Việc hiến xác, bộ phận cơ thể của cá nhân sau khi chết liênquan trước tiên đến bản thân người hiến tặng, do đó đây được coi là quyền nhânthân không thể dịch chuyển cho người khác.. Đặc đ
Trang 1DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.Luật Dân sự năm 2005
2.Trường Đại học Luật, Giáo trình Luật Dân sự Việt Nam, Tập 1, NXB CAND3.Luật hiến, lấy ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác năm 2006 và cácvăn bản hướng dẫn
4.Quy định hướng dẫn tư vấn, kiểm tra sức khỏe cho người hiến mô, bộ phận cơthể ở người sống; hiến mô, bộ phận cơ thể ở người sau khi chết và người hiếnxác, ban hành kèm theo Quyết định số 13/2008/QĐ-BYT ngày 12/3/2008 của Bộtrưởng Bộ y tế
5.Bộ môn Luật Dân sự trường Đại học Luật Hà Nội, Đề tài nghiên cứu khoa họccấp trường, Quyền nhân thân và bảo vệ quyền nhân thân theo pháp luật dân sự,tháng 12/2008
6.Phùng Trung Tập, “Về quyền hiến bộ phận cơ thể và hiến xác sau khi chết”,tạp chí Tòa an nhân dân, số 1/2006
7.Bùi Đức Hiển, “Hoàn thiện hơn nữa Luật hiến, lấy ghép mô, bộ phận cơ thểngười và hiến, lấy xác”, Tạp chí nghiên cứu lập pháp, số 4(121) tháng 4/2008
Trang 2LỜI NÓI ĐẦU
Trong điều kiện thế giới hiện nay nói chung và nước ta nói riêng, khi mà cácgiá trị vật chất của con người ngày càng được thỏa mãn đầy đủ hơn thì chúng tangày có xu hướng quan tâm đến các giá trị của cá nhân, một trong những giá trị
mà con người hướng tới đó chính là “quyền hiến xác, bộ phận cơ thể người của
cá nhân sau khi chết” Xung quanh đề tài này còn khá nhiều vấn đề thú vị vàquan trọng Dưới đây là phần tìm hiểu của em về một số vấn đề liên quan đếnquyền hiến xác, bộ phận cơ thể người của cá nhân sau khi chết
Xác chết được xem là cơ thể của người chết đã chấm dứt mọi hoạt động sống
1.Đặc điểm của quyền hiến xác của cá nhân sau khi chết.
Quyền hiến xác, bộ phận cơ thể sau khi chết nằm trong hệ thống các
quyền nhân thân Việc hiến xác, bộ phận cơ thể của cá nhân sau khi chết liênquan trước tiên đến bản thân người hiến tặng, do đó đây được coi là quyền nhânthân không thể dịch chuyển cho người khác Và được quy định tại Điều 34BLDS 2005, do đó phải tuân theo các nguyên tắc chung của luật dân sự Ngoài
ra, do là quyền nhân thân đặc biệt cho nên việc hiến xác, bộ phận cơ thể của cánhân sau khi chết còn mang những đặc trưng riêng
1.1
Với tư cách là một quyền nhân thân, quyền hiến xác, bộ phận cơ thể của cá
nhân sau khi chết mang những đặc điểm chung của quyền nhân thân
Thứ nhất, tính chất cá nhân tuyệt đối Quyền nhân thân là quyền dân sự gắn
liền với một chủ thế, về nguyên tắc không thể chuyển giao cho chủ thể khác
Trang 3Luật dân sự ghi nhận những giá trị nhân thân là quyền nhân thân và quy định cácbiện pháp bảo vệ Quyền nhân thân thuộc về cá nhân cụ thể từ khi người đó đượcsinh ra hoặc theo những căn cứ khác do pháp luật quy định Là các yếu tố cấuthành không thể tách rời khỏi cá nhân chủ thể, những giá trị nhân thân được cáthể hoá, làm cho bản thân người mang các giá trị đó là hoàn toàn không thể lặplại Tuy nhiên, trong một số trường hợp nhất định có thể dịch chuyển đượcnhưng phải do pháp luật quy định (quyền công bố tác phẩm của tác giả các tácphẩm, các đối tượng sở hữu công nghiệp…).
Thứ hai, quyền nhân thân không xác định được bằng tiền – Giá trị nhân
thân và tiền tệ không phải là những đại lượng tương đương và không thể trao đổingang giá Về cơ bản, chủ thể của quyền nhân thân chỉ được hưởng lợi ích tinhthần mà không được hưởng lợi ích vật chất Bên cạnh đó, có những trường hợpđặc biệt, quyền nhân thân mang lại lợi ích vật chất cho chủ thể quyền Những lợiích vật chất mà chủ thể quyền được hưởng ở đây có được là do giá trị tinh thầnmang lại (ví dụ: trường hợp góp vốn bằng uy tín trong một doanh nghiệp) Nhưvậy, một trong những tiêu chí phân loại quyền nhân thân là dựa vào yếu tố tàisản, theo đó, có thể chia quyền nhân thân làm hai loại: quyền nhân thân gắn vớitài sản và quyền nhân thân không gắn với tài sản
Thứ ba, quyền nhân thân được xác lập không dựa trên các sự kiện pháp lý
mà chúng được xác lập trực tiếp trên cơ sở những quy định của pháp luật
Thứ tư, mỗi một chủ thể có một giá trị nhân thân khác nhau nhưng được bảo
vệ như nhau khi các giá trị đó bị xâm phạm
1.2 Đặc điểm riêng của quyền hiến xác, bộ phận cơ thể của cá nhân sau khi chết
Mục đích chủ yếu của việc thực hiện quyền này không phải đem lại lợi íchcho chủ thể quyền như đại đa số các quyền nhân thân khác, mà nhằm đem lại lợiích cho người khác, lợi ích cho toàn xã hội Lợi ích mà chủ thể quyền đạt được
Trang 4chủ yếu là lợi ích tinh thần, là niềm vui khi cứu sống được người khác đang mắcbệnh hiểm nghèo, đặc biệt khi người bệnh lại là người thân thích, ruột thịt củamình; hoặc niềm vui khi thấy mình cống hiến cho sự nghiệp nghiên cứu khoahọc Lợi ích vật chất có thể có nhưng không phải là chính yếu Lợi ích của chủthể quyền thực sự rất khiêm tốn so với lợi ích to lớn mà xã hội nhận được từ việcngười đó thực hiện quyền của mình.
Hiến xác, bộ phận cơ thể của cá nhân sau khi chết vẫn được coi là “quyền”mặc dù những lợi ích to lớn mà nó đem lại chủ yếu là cho người khác và cho xãhội, trong khi lợi ích mang lại cho chủ thể quyền hầu như không đáng kể
“Quyền” ở đây được hiểu là sự tự do ý chí lựa chọn hành động của chủ thể trongkhuôn khổ pháp luật: mỗi cá nhân có năng lực hành vi dân sự đầy đủ có quyền tựquyết định đối với thân thể của mình, không ai có quyền can thiệp hay ngăn cản;
kể cả là những người thân thích, ruột thịt
2 Việc ghi nhận quyền hiến xác, bộ phận cơ thể sau khi chết trong các văn bản pháp luật.
2.1 Trong Bộ Luật Dân sự năm 2005.
Hiến xác là một vấn đề dường như còn rất xa lạ không chỉ đối với người dânViệt Nam mà còn với nhiều quốc gia khác Trong thực tế không mấy người có ýđịnh sẽ hiến cơ thể mình cho việc cứu người hoặc cho việc nghiên cứu khoa học,
có thể một phần do khái niệm này còn quá mới lạ hoặc có thể do phong tục quanniệm từ xưa đến nay khi chết họ muốn toàn vẹn vì kết thúc cuộc sống ở thế giớinày nhưng khi sang thế giới bên kia họ có thể tiếp tục sống tiếp Nhưng cũng cónhiều trường hợp có người đồng ý hiến xác thì những người thân của họ lạikhông chấp nhận hoặc việc đăng kí hiến xác của một cá nhân mà người thân của
họ không biết đến khi người thân của họ chết họ mới biết và quá bất ngờ vàthường không chấp nhận việc đó
Trang 5Việc hiến xác của cá nhân sau khi chết là vấn đề được bàn luận và tranh cãi rấtnhiều của các đại biểu quốc hội và rất nhiều ý kiến của dư luận và nó mới chínhthức quy định cụ thể hóa tại Điều 34 BLDS năm 2005 thuộc nhóm các quyềnnhân thân.
Điều 34 BLDS 2005 quy định về quyền hiến xác, bộ phận cơ thể sau khi
chết: “ Cá nhân có quyền hiến xác, bộ phận cơ thể của mình sau khi chết vì mục
đích chữa bệnh cho người khác hoặc nghiên cứu khoa học Việc hiến và sử dụng xác, bộ phận cơ thể của người chết được thực hiện theo quy định của pháp luật.” 2.2 Trong Luật bảo vệ sức khỏe nhân dân 1989.
Luật bảo vệ sức khỏe nhân dân 1989
“Điều 30: Lấy và ghép mô hoặc một bộ phận của cơ thể con người.
1- Thầy thuốc chỉ tiến hành lấy mô hoặc bộ phận của cơ thể người sống hay người chết dùng vào mục đích y tế sau khi đã được sự đồng ý của người cho, của thân nhân người chết hoặc người chết có di chúc để lại.
2- Việc ghép mô hoặc một bộ phận cho cơ thể người bệnh phải được sự đồng ý của người bệnh hoặc thân nhân hay người giám hộ của người bệnh chưa thành niên.
3- Bộ y tế quy định chế độ chăm sóc sức khoẻ người cho mô hoặc một bộ phận của cơ thể”.
* Bên cạnh đó, vấn đề này cũng được cụ thể hóa trong trong Điều 10 của
Nghị định ban hành kèm theo Điều lệ khám chữa bệnh và phục hồi chức năng số23-HĐBT ngày 21/1/1991:
“1- Việc lấy mô bộ phận cơ thể của người sống phải được người đó tự
nguyện và viết thành văn bản.
2- Việc lấy mô hoặc một bộ phận của cơ thể người được tiến hành trong các trường hợp:
Trang 6_ Người chết có di chúc để lại đồng ý cho mô hoặc một bộ phận cơ thể của họ
_ Người chết không có di chúc nhưng được thân nhân người chết đồng ý cho bằng văn bản.
_ Người chết vô thừa nhận.
3- Cơ quan y tế được quyền tiếp nhận, bảo quản và sử dụng mô hoặc một
bộ phận cơ thể con người.
4- Các thủ tục, tiến hành ghép mô hoặc một bộ phận cơ thể con người được tiến hành như các trường hợp phẫu thuật ghi trong Điều 8 của Điều lệ này.
5- Cơ sở y tế tiến hành lấy mô hoặc một bộ phận cơ thể của người cho có trách nhiệm chăm sóc sức khỏe cho họ trước, trong và sau khi lấy.”
2.3 Trong Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến lấy xác
Ngày 29/11/2006, Luật hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác được Quốc hội thông qua và có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2007 Việc ghi nhận quyền hiến mô, bộ phận cơ thể, hiến xác thành một luật riêng là một bước tiến lớn có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với xã hội, thể hiện sự nhân đạo
và sự quan tâm của nhà nước đối với sức khỏe nhân dân, đồng thời cũng thể hiện
Trang 7Việc thừa nhận quyền hiến xác, bộ phận cơ thể sau khi chết có ý nghĩa vôcùng quan trọng:
Đối với người cần hiến tạng: Việc thừa nhận quyền hiến xác, bộ phận cơ thểgóp phần làm tăng số lượng người hiến Đối với hàng ngàn bệnh nhân đang mònmỏi trông chờ được hiến tạng thì điều đó có ý nghĩa vô cùng to lớn, điều đó là tia
hy vọng cứu chữa căn bệnh của họ, giúp họ vượt qua cơn nguy kịch về tínhmạng, giảm bớt chi phí thuốc thang
Đối với bản thân những người hiến xác, bộ phận cơ thể sau khi chết:
+ Tạo điều kiện và hành lang pháp lí cho họ thực hiện ý nguyện giúp đỡngười khác, nhất là khi những người cần cứu chữa đó lại là những người thânyêu của họ Qua việc thực hiện quyền này, những người hiến tặng đã thể hiệnđược tình cảm, lòng nhân ái bao dung của mình đối với người bệnh và đối vớikhoa học Những người hiến tặng được nhà nước truy tặng huy chương cao quýcho những đóng góp to lớn của họ đối với xã hội Việc truy tặng này của nhànước góp phần động viên về mặt tinh thần đối với những người hiến tặng
+ Việc ghi nhận quyền hiến xác, bộ phận cơ thể của cá nhân sau khi chếtchính là một bảo đảm cho sự tự do ý chí lựa chọn hành động của các cá nhântrong lĩnh vực đặc thù và hết sức nhạy cảm này
Đối với nhà nước: Việc ghi nhận quyền hiến xác, bộ phận cơ thể người saukhi chết thể hiện sự quan tâm của nhà nước đối với quyền lợi và sức khỏe củanhân dân Góp phần hoàn thiện, nâng cao hệ thống y tế để phục vụ ngày càng tốthơn nhu cầu chăm sóc sức khỏe của nhân dân và nghiên cứu khoa học
4 Nguyên tắc ghi nhận, thực hiện và bảo vệ quyền hiến bộ phận cơ thể
Điều 4 Luật hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác
2006 quy định về Các nguyên tắc trong việc hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác:
“1 Tự nguyện đối với người hiến, người được ghép.
Trang 82 Vì mục đích nhân đạo, chữa bệnh, giảng dạy hoặc nghiên cứu khoa học.
3 Không nhằm mục đích thương mại
4 Giữ bí mật về các thông tin có liên quan đến người hiến, người được ghép, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.”
4.1 Nguyên tắc tự nguyện
Việc cá nhân hiến xác, bộ phận cơ thế sau khi chết là quyền của mỗi cánhân, không phải là nghĩa vụ không ai có quyền hoặc cản trở người khác thựchiện quyền hiến xác, bộ phận cơ thể sau khi chết Hiến xác, bộ phận cơ thế saukhi chết mang tính tự nguyện, tức là phải có sự thống nhất giữa ý chí bêntrong của cá nhân và sự bày tỏ được ý chí bên ngoài hơn nữa vấn đề hiến xáchiện còn là một vấn đề rất nhạy cảm nên một cá nhân khi thực hiện việc hiếnxác của mình sau khi chết phải được thể hiện một cách rõ ràng bằng văn bảnchứ không chỉ bằng lời nói như một số giao dịch dân sự thông thường để tránhmột số vấn đề đảm bảo tính minh bạch
Điều kiện để một cá nhân có thể thực hiện quyền hiến xác, bộ phận cơ thể:Người có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật và trong trạng thái minhmẫn, sáng suốt, không bị ép buốc về mặt tinh thần khi thể hiện ý chí hiến củamình cho người khác mà mục đích hiến đã được xác định rõ ràng (theo Luậthiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác là một cá nhân phải
đủ 18 tuổi trở lên, có năng lực dân sự đầy đủ) thì đều có quyền bày tỏ nguyệnvọng hiến xác, bộ phận cơ thể của mình với cơ sở y tế Người đã đăng ký hiếnxác, bộ phận cơ thể có quyền thay đổi hoặc hủy bỏ đơn đăng ký Ngoài ra cơ
sở y tế chỉ được lấy mô, bộ phận cơ thể của người sống đã đăng ký hiến.Trong trường hợp cấp cứu mà cần phải cấy ghép bộ phận cơ thể hoặc cần
Trang 9ghép bộ phận cơ thể cho cha, mẹ, anh, chị, em ruột thì được phép lấy bộ phận
cơ thể của người chưa đăng ký nếu có sự đồng ý của người đó
Ngoài ra nếu như ở Việt Nam quyền hiến xác, bộ phận cơ thể sau khi chếtmới được ghi nhận trong BLDS năm 2005 và chỉ áp dụng nguyên tắc “tựnguyện” do xuất phát từ đặc điểm tâm lý, văn hóa, phong tục tập quán củangười Việt rất coi trọng sự toàn vẹn của cơ thể của thi hài người quá cố thìpháp luật một số nước lại thừa nhận nguyên tắc “suy đoán ý chí” cho phép lấy
mô và bộ phận cơ thể người chết trừ khi người đó đã thể hiện rõ ràng sự phảnđối khi họ còn sống, nguyên tắc này áp dụng ở mức độ khác nhau: một là ápdụng ở mức độ “cứng”, theo đó không cho phép gia đình của người chết canthiệp vào quá trình lấy bộ phận cơ thể, hai là ở mức độ “mềm”, theo đó việclấy bộ phận cơ thể người chết phải được sự đồng ý của gia đình người đó, ba
là áp dụng mức độ “triệt để”, theo đó một cá nhân phải đăng ký tại tòa án vềviệc mình không muốn hiến bộ phận cơ thể sau khi chết và đó là cách duynhất để người đó không bị lấy bộ phận cơ thể sau khi chết Quốc gia đầu tiên
áp dụng nguyên tắc này là Singapore và sau đó là một số nước Châu Âu như:Tây Ban Nha, Áo, Bỉ…bắt đầu từ thập niêm 80 của thế kỷ trước, trước đâyvào thập niên 60,70 của thế kỷ trước thì hầu hết các nước đều áp dụng nguyêntắc “tự nguyện hiến” nhưng việc áp dụng như vậy thì số lượng bộ phận cơ thểhiến tự nguyện rất ít không áp ứng được nhu cầu chữa bệnh Việc áp dụngnguyên tắc “suy đoán ý chí” đã được áp dụng rộng rãi ở nhiều quốc gia thìtrong tương lai Việt Nam có thể áp dụng nguyên tắc “suy đoán ý chí” mộtcách phù hợp nhằm tăng nguồn thu cung cấp bộ phận cơ thể phục vụ cho sựnghiệp chữa bệnh cứu người của ngành y tế nước nhà
4.2 Nguyên tắc “phi thương mại”
Đây là một nguyên tắc rất quan trọng Việc hiến xác, bộ phận cơ thể sau khichết chỉ nhằm mục đích nhân đạo, chữa bệnh, giảng dạy hoặc nghiên cứu khoa
Trang 10học, không nhằm mục đích lợi nhuận Mục đích của hiến xác, bộ phận cơ thểluôn luôn phải được đặt ra như một sự kiểm soát đặc biệt của pháp luật đối vớivấn đề có tính chất xã hội nhạy cảm này Nguy cơ các bộ phận cơ thể người trởthành hàng hoá giao dịch trên thị trường đang hiện hữu ngày càng rõ nét
Pháp luật một số nước thừa nhận việc mua bán bộ phận cơ thể người, nhưngquan điểm của Việt Nam là không chấp nhận thương mại hoá các bộ phận cơ thểngười Nguyên tắc “phi thương mại” xuất phát từ đối tượng đặc biệt của quyềnhiến bộ phận cơ thể là “bộ phận cơ thể người”, đây là những bộ phận tạo nênmột con người hoàn chỉnh, gắn liền với sự tồn tại và phát triển bình thường củacon người, không thể là vật đem ra mua bán, trao đổi Hơn nữa, hiến tặng xác, bộphận cơ thể là nghĩa cử vô cùng cao đẹp Điều quan trọng hơn, một khi hoạtđộng “bán” bộ phận cơ thể được thừa nhận sẽ dẫn đến tình trạng hết sức nguyhiểm – những khoản lợi nhuận từ hoạt động mua bán này có thể làm cho những
kẻ chuyên kinh doanh bộ phận cơ thể người sẵn sàng ép buộc, làm tổn thươngngười khác, thậm chí giết người để lấy bộ phận cơ thể họ Như thế, quyền hiếnxác, bộ phận cơ thể sẽ không được đảm bảo mà quyền con người còn bị ảnhhưởng nghiêm trọng (quyền được đảm bảo an toàn tính mạng, sức khoẻ, thân thể
bị xâm phạm, an toàn xã hội không thể kiểm soát được) Ngay cả khi một người
vì quá túng thiếu muốn bán một bộ phận cơ thể của mình, pháp luật cũng khôngcho phép, giao dịch đó sẽ là giao dịch vô hiệu tuyệt đối do vi phạm điều cấm củapháp luật, đồng thời giao dịch đó cũng trái với đạo đức xã hội
Nguyên tắc “phi thương mại” tạo cơ hội chữa bệnh bình đẳng giữa bệnhnhân giàu và bệnh nhân nghèo về quyền nhận bộ phận cơ thể người Nếu chophép mua bán, sử dụng bộ phận cơ thể người nhằm mục đích lợi nhuận thì nhữngbệnh nhân nghèo sẽ hiếm có cơ hội được ghép bộ phận cơ thể người để chữa trịbệnh Và nếu như vậy, pháp luật về hiến-nhận bộ phận cơ thể người đã khônglàm tròn được vai trò của nó
Trang 114.3 Nguyên tắc hiến xác, bộ phận cơ thể vì mục đích nhân đạo, chữa bệnh, giảng
dạy hoặc nghiên cứu khoa học
Nguyên tắc này có mối quan hệ chặt chẽ với nguyên tắc “phi thương mại”,
và thực chất là sự cụ thể hoá nguyên tắc đó Việc hiến bộ phận cơ thể khôngnhằm mục đích lợi nhuận mà nhằm vào mục đích chữa bệnh, giảng dạy hoặcnghiên cứu khoa học, trong đó mục đích chữa bệnh là quan trọng, chủ yếu nhất
vì nhu cầu lấy bộ phận cơ thể để chữa bệnh cứu người là rất lớn, rất cấp bách Nguyên tắc trên xuất phát từ quan điểm coi con người là giá trị cao quýnhất, là trung tâm của mọi chính sách, pháp luật, tất cả là vì con người, trong đó,quyền sống là một trong những quyền cơ bản nhất của con người, là cơ sở đểthực hiện các quyền con người khác Một trong số các biện pháp bảo đảm quyềnsống cho con người chính là tạo điều kiện cả về mặt kỹ thuật, cả về mặt pháp lý
để y học có thể cứu sống được ngày càng nhiều bệnh nhân hiểm nghèo Vì vậy,mục đích chữa bệnh của việc hiến bộ phận cơ thể người cần được đặt lên hàngđầu Bên cạnh đó, hiến bộ phận cơ thể còn nhằm mục đích giảng dạy, nghiên cứukhoa học để ngày càng tìm ra các phương thức chữa bệnh hiệu quả hơn, và suycho cùng cũng là vì con người
5.Chủ thể, đối tượng của quyền hiến xác sau khi chết
5.1 Chủ thể của quyền hiến xác.
Cũng giống như chủ thể của các quyền thân nhân khác, chủ thể của quyềnhiến xác sau khi chết cũng là cá nhân Căn cứ vào Điều 34 BLDS năm 2005 :
“Cá nhân có quyền hiến xác, bộ phận cơ thể của mình sau khi chết vì mục đíchchữa bệnh cho người khác hoặc nghiên cứu khoa học…” Như vậy, đối vớiquyền hiến xác pháp luật không có bất kỳ một sự phận biệt nào đối với các chủthể có nghĩa là xét về mặt năng lực pháp luật, mọi cá nhân đều có quyền hiến xácsau khi chết và quyền này được pháp luật tôn trọng bảo vệ và đảm bảo sự bìnhđẳng cho các cá nhân thực hiện quyền này Thậm chí có một số cá nhân bị pháp
Trang 12luật tước một số quyền công dân vì những lý do khác nhau thì quyền hiến xáccủa cá nhân vẫn được pháp luật thừa nhận tôn trọng và bảo vệ.
Quyền hiến xác sau khi chết là một quyền nhân thân quan trọng, mặc dù làquyền nhưng không phải cá nhân nào muốn thực hiện cũng được mà cá nhân đóphải đạt được những điều kiện nhất định, trong đó một điều kiện không thểkhông nói đến là điều kiện về độ tuổi và điều kiện về khả năng nhận thức cũngnhư điều khiển hành vi Tại Điều 5 Luật hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thểngười hiến, lấy xác có quy định: “Người từ đủ mười tám tuổi trở lên có năng lựchành vi dân sự đầy đủ có quyền hiến mô, bộ phận cơ thể của mình khi còn sống,sau khi chết và hiến xác” Bởi vì quyết định hiến xác sau khi chết là một quyếtđịnh quan trọng có ảnh hưởng lớn tới bản thân người hiến cũng như đối với xãhội, nên pháp luật đòi hỏi người hiến phải là cá nhân có đầy đủ năng lực hành vidân sự, nhằm đảm bảo nguyên tắc tự nguyện của việc hiến xác Quyền hiến xácthuộc vào nhóm quyền nhân thân nên phải do cá nhân tự mình tham gia xác lập
và thực hiện Quyền này không thể thông qua người đại diện cho người chưathành niên, người mất năng lực hành vi dân sự vì những người này chưa nhậnthức được rõ và sự nhạy cảm của vấn đề này Người giám hộ của người chưathành niên, người mất năng lực hành vi dân sự chỉ được thay mặt thực hiện cácgiao dịch dân sự liên quan đến tài sản còn các quan hệ nhân thân vẫn phải do chủthể đó tự quyết định thực hiện
Nhưng khi một người đã chết việc hiến xác theo Điều 22 Luật hiến, lấy, ghép
mô bộ phận cơ thể người hiến, lấy xác thì phải được sự đồng ý bằng văn bản củacha, mẹ hoặc người giám hộ của người đó hoặc vợ, chồng hoặc đại diện các con
đã thành niên của người đó
Tuy nhiên còn một vấn đề phải nêu ra nữa đó là về độ tuổi của người hiến xácsau khi chết theo điểm b,c khoản 2 Điều 22 của Luật hiến, lấy, ghép mô bộ phận
cơ thể người hiến, lấy xác quy định: “…b, Trường hợp người chết không có thẻ