến vấn đề tranh chấp quyền sử dụng đất (tranh chấp ranh giới) giữa:
Nguyên đơn: Ông Nguyễn Hữu Thực sinh năm 1960; trú tại tổ dân cư số 4, khu
Tân Mỹ 2, thị trấn Hữu Lũng, huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn.(Bên A)
Bị đơn: Ông Liễu Thanh Quảng sinh năm 1938; trú tại nhà số 31, đường Phan
Huy Chú, khối Cửa Nam, phường Chi Lăng, thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn (Bên B)
Tóm tắt nội dung vụ án: Theo đơn khởi kiện đề ngày 14-7-2008 và trong quá trình
giải quyết vụ án, bên A trình bày:
Trang 2Tại Quyết định số 1124/QĐ-UBND ngày 12/7/2006, bên A được UBND thành phố Lạng Sơn giao đất và thu tiền sử dụng đất đối với 43,2m2 tại đường Phan Huy Chú, khối Cửa Nam, phường Chi Lăng, thành phố Lạng Sơn (thuộc thửa đất số 185,
tờ bản đồ 48 phường Chi Lăng) và đến ngày 29/9/2006 UBND thành phố Lạng Sơn cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên cho ông Liền kề với diện tích đất ông được cấp nêu trên là nhà, đất của bên B Bên B đã xây dựng công trình phụ, ban công tầng 2, tầng 3 nhà của bên B lấn sang phần đất của bên A khoảng 05m2 (bao gồm cả phần khoảng không và phần mặt đất), bên A đã yêu cầu chính quyền địa phương giải quyết nhưng hai bên không hoà giải được Do đó, bên A khởi kiện đề nghị Toà án buộc bên B trả lại diện tích đất đã lấn chiếm nêu trên
Bị đơn trình bày: Nhà, đất bên B sở hữu và sử dụng tại số 31 Phan Huy Chú
(trước đây là số 8 phố Lao Động) liền kề với đất bên A được cấp có nguồn gốc ông thuê của Nhà nước từ năm 1967, đến năm 1991 do nhà xuống cấp ông đã xin phép và được chính quyền cho xây dựng mới Đến năm 2001, Nhà nước bán căn nhà này cho ông (Quyết định số 615/QĐ-UB ngày 12/3/2001 của UBND tỉnh Lạng Sơn) và ngày 25/11/2004 ông được UBND thành phố Lạng Sơn cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng 51m2 đất Bên A cho rằng ông lấn chiếm đất là không đúng, vì căn nhà vẫn nguyên hiện trạng từ khi bên B mua của Nhà nước, nên ông không đồng ý với yêu cầu của bên A
* Tại bản án dân sự sơ thẩm số 06/2009/DSST ngày 17-4-2009, TAND huyện
thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn với nhận định (tóm tắt):
Căn nhà gia đình bên B đang sử dụng có nguồn gốc là nhà thuộc sở hữu Nhà nước và liền kề là ngõ đi chung rộng khoảng 1m Năm 1991, bên B xây dựng mới, đã xây dựng công trình phụ, đổ ban công tầng 2, tầng 3 chờm ra ngõ đi chung nhưng không
cơ quan chức năng nào có ý kiến và Công ty quản lý nhà thu tiền nhà theo diện tích
mà bên B đã xây dựng, nên phần đất phía Đông (đất ngõ) mà bên B đã xây dựng công trình phụ và ban công, Nhà nước đương nhiên quản lý từ năm 1991 Sau đó
Trang 3năm 2001 bên B mua lại căn nhà theo hiện trạng đã xây dựng từ năm 1991, nên phần đất gắn liền với công trình phụ và phía dưới ban công đương nhiên thuộc quyền sử dụng của bên B Năm 2004 bên B kê khai và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng 51m2 đất theo số đo của Công ty kinh doanh nhà đã bán cho bên B Việc các cơ quan chức năng cho rằng diện tích gắn liền với khu vệ sinh và nằm dưới ban công, bên B không kê khai nên không cấp và là đất công là không đúng với thực tế, là sai sót của các cơ quan chức năng, nên dẫn đến việc cấp trùng diện tích đất nêu trên cho bên A và dẫn đến tranh chấp
Từ đó quyết định:
Bác đơn yêu cầu của bên A đòi bên B trả lại 5m 2 đất và khoảng không là không có căn cứ Ranh giới phía đông nhà đất của bên B giáp đất bên A được xác định như sơ
đồ hiện trạng kèm bản án
Ngoài ra, Toà án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí và tuyên quyền kháng cáo
* Sau khi xét xử sơ thẩm, bà Rỉ kháng cáo không đồng ý với bản án sơ thẩm
* Tại bản án dân sự phúc thẩm số 38/2009/DSPT ngày 24-8-2009, Toà án nhân
dân tỉnh Lạng Sơn với nhận định (tóm tắt): Khi xây dựng lại nhà năm 1991, gia đình bên B đã xây dựng không đúng sơ đồ thiết kế kèm theo giấy phép, cụ thể là ban công tầng 1, tầng 2 đã lấn sang ngõ đi chung và phần công trình tường rào, bể nước cũng không có trong thiết kế Tại phiên toà phúc thẩm bên B cũng thừa nhận việc xây dựng ban công tầng 1, tầng 2 , phần công trình tường rào, bể nước không có trong sơ
đồ thiết kế và vượt quá phạm vi đất được sử dụng Bên B cũng không kê khai phần đất đã xây dựng công trình vượt quá giấy phép để được Nhà nước công nhận quyền
sử dụng đất Theo Quyết định số 615/QĐ-UB ngày 12/3/2001 thì UBND tỉnh Lạng
Sơn chỉ bán cho bên B nhà cấp 4 với diện tích 24,9m2 (như giấy phép thiết kế sửa chữa lớn), nên việc bên B cho rằng ông mua nhà của Nhà nước nên hiện trạng ngôi nhà như thế nào ông sử dụng đến đó Khi giao đất cho bên A, UBND thành phố Lạng Sơn đã trừ phần tiếp giáp nhà ông Quảng khoảng trống có chiều rộng là 0,38m,
Trang 4nhưng phần công trình của bên B vẫn lấn vào đất của bên A, nên cần buộc bên B tháo dỡ phần công trình xây dựng trên phần đất bên A được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, để trả lại đất cho bên A
Từ đó quyết định:
1 Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bên A Giao cho bên A được sử dụng diện tích đất tranh chấp là 4,64m 2 (gồm 2,4m 2 trên đó gia đình bên B đã xây dựng công trình tường rào, bể nước và 2,24m 2 là phần ban công mái tôn nhà bên B lấn sang khoảng không trên đất).
2 Buộc bên B phải tháo dỡ các công trình đã làm trên phần đất nêu trên để trả quyền sử dụng đất cho bên A, cụ thể:
- Tháo dỡ công trình: tường rào, một phần bể nước ăn đã xây trên diệ tích đất là 2,4m 2 là hình KK1L1L với các kích thước KK1 = LL1 = 4,06m, K1L1 = 0,56m (0,94m - 0,38m) và KL =0,65m (1.03m - 0,38m).
- Tháo dỡ phần ban công tầng 1 của nhà bên B lẫn chiếm sang phần đất cấp cho hộ bên A diện tích là 1,13m 2 là hình CC1D1D với CC1 = DD1 = 5,15m và CD = C1D1
= 0,22m (0,60m - 0,38m); tháo dỡ một phần nhà vệ sinh nằm trên phần ban công bị tháo dỡ trên.
- Tháo dỡ phần ban công tầng 2 của nhà bên B lẫn chiếm sang phần đất cấp cho bên
A diện tích là 2,24m 2 là hình CC1E1E với CC1 = EE1 = 5,15m và CE = 0,39m (0,77m - 0,38m); CE1 = 0,48m (0,86m - 0,38m).
- Tháo dỡ phần mái tôn tầng 3 lấn sang diện tích đã giao cho bên A nêu trên.
Ngoài ra, Toà án cấp phúc thẩm còn quyết định về án phí
2 Giải quyết vụ việc.
2.1: Căn cứ pháp lý để giải quyết vụ án.
Xác định căn cứ pháp lý để giải quyết một vụ án nói chung và đối với vụ án về tranh chấp quyền sử dụng đất đã nêu nói trên là việc căn cứ vào những tình tiết của
vụ án để xác định Luật điều chỉnh Từ đó mới có thể tìm ra hướng giải quyết phù hợp
Trang 5và đánh giá được những phán quyết của toà án là phù hợp với quy định của pháp luật hay không
Thứ nhất, trong vụ án có các nội dung thuộc phạm vi điều chỉnh của luật Nhà ở
năm 2005 cụ thể: Nhà, đất mà bên B sử dụng là do thuê của nhà nước tử năm 1967, đến năm 1991 do nhà xuống cấp bên B đã xin phép và được chính quyền cho xây dựng mới Nội dung này được quy định tại Điều 101 Luật nhà ở về cho thuê nhà ở
thuộc sở hữu nhà nước như sau: “1 Việc cho thuê nhà ở thuộc sở hữu nhà nước phải đúng đối tượng Bên thuê nhà ở phải sử dụng đúng mục đích, không được chuyển nhượng, chuyển đổi hoặc cho thuê lại.
2 Đơn vị được giao quản lý quỹ nhà ở thuộc sở hữu nhà nước có trách nhiệm thực hiện quản lý việc sử dụng nhà ở, bảo trì, cải tạo theo quy định về quản lý nhà ở thuộc sở hữu nhà nước.”.
Việc bên B xin phép xây dựng nhà mới từ căn nhà đã thuê của nhà nước cũng
được Luật này điều chỉnh tại các Điều 76: “cải tạo nhà ở”, Điều 77: “ Yêu cầu bảo trì, cải tạo nhà ở”, Điều 78: “ Quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu trong việc bảo trì, cải tạo nhà ở”, và Điều 82: “ Bảo trì, cải tạo nhà ở thuộc sở hữu nhà nước”.
Xét thấy, Luật nhà ở năm 2005 có hiệu lực từ ngày 01/7/2006 trước thời gian xảy ra tranh chấp , hơn nữa đối tượng có liên quan trong vụ tranh chấp là nhà của bên B lại thuộc phạm vi điều chỉnh ( Điều 1) và đối tượng điều chỉnh (Điều 2) của Luật này Do đó các căn cứ trên sẽ được Luật nhà ở năm 2005 điều chỉnh
Thứ hai, trong vụ tranh chấp trên có những nội dung thuộc phạm vi điều chỉnh
của Luật Đất đai năm 2003 ( có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2004) cụ thể đó là: Bên A được nhà nước giao đất và thu tiền sử dụng đất nội dung này được quy định tại Khoản 1 Đ iều 34 quy định nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất trong trường
hợp: “ 1.Hộ gia đình, cá nhân được giao đất ở…” và Điều 37 quy định về: “ thẩm quyền giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất”, việc bên A và bên B được cấp giấy quyền sử dụng đất được quy định tại các Điều 52 Thẩm quyền
Trang 6cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; Điều 49 Những trường hợp được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; Điều 60 Miễn, giảm tiền sử dụng đất, tiền thuê đất; Điều 105 Quyền chung của người sử dụng đất; và Điều 107 Nghĩa vụ chung của người sử dụng đất.
Thứ ba, xét thấy trong vụ tranh chấp này là vụ tranh chấp về quyền sử dụng
đất (tranh chấp ranh giới) mà cụ thể là tranh chấp giữa hai mảnh đất liền kề ( bên A
và Bên B) Nội dung này được điều chỉnh trong bộ luật dân sự năm 2005 tại Điều
265 nghĩa vụ tôn trọng ranh giới giữa các bất động sản: “ 2 Người có quyền sử dụng đất được sử dụng không gian và lòng đất theo chiều thẳng đứng từ ranh giới trong khuôn viên đất phù hợp với quy hoạch xây dựng do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định và không được làm ảnh hưởng đến việc sử dụng đất liền kề của người khác ”; Điều 266 Quyến sở hữu đối với các mốc ngăn cách các bất động sản
“ chủ sở hữu bất động sản liền kề chỉ được dựng cột mốc, hàng rào, xây tường ngăn trên phần đất thuộc quyền sử dụng của mình ” và Điều 267 Nghĩa vụ tôn trọng quy tắc xây dựng: “ 1 Khi xây dựng công trình, chủ sở hữu công trình phải tuân theo pháp luật về xây dựng, bảo đảm an toàn, không được xây vượt quá độ cao, khoảng cách mà pháp luật về xây dựng quy định và không được xâm hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu bất đông sản liền kề và xung quanh ”
Thứ tư, đối tượng của hợp đồng mua bán nhà theo Quyết định số 615/QĐ-UB
ngày 12/3/2001 giữa UBND tỉnh Lạng Sơn và bên B là ngôi nhà thuộc sở hữu của Nhà nước, do đó việc mua bán này còn chịu sự điều chỉnh của Nghị định số 61-CP
ngày 05 tháng 7 năm 1994 về mua bán và kinh doanh nhà ở
Như trên đã xác định thì vụ tranh chấp này sẽ được giải quyết trên cơ sở của Luật nhà ở năm 2005, Luật đất đai năm 2003 và Bộ luật dân sự năm 2005 với những căn cứ pháp lý đã chỉ ra ở trên Tuy nhiên, khi áp dụng Luật luôn phải tuân theo nguyên tắc đi từ luật riêng đến luật điều chỉnh chung, nếu luật riêng không có quy định thì mới dẫn tới luật chung Trong trường hợp này cũng vậy, Bộ luật Dân sự năm
Trang 72005 là luật chung cũng có những quy định về nghĩa vụ và quyền của chủ thể về sở hữu nói chung tuy nhiên sẽ đi từ luật Đất đai năm 2003 và Luật nhà ở năm 2005 với những căn cứ đã nêu trước Chính vì vậy, để tránh lặp lại không cần thiết nên bài viết
đã không nêu ra những căn cứ pháp lý đã xác định tại luật riêng thuộc Điều khoản nào trong luật chung ( Bộ luật dân sự 2005)
Bên cạnh đó, vụ việc về tranh chấp giữa hai bên đã được đưa ra xét xử sơ thẩm
và phúc thẩm tại Tòa án nhân dân huyện và Tòa án nhân dân tỉnh Lạng Sơn nên trình
tự cách thức tiến hành thủ tục tố tụng tại tòa án phải tuân theo các quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004( sửa đổi, bổ sung năm 2011)
2.2: Bình luận về việc giải quyết vụ án của Tòa án
- Đối với Tòa án sơ thẩm
Theo quyết định của tòa án trong bản án sơ thẩm thì bác đơn yêu cầu của bên
A đòi kiện bên B, trả lại 5m2 đất và khoảng không là không có căn cứ
Thứ nhất, bị đơn là bên B có trình bày: “năm 1991 do nhà xuống cấp ông xin
phép và được chính quyền cho ông xây dựng mới” Điều này là không rõ ràng và không phù hợp với quy định của pháp luật, vì theo Khoản 1 Điều 82 Luật nhà ở
quyđịnh: “Việc bảo trì, cái tạo nhà ở thuộc sở hữu nhà nước do cơ quan hoặc doanh nghiệp được Nhà nước giao quản lí nhà ở đó thực hiện Việc cải tạo nhà ở thuộc sở hữu Nhà nước phải được thực hiện theo thiết kế và dự đoán được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phê duyệt” Rõ ràng việc sửa chữa nhà ở phải theo bản
thiết kế của căn nhà, hơn nữa tại thời điểm bên B sửa chữa nhà ở thì bên B vẫn chưa mua lại nhà của Nhà nước, tức là bên B không phải chủ sở hữu nên vẫn phải tuân thủ theo các quy định tại điều luật này nên không phải bên B thích sủa chữa nhà như thế nào tùy ý Trong nội dung trình bày của mình bên B cũng không hề đưa ra bằng chứng là giấy phép của cơ quan có thẩm quyền để chứng minh việc ông xây dựng mới căn nhà là đúng theo quy định của pháp luật Ta thấy trong bản
án sơ thẩm của Tòa án cũng không nhắc gì đến bản thiết kế của căn nhà, đây là một
Trang 8thiếu sót của tòa án dẫn đến nội dung của bản án không đáp ứng được nguyện vọng của hai bên, chưa đảm bảo sự công bằng, nghiêm minh của pháp luật
Thứ hai, theo quy định tại Khoản 2 Điều 76Luật nhà ở năm 2005quy định:
“Chủ sở hữu nhà ở được cải tạo nhà ở của mình; người không phải là chủ sở ữu nhà ở chỉ được phép cải tạo nhà ở trong trường hợp được chủ sở hữu hà ở đồng ý bằng văn bản ”.Tuy nhiên theo bản án này thì không thấy bên B trình bày về văn
bản này và Tòa án cũng không thấy đề cập đến
Thứ ba, Tòa án không thể chỉ dựa vào việc cơ quan chức năng không có ý
kiến và Công ty quản lí nhà thu tiền nhà theo diện tích mà bên B đã xác định là như vậy bên B có thể hợp pháp được sửa chữa nhà theo ý định của mình, và xác định ngay là những phần bên B xây dựng đương nhiên là thuộc quyền sử dụng của Bên
B mà còn phải căn cứ vào nhiều khía cạnh khác như: diện tích đất bên B thuê của Nhà nước từ năm 1967 là bao nhiêu đối chiếu với diện tích sau khi đã sửa chữa, các văn bản đồng ý của cơ quan có thẩm quyền đồng ý cho bên B được sửa chữa nhà ở, bản thiết kế sửa chữa nhà ở v.v
Thứ tư, Việc tòa sơ thẩm xác định “cơ quan chức năng cho rằng diện tích gắn
liền với khu vệ sinh và nằm dưới ban công bên B không kê khai nên không cấp và
là đất công là không đúng với thực tế là sai sót của cơ quan chức năng” Điều này
là vô lí vì bên B không kê khai thì đương nhiên là cơ quan chức năng không cấp giấy chứng nhận và không được chứng nhận thì phần diện tích gắn liền với khu vệ sinh và nằm dưới ban công là không thuộc sở hữu của bên B mà vẫn do Nhà nước
quản lý Theo điểm e, khoản 2 Điều 78 Luật nhà ở năm 2005có quy định: “Sau khi sửa chữa, cải tạo nếu hiện trạng nhà ở có thay đổi so với nội dung trong giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở đã được cấp thì chủ sở hữu phải đến cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở để xác nhận những thay đổi vào giấy chứng nhận”, ở đây có thể thấy rằng bên B đã vi phạm quy định tại điều
luật này Bên B cũng không đưa ra được các căn cứ pháp lý để chứng minh là bên
Trang 9B có nộp tiền phần diện tích lấn chiếm, đồng thời đây cũng là lỗi của các cơquan chức năng trong việc kiểm tra, giám sát đối với việc sửa chữa nhà của bên B
Thứ năm, trong bản án sơ thẩm Tòa án có nêu ra căn cứ ngõ đi chung rộng
khoảng 1m2 nhưng lại không lấy làm căn cứ để giải quyết trong khi đây cũng là một trong những căn cứ để giải quyết vụ tranh chấp này
Tóm lại, xét theo yêu cầu của hai bên có thể thấy rằng các quyết định của Tòa sơ thẩm tuy có dựa trên một số căn cứ pháp lý nhưng vẫn còn một số thiếu sót trong phán quyết của Tòa sơ thẩm về vụ việc này dẫn đến bản án chưa triệt để,chưa thỏa mãn được ý chí của các bên đương sự cũng như chưa bảo vệ được quyền lợi của các bên và đảm bảo sự công bằng nghiêm minh của pháp luật Điều này kéo theo việc các bên tiếp tục kháng cáo gây tổn thất về thời gian cũng như tiền bạc của hai bên, tốn kém chi phí cho việc mở phiên tòa thứ hai xét xử phúc thẩm
- Đối với tòa án phúc thẩm
Xét về các quyết định của Hội đồng xét xử đưa ra Tại bản án dân sự phúc thẩm số 38/2009/DSPT ngày 24-8-2009 ta thấy các quyết định này đã khắc phục được những thiếu sót của Tòa sơ thẩm trước đó và đảm bảo quyền và nghĩa vụ cho các bên đương sự Theo bản án phúc thẩm ta thấy:
Thứ nhất, Tại phiên tòa xét xử phúc thẩm, tòa án nhân dân tỉnh Lạng sơn đã
đưa ra những nhận định xác thực với tình hình trên thực tế Trong trường hợp này
vì Bên B đã xây dựng không đúng sơ đồ thiết kế kèm theo giấy phép, cụ thể là ban công tầng 1, tầng 2 đã lấn sang ngõ đi chung và phần công trình tường rào, bể nước cũng không có trong thiết kế, do vậy Bên B đã vượt quá phạm vi đất được sử dụng của mình
Thứ hai, tại tòa phúc thẩm Bên B cũng đã thừa nhận là đã không kê khai
phần đất đã xây dựng công trình vượt quá giấy phép để được Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất việc bên B không kê khai phần đất đã xây dựng công trình vượt quá giấy phép để được Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất đã vi phạm các qui
Trang 10định của pháp luật tại điểm c Khoản 2 Điều 78 Luật nhà ở năm 2005: “Sau khi sửa chữa, cải tạo nếu hiện trạng nhà ở có thay đổi so với nội dung trong giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở đã được cấp thì chủ sở hữu phải đến cơquan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở để xác nhận những thay đổi vào giấy chứng nhận” Theo quy định của Luật Đất đai năm 2003 tại các điều: Điều 105: Quyền chung của người sử dụngđất, và Điều 107: Nghĩa vụ chung của người
sử dụng đất thì người sử dụng đất có quyền được cấp giấy chứng chứng nhận
quyền sử dụng đất và có nghĩa vụ sử dụng đúng mục đích và ranh giới thửa đất trên thực tế bên B đã không tuân thủ đúng quy định này mà trong quá trình xây dựng nhà đã cố tình lấn chiếm trái phép sang phần đất không phải của mình nên dẫn đến tình trạng tranh chấp với bên A trong vụ việc này
Thứ ba, Tòa phúc thẩm nhận định rằng:
Theo Quyết định số 615/QĐ-UB ngày 12/3/2001 thì UBND tỉnh Lạng Sơn chỉ bán cho bên B nhà cấp 4 với diện tích 24,9m2 (như giấy phép thiết kế sửa chữa lớn), việc bên B cho rằng ông mua nhà của Nhà nước nên hiện trạng ngôi nhà như thế nào ông sử dụng đến đó là không đúng với thực tế vụ việc, cụ thể là căn nhà mà ông thuê của Nhà nước không hề có bao gồm phần diện tích đã lấn chiếm Việc ông sửa chữa lại căn nhà đã không tuân theo đúng bản thiết kế của căn nhà , lấn chiếm phần đất giáp gianh là vi phạm pháp luật dẫn đến xâm phạm phần đất của bên A Khi giao đất cho bên A, UBND thành phố Lạng Sơn đã trừ phần tiếp giáp nhà của bên A khoảng trống có chiều rộng là 0,38m, nhưng phần công trình của bên B vẫn lấn vào đất của bên A, nên cần buộc B tháo dỡ phần công trình xây dựng trên phần đất mà bên A đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, để trả lại đất cho bên A
Như vậy, ta thấy nhận định trên của TAND tỉnh Lạng Sơn là có căn cứ pháp luật và dựa trên cơ sở xem xét đầy đủ tình tiết của vụ án Từ đó đưa ra quyết định: